Với mong muốn thí nghiệm hóa học được sử dụng thường xuyên hơn và hiệu quả hơn trong dạy học, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Cải tiến kỹ thuật và phương pháp sử dụng một số thí nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Minh Nhân
CẢI TIẾN KỸ THUẬT TIẾN HÀNH
VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
HÓA HỌC Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Minh Nhân
CẢI TIẾN KĨ THUẬT TIẾN HÀNH
VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ
NGHIỆM ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
HÓA HỌC Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
học
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THỊ NGỌC HOA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp, các em học sinh
và những người thân trong gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Thị Ngọc Hoa, người
đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban lãnh đạo cùng các thầy cô giáo khoa Hóa trường Đại học sư phạm thành phồ Hồ Chí Minh đã tổ chức và thực hiện khoá đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lí luận và phương pháp giảng dạy môn Hóa học, tạo cơ hội cho tôi học tập và nâng cao trình độ
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Phòng Giáo dục – Đào tạo Gò Vấp, trường Bồi dưỡng giáo dục Gò Vấp, quý thầy, cô giáo, các em học sinh trường THCS Nguyễn Văn Nghi – Quận Gò Vấp, trường Lê Lợi – Quận Tân Phú, trường Lê Quý Đôn – Quận 11 và các anh chị em đồng nghiệp đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Xin gửi lời cảm ơn Phòng khoa học công nghệ - sau đại học, trường Đại học sư phạm thành phồ Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành
Trang 61.2.3.Một số xu hướng sử dụng thí nghiệm hóa học trong sự hỗ trợ của phương tiện
kỹ thuật hiện đại 2T 19
Trang 8MỞ ĐẦU 1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm Để giảng dạy hóa học đạt chất lượng cao, ta thường sử dụng thí nghiệm hóa học và các phương tiện trực quan khác như: mô hình, hình vẽ, bảng biểu, các phương tiện kỹ thuật Trong
đó thí nghiệm hóa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực của kiến thức Thí nghiệm hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo, giúp học sinh hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy kỹ thuật
Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học ở THCS chưa được thường xuyên Có lẽ do các nguyên nhân sau:
Nội dung sách giáo khoa tương đối dài so với thời lượng của tiết học
Một số thí nghiệm khó thực hiện thành công
Một số thí nghiệm độc hại, gây nguy hiểm…
Các thí nghiệm còn rườm rà và đòi hỏi dụng cụ phức tạp, hóa chất nhiều…
Việc kiểm tra, đánh giá hiện nay chưa chú ý đến kỹ năng thí nghiệm và thực hành
Với mong muốn thí nghiệm hóa học được sử dụng thường xuyên hơn và
hiệu quả hơn trong dạy học, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Cải tiến kỹ
thuật và phương pháp sử dụng một số thí nghiệm để nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở THCS”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu nguyên nhân một số thí nghiệm ít được sử dụng, cải tiến kỹ thuật tiến hành chúng
Trang 9- Nghiên cứu cải tiến phương pháp sử dụng một số thí nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở THCS
3.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lí luận về tác dụng, ý nghĩa, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học và những yêu cầu sư phạm đối với thí nghiệm hóa học
- Xác định hệ thống thí nghiệm hóa học ở THCS được quy định trong chương trình Hóa 8, 9 dùng khi nghiên cứu tài liệu mới
- Khảo sát tình hình sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học ở các trường THCS
- Đề xuất cải tiến kỹ thuật tiến hành một số thí nghiệm theo hướng an toàn, đơn giản và tiết kiệm hóa chất hơn
- Cải tiến phương pháp sử dụng thí nghiệm theo hướng tổ chức hoạt động học tập tích cực cho học sinh, sử dụng các đoạn phim quay thí nghiệm trong dạy học THCS
- Tiến hành quay phim, sưu tầm và xử lí các phim quay thí nghiệm xây dựng đĩa CD bao gồm các thí nghiệm hóa học trong chương trình Hóa học THCS phục vụ cho việc giảng dạy hóa học
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hóa học ở trường THCS
- Đối tượng nghiên cứu: kỹ thuật tiến hành thí nghiệm hóa học lớp 8,9 THCS; các tiết nghiên cứu tài liệu mới có sử dụng thí nghiệm hóa học
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Một số thí nghiệm hóa học cần được cải tiến về kỹ thuật và phương pháp sử dụng khi nghiên cứu tài liệu mới trong chương trình THCS (lớp 8 và 9)
Trang 10- Do điều kiện có hạn nên trong đề tài tập trung nghiên cứu các trường trong Quận Gò Vấp và có tham khảo ý kiến giáo viên ở Quận Tân Phú và Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
6.ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Các thí nghiệm hóa học ở THCS đã được cải tiến theo hướng an toàn, đơn giản, tiết kiệm hóa chất hơn
- Các tiết hóa học nghiên cứu tài liệu mới được thiết kế theo huớng tăng cường tính tích cực của học sinh có sử dụng thí nghiệm và các đoạn phim quay
- Sản phẩm của đề tài: báo cáo luận văn kèm theo các đoạn phim thí nghiệm trong chương trình hóa học THCS đã được cải tiến
7 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc cải tiến kỹ thuật tiến hành thí nghiệm và phương pháp sử dụng chúng trong dạy học hóa học sẽ giúp cho giáo viên sử dụng thí nghiệm thường xuyên hơn, lôi cuốn học sinh tham gia vào các bài học, kích thích
hứng thú học tập của các em
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu lí luận: các tài liệu trong lí luận dạy học hóa học có liên quan, chương trình hóa học THCS
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra và phỏng vấn giáo viên và học sinh nhằm xác định thực trạng việc sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học (nghiên cứu tài liệu mới) để xác định được những nội dung cần cải tiến
Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, tìm cách cải tiến kỹ thuật tiến hành một số thí nghiệm và quay phim các thí nghiệm được cải tiến
Trang 11Thực nghiệm sư phạm: dạy và dự giờ một số tiết hóa học THCS có
sử dụng thí nghiệm được thiết kế theo hướng tăng cường hoạt động tích cực của học sinh
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về thí nghiệm hoá học ở trường phổ thông Việt Nam:
Luận án PTS Khoa học Sư phạm – Tâm lý “Hoàn thiện hệ thống thí
nghiệm hóa học để nâng cao chất lượng dạy học ở trường PTCS Việt
Nam” của tác giả Trần Quốc Đắc 1992 [22]
Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã:
* Xác định hệ thống thí nghiệm hoá học ở trường THCS gồm 105 thí nghiệm biểu diễn và 27 thí nghiệm thực hành
* Đề xuất 13 dụng cụ thí nghiệm cải tiến và cách sử dụng chúng
* Đề xuất 13 thí nghiệm cải tiến và phương pháp tiến hành có kết quả các thí nghiệm đó
Luận án TS Khoa học giáo dục “Hoàn thiện kỹ thuật, phương pháp sử
dụng thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn hóa học ở các trường phổ thông miền núi” của tác giả Nguyễn
Phú Tuấn 2000 [39]
Ở công trình nghiên cứu này có một số nội dung đáng chú ý:
- Tác giả cho thấy tình trạng nghèo nàn, không đồng bộ của đồ dùng
dạy học ở các trường phổ thông miền núi:
- Cải tiến và đề xuất chế tạo một số dụng cụ thí nghiệm hóa học đảm bảo yêu cầu khoa học sư phạm, phù hợp thực tiễn
- Giới thiệu một số hóa chất gần gũi và sẵn có để thay thế cho những hóa chất không được trang bị
- Dùng những dụng cụ tự tạo để thực hiện 13 thí nghiệm
* Tác giả đưa ra các biện pháp giúp giáo viên sử dụng thí nghiệm vá các phương tiện kỹ thuật để chủ động điều khiển các hoạt động học tập của học sinh, giúp các em tích cực hoạt động góp phần thay đổi PPDH Tác giả
Trang 13phác thảo quy trình thiết kế bài soạn, tóm tắt một số hoạt động chính của giáo viên và học sinh trong một tiết học
3 Tài liệu “ Thí nghiệm hóa học lượng nhỏ ở trường THCS” của
PGS.TS Trần Quốc Đắc, Nxb giáo dục 2005 [23]
Tài liệu này gồm 3 chương:
Chương 1: Thí nghiệm hóa học thực hành và thí nghiệm nghiên cứu của học sinh
Chương 2: Một số kỹ thuật cần lưu ý trong khi tiến hành thí nghiệm hóa học lượng nhỏ ở trường phổ thông
Chương 3: Phương pháp tiến hành thí nghiệm hóa học lượng nhỏ ở trường THCS
Đây là những cuốn sách tác giả biên soạn rất tỉ mỉ Một số thí nghiệm còn được giới thiệu những phương án thực hiện khác nhau để giáo viên có thể
tự chọn cách thực hiện thí nghiệm cho phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu dạy học của từng trường Bên cạnh đó tài liệu còn nêu các chú ý ứng với các phương án thực hiện nhằm giúp cho giáo viên thực hiện thí nghiệm được thành công nhất
5 Tài liệu “Thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Sửu, Hoàng Văn Côi, Nxb Khoa Học và Kỹ Thuật 2008 [32]
Tài liệu gồm 3 phần với 274 thí nghiệm:
Phần I: Thí nghiệm về các nhóm nguyên tố - Hợp chất vô cơ và phân tích hóa học phổ thông có 202 thí nghiệm
Phần II: Các thí nghiệm về hợp chất hữu cơ có 59 thí nghiệm
Phần III: Thí nghiệm hóa học vui có 13 thí nghiệm
Một số thí nghiệm, các tác giả giới thiệu nhiều phương án thực hiện khác nhau để giáo viên có thể lựa chọn Cuối mỗi thí nghiệm đều có một số câu hỏi để củng cố kiến thức hóa học của thí nghiệm
Ngoài các tài liệu trên chúng tôi còn tham khảo một số luận văn sau:
Trang 14- Luận án thạc sĩ giáo dục “Sử dụng phần mềm thí nghiệm hóa học để
dạy học phần kim loại và phi kim (THPT) nhằm phát huy tính tích cực của học viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên” của Nguyễn Thị Kim
Thành, ĐHSP Hà Nội (2003) [34] Tác giả đã thiết kế 6 giáo án và xây dựng 2
CD mẫu cho bài lên lớp có sử dụng phần mềm Multimedia Science School (MSS), phần mềm Powerpoint trong quá trình dạy học ở các trung tâm giáo dục thuờng xuyên
- Luận văn thạc sĩ giáo dục “Hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp tiến
hành thí nghiệm thực hành bộ môn Phương pháp giảng dạy trường Cao đẳng
sư phạm” của Nguyễn Thị Kim Chi (2002) [19] Tác giả đã nghiên cứu hoàn
thiện kỹ thuật tiến hành thí nghiệm: cải tiến về hóa chất (tìm được 14 hóa chất
dễ kiếm); cải tiến 11 dụng cụ thí nghiệm theo hướng tăng cường tính khoa học sư phạm, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chế tạo các dụng cụ đa năng; cải tiến cách tiến hành của 21 thí nghiệm bằng cách sử dụng thí nghiệm lượng nhỏ trong các buổi thực hành Lí luận dạy học hóa học và thực hành Hóa vô cơ ở trường ĐHSP
- Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu và phân tích những thay đổi trong
chương trình Hóa 9 SGK Thí điểm Phần Hữu Cơ”, của sinh viên Nguyễn
Vinh Quang (2004), trường CĐSP TP Hồ Chí Minh [30]
- Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu và phân tích những thay đổi trong
chương trình Hóa 9 SGK Thí điểm Phần Vô Cơ” của sinh viên Nguyễn Thị
Ngọc Linh (2004), trường CĐSP TP Hồ Chí Minh [25]
Các tài liệu trên đã chỉ dẫn kỹ thuật tiến hành các thí nghiệm ở trường phổ thông cùng với các điều kiện dạy học khác nhau để nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực thí nghiệm hóa học ở THCS, về phương pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học để tích cực hóa hoạt động của học sinh, về kỹ thuật tiến hành thí nghiệm ở THCS theo chương trình mới (năm 2005) Một số thí nghiệm thực hiện theo hướng dẫn kỹ thuật của các tài liệu trên vẫn khó thành công
Trang 151.2 SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM LÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC QUAN TRỌNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.2.1.Hệ thống PPDH ở trường phổ thông[21]
1.2.1.1 Định nghĩa về phương pháp dạy học
Dạy học là một hoạt động rất phức tạp, do đó PPDH cũng rất phức tạp và
đa dạng
Về mặt triết học, phương pháp có hai định nghĩa thường được chú ý:
- Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến mục đích nhất định, giải quyết những nhiệm vụ nhất định
- Phương pháp là hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về phương pháp dạy học trong các tài liệu về giáo dục và lí luận dạy học bộ môn
Theo [28, tr.69], tác giả có định nghĩa sau: "Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích học tập" Theo tài liệu [29,tr 107], các tác giả có định nghĩa: "Phương pháp dạy học là cách thức, con đường hoạt động của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan khoa học và nhân sinh quan xã hội chủ nghĩa" Như vậy, khi nói về phương pháp dạy học ở những chương tiếp theo, chúng tôi chú ý đến vai trò chỉ đạo của người thầy, cách thức phối hợp của thầy và trò, tăng cường tính tích cực của trò nhằm đạt được mục đích dạy học
1.2.1.2.Hệ thống các phương pháp dạy học ở trường phổ thông
- Dựa vào mục đích lí luận dạy học quá trình dạy học có 3 khâu chủ yếu:
+ Nghiên cứu tài liệu mới;
+ Củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kỹ năng kỹ xảo;
+ Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
Trang 16Các phương pháp dạy học sẽ chia thành 3 tập hợp tương ứng với 3 khâu trên đây, đó là:
+ Các phương pháp dạy học khi nghiên cứu tài liệu mới;
+ Các phương pháp dạy học khi củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức,
kỹ năng kỹ xảo;
+ Các phương pháp dạy học khi kiểm tra kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
- Căn cứ vào việc làm cụ thể của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học:
+ Thuyết trình
+ Biểu diễn thí nghiệm
+ Đàm thoại, …
- Căn cứ vào cách thức tổ chức sự nhận thức – lĩnh hội của học sinh: kiểu
dạy học thông báo – tái hiện và kiểu nêu vấn đề - tìm tòi phát hiện
- Căn cứ vào nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh: có 3 nhóm phương
Vì vậy, người ta sử dụng các thí nghiệm hóa học trong tất cả các cách thức tổ chức hoạt động nhận thức: thông báo tái hiện, nêu vấn đề, nghiên cứu
1.2.2 Thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông
1.2.2.1 Vai trò quan trọng của thí nghiệm trong dạy học hóa học
Thí nghiệm hóa học giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện nhiệm vụ của việc dạy học hóa học ở trường phổ thông Thí nghiệm hóa học là dạng
Trang 17phương tiện trực quan chủ yếu, quyết định trong dạy học hóa học vì những lí
do sau:
Thí nghiệm giúp học sinh hiểu bài sâu sắc Thí nghiệm là cơ sở, là điểm xuất phát của quá trình học tập – nhận thức của học sinh Từ thí nghiệm bắt đầu quá trình nhận thức cảm tính của học sinh, để rồi sau đó diễn ra sự trừu tượng hóa và cụ thể hóa trong tư duy
Thí nghiệm hóa học giúp học sinh phát triển tư duy: quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa
Thí nghiệm giúp học sinh nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học
và phát triển tư duy của học sinh Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực của kiến thức
Thí nghiệm là phương tiện giúp hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hành
và tư duy kỹ thuật, giúp rèn luyên cho học sinh tác phong làm việc khoa học
1.2.2.2.Sự phân loại các thí nghiệm hóa học [15]
Ở trường phổ thông, căn cứ vào đối tượng thực hiện, cách thức tổ chức
và hoạt động tư duy logic của việc sử dụng thí nghiệm trong quá trình học tập, thí nghiệm hóa học về cơ bản được phân chia như sau:
Trang 18Bảng 1.1 : Sơ đồ phân loại các TNHH dùng trong trường phổ thông
THÍ NGHIỆM HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
THÍ NGHIỆM BIỂU
Phương
pháp nghiên
Thí nghiệm thực hành
Thí nghiệm ngoại khoá
Phương pháp minh họa
Phương pháp nghiên cứu
Thực hành theo nhóm
Thực hành
cả lớp
TN thực hành và quan sát ở nhà
TN ngoài lớp học thực hành ở trường
Trang 191.2.2.3 Yêu cầu của thí nghiệm trong dạy học hóa học
Các thí nghiệm tiến hành trên lớp, cần phải tuân thủ những yêu cầu sau đây:
Bảo đảm an toàn cho giáo viên và học sinh: giáo viên phải nắm vững
các yêu cầu kỹ thuật đối với từng loại hóa chất, thiết bị, đồ dùng dạy học từng thí nghiệm Phải tuân thủ những qui định trong khi thí nghiệm
Đảm bảo kết quả và tính khoa học của thí nghiệm: giáo viên muốn
đảm bảo cho thí nghiệm có kết quả tốt, cần phải có kỹ năng thành thạo và phải tích luỹ kinh nghiệm Giáo viên phải chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo, thử nhiều lần trước khi biểu diễn trên lớp Lượng hóa chất, nồng độ các dung dịch, nhiệt
độ thích hợp, chuẩn bị sẵn những dụng cụ dự trữ để thay thế nếu những bộ phận đó bị hỏng Tất cả các sơ suất như chọn nút không vừa, đậy nút không kín, ống nghiệm thủng đáy, chai lọ hóa chất không có nhãn nên nhầm lẫn, giấy lọc rách,… đều để lại những dấu ấn không tốt nơi học sinh
Đảm bảo tính trực quan: giáo viên không đứng che lấp thí nghiệm, các
dụng cụ thí nghiệm có kích thước, hình dáng phù hợp, dùng lượng hóa chất hợp lí làm sao để cả lớp quan sát được tốt nhất Đối với các thí nghiệm có sự đổi màu các chất, có sự tạo thành của kết tủa, chất khí… phải có sự hướng dẫn học sinh quan sát và nên dùng các phông màu thích hợp để dễ nhận thấy
Để đảm bảo những yêu cầu trên, khi làm thí nghiệm, giáo viên cần lưu ý
lựa chọn số thí nghiệm trong mỗi bài, mỗi tiết học vừa phải, chọn những thí nghiệm tiêu biểu phục vụ trọng tâm của bài học
1.2.2.4 Phối hợp lời giảng của giáo viên với thí nghiệm biểu diễn
Có 4 cách phối hợp lời giảng của giáo viên với thí nghiệm biểu diễn
- Cách 1: Học sinh quan sát trực tiếp và tự lực rút ra kết luận, giáo viên dùng lời nói hướng dẫn học sinh quan sát để rút ra kết luận Cách phối hợp
lời giảng của giáo viên với việc biểu diễn thí nghiệm này áp dụng cho các đối tượng và quá trình đơn giản, có thể rút ra kết luận nhờ quan sát trực tiếp Ví
Trang 20dụ, khi nghiên cứu tính chất vật lý của đối tượng như màu sắc, trạng thái, hình dạng các chất
- Cách 2: Học sinh quan sát các sự vật, quá trình và theo lời nói hướng dẫn của giáo viên, họ tái hiện các kiến thức cũ có liên quan, trình bày và giải thích được những mối liên hệ giữa các hiện tượng mà họ không thể nhận thấy được trong quá trình quan sát trực tiếp
Ở đây lời nói của giáo viên có 3 chức năng:
+ Hướng dẫn sự quan sát trực tiếp của học sinh
+ Gợi ý cho học sinh tái hiện kiến thức cũ có liên quan để giải thích hiện tượng
+ Hướng dẫn cho học sinh giải thích hiện tượng và tự đi tới kết luận
- Cách 3: Học sinh thu được kiến thức về các hiện tượng hoặc tính chất của sự vật trước tiên từ lời giáo viên, sau đó giáo viên biểu diễn thí nghiệm để minh họa (khẳng định hoặc cụ thể hóa) những kết luận vừa thông báo cho
học sinh Ở đây lời nói của giáo viên là nguồn thông tin chính yếu, còn thí
nghiệm là nguồn thông tin hỗ trợ, minh họa Cách thứ 3 này là nghịch đảo của cách thứ nhất Cách này áp dụng khi các hiện tượng là đơn giản
- Cách 4: Giáo viên mô tả các sự vật, quá trình, giáo viên nhắc lại những kiến thức đã học có liên quan và giải thích bản chất của hiện tượng, rồi kết luận về những mối liên hệ giữa các hiện tượng mà học sinh không thể nhận thấy được trong quan sát trực tiếp Sau đó giáo viên biểu diễn thí nghiệm để minh họa lời vừa giảng
- Cách 1 và 2 thuộc về phương pháp nghiên cứu trong dạy học Sự khác biệt giữa chúng là mức độ phức tạp, khó khăn của nội dung nghiên cứu Ở đây, thí nghiệm là nguồn thông tin, lời nói của giáo viên có chức năng hướng dẫn Cách 1 và 2 đều mang tính chất tích cực, tính chất nhận thức của học
Trang 21sinh là chủ động Nhờ đó, học sinh được đặt vào điều kiện mà họ phải độc lập giành lấy kiến thức về các chất và hiện tượng trên cơ sở quan sát thí nghiệm
- Cách 3,4 thuộc phương pháp minh họa trong dạy học Sự khác biệt giữa cách 3 và 4 cũng là sự khác biệt về mức độ phức tạp, khó khăn của nội dung nghiên cứu
- Khi sử dụng các cách phối hợp trên đây, giáo viên cần căn cứ vào nội dung nghiên cứu (đơn giản hay phức tạp), trình độ lĩnh hội cần đạt tới (tích cực chủ động hay tái hiện, bắt chước) và sự chuẩn bị của học sinh
1.2.3 Một số xu hướng sử dụng thí nghiệm hóa học trong sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật hiện đại
Với công nghệ hiện đại như ngày nay, với sự hỗ trợ đắc lực của máy vi tính, một số giáo viên thường sử dụng thí nghiệm hóa học theo hướng dùng thí nghiệm ảo Thí nghiệm ảo là thí nghiệm trên môi trường ảo (môi trường số
hoá) gồm mô hình ảo, phân tích băng hình, mô phỏng, phim quay
Thí nghiệm ảo hay thí nghiệm thật đều là thí nghiệm trực quan, cùng làm sáng tỏ lý thuyết, gây hứng thú học tập cho các em, làm cho học sinh nhận thức dễ dàng hơn, kiến thức thu được của các em rõ ràng và sâu sắc, đồng thời lớp học sôi nổi, hào hứng, … Tuy nhiên thí nghiệm thật hay ảo đều
có ưu nhược điểm của nó
Thí nghiệm ảo là tập hợp các tài nguyên số đa phương tiện dưới hình thức đối tượng học tập, nhằm mục đích mô phỏng các hiện tượng vật lý, hóa học, sinh học xảy ra trong tự nhiên hay trong phòng thí nghiệm, có đặc điểm
là có giao diện thân thiện với người sử dụng và có thể mô phỏng những quá trình khó xảy ra trong tự nhiên hay khó thu được trong phòng thí nghiệm Thí nghiệm ảo giúp giảm thiểu việc học chay, dạy chay thường gặp do thiếu phương tiện, điều kiện thí nghiệm; giúp người học chủ động, phù hợp với tinh thần người học là trung tâm [38]
Trang 22Không thể nói thí nghiệm ảo hoàn toàn tốt hơn thí nghiệm thật nhưng
nó lại có rất nhiều ưu điểm hơn so với thí nghiệm thật
Ví dụ:
Khi giáo viên làm thí nghiệm thật trên lớp thì hầu như các dụng cụ thí nghiệm đều nhỏ, lớp học đông, phòng học rộng Không phải tất cả các học sinh trong lớp đều có thể quan sát dễ dàng, các em ở cuối lớp chỉ có thể nghe giáo viên nói mà không thể nhìn được thí nghiệm Trong khi đó thí nghiệm ảo được thực hiện trên một màn chiếu, giáo viên có thể chỉnh kích cỡ của thí nghiệm đủ lớn để cả lớp đều có thể quan sát rõ ràng kể cả các em ngồi ở cuối lớp học
Thí nghiệm ảo được lập trình sẵn nên gần như tất cả đều chuẩn xác, an toàn Thí nghiệm ảo còn cho biết diễn biến của phản ứng hóa học, cho phép dừng phản ứng ở thời điểm cần quan sát và phân tích Thí nghiệm ảo cho phép lặp đi lặp lại theo yêu cầu của người học
Một vấn đề nữa là công tác chuẩn bị thí nghiệm Trong chương trình THCS, hầu như tiết hóa học nào cũng có thí nghiệm Việc chuẩn bị và di chuyển dụng cụ, hóa chất từ lớp nào sang lớp khác rất khó khăn Còn với thí nghiệm ảo, các dụng cụ có sẵn trong máy vi tính giáo viên chỉ cần một lần thực hiện đưa phần mềm thiết kế thí nghiệm vào trong máy và cài đặt chương trình và sử dụng được nhiều lần ở nhiều lớp
Như vậy có thể thấy khá nhiều ưu điểm của thí nghiệm ảo, hơn nữa, hiện nay, tin học được ứng dụng nhiều vào trong trường học thì việc sử dụng các thí nghiệm ảo hỗ trợ cho giảng dạy các môn học là hoàn toàn hợp lý Thí nghiệm ảo có vai trò là phương tiện dạy học trong quá trình dạy học, đáp ứng được đầy đủ các bước, các quá trình của bài giảng [38]
Tuy nhiên, thí nghiệm ảo không thể thay thế các thí nghiệm do giáo viên và học sinh tiến hành Cũng như phi công sẽ không lái được máy bay hạ cánh khi chỉ toàn thực tập trên mô hình ảo; bác sĩ sẽ không phẫu thuật được khi chỉ có kinh nghiệm với dao mổ ảo trên máy tính
Trang 231.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THCS
1.3.1 Vài nét về các trường THCS ở Quận Gò Vấp
Theo phòng GD & ĐT Gò Vấp tính đến năm học 2009-2010, toàn Quận có 12 trường THCS công lập
+ Về đội ngũ GV dạy môn hóa: đến năm học 2009-2010 có 35 GV
+ Các cấp quản lí giáo dục quan tâm đến công tác trang thiết bị dạy học,
sử dụng nguồn ngân sách chi cho công tác đầu tư sắm trang thiết bị đúng qui định theo Thông tư 30/TT-LB ngày 26/7/1990 Nhiều trường đã có phòng thí nghiệm, có cán bộ phụ trách thiết bị và thực hành tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức làm thí nghiệm trên lớp
+ Về hệ thống phòng thí nghiệm hóa học: hiện nay trên toàn Quận có 5 trường có phòng thực hành hóa học riêng, 7 trường sử dụng phòng Hóa – Sinh chung Tuy nhiên phòng thí nghiệm môn hoá học vẫn chưa có tủ hút khí độc Các trường còn lại chưa có hoặc đang xây dựng phòng bộ môn hóa học
1.3.2 Thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học ở các trường THCS
Trang 241.3 2.2 Phương pháp điều tra
- Gửi 47 phiếu điều tra (xem phụ lục 1) ở Quận Gò Vấp, Tân Phú, Quận 11 để tìm hiểu thực trạng sử dụng thí nghiệm hóa học của giáo viên
- Gửi 10 phiếu điều tra cho giáo viên để tìm hiểu cách sử dụng một số thí nghiệm cụ thể trong chương trình THCS
- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ chỉ đạo môn Hóa quận Gò Vấp, nhóm trưởng và giáo viên bộ môn hóa học ở các trường THCS: Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Văn Trỗi, Lê Quý Đôn, Võ Thành Trang để biết nguyên nhân của các thí nghiệm không thành công
1.3 2.3 Kết quả điều tra
Sau khi thu về 47 phiếu điều tra từ 15 trường THCS về mức độ sử dụng các loại thí nghiệm hóa học và tỉ lệ thí nghiệm biểu diễn giáo viên đã thực hiện theo yêu cầu của SGK, chúng tôi lập ra bảng 1.2
Bảng 1.2: Thống kê tình hình giáo viên sử dụng các loại thí nghiệm hóa học trong chương trình THCS
Không
sử dụng %
Có
sử dụng %
Sử dụng thường xuyên
%
Thí nghiệm biểu diễn của GV 5 10.6 12 25.5 30 63.8
Thí nghiệm ảo, mô phỏng,… 15 31.9 18 38.3 14 29.8
Dùng hình ảnh và lời nói để mô
Thí nghiệm của HS khi nghiên
- Từ bảng 1.2 cho thấy giáo viên đã chú ý đến thí nghiệm hóa học: 46,8% giáo viên không dùng lới nói hình ảnh để mô tả thí nghiệm; 63,8% giáo viên thường xuyên sử dụng thí nghiệm biểu diễn và 59,6% giáo viên thường xuyên
tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm nghiên cứu Các thí nghiệm mô phỏng cũng được gần 70% giáo viên sử dụng
Trang 25Bảng 1.3: % thí nghiệm biểu diễn được giáo viên thực hiện thành công
so với tổng số thí nghiệm theo yêu cầu của chương trình
* Chúng tôi tham khảo ý kiến của 10 giáo viên về cách sử dụng một số thí nghiệm cụ thể trong chương trình Kết quả như sau (bảng 1.4)
HS tự làm
TN theo nhóm
Trang 26- Kết quả điều tra cho thấy: Những thí nghiệm đa số GV không thực hiện
mà chỉ minh họa bằng hình trong SGK gồm: chưng cất nước, sự phân hủy nước, chứng minh định luật bảo toàn khối lượng, sự tổng hợp nước, đốt cháy bông gòn, metan tác dụng với clo, clo ẩm tẩy màu, clo tác dụng với dd NaOH Đây thường là những thí nghiệm có chất độc hại hoặc dụng cụ cồng kềnh
- Một số giáo viên cho biết:
+ Có những thí nghiệm mặc dù đa số GV cố gắng thực hiện (hoặc đã tổ chức cho học sinh làm nhưng không thành công, ví dụ: cacbon khử đồng (II) oxit, sắt tác dụng với lưu huỳnh
- Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp cán bộ chỉ đạo môn Hóa quận Gò Vấp, nhóm trưởng và giáo viên bộ môn hóa ở các trường THCS: Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Văn Trỗi,… thu được một số ý kiến sau:
Thầy Trịnh Vĩnh Thanh, cán bộ chỉ đạo môn Hóa quận Gò Vấp cho biết: “Giáo viên trong quận thực hiện khá tốt việc tiến hành thí nghiệm biểu diễn (khoảng 80%) Nguyên nhân các thí nghiệm không tiến hành được là: một số thí nghiệm còn độc hại, nội dung sách giáo khoa dài, bài tập nhiều, nội dung kiểm tra chưa chú trọng đến khâu thực hành thí nghiệm nên giáo viên ngại làm thí nghiệm.”
Cô Phạm Thị Thu Phương ở trường THCS Nguyễn Văn Trỗi cho biết:
“Chỉ làm thí nghiệm một số bài Nguyên nhân: chưa có giáo viên phụ trách phòng thí nghiệm, dụng cụ và hóa chất không đúng quy cách nên thí nghiệm
có lúc được lúc không, nhiều thí nghiệm còn độc hại, dễ gây cháy nổ”
Trang 27Cô Nguyễn Thị Ngọc Thu ở trường THCS Nguyễn Văn Nghi cho biết:
“Chỉ sử dụng thí nghiệm khi có giáo viên đến thăm lớp Nguyên nhân: sĩ số lớp học đông, nhiều thí nghiệm không thu hút được học sinh vì không trực quan, thời gian tiến hành thí nghiệm dài nên học sinh không tập trung”
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
- Thí nghiệm hóa học có ý nghĩa to lớn trong dạy học hóa học Đó là dạng phương tiện trực quan chủ yếu, có vai trò quyết định trong dạy học ở trường phổ thông
- Thí nghiệm ảo và các thí nghiệm mô phỏng có những ưu điểm cần được tận dụng, phối hợp bổ sung cho thí nghiệm thật như: mở rộng tầm quan sát cho lớp học; chuẩn xác, an toàn, có thể dừng phản ứng để phân tích; lắp ráp,
di chuyển thí nghiệm thuận lợi Hiện nay đã có gần 70% giáo viên sử dụng thí nghiệm ảo, mô phỏng (Xem bảng 1.2)
- Kết quả tìm hiểu thực tế cho thấy trang thiết bị các trường không đồng đều và không đồng bộ Quận Gò Vấp có 12 trường THCS có phòng thực hành hóa học, tuy nhiên, chỉ có 5 trường có riêng phòng thí nghiệm Hóa, một số trường khác sử dụng chung phòng thí nghiệm với môn Sinh
- Trong dạy học, giáo viên đã có ý thức được vai trò của thí nghiệm hóa học: có 63,8% giáo viên thường xuyên sử dụng thí nghiệm biểu diễn và 59,6% giáo viên tổ chức cho học sinh thí nghiệm Những thí nghiệm giáo viên thực hiện không thành công hoặc không biểu diễn mà chỉ minh họa bằng hình ảnh trong SGK thường là: cacbon khử đồng (II) oxit, sắt tác dụng với lưu huỳnh, chưng cất nước, sự phân hủy nước, chứng minh định luật bảo toàn khối lượng, sự tổng hợp nước, đốt cháy bông gòn, metan tác dụng với clo, clo
ẩm tẩy màu, clo tác dụng với dd NaOH v.v
- Những nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế việc sử dung thí nghiệm hóa học trong giờ học là:
+ Nhiều thí nghiệm có dụng cụ cồng kềnh, khó sắp xếp và di chuyển + Một số thí nghiệm độc hại
+ Một số thí nghiệm yêu cầu nhiều thời gian làm ảnh hưởng đến thời lượng của tiết học
+ Về mặt kỹ thuật, một số thí nghiệm khó thực hiện thành công
Trang 29- Kết quả điều tra trên đặt cho chúng tôi nhiệm vụ tìm những biện pháp cải tiến kỹ thuật thí nghiệm, cải tiến phương pháp sử dụng thí nghiệm (thật,
ảo, mô phỏng ) để giúp cho lao động dạy học của giáo viên trong điều kiện hiện tại được nhẹ nhàng hơn và hiệu quả hơn, khi áp lực công việc và những khó khăn cuộc sống hàng ngày đang tác động lên giáo viên
Trang 30C HƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CẢI TIẾN KĨ THUẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM TRONG
Định luật bảo toàn khối
Trang 319 Photpho tác dụng với oxi
23 Nước tác dụng với natri
24 Nước tác dụng với canxi oxit
Trang 326 Dung dịch 25 Sự hoà tan dầu ăn vào xăng
và nước
Bảng 2.2: Danh mục thí nghiệm biểu diễn ở THCS (Lớp 9).[11]
Tính chất hóa học của axit
4 Kim loại tác dụng với dd axit
5 Cu(OH)R 2 Rtác dụng với dd axit
6 FeR 2 ROR 3 Rtác dụng với dd HCl
Một số axit quan trọng
7 Cu tác dụng với HR 2 RSOR 4 Rđặc, nóng
8 Tính háo nước của HR 2 RSOR 4 Rđặc
9 Nhận biết HR 2 RSOR 4 Rvà muối sunfat
Tính chất hóa học của
bazơ
10 Dd bazơ làm đổi màu quì tím
11 Bazơ không tan bị nhiệt phân huỷ
Một số bazơ quan trọng 12 Pha chế dd Ca(OH)R 2
Tính chất hóa học của
muối
13 Muối tác dụng với kim loại
14 Muối tác dụng với axit
Trang 3315 Muối tác dụng với muối
16 Muối tác dụng với bazơ
2
Tính chất vật lý của kim
loại
17 Tính dẫn điện của kim loại
18 Tính dẫn nhiệt của kim loại
Tính chất hóa học của kim
loại
19 Na tác dụng với khí clo
20 Zn tác dụng với dd CuSOR 4
Dãy hoạt động hóa học
của kim loại
30 Clo tác dụng với hiđro
31 Clo tác dụng với nước
32 Clo tác dụng với dd NaOH
Trang 3434 C khử CuO Các oxit của cacbon 35 COR 2 Rtác dụng với nước
Axit cacbonic và muối
cacbonat
36 Muối cacbonat tác dụng với axit
37 Muối cacbonat tác dụng với dd bazơ
38 Muối cabonat tác dụng với dd muối
4
Hợp chất hữu cơ và hóa
Metan
40 Điều chế CHR 4
41 Metan tác dụng với oxi
42 Metan tác dụng với clo
48 Rượu etylic tác dụng với Na Axit axetic
49 Tính axit của axit axetic
50 Axit axetic tác dụng với Rượu etylic
Trang 3556 Thuỷ phân dd saccarozo
59 Protein bị phân huỷ bởi nhiệt
60 Sự đông tụ của protein
2.2 Cải tiến kĩ thuật tiến hành thí nghiệm hóa học
Như chương 1 đã trình bày, trong danh mục nêu trên, một số thí nghiệm được SGK hướng dẫn với dụng cụ cồng kềnh, một số thí nghiệm độc hại, một
số rất khó thành công Sau khi tham khảo ý kiến của giáo viên cùng với kinh
nghiệm và ý nguyện của bản thân, chúng tôi tiến hành cải tiến kĩ thuật thí nghiệm theo 2 hướng sau:
- Hướng 1: Một số thí nghiệm đã thành công nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu cải tiến thêm để đảm bảo an toàn hơn, tăng cường tính trực quan và s ử dụng các dụng cụ đơn giản, tiết kiệm hóa chất
- Hướng 2: Một số thí nghiệm làm theo hướng dẫn của SGK khó thành công, cần được hướng dẫn cụ thể hơn
Trang 362.2.1 Hướng 1 Một số thí nghiệm thành công nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu để:
a Thí nghiệm được thực hiện an toàn hơn
1 Thí nghiệm về sự cháy của lưu huỳnh trong oxi
S + OR 2 R
o t
Thí nghiệm được SGK 8, trang 81 mô tả như sau: Đưa muỗng sắt có chứa một lượng nhỏ lưu huỳnh bột vào ngọn lửa đèn cồn Sau đó, đưa lưu huỳnh đang cháy và lọ có chứa khí oxi
Thí nghiệm thường đạt kết quả tốt, nhưng nếu dùng cho các nhóm học sinh
Lọ chứa khí oxi còn chừa một ít nước, lưu huỳnh dạng bột, đũa thủy
tinh có gắn nút cao su, kẹp ống nghiệm, đèn cồn
* Tiến hành thí nghiệm
Hơ nóng một đầu đũa thủy tinh trên ngọn lửa đèn cồn rồi cho tiếp xúc với bột lưu huỳnh Lưu huỳnh nóng chảy bám vào đầu đũa Đưa đầu đũa thủy
Trang 37tinh vào ngọn lửa đèn cồn, lưu huỳnh sẽ cháy với ngọn lửa màu xanh mờ rồi đưa vào lọ chứa khí oxi Lưu huỳnh cháy trong oxi và sinh ra nhiều khói trắng
Hướng dẫn học sinh mô tả hiện tượng quan sát được và viết phương trình hóa học
* Cách tiến hành trên có những ưu điểm sau đây:
- Đảm bảo an toàn, vì phản ứng hóa học xảy ra trong lọ có nút đậy kín Khí SOR 2 R sinh ra hòa tan trong nước có sẵn ở đáy ống nghiệm
- Tiết kiệm hóa chất vì chỉ cần lượng nhỏ oxi và lượng nhỏ lưu huỳnh, sau thí nghiệm không còn lưu huỳnh dư
2 Thí nghiệm đốt cháy photpho trong oxi
4PR R+ 5OR 2 R
o t
Trang 38- P cháy tỏa nhiệt nhiều nên dễ làm vỡ lọ chứa khí oxi
- P cháy tạo thành nhiều khói trắng bay ra lớp và gây ho
- P đỏ còn dư ở muỗng sắt
Chúng tôi đề nghị cải tiến thí nghiệm trên như sau:
* Hóa chất và dụng cụ: P đỏ, muôi sắt có gắn nút cao su, lọ chứa khí oxi
còn chừa một ít nước, đèn cồn
* Tiến hành thí nghiệm
Đưa muôi sắt có chứa P đỏ vào ngọn lửa đèn cồn, P đỏ sẽ cháy với ngọn lửa màu vàng rồi đưa vào lọ chứa khí oxi P đỏ cháy mạnh trong oxi với ngọn lửa sáng chói và tạo ra nhiều khói trắng
Hướng dẫn học sinh mô tả hiện tượng quan sát được và viết phương trình hóa học
* Cách tiến hành trên có những ưu điểm sau đây:
- Đảm bảo an toàn, vì phản ứng hóa học xảy ra trong lọ có nút đậy kín Khói trắng PR 2 ROR 5 R sinh ra hòa tan trong nước có sẵn ở đáy lọ
- Lọ không bị vỡ vì có nước ở đáy lọ làm giảm nhiệt độ của phản ứng
- Tiết kiệm hóa chất vì chỉ cần lượng nhỏ P đỏ, sau thí nghiệm không còn P dư
3 Thí nghiệm nhận biết tính tẩy màu của clo ẩm
Thí nghiệm được SGK 9 trang 78 mô tả như sau: Dẫn khí clo vào cốc đựng nước, nhúng mẩu giấy quỳ tím vào dung dịch thu được
Trang 39Thí nghiệm thường đạt kết quả tốt, nhưng dụng cụ phức tạp, khí clo dư có mùi hắc không tan vào nước sẽ bay ra lớp nhiều, không an toàn Bảng 1.4 cho thấy giáo viên không làm thí nghiệm này
Chúng tôi đề nghị cải tiến thí nghiệm trên như sau:
* Thí nghiệm có những ưu điểm sau đây:
- Không dùng ống nghiệm thường vì khí clo sinh ra làm áp suất trong nghiệm tăng lên, sẽ làm bật nút cao su ra
- Đảm bảo an toàn, hạn chế được khí clo bay ra ngoài Để khử lượng clo
dư sau khi làm thí nghiệm có thể thực hiện bằng 2 cách:
Trang 40+ Mở nút cao su có ống nhỏ giọt ra, nhỏ vào lọ vài giọt dung dịch NaOH loãng, đậy lọ bằng một nút cao su (không có lỗ) rồi lắc mạnh để khí clo dư tác dụng với dung dịch NaOH
+ Nhúng cả lọ vào một chậu nước rồi từ từ mở nút ra Khí clo dư sẽ tan trong nước
- Cẩn thận khi đậy nút cao su, không để dung dịch HCl chạm vào giấy màu
Có 3 thí nghiệm (2 thí nghiệm của lớp 8, 1 thí nghiệm của lớp 9) được đề nghị cải tiến với lượng chất ít hơn, dụng cụ an toàn hơn
b Tăng cường tính trực quan
1 Thí nghiệm chứng minh định luật bảo toàn khối lượng
Thí nghiệm được SGK 8 trang 53 mô tả như sau: Trên đĩa cân A đặt hai cốc (1) và (2) chứa dd BaClR 2 R và dd NaR 2 RSOR 4 R Đặt quả cân lên đĩa cân B cho đến khi cân thăng bằng Đổ cốc (1) vào cốc (2), rồi lắc cho hai dung dịch trộn lẫn vào nhau
Thí nghiệm dễ thực hiện nhưng học sinh khó quan sát kim cân khi giáo viên làm thí nghiệm biểu diễn Còn các nhóm học sinh làm thí nghiệm thì mất thời gian vì phải chỉnh cân cho thăng bằng
Trong lớp học, cân khó thăng bằng vì chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: nhiệt độ, quạt, gió,… Khi chuyển lớp, giáo viên lại mất thời gian chỉnh lại cân
Chúng tôi đề nghị thực hiện thí nghiệm theo phương án sau: