Ngày 10/8/1948 Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế ban hành Chỉ thị số 115/TK-LC giao nhiệm vụ cho Nha Thống kê như sau: thống kê giáo dục; thống kê công chính; thống kê kinh tế; thống kê dân
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH – ĐẦU TƯ
Tài liệu bồi dưỡng
NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC THỐNG KÊ VIÊN
(Trình độ Đại học và Cao đẳng)
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1642/QĐ-BKHĐT ngày 04 tháng 12 năm 2012
của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Hà Nội – 2012
Trang 2• Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản Chuyên đề 3
• Vụ Thống kê Công nghiệp và Vụ Thống Xây dựng và Vốn đầu tư Chuyên đề 4
• Vụ Thống kê Thương mại và Dịch vụ và Vụ Thống Giá Chuyên đề 5
• Vụ Thống kê Dân số và Lao động
• Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường
• Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia
Chuyên đề 6 Chuyên đề 7 Chuyên đề 8
Trang 3MỤC LỤC
trang
CHUYÊN ĐỀ 1 TỔ CHỨC THỐNG KÊ VIỆT NAM
I Một số khái niệm về Tổ chức Thống kê
II Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức Thống kê Việt Nam
III.Tổ chức Thống kê Việt Nam hiện nay
CHUYÊN ĐỀ 2 CÔNG TÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ ĐỘ THỐNG KÊ VÀ
THỐNG KÊ TỔNG HỢP
PHẦN I CÔNG TÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ ĐỘ THỐNG KÊ
I Giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác phương pháp chế độ thống kê
II Một số nội dung chủ yếu của công tác phương pháp chế độ thống kê
PHẦN II CÔNG TÁC THỐNG KÊ TỔNG HỢP
I Giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác thống kê tổng hợp
II Một số nội dung chủ yếu của công tác thống kê tổng hợp
CHUYÊN ĐỀ 3 CÔNG TÁC THỐNG KÊ NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
I Giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác thống kê nông, lâm nghiệp và thủy sản
II HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN CHUYÊN ĐỀ 4 CÔNG TÁC THỐNG KÊ CÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG VÀ VỐN ĐẦU TƯ
PHẦN I CÔNG TÁC THỐNG KÊ CÔNG NGHIỆP
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC THỐNG KÊ CÔNG NGHIỆP
II HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ CÔNG NGHIỆP
PHẦN II CÔNG TÁC THỐNG KÊ XÂY DỰNG VÀ VỐN ĐẦU TƯ
I Giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác thống kê xây dựng, vốn đầu tư và đầu tư nước ngoài
II Hệ thống chỉ tiêu thống kê xây dựng và vốn đầu tư
III Hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Trang 4
CHUYÊN ĐỀ 5 CÔNG TÁC THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ VÀ GIÁ PHẦN I CÔNG TÁC THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ
I Giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác thống kê thương mại và dịch vụ
II Hệ thống chỉ tiêu thống kê thương mại và dịch vụ
III Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp
IV Một số vấn đề tồn tại và hướng hoàn thiện, phát triển
PHẦN II CÔNG TÁC THỐNG KÊ GIÁ
I Giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác thống kê giá
II Một số nội dung chủ yếu của công tác thống kê giá
CHUYÊN ĐỀ 6 CÔNG TÁC THỐNG KÊ DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG
I Giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác thống kê dân số và lao động
II Hệ thống chỉ tiêu thống kê dân số và lao động
CHUYÊN ĐỀ 7 CÔNG TÁC THỐNG KÊ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG
I Giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác thống kê xã hội và môi trường
II Những nội dung chủ yếu của công tác thống kê xã hội môi trường
CHUYÊN ĐỀ 8 CÔNG TÁC THỐNG KÊ TÀI KHOẢN QUỐC GIA
i giới thiệu chung về nghiệp vụ công tác thống kê tài khoản quốc gia
ii những nội dung chủ yếu của công tác thống kê tài khoản quốc gia
iii một số định hướng công tác thống kê tài khoản quốc gia trong thời gian tới
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Căn cứ Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm
2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức và Quyết định số
03/2008/QĐ-BNV ngày 12 tháng 11 năm 2008 của Bộ Nội vụ về việc ban hành chức danh, mã số và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành thống kê, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch - Đầu tư tổ chức biên soạn bộ tài liệu bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác thống kê dùng cho lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thống kê - ngạch thống kê viên (Trình độ Đạo học và Cao đẳng) nhằm tiêu chuẩn hóa nghiệp vụ các ngạch công chức ngành thống
kê và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức thống kê Tài liệu này do các chuyên gia có nhiều năm công tác, giảng dạy và nghiên cứu ở các Vụ thuộc Tổng cục Thống kê biên soạn
Tài liệu gồm:
Chuyên đề 1: Tổ chức Thống kê Việt Nam
Chuyên đề 2: Công tác Phương pháp chế độ thống kê và thống kê tổng hợp
Chuyên đề 3: Công tác Thống kê nông, lâm nghiệp và thủy sản
Chuyên đề 4: Công tác Thống kê công nghiệp, xây dựng và vốn đầu tư
Chuyên đề 5: Công tác Thống kê thương mại, dịch vụ và giá
Chuyên đề 6: Công tác Thống kê dân số và lao động
Chuyên đề 7: Công tác Thống kê xã hội và môi trường
Chuyên đề 8: Công tác Thống kê Tài khoản quốc gia
Xin giới thiệu Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thống kê - ngạch thống kê viên (Trình độ Đạo học và Cao đẳng) và mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của học viên và bạn đọc để Tài liệu này hoàn thiện hơn cho tái bản lần sau
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Trang 7Chuyên đề 1
TỔ CHỨC THỐNG KÊ VIỆT NAM
Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, thấy được vai trò và tầm quan trọng của công tác thống kê, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh thành lập Nha Thống kê Việt Nam, đây là
tổ chức thống kê đầu tiên của Hệ thống tổ chức Thống kê Việt Nam Kể từ khi thành lập
đến nay, Hệ thống tổ chức Thống kê Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc cung
cấp thông tin kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ TỔ CHỨC THỐNG KÊ
1 Hệ thống tổ chức Thống kê nhà nước
Theo Luật Thống kê năm 2003 quy định: Hệ thống tổ chức Thống kê Nhà nước bao gồm Hệ thống tổ chức Thống kê tập trung và tổ chức Thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
2 Hệ thống tổ chức Thống kê tập trung
Theo Luật Thống kê năm 2003 quy định: Hệ thống tổ chức Thống kê tập trung được tổ chức theo ngành dọc gồm cơ quan Thống kê Trung ương và cơ quan Thống kê địa phương
3 Tổ chức Thống kê Việt Nam
Theo Luật Thống kê năm 2003, ở nước ta ngoài hệ thống tổ chức Thống kê nhà nước còn có: Thống kê xã, phường, thị trấn, Thống kê doanh nghiệp, cơ quan hành chính (trừ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ), đơn vị sự nghiệp
Như vậy, Tổ chức Thống kê Việt Nam có thể hiểu, bao gồm: Hệ thống tổ chức Thống kê nhà nước và Thống kê xã, phường, thị trấn, Thống kê doanh nghiệp, cơ quan hành chính (trừ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ), đơn vị sự nghiệp
II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔ CHỨC THỐNG
KÊ VIỆT NAM
Trang 8Ngày 18/5/1946, chiểu theo sắc lệnh số 61/SL, Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế ra Nghị định số 102/BQDKT quy định nhiệm vụ và tổ chức của Nha Thống kê Việt Nam như sau:
- Nha Thống Kê Việt Nam đặt dưới quyền điều khiển của một giám đốc do sắc lệnh
cử theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ quốc dân kinh tế
Nhiệm vụ của Nha Thống kê Việt Nam là:
- Sưu tầm và thu thập những tài liệu và những con số có liên quan đến vấn đề xã hội, kinh tế hay văn hoá
- Xây dựng phương sách về thống kê
- Kiểm soát công việc của những Ty bảo hiểm Việt Nam hay hải ngoại
Nha Thống kê ViệtNamcó thể liên lạc thẳng với các cơ quan thống kê của các bộ, các kỳ và các tỉnh, các công sở khác để sưu tầm tài liệu cần thiết
Tổ chức của Nha Thống kê Việt Nam có ba phòng:
- Phòng nhất: coi về nhân viên, kế toán, vật liệu, lưu trữ công văn, xuất bản các
sách báo;
- Phòng nhì: thống kê dân số, văn hóa, chính trị;
- Phòng ba: thống kê tài chính
Ngày 10/8/1948 Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế ban hành Chỉ thị số 115/TK-LC giao nhiệm vụ cho Nha Thống kê như sau: thống kê giáo dục; thống kê công chính; thống
kê kinh tế; thống kê dân số, cụ thể là thống kê về người (thuộc phạm vi Bộ Nội vụ): kiểm
kê về người xếp theo độ tuổi, số sinh, tử; thống kê canh nông thuộc các Nha, Bộ Canh nông: nông chính, thủy lâm, thủy ngư; thống kê thương mại giá cả thuộc phạm vi Nha Thương vụ và Ngoại thương, Nha Thuế quan; thống kê về tiểu công nghệ và công nghệ thuộc Nha Khoáng chất và kỹ nghệ; thống kê dân sinh, Nha Thống kê trực tiếp làm, phản ánh kịp thời việc ổn định đời sống của đồng bào tản cư và đồng bào cư ngụ, sinh sống tại địa phương Tổ chức thống kê các cấp được bắt đầu hình thành
- Ở Trung ương có:
+ Phòng Công văn, viên chức và kế toán;
+ Phòng Chuyên môn điều tra thống kê
Nhiệm vụ của cơ quan Thống kê Trung ương là thu thập tài liệu của các khu sau đó kiểm soát và trình bày gửi lên Bộ Liên lạc với các Nha để lấy tài liệu (có 5 Nha thuộc Bộ)
- Ở cấp liên khu: có Phòng Thống kê liên khu đặt trong Văn phòng Giám đốc kinh
tế liên khu, có nhiệm vụ:
+ Đôn đốc và tập trung các báo cáo kinh tế của các Ty Kinh tế
Trang 9+ Làm báo cáo về tình hình kinh tế chung cho Nha Thống kê Việt Nam thuộc ngành Canh nông, công nghệ, thương mại
+ Soạn thảo các chương trình điều tra và đề nghị các chương trình đó lên Nha Thống kê, thi hành chương trình do Nha Thống kê giao
+ Liên lạc với các cơ quan cấp khu: canh nông, địa chính, thuế quan, Ủy ban kháng chiến hành chính để lấy tài liệu cần thiết, đơn vị căn bản là huyện
+ Giám sát và đề xuất các công việc của các Ty Kinh tế tỉnh
- Ở cấp tỉnh: có cán bộ Thống kê trong Ty Kinh tế tỉnh
Thống kê cấp tỉnh có nhiệm vụ thực hiện việc thu thập số liệu và báo cáo thống kê theo quy định:
+ Phân phát các mẫu thống kê về giá thị trường cho các đồn công an nhờ Ty Công
an làm Trưởng ty Công an tập trung vào ngày 15 và 30 hàng tháng gửi đến Trưởng ty kinh tế
+ Mỗi tháng hai kỳ làm báo cáo dựa vào tài liệu của các đồn công an đã thu thập gửi cho Nha Thống kê và Sở Giám đốc Kinh tế liên khu
Ngày 25/4/1949 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 33/SL sáp nhập Nha Thống
kê Việt Nam vào Phủ Chủ tịch
Ngày 11/7/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 124/SL bãi bỏ Nha Thống
kê Việt Nam
Ngày 09/8/1950, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 38/TTg thành lập Phòng Thống kê trong Văn phòng Thủ tướng phủ
Phòng Thống kê có nhiệm vụ: thu thập và xếp đặt những tài liệu thống kê của các
Bộ và các Ủy ban hành chính kháng chiến địa phương, giúp các Bộ và các Uỷ ban hành chính kháng chiến tổ chức và hướng dẫn theo dõi thống kê
Tóm tắt một số thông tin giai đoạn này:
Từ năm 1946 đến năm 1949, cơ quan Thống kê thuộc Bộ Quốc dân kinh tế với tên gọi là Nha Thống kê; từ năm 1950 đến năm 1955 cơ quan Thống kê nằm trong Phủ Thủ tướng (nay là Văn phòng Chính phủ) với tên gọi là Phòng Thống kê Hệ thống tổ chức Thống kê trong giai đoạn này đã hình thành và được quản lý theo ngành ngang như sau: ở cấp liên khu có Phòng Thống kê Liên khu đặt trong Văn phòng Giám đốc Kinh tế Liên khu, ở cấp tỉnh có cán bộ Thống kê trong Ty Kinh tế tỉnh Về nhân sự, năm 1946, Nha Thống kê có 4 người, đến năm 1949 có 10 người và đến năm 1950, khi Phòng Thống kê nằm trong Phủ Thủ tướng, nhân sự còn có 4 người1
1 Theo cuốn Lịch sử Thống kê Việt Nam xuất bản năm 2006
Trang 102 Giai đoạn 1955-1975
Ngày 20/02/1956, Chính phủ ban hành Điều lệ số 695/TTg do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký, quy định tổ chức Cục Thống kê Trung ương, các cơ quan Thống kê địa phương
và các tổ chức Thống kê của Bộ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Hệ thống tổ chức Thống kê như sau:
- Ở Trung ương có Cục Thống kê Trung ương nằm trong Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Cục Thống kê Trung ương là một cơ quan nhà nước để lãnh đạo thống nhất và tập trung mọi việc thống kê và kế toán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Cục Thống kê Trung ương có 5 phòng:
(1) Phòng Thống kê Tổng hợp;
(2) Phòng Thống kê Nông nghiệp;
(3) Phòng Thống kê Công nghiệp, vận tải;
(4) Phòng Thống kê Thương nghiệp, tài chính;
(5) Phòng Thống kê Văn hóa, giáo dục, y tế, lao động
- Ở địa phương có những tổ chức thống kê sau:
+ Ban Thống kê Liên khu (khu Việt Bắc, khu tự trị Thái Mèo, khu Hồng Quảng); + Ban Thống kê tỉnh, thành phố;
+ Thanh tra Thống kê huyện, thị;
+ Phụ trách Thống kê xã;
Các Ban Thống kê Liên khu, tỉnh, thành phố, Thanh tra thống kê huyện, thị là một
tổ chức độc lập với Ủy ban hành chính và Ủy ban Kế hoạch khu, tỉnh, huyện và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Cục Thống kê Trung ương Ban Thống kê Liên khu lãnh đạo Ban Thống kê tỉnh, thành phố, Ban Thống kê tỉnh, thành phố lãnh đạo Thanh tra Thống kê huyện, thị, Thanh tra Thống kê huyện, thị lãnh đạo phụ trách thống kê xã, Phụ trách thống kê xã là ủy viên Ủy ban hành chính xã Danh sách Phụ trách thống kê xã do Trưởng Ban Thống kê tỉnh, thành phố duyệt
- Thống kê Bộ, ngành: Ở mỗi Bộ và mỗi cơ quan, xí nghiệp đều có tổ chức thống kê nằm trong Phòng kế hoạch Hệ thống tổ chức thống kê này do mỗi Bộ quy định sau khi
có sự tham gia ý kiến của Cục Thống kê trung ương Các tổ chức thống kê ấy phải bảo đảm lãnh đạo mọi công tác thống kê, kế toán của Bộ, các cơ quan xí nghiệp một cách thống nhất tập trung
Các Bộ, cơ quan xí nghiệp có nhiệm vụ gửi đến Cục Thống kê trung ương những báo cáo về thống kê và kế toán theo đúng mẫu thời hạn đã quy định, những tài liệu khác
Trang 11về công tác kiểm kê và thống kê đã sưu tầm trong từng giai đoạn, những báo cáo về kinh
tế, những bản chỉ thị, những bản thuế biểu, những bản giá cả, những tập san Mỗi tài liệu phải cung cấp bao nhiêu bản là do sự yêu cầu của Cục Thống kê trung ương Các bản báo cáo thống kê đều do ông Bộ trưởng các Bộ, thủ trưởng các cơ quan, ông Giám đốc các xí nghiệp ký và chịu trách nhiệm về sự chính xác của các tài liệu Để hiểu rõ các bản báo cáo, Cục Thống kê trung ương yêu cầu cán bộ các Bộ mang theo ý kiến của ông Bộ trưởng đến trình bày các chi tiết về các báo cáo và cung cấp thêm tài liệu
Cục Thống kê trung ương có quyền bác bỏ các báo cáo không chính xác, không hợp
lệ và yêu cầu báo cáo lại
Ngày 08/04/1957, Chính phủ ban hành Nghị định số 142/TTg quy định lại tổ chức, nhiệm vụ của các cơ quan thống kê các cấp, các ngành do Phó Thủ tướng Phan
Kế Toại ký
Theo Nghị định này, Bộ máy thống kê các cấp, các ngành gồm có:
+ Cục Thống kê trung ương (trong Ủy ban kế hoạch Nhà nước)
+ Các Chi Cục Thống kê liên khu, khu, thành phố, tỉnh
+ Phòng Thống kê huyện, châu
(2) Phòng Thống kê Nông nghiệp;
(3) Phòng Thống kê Công nghiệp;
(4) Phòng Thống kê Xây dựng cơ bản;
(5) Phòng Thống kê Thương nghiệp, tài chính;
(6) Phòng Thống kê Văn hóa, giáo dục, y tế, dân số, lao động
Cơ quan thống kê ở các địa phương là một cơ quan chuyên môn của Ủy ban Hành chính địa phương chịu sự lãnh đạo chung và trực tiếp của Uỷ ban hành chính, đồng thời chịu sự lãnh đạo của cơ quan thống kê cấp trên về mặt nghiệp vụ
Theo Nghị định số 142/TTg, các tổ chức thống kê ở các khu, tỉnh, thành phố được gọi tên là Chi cục Thống kê Năm 1957 có các Chi cục Thống kê Việt Bắc, Chi cục Thống kê Thái Mèo, Chi cục Thống kê Hồng Quảng và 33 Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố
Trang 12Ở cấp huyện thành lập các Phòng Thống kê huyện, thị
Ở cấp xã, thành lập các Ban Thống kê xã
Đối với Tổ chức Thống kê Bộ, ngành, Nghị định quy định: Để tiện cho việc tổ chức, lãnh đạo một cách tập trung và thống nhất đối với công tác thống kê về các mặt của ngành mình, nhằm phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu của công tác kế hoạch và công tác lãnh đạo, các Bộ, các ngành trung ương, cơ quan nghiệp vụ thuộc Bộ và các xí nghiệp đều phải thành lập bộ máy thống kê thích đáng Hệ thống thống kê này do các Bộ, các ngành quy định sau khi có sự tham gia ý kiến của Cục Thống kê trung ương Các tổ chức thống
kê ấy phải đảm bảo giúp Bộ lãnh đạo mọi công tác thống kê của ngành mình một cách thống nhất và tập trung
Ngày 29/9/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 131/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê, đây là một mốc quan trọng trong sự phát triển tổ chức của ngành Thống kê Việt Nam Tổng cục Thống kê là cơ quan thuộc Chính phủ, cơ cấu tổ chức gồm có:
(1) Vụ Thống kê Tổng hợp;
(2) Vụ Thống kê Công nghiệp;
(3) Vụ Thống kê Nông nghiệp;
(4) Vụ Thống kê Thương nghiệp và tài chính;
(5) Vụ Thống kê Xây dựng cơ bản ;
(6) Vụ Thống kê Cung cấp vật tư kỹ thuật;
(7) Vụ Thống kê Lao động và văn xã;
(8) Văn phòng Tổng cục Thống kê;
(9) Các đơn vị sự nghiệp do Tổng cục quản lý
Vụ Thống kê nghiệp vụ có các Phòng Thống kê nghiệp vụ
Việc thành lập, sửa đổi hoặc bãi bỏ Văn phòng, các Vụ, các đơn vị tương đương do Hội đồng Chính phủ phê chuẩn
Nhiệm vụ của Văn phòng, các Vụ và các đơn vị sự nghiệp thuộc Tổng cục quản lý sẽ quy định trong điều lệ tổ chức của Tổng cục Thống kê do Hội đồng Chính phủ phê chuẩn
Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố Trong giai đoạn 1961-1965, bên cạnh việc xây dựng, hoàn thiện bộ máy, Tổng cục Thống kê đã tập trung nhiều công sức xây dựng bộ máy thống kê ở địa phương, nhất là thống kê huyện, xã Cuối năm 1965, toàn miền Bắc có 26 Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và hàng trăm Phòng Thống kê huyện, thị Đặc biệt, trong giai
Trang 13đoạn này còn có Phòng Thống kê đặc khu Vĩnh Linh là khu vực giáp giới tuyến quân sự tạm thời phân chia hai miền Nam, Bắc
Cuối năm 1965, cơ cấu bộ máy của Tổng cục Thống kê được Hội đồng Chính phủ phê duyệt có thêm Vụ Tổ chức giáo dục trên cơ sở hợp nhất Phòng Tổ chức cán bộ và Phòng Tuyên huấn thuộc Văn phòng
Ngày 05 tháng 4 năm 1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 72-CP ban hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Tổng cục Thống kê
Tổng cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ
Tổng cục Thống kê quản lý tập trung thống nhất hệ thống tổ chức Thống kê Nhà nước, bao gồm: Tổng cục Thống kê, Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Phòng Thống kê huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, khu phố của thành phố trực thuộc Trung ương Chi cục Thống kê tỉnh, Phòng Thống kê huyện phục vụ yêu cầu của Trung ương và phục vụ yêu cầu của địa phương, thông qua chương trình công tác hàng năm do Tổng cục Thống kê thống nhất quy định
Tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê gồm:
(1) Vụ Thống kê Nông nghiệp - Lâm nghiệp;
(2) Vụ Thống kê Công nghiệp;
(3) Vụ Thống kê Xây dựng cơ bản;
(4) Vụ Thống kê Giao thông vận tải - Bưu điện và Viễn thông;
(5) Vụ Thống kê Cung cấp vật tư kỹ thuật;
(6) Vụ Thống kê Thương nghiệp;
(8) Vụ Thống kê Lao động - Tiền lương;
(9) Vụ Thống kê Dân số;
(10) Vụ Thống kê Tài chính - Ngân hàng - Giá cả;
(11) Vụ Thống kê Đời sống - Văn hoá - Xã hội;
(12) Vụ Thống kê Tổng hợp và Thông tin kinh tế;
(13) Vụ Thống kê Cân đối kinh tế quốc dân;
(14) Vụ Hạch toán thống nhất và phương pháp chế độ thống kê;
(15) Vụ Tổ chức - cán bộ,
(16) Viện Thông tin kinh tế và Nghiên cứu khoa học thống kê;
(17) Cục Kỹ thuật tính toán;
Trang 14(18) Văn phòng Tổng cục Thống kê
Các trường trực thuôc:
(1) Trường Cán bộ thống kê Trung ương;
(2) Trường Đào tạo công nhân kỹ thuật máy tính và một số đơn vị sản xuất như các trung tâm tính toán, phòng và trạm máy tính, xuởng sửa chữa máy tính v.v…
Tổng cục Thống kê có Hội đồng khoa học có tính chất tư vấn, để nghiên cứu những vấn đề quan trọng về phương pháp trong công tác hạch toán kế toán và thống kê
Sau ngày 30/4/1975, theo yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, ngành Thống kê đã nhanh chống tăng cường bộ máy tổ chức và cán bộ để xây dựng bộ máy tổ chức thống kê cho các tỉnh, thành phố phía Nam sau khi nước nhà thống nhất
Tóm tắt một số thông tin giai đoạn này:
Từ năm 1955 đến năm 1960, cơ quan Thống kê thuộc Ủy ban Kế hoạch nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) với tên gọi là Cục Thống kê trung ương, hệ thống tổ chức thống kê được tổ chức quản lý theo ngành dọc, ở Trung ương là Cục Thống kê trung ương, ở liên khu có Ban Thống kê Liên khu, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Ban Thống kê tỉnh, thành phố, ở huyện, thị xã có Thanh tra Thống kê huyện, thị
xã, ở xã có Phụ trách Thống kê xã Từ năm 1961 đến năm 1975, cơ quan Thống kê thuộc Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) với tên gọi là Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thống kê quản lý tập trung thống nhất theo ngành dọc ở Trung ương là Cơ quan Tổng cục Thống kê, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Chi cục Thống kê cấp tỉnh, ở huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Phòng Thống kê cấp huyện Về nhân sự, năm 1957, Cục Thống kê trung ương có trên 100 người, ở địa phương có trên 400 người bao gồm các Chi cục Thống kê cấp tỉnh và Phòng Thống kê cấp huyện2 Sau 30/4/1975, khi nước nhà thống nhất, Tổng cục Thống kê thực hiện theo Nghị định số 72-CP quản lý thống nhất trong cả nước, ngành Thống kê đã tiếp nhận 151 viên chức của Tổ chức Thống kê miền Nam (chính quyền Sài Gòn cũ) trong đó có 120 viên chức làm ở Viện Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Phát triển quốc gia và 31 viên chức làm trong Tòa thị chính (số cán bộ này gọi là số cán bộ lưu dung)3
3 Giai đoạn 1976-1986
Theo Điều lệ, từ giữa năm 1974, Tổng cục Thống kê quản lý toàn diện về các mặt:
tổ chức, biên chế, cán bộ, tiền lương, chuyên môn nghiệp vụ và cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hệ thống hành chính Nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện Khi nước nhà thống nhất, Nghị định số 72/CP có hiệu lực thực thi trong phạm vi cả nước
2 Theo cuốn Lịch sử Thống kê Việt Nam xuất bản năm 2006
3 Theo tài liệu của Vụ Tổ chức cán bộ
Trang 15Các Chi cục Thống kê miền Nam lần lượt được thành lập, nâng số Chi cục trực thuộc Tổng cục Thống kê từ 18 đơn vị (Các Chi cục Thống kê miền Bắc) lên 38 Chi cục Thống kê trên toàn quốc
Trong giai đoạn này, Tổng cục Thống kê thành lập 3 đơn vị mới trực thuộc Tổng cục ở vùng mới giải phóng: Văn phòng II đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, Trường Trung học Thống kê II đặt tại Biên Hòa, Đồng Nai, Trường Trung học Thống kê III đặt tại thành phố Đà Nẵng
Cuối năm 1978, Quốc hội ra Nghị quyết tách tỉnh Cao Lạng để tái thành lập 2 tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng Cuối năm 1979, Quốc hội ra Nghị quyết thành lập đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo (tách từ tỉnh Đồng Nai) Theo đó, Tổng cục Thống kê ra Quyết định giải thể Chi cục Thống kê tỉnh Cao Lạng và thành lập 3 đơn vị mới là: Chi cục Thống kê tỉnh Cao Bằng, Chi cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thống kê Vũng Tàu – Côn Đảo, đưa tổng số Chi cục Thống kê lên 40 đơn vị thời kỳ từ năm 1979 đến năm 1986 Ngày 08/3/1984, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ra Quyết định số 80/QĐ-TCTK đổi tên Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố trong cả nước thành Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tên Cục Thống kê tỉnh, thành phố có từ năm 1984
Tại cơ quan Tổng cục, từ yêu cầu thực tế một số Vụ và đơn vị trực thuộc đã được Chính phủ chấp nhận cho sắp xếp lại như sau:
- Thành lập Vụ Thống kê Xây dựng – Giao thông vận tải trên cơ sở sáp nhập Vụ Xây dựng cơ bản với Vụ Giao thông vận tải – Bưu điện và Viễn thông
- Thành lập Vụ Thống kê Dân số - Lao động - Tiền lương, trên cơ sở sáp nhập Vụ Dân số với Vụ Lao động - Tiền lương
- Thành lập Vụ Thống kê Cân đối - Tài chính - Ngân hàng trên cơ sở sáp nhập Vụ Cân đối kinh tế quốc dân với Vụ Tài chính - Ngân hàng
- Thành lập Vụ Thống kê Thương nghiệp - Đời sống - Văn xã trên cơ sở sáp nhập
Vụ Thương nghiệp với Vụ Đời sống - Văn hóa - Xã hội
- Thành lập Tổ C-K trực thuộc lãnh đạo Tổng cục với nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo Tổng cục về hợp tác thống kê và quản lý cán bộ, chuyên gia Thống kê tại 2 nước bạn Lào và Cam-pu-chia
- Thành lập Phòng Thống kê nước ngoài (tách từ Viện Thông tin kinh tế và nghiên cứu khoa học thống kê)
Ngày 02 tháng 6 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 207-CP
về việc sửa đổi tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê
Theo Quyết định này tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê như sau:
Trang 16Các Vụ, Viện và đơn vị Trung ương:
(1) Vụ Thống kê Công nghiệp;
(2) Vụ Thống kê Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy lợi;
(3) Vụ Thống kê Thương nghiệp - Đời sống - Văn xã;
(4) Vụ Thống kê Xây dựng - Giao thông vận tải;
(5) Vụ Thống kê Vật tư - Tài sản cố định;
(6) Vụ Thống kê Dân số - Lao động - Tiền lương;
(7) Vụ Thống kê Cân đối - Tài chính - Ngân hàng;
(8) Vụ Phương pháp chế độ thống kê và hạch toán;
(9) Vụ Thống kê Tổng hợp và Thông tin kinh tế;
(5) Quốc doanh phát hành Biểu mẫu Thống kê;
(6) Trường Cán bộ Thống kê Trung ương;
(7) Trường Trung học Thống kê II;
(8) Trường Trung học Thống kê III;
(9) Trường Kỹ thuật tính toán;
(10) Xí nghiệp Tính toán thống kê Trung ương;
(11) Công ty Vật tư, bảo hành, sản xuất máy tính
Trong thời kỳ này, số cơ quan Thống kê cấp tỉnh và huyện tăng gấp 2 lần; các đơn
vị tại cơ quan Tổng cục có tổ chức Phòng; số trường đào tạo trực thuộc tăng từ 2 lên 4 trường; tổ chức mới thuộc thẩm quyền thành lập của Tổng cục trưởng được thành lập như
Trang 17nhà Xuất bản Thống kê, các đơn vị máy tính và in, phát hành biểu mẫu thống kê thuộc Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Tóm tắt một số thông tin giai đoạn này:
Từ năm 1976 đến năm 1986, cơ quan Thống kê thuộc Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) với tên gọi là Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thống kê quản lý tập trung thống nhất theo ngành dọc ở Trung ương là Cơ quan Tổng cục Thống kê, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Chi cục Thống kê cấp tỉnh, ở huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Phòng Thống kê cấp huyện Về nhân sự, đến cuối năm 1978, toàn ngành Thống kê có 4197 người trong đó cơ quan Tổng cục Thống kê là 1199 người và Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là 2998 người Đến cuối năm 1986, toàn ngành Thống kê có 6213 người trong đó cơ quan Tổng cục Thống kê là 1223 người và Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 4990 người4
4 Giai đoạn 1987 - 1993
Ngày 11/5/1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 81/HĐBT quy định lại chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của ngành Thống kê các cấp Theo Quyết định này, bộ máy Thống kê ở địa phương chuyển giao từ Tổng cục Thống kê quản lý sang Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý Đây là sự thay đổi rất quan trọng của hệ thống tổ chức ngành Thống kê, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngành Tổng cục Thống kê không còn chức năng quản lý ngành dọc Ở cấp Trung ương, Tổng cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Chính phủ với chức năng, nhiệm vụ là cơ quan tham mưu của Đảng và Nhà nước về thông tin kinh tế - xã hội, phục vụ yêu cầu xây dựng
và phát triển đất nước
Theo Quyết định số 81/HĐBT, số đơn vị trực thuộc Tổng cục từ 26 đơn vị, nay giảm chỉ còn 10 đơn vị, bao gồm:
(1) Vụ Thống kê Nông - Lâm Nghiệp - Ngư nghiệp;
(2) Vụ Thống kê Công nghiệp;
(3) Vụ Thống kê Xây dựng cơ bản -Giao thông vận tải - Bưu điện;
(4) Vụ Thống kê Thương nghiệp - Vật tư - Giá cả;
(5) Vụ Thống kê Dân số - Lao động - Văn xã;
(6) Vụ Thống kê Cân đối - Tài chính - Ngân hàng;
Trang 18(10) Viện Nghiên cứu khoa học thống kê
Các Vụ không có tổ chức Phòng
- Giải thể Vụ Phương pháp chế độ để thành lập Phòng Phương pháp chế độ trực thuộc Tổng cục Thống kê
- Giải thể Vụ Kế hoạch - Tài vụ, chuyển giao nhiệm vụ công tác kế hoạch tài vụ cấp
I từ Vụ Kế hoạch – Tài vụ sang Văn phòng Tổng cục
- Giải thể Ban Thanh tra, chuyển giao nhiệm vụ của Ban Thanh tra về Vụ Tổ chức cán bộ
- Giải thể Ban Thống kê nước ngoài và Hợp tác quốc tế để thành lập Phòng Thống
kê nước ngoài và Hợp tác quốc tế trực thuộc Tổng cục
- Giải thể Vụ Thống kê Thương nghiệp - Đời sống - Văn xã và Vụ Thống kê Vật tư
- Tài sản cố định để thành lập Vụ Thống kê Thương nghiệp - Vật tư - Giá cả
- Giải thể Vụ Thống kê Dân số - Lao động - Tiền lương để thành lập Vụ Thống kê Dân số - Lao động - Văn xã
- Chuyển Phòng Thư ký trong Văn phòng thành Phòng trực thuộc Tổng cục Thống kê
- Chuyển nhiệm vụ thống kê giá thuộc Vụ Thống kê Cân đối tài chính -Ngân hàng sang Vụ Thống kê Thương nghiệp – Vật tư – Giá cả
- Chuyển nhiệm vụ thống kê tài sản cố định thuộc Vụ Thống kê Vật tư – Tài sản cố định sang Vụ Thống kê Cân đối - Tài chính - Ngân hàng
- Chuyển nhiệm vụ thống kê đời sống, văn hóa, xã hội thuộc Vụ Thống kê Thương nghiệp – Đời sống sang Vụ Thống kê Dân số - Lao động – Văn xã
- Sáp nhập Tạp chí Thống kê (đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục) vào Nhà Xuất bản Thống kê (1987), sau đó lại tách khỏi Nhà Xuất bản chuyển về Văn phòng vào năm 1990
- Giải thể cấp Phòng trong các Vụ thuộc cơ quan Tổng cục Lãnh đạo các Vụ trực tiếp quản lý và chỉ đạo nghiệp vụ đến các chuyên viên thuộc quyền
- Giải thể Trường Trung học Thống kê III (Đà nẵng), Trường Kỹ thuật tính toán Hà Nội và Nhà máy in Tiền Phong
Tổng cục đã sắp xếp lại 2 đơn vị sự nghiệp là: Trung tâm Tính toán Thống kê Trung ương, Viện Khoa học Thống kê và 2 đơn vị sản xuất kinh doanh là: Nhà Xuất bản Thống
kê và Công ty Phát hành Biểu mẫu Thống kê, đồng thời xây dựng chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong cơ quan Tổng cục theo mô hình tổ chức mới
Trang 19Ở cấp tỉnh, các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân hoặc sáp nhập vào Ủy ban Kế hoạch tỉnh
Ở cấp huyện, Phòng Thống kê sáp nhập vào Phòng Kế hoạch hoặc Phòng Tài chính
và không thống nhất một mô hình tổ chức
Tóm tắt một số thông tin giai đoạn này:
Từ năm 1987 đến năm 1993, cơ quan Thống kê thuộc Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) với tên gọi là Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thống kê không quản lý theo ngành dọc, bộ máy Thống kê ở địa phương chuyển giao từ Tổng cục Thống kê sang Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý Về nhân sự, năm 1988, Tổng cục Thống kê đã chuyển giao cho 40 Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương 5735 người, cơ quan Tổng cục Thống kê còn lại 993 người (5)
5 Giai đoạn 1994 - 2006
Qua hơn 6 năm quản lý theo ngành ngang đã bộc lộ nhiều nhược điểm cho thấy sự cần thiết phải đảm bảo việc chỉ đạo thống nhất về nghiệp vụ thống kê từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo tính độc lập về nghiệp vụ và tính khách quan của số liệu Ngày 23/3/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/CP quy định chức năng, nhiệm vụ và
tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê
Theo Nghị định này ngành Thống kê được trở lại quản lý theo ngành dọc, cơ cấu tổ chức gồm:
* Các đơn vị giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước:
(1) Vụ Tổng hợp và Thông tin;
(2) Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia;
(3) Vụ Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản;
(4) Vụ Công nghiệp;
(5) Vụ Xây dựng, Giao thông và Bưu điện;
(6) Vụ Thương mại và Giá cả;
Trang 20* Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục:
(1) Viện Nghiên cứu Khoa học Thống kê;
(2) Trung tâm Tính toán Thống kê;
(3) Trường Cán bộ Thống kê Trung ương I;
(4) Trường Trung học Thống kê II
Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Cục Thống kê
Ở cấp huyện, thị xã có Phòng Thống kê Phòng Thống kê quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh là đơn vị thuộc Cục Thống kê
Trên cơ sở Nghị định số 23/CP của Chính phủ, Tổng cục tiến hành sắp xếp lại tổ chức và xây dựng chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục và các Cục Thống kê
Ngày 18/4/1994 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 39/QĐ-TCTK quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và mối quan hệ giữa Cục Thống kê với
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
Ngày 03/9/2003 để phù hợp Luật Thống kê được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê
Theo Nghị định này, hệ thống tổ chức của Tổng cục Thống kê gồm:
1 Ở Trung ương có cơ quan Tổng cục Thống kê, cơ cấu tổ chức, gồm có:
* Các tổ chức giúp Tổng cục trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước: (1) Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia;
(2) Vụ Phương pháp chế độ thống kê;
(3) Vụ Thống kê Tổng hợp;
(4) Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng;
(5) Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản;
(6) Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả;
(7) Vụ Thống kê Dân số và Lao động;
(8) Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường;
(9) Vụ Hợp tác Quốc tế;
(10) Vụ Tổ chức cán bộ;
Trang 21(11) Vụ Kế hoạch tài chính;
(12) Thanh tra;
(13) Văn phòng
* Các đơn vị sự nghiệp thuộc Tổng cục Thống kê:
(1) Viện Nghiên cứu Khoa học Thống kê;
(2) Trung tâm Tin học Thống kê;
(3) Trung tâm Tư liệu Thống kê;
Tóm tắt một số thông tin giai đoạn này:
Từ năm 1994 đến năm 2006, cơ quan Thống kê thuộc Chính phủ với tên gọi là Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thống kê trở lại quản lý theo ngành dọc Ở Trung ương có
cơ quan Tổng cục Thống kê, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Cục Thống kê trực thuộc Tổng cục Thống kê, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Phòng Thống kê trực thuộc Cục Thông kê Về nhân sự, đến 12/1994, sau khi tiếp nhận cán bộ từ UBND tỉnh, tổng số cán bộ, công chức, viên chức ngành Thống kê là 3641 người trong
đó các đơn vị sự nghiệp là 200 người Đến 12/2006, toàn ngành Thống kê có 5243 người trong đó cơ quan Tổng cục Thống kê ở Trung uơng có 247 người và Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là 4693 người, các đơn vị sự nghiệp là 303 người5
6 Giai đoạn từ 2007 đến nay
Ngày 04/01/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/NĐ-CP chuyển Tổng cục Thống kê vào Bộ Kế hoạch và Đầu tư Giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện công tác quản lý đối với Tổng cục Thống kê
Ngày 04/6/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 93/2007/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch
và Đầu tư Theo Nghị định này cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê, gồm có:
1 Ở Trung ương có cơ quan Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
* Các đơn vị hành chính tham mưu giúp Tổng cục trưởng:
(1) Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia;
5 Theo tài liệu lưu trữ của Vụ Tổ chức cán bộ
Trang 22(2) Vụ Phương pháp chế độ thống kê và Công nghệ Thông tin;
(3) Vụ Thống kê Tổng hợp;
(4) Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng;
(5) Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản;
(6) Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả;
(7) Vụ Thống kê Dân số và Lao động;
(8) Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường;
Các đơn vị sự nghiệp nhà nước trực thuộc:
(1) Viện Nghiên cứu Khoa học Thống kê;
(2) Trung tâm Tư liệu Thống kê;
(3) Tạp chí Con số và Sự kiện;
(4) Trung tâm Tin học Thống kê;
(5) Trung tâm Tin học Thống kê khu vực II;
(6) Trung tâm Tin học Thống kê khu vực III
2 Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Cục Thống kê trực thuộc Tổng cục Thống kê
3 Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Phòng Thống kê thuộc Cục Thống kê
Ngày 13/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 03/2010/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Đây là văn bản dưới Luật quy định về tổ chức Thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thuộc Hệ thống tổ chức Thống kê nhà nước
Thống kê Bộ, Ngành là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ, Ngành, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng, Thủ tướng Ngành quản lý công tác thống kê và tổ chức hoạt động thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách
Thống kê Bộ, Ngành là bộ phận của hệ thống tổ chức thống kê nhà nước, chịu sự hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ thống kê của Tổng cục Thống kê
Trang 23Nghị định quy định tổ chức Thống kê Bộ, ngành như sau: Căn cứ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Chương trình điều tra thống kê quốc gia và Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, Ngành, yêu cầu thông tin thống kê phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Bộ, Ngành và nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân, Bộ trưởng, Thủ trưởng Ngành quyết định thành lập Phòng Thống kê trực thuộc đơn vị chức năng hoặc trình Chính phủ thành lập Vụ, Cục thực hiện chức năng, nhiệm vụ thống kê theo quy định của pháp luật
Bộ trưởng, Thủ trưởng Ngành chịu trách nhiệm quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thống kê Bộ, Ngành
Ngày 24/8/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 54/2010/QĐ-TTg quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đây là Văn bản hiện hành quy định hệ thống tổ chức
thống kê tập trung (sẽ trình chi tiết ở phần sau)
Tóm tắt một số thông tin giai đoạn này:
Tổng cục Thống kê từ cơ quan thuộc Chính phủ đã chuyển vào trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Tổng cục Thống kê quản lý tập trung theo ngành dọc Ở Trung ương có
cơ quan Tổng cục Thống kê, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Cục Thống kê trực thuộc Tổng cục Thống kê, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chi cục Thống kê trực thuộc Cục Thông kê Ở cấp huyện trước đây, Phòng Thống kê là một Phòng của Cục Thống kê đặt tại huyện, nay chuyển thành Chi cục Thống kê trực thuộc Cục Thống kê, Hệ thống tổ chức Thống kê tập trung được hình thành dọc theo 3 cấp hành chính Về nhân sự, đến 12/2007, toàn ngành Thống kê có 5577 người trong đó cơ quan Tổng cục Thống kê có 297 người, Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là
4954 người và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục là 326 người Đến 12/2011, toàn Ngành có 6071 người trong đó cơ quan Tổng cục Thống kê ở Trung ương có 282 người, Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là 5468, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục là 321 người6 Đối với Thống kê Bộ, ngành, sau khi có Luật Thống kê quy định về hệ thống thống kê nhà nước đã có Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
III TỔ CHỨC THỐNG KÊ VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Hệ thống tổ chức Thống kê tập trung
Hệ thống tổ chức Thống kê tập trung hiện nay được tổ chức theo Quyết định số 54/2010/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư
6 Theo tài liệu lưu trữ của Vụ Tổ chức cán bộ
Trang 24Quyết định này quy định:
a Vị trí và chức năng: Tổng cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý nhà nước về thống kê; tổ chức các hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật
Tổng cục Thống kê có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, tài khoản riêng và trụ sở chính tại thành phố Hà Nội
b Nhiệm vụ và quyền hạn: Có các nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu sau đây:
(1) Trình Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định: các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thống kê; Chiến lược, quy hoạch, chương trình hành động, đề án, dự
án quan trọng về thống kê; Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Chế độ báo cáo thống kê
cơ sở, Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, Chương trình điều tra thống kê quốc gia, các Bảng phân loại thống kê áp dụng chung cho nhiều ngành, lĩnh vực; quyết định về các cuộc tổng điều tra thống kê và các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng khác về thống
kê theo quy định của pháp luật
(2) Trình Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, quyết định: Quy chế phổ biến thông tin thống kê, Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã; nội dung, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê chủ yếu; Kế hoạch năm năm và hàng năm của ngành Thống kê; Các văn bản khác về lĩnh vực thống kê thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(3) Giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thống kê và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành, phê duyệt
(4) Ban hành văn bản và hướng dẫn thực hiện phân loại thống kê, chế độ báo cáo thống kê, điều tra thống kê, khai thác hồ sơ đăng ký hành chính phục vụ công tác thống
kê và các văn bản chuyên môn nghiệp vụ thống kê khác theo quy định của pháp luật (5) Bồi dưỡng nghiệp vụ thống kê đối với người làm công tác thống kê của các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban nhân dân các cấp, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp
(6) Thẩm định về chuyên môn nghiệp vụ đối với Bảng phân loại thống kê chuyên ngành, Chế độ báo cáo thống kê cơ sở, Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, danh mục điều tra thống kê ngoài Chương trình điều tra thống kê quốc gia và phương án điều tra thống
kê trước khi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
Trang 25phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, người đứng đầu cơ quan Trung ương của các tổ chức đoàn thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định ban hành
(7) Tổng hợp các báo cáo thống kê và báo cáo kết quả điều tra thống kê do các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, đơn vị khác cung cấp
(8) Thực hiện các báo cáo phân tích và dự báo thống kê tình hình kinh tế - xã hội hàng tháng, quý, năm, nhiều năm; báo cáo đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu thuộc chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; báo cáo phân tích thống
kê chuyên đề và các báo cáo thống kê đột xuất khác
(9) Truy cập, khai thác, sao lưu, ghi chép các cơ sở dữ liệu thống kê ban đầu của các
cơ quan, đơn vị thực hiện Chế độ báo cáo thống kê cơ sở, Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, điều tra thống kê và hồ sơ đăng ký hành chính của các cơ quan, tổ chức để sử dụng cho mục đích thống kê; xây dựng, quản lý và chia sẻ các cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia, kho dữ liệu thống kê quốc gia về kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật
(10) Giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý việc công bố thông tin thống
kê kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật
(11) Công bố thông tin thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước theo quy định của pháp luật
(12) Biên soạn, xuất bản Niên giám thống kê và các sản phẩm thống kê khác
(13) Thực hiện công tác thống kê nước ngoài, bao gồm: thu thập, biên soạn số liệu thống kê tổng hợp về kinh tế - xã hội của các nước, vùng lãnh thổ, so sánh quốc tế về thống kê và phổ biến phương pháp luận thống kê quốc tế; thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch
ưu đãi theo nghề thống kê và các chế độ, chính sách đãi ngộ khác; thi đua, khen thưởng,
kỷ luật; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 26(17) Thực hiện cải cách hành chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm
vi quản lý theo quy định của pháp luật
(18) Quản lý tài chính, tài sản và các dự án đầu tư xây dựng được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(19) Thực hiện cung cấp dịch vụ công về thống kê theo quy định của pháp luật (20) Quản lý nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm và các doanh nghiệp trực thuộc Tổng cục Thống kê theo quy định của pháp luật
c Cơ cấu tổ chức
Tổng cục Thống kê được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất:
1 Cơ quan Tổng cục Thống kê ở Trung ương:
* Các tổ chức hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm có:
(1) Vụ Phương pháp chế độ Thống kê và Công nghệ thông tin;
(2) Vụ Thống kê Tổng hợp;
(3) Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia;
(4) Vụ Thống kê Công nghiệp;
(5) Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản;
(6) Vụ Thống kê Thương mại và Dịch vụ;
(7) Vụ Thống kê Xây dựng và Vốn đầu tư;
(8) Vụ Thống kê Giá;
(9) Vụ Thống kê Dân số và Lao động;
(10) Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường;
(11) Vụ Thống kê Nước ngoài và Hợp tác quốc tế;
Trang 27* Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc gồm có:
(1) Viện Khoa học Thống kê;
(2) Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê;
(3) Trung tâm Tin học Thống kê khu vực I;
(4) Trung tâm Tin học Thống kê khu vực II;
(5) Trung tâm Tin học Thống kê khu vực III;
(6) Tạp chí Con số và Sự kiện;
(7) Nhà Xuất bản Thống kê;
(8) Trường Cao đẳng Thống kê;
(9) Trường Trung cấp Thống kê
2 Cơ quan thống kê ở địa phương:
* Cục Thống kê ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Cục Thống kê cấp tỉnh)
Cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thống kê, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động thống kê trên địa bàn; tổ chức các hoạt động thống kê theo chương trình công tác của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao; cung cấp thông tin kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của lãnh đạo Đảng, Chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cho các
cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
Cục Thống kê cấp tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, có trụ sở làm việc và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật
Hiện nay, hệ thống tổ chức thống kê tập trung có 63 Cục Thống kê đặt tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Tổ chức của Cục Thống kê ở tại cơ quan Cục Thống
kê được tổ chức thành 2 mô hình, mô hình 6 Phòng và Thanh tra (gọi chung là mô hình 7 Phòng) và mô hình 5 Phòng và Thanh tra (gọi chung là mô hình 6 Phòng)
Mô hình tổ chức 6 phòng tại cơ quan Cục Thống kê gồm:
(1) Phòng Thống kê Tổng hợp;
(2) Phòng Thống kê Nông nghiệp;
(3) Phòng Thống kê Công - Thương;
(4) Phòng Thống kê Dân số - Văn xã;
(5) Phòng Tổ chức - Hành chính;
(6) Thanh tra Cục Thống kê
Trang 28Mô hình tổ chức 7 phòng tại cơ quan Cục Thống kê gồm:
(1) Phòng Thống kê Tổng hợp;
(2) Phòng Thống kê Nông nghiệp;
(3) Phòng Thống kê Công nghiệp - Xây dựng;
(4) Phòng Thống kê Thương mại;
(5) Phòng Thống kê Dân số - Văn xã;
(6) Phòng Tổ chức - Hành chính;
(7) Thanh tra Cục Thống kê
Phân công nhiệm vụ các Phòng theo mô hình 6 Phòng như sau:
- Phòng Thống kê Tổng hợp: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê tổng hợp, tài khoản quốc gia;
- Phòng Thống kê Nông nghiệp: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản;
- Phòng Thống kê Công - Thương: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê công nghiệp, xây dựng, vốn đầu tư, thương mại, khách sạn, nhà hàng, du lịch, dịch vụ, giao thông, vận tải, bưu chính, viễn thông và thống kê giá;
- Phòng Thống kê Dân số - Văn xã: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê dân số, lao động, việc làm, mức sống, xã hội, môi trường, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ;
- Phòng Tổ chức - Hành chính: Phụ trách các nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, đào tạo, hành chính, quản trị và kế toán, tài vụ;
- Thanh tra: bao gồm các nghiệp vụ thanh tra, pháp chế, tuyên truyền, kế hoạch công tác và thi đua - khen thưởng, phương pháp chế độ và công nghệ thông tin
Phân công nhiệm vụ các Phòng theo mô hình 7 Phòng như sau:
- Phòng Thống kê Tổng hợp: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê tổng hợp, tài khoản quốc gia;
- Phòng Thống kê Nông nghiệp: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản;
- Phòng Thống kê Công nghiệp - Xây dựng: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê công nghiệp, xây dựng và vốn đầu tư;
- Phòng Thống kê Thương mại: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê thương mại, khách sạn, nhà hàng, du lịch, dịch vụ, giao thông, vận tải, bưu chính, viễn thông và thống
kê giá;
Trang 29- Phòng Thống kê Dân số - Văn xã: Phụ trách các nghiệp vụ thống kê dân số, lao động, việc làm, mức sống, xã hội, môi trường, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ …;
- Phòng Tổ chức - Hành chính: bao gồm các nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, đào tạo, hành chính, quản trị và kế toán, tài vụ;
- Thanh tra: Phụ trách các nghiệp vụ thanh tra, pháp chế, tuyên truyền, kế hoạch công tác và thi đua - khen thưởng, phương pháp chế độ và công nghệ thông tin
* Chi cục Thống kê ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Chi cục Thống kê cấp huyện)
Chi cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Cục Thống kê; giúp Cục trưởng Cục Thống
kê thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động thống kê tại địa phương; tổ chức các hoạt động thống kê theo chương trình công tác của Cục trưởng Cục Thống kê giao; cung cấp thông tin kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của lãnh đạo Đảng, Chính quyền huyện và cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật Chi cục Thống kê cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, có trụ sở làm việc
và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật
Chi cục Thống kê cấp huyện được tổ chức thành hai bộ phận, bao gồm: Bộ phận Tổng hợp và Bộ phận Thống kê nghiệp vụ Tính đến 31/12/2011, cả nước có 698 Chi Cục Thống kê cấp huyện
2 Tổ chức Thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Tổ chức
Thống kê Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao
Tổ chức Thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện theo
Nghị định số 03/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (gọi chung là Thống kê Bộ, Ngành)
Nghị định này quy định tổ chức Thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ như sau:
Thống kê Bộ, Ngành là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ, Ngành thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng Ngành quản lý công tác thống kê và tổ chức hoạt động thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách
Thống kê Bộ, Ngành là bộ phận của hệ thống tổ chức thống kê nhà nước, chịu sự hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ thống kê của Tổng cục Thống kê Căn cứ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Chương trình điều tra thống kê quốc gia và Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, Ngành, yêu cầu thông tin thống kê phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Bộ, Ngành và nhu cầu thông tin thống kê của
Trang 30các tổ chức, cá nhân, Bộ trưởng, Thủ trưởng Ngành quyết định thành lập Phòng Thống
kê trực thuộc đơn vị chức năng hoặc trình Chính phủ thành lập Vụ, Cục thực hiện chức năng, nhiệm vụ thống kê theo quy định của pháp luật
Bộ trưởng, Thủ trưởng Ngành chịu trách nhiệm quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn cụ thể của Thống kê Bộ, Ngành
Qua khảo sát và báo cáo của một số Bộ, Ngành ở Trung ương như Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Bộ Công Thương; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Xây dựng; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Ngân hàng Nhà nước; Tổng cục Hải quan; Tổng cục Dân số…cho thấy các cơ quan trên đều có tổ chức thống kê riêng nhưng rất đa dạng về mô hình và quy mô khác nhau như Vụ, Cục, Trung tâm, Phòng hay Bộ phận Bộ Giáo dục và Đào tạo có tổ chức Phòng Thống kê thuộc Vụ
Kế hoạch – Tài chính; Bộ Y tế có Phòng Thống kê thuộc Vụ Kế hoạch - Tài chính; Tổng cục Dân số có Bộ phận phụ chuyên trách Thống kê thuộc Vụ Kế hoạch-Tài chính; Bộ Công Thương có Phòng Thống kê thuộc Vụ Kế hoạch; Bộ Xây dựng có Bộ phận Thống
kê thuộc Phòng Tổng hợp, Vụ Kế hoạch Tài chính Bộ Tài nguyên và Môi trường có Bộ phận Thống kê thuộc Vụ Kế hoạch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Vụ Dự báo, Thống kê tiền tệ Tổng cục Hải quan có Cục Công nghệ thông tin và Thống kê; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có Trung tâm Tin học và Thống kê
Đối với tổ chức thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao nằm trong hệ thống thống kê nhà nước nhưng không bị điều chỉnh theo Nghị định
số 03/2010/NĐ-CP mà theo quy định của Luật Thống kê Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
có Cục Thống kê tội phạm với 3 phòng là Phòng Thống kê tội phạm, Phòng Thống kê nghiệp vụ Kiểm sát và Phòng Công nghệ Thông tin Toà án nhân dân tối cao có Vụ Thống kê - Tổng hợp
Từ khi có Luật Thống kê, tổ chức Thống kê ở các Bộ, Ngành đã từng bước được củng cố và ngày càng phát triển về tổ chức cũng như số lượng người làm công tác thống
kê Tuy nhiên, đến nay về tổ chức thống kê của các Bộ, Ngành vẫn chưa hoặc đã triển khai nhưng chưa theo đúng quy định của Nghị định số 03/2010/NĐ-CP, nên còn tồn tại theo các mô hình tổ chức khác nhau, số cán bộ bố trí làm thống kê ở nhiều Bộ, Ngành còn ít, kiêm nhiệm nhiều việc, không ổn định và thiếu kiến thức chuyên môn nghiệp vụ
Trang 31thành phố lớn có tổ hoặc bộ phận thống kê thuộc phòng chuyên môn của Sở, ngành và
có 2 đến 3 người làm công tác chuyên trách thống kê nhưng cũng có Sở, ngành chỉ bố trí người làm kiêm nhiệm Đối với Thống kê, xã phường, thị trấn theo quy định của Nghị định số 09/1998/NĐ-CP có chức danh Văn phòng - Thống kê nghĩa là người làm công tác thống kê cấp xã là kiêm nhiệm, vừa làm công tác thống kê vừa làm công tác văn phòng, trên thực tế qua hơn 10 năm triển khai thực hiện Nghị định có một số tỉnh, thành phố bố trí cho xã một người làm công tác thống kê độc lập Khảo sát năm 2010, số xã có chức danh thống kê độc lập là 487 xã, tuy nhiên cũng có nhiều xã việc bố trí công tác kiêm nhiệm thống kê và văn phòng nhưng chỉ dành phần lớn thời gian cho công tác văn phòng mà chưa chú trọng đến công tác thống kê
Trang 32
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Hệ thống tổ chức Thống kê nhà nước bao gồm những tổ chức thống kê nào? Câu 2: Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 61/SL vào ngày tháng năm nào?
Câu 3: Kể tên Văn bản quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức thống kê Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ?
Câu 4: Nêu vị trí, chức năng của Tổng cục Thống kê hiện nay?
Câu 5: Cơ cấu tổ chức của cơ quan Tổng cục Thống kê ở Trung ương có bao nhiêu
đơn vị hành chính và bao nhiêu đơn vị sự nghiệp? Kể tên các đơn vị đó?
Trang 3333
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật Thống kê ngày 26 tháng 6 năm 2003
2 Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13 tháng 02 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê
3 Quyết định số 54/2010/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư
4 Nghị định số 03/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
5 Nghị định số 72-CP ngày 05 tháng 4 năm 1974 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ về tổ chức bà hoạt động của Tổng cục Thống kê
6 Điều lệ số 695-TTg ngày 20 tháng 02 năm 1956 của Thủ tướng Chính phủ quy định Tổ chức Cục Thống kê Trung ương, các cơ quan Thống kê đại phương và các tổ chức Thống kê của Bộ của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
7 Cuốn Lịch sử ngành Thống kê Việt Nam xuất bản năm 2006 và một số tài liệu khác
Trang 34Chuyên đề 2
CÔNG TÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ ĐỘ THỐNG KÊ VÀ
THỐNG KÊ TỔNG HỢP
PHẦN I CÔNG TÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ ĐỘ THỐNG KÊ
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ ĐỘ THỐNG KÊ
1 Vị trí, vai trò của công tác phương pháp chế độ thống kê
Ngay từ Hội nghị tổng kết 5 năm xây dựng Ngành Thống kê nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (tháng 8/1961), đã coi “phương pháp chế độ là công cụ chủ yếu để Ngành Thống kê làm tròn chức năng của mình Vì có phương pháp và chế độ tốt, cơ quan thống
kê mới thu được số liệu, nắm bắt đầy đủ tình hình một cách chính xác, kịp thời và khách quan Vì vậy, phương pháp và chế độ giữ vị trí rất quan trọng trong công tác thống kê”
(Những văn kiện và công tác thống kê- tập I- Trang 214)
2 Giới thiệu nghiệp vụ công tác phương pháp chế độ thống kê
Sơ đồ 1: Nghiệp vụ công tác phương pháp chế độ thống kê
PHƯƠNG PHÁP CHẾ ĐỘ THỐNG KÊ
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ
CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ
BẢNG PHÂN LOẠI THỐNG KÊ
ĐIỀU TRA THỐNG KÊ
THUỘC TCTK
Trang 353 Sơ đồ tổ chức thụng tin liờn quan đến cụng tỏc phương phỏp chế độ thống kờ
thập tổng hợp
Xác định hình thức thu thập thông tin thống kê (Báo cáo thống kê cơ sở + Điều tra thống kê + Báo cáo tổng hợp từ hồ sơ hành chính)
Ghi chộp ban đầu, hồ sơ hành chớnh, lời khai hộ gia đỡnh hoặc
cỏ nhõn
Trang 36II MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CÔNG TÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ
ĐỘ THỐNG KÊ
1 Vai trò điều phối trong công tác thống kê
(a) Đối với Hệ thống tổ chức thống kê tập trung: việc phân công, phối hợp về công
tác phương pháp chế độ giữa các đơn vị từ Trung ương xuống địa phương là tốt vì hầu hết cán bộ là các nhà chuyên nghiệp chịu sự quản lý tập trung theo hệ thống ngành dọc Mọi hoạt động liên quan đến phương pháp chế độ của cấp dưới đều do cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn và cấp dưới phải thi hành Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập chủ yếu do chưa
có các văn bản, quy định phối hợp cụ thể, rõ ràng, chi tiết, hầu hết mới chỉ dừng lại ở cụm từ "phân công phối hợp", còn cách thức, quy trình, chế tài trách nhiệm phối hợp thì lại chưa được đề cập đến
(b) Phối hợp giữa Hệ thống tổ chức thống kê tập trung và tổ chức thống kê Bộ, Ngành: Tuy không nằm trong Hệ thống tổ chức thống kê tập trung, song Thống kê các
Bộ, Ngành luôn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin thuộc hệ thống thông tin thống kê Nói chung, sự phối hợp, chia sẻ giữa Tổng cục Thống kê và Thống kê
Bộ, Ngành vẫn thường xuyên được duy trì, có những mặt được đổi mới theo hướng tăng cường hợp tác và chia sẻ thông tin Tổng cục Thống kê có trách nhiệm trong việc phối hợp công tác như hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ, hỗ trợ và chia
sẻ thông tin đối với thống kê các Bộ, Ngành Tuy nhiên, công việc vẫn chỉ dừng lại ở mức độ Tổng cục Thống kê phân công các đơn vị phụ trách, phối hợp, còn văn bản cụ thể quy định phối hợp như thế nào thì vẫn chưa có Về phía các Bộ, Ngành đã tích cực phối hợp với Tổng cục Thống kê trong công tác phương pháp chế độ, chia sẻ thông tin thống
kê Bộ, Ngành cho Tổng cục
Tuy nhiên, sự phối hợp, thẩm định, giám sát của Tổng cục Thống kê theo luật định còn chưa được đầy đủ theo yêu cầu Vẫn còn tình trạng một số cơ quan thực hiện điều tra chồng chéo, đưa ra các số liệu khác nhau về cùng một chỉ tiêu Giữa Tổng cục Thống kê
và nhiều Bộ, Ngành chưa có được quy chế phối hợp một cách cụ thể, chi tiết và tiếp cận tới một số lĩnh vực còn khó khăn, nhất là lĩnh vực tài chính, tiền tệ do các quy định bảo mật hiện hành
(c) Sự phối hợp trong nội bộ Thống kê Bộ, Ngành: Mức độ phối hợp thống kê tại
các Bộ, Ngành, các cơ quan, tổ chức địa phương tuỳ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm của chính quyền, lãnh đạo của các tổ chức đó Nơi đâu các nhà lãnh đạo hiểu biết nhiều về tầm quan trọng của thống kê, thì ở đó công tác thống kê được quan tâm hơn, sự phối hợp thống kê chặt chẽ hơn Trong bối cảnh tổ chức bộ máy thống kê thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, năng lực còn có những hạn chế, công tác phối hợp thống kê trong nội bộ Thống
kê Bộ, Ngành còn có những hạn chế là điều không thể tránh khỏi
Trang 37(d) Sự phối hợp thống kê tại các địa phương: Hầu như tất cả những điều bất cập xảy
ra đối với Thống kê Bộ, Ngành ở Trung ương về điều phối công tác thống kê thì đồng thời cũng xảy ra đối với thống kê địa phương (trừ Hệ thống thống kê tập trung) Thậm chí
ở địa phương còn có những điểm hạn chế nặng nề hơn Không ít Sở, Ngành cấp tỉnh không có người làm công tác thống kê chuyên trách, thậm chí không có người được đào tạo về thống kê, mặc dù Cục Thống kê đã cố gắng nhiều trong việc thực hiện phối hợp với Thống kê các Sở, Ngành trong tỉnh Bên cạnh một số Sở, Ngành ở địa phương có sự quan tâm đẩy mạnh công tác thống kê và đã đạt được những thành tích đáng kể, thì vẫn còn không ít Sở, Ngành mà ở đó công tác thống kê chưa được đặt đúng tầm với thời đại phát triển mới và hội nhập kinh tế quốc tế Sự yếu kém trong công tác phối hợp thống kê tại các địa phương được thể hiện trong nhiều các khía cạnh của thống kê, như yếu kém về
bộ máy tổ chức, thiếu hụt về nhân sự, yếu kém về trình độ và năng lực chuyên môn, thiếu hụt về cơ sở vật chất, thiếu sự quan tâm cũng như thiếu sự coi trọng tới công tác thống kê một cách thích đáng của lãnh đạo Nhiều cán bộ ở các Sở, Ngành cấp tỉnh, Phòng, ban cấp huyện, cán bộ cấp xã chưa được đào tạo về thống kê; Tại nhiều Sở, Ngành, công tác
thống kê còn mang tính tự phát
2 Xây dựng các văn bản pháp quy về thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghiên cứu, góp ý, thẩm định các văn bản
a Luật Thống kê và các văn bản liên quan
Luật Thống kê đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 Luật Thống kê đã điều chỉnh toàn bộ hoạt động thống kê và có liên quan đến mọi tổ chức cá nhân, bao gồm các
tổ chức, cá nhân phải cung cấp thông tin thống kê; tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin thống kê; tổ chức thống kê, người làm công tác thống kê Luật Thống kê 2003 gồm 8 Chương 42 Điều quy định về các hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê và hệ thống tổ chức thống kê nhà nước Cùng với Luật thống kê, các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống
kê đã được Chính phủ ban hành số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004; Nghị định số 14/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê…
Luật Thống kê và văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra môi trường pháp lý cơ bản
và quan trọng cho hoạt động thống kê ở nước ta, giúp lĩnh vực này khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội thông qua việc thực hiện ngày càng tốt chức năng cung cấp thông tin thống kê một cách trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài
Trang 38Tuy nhiên đến nay, Luật thống kê đã có những hạn chế và bất cập tập trung vào 6 điểm sau:
(1) Những văn bản thực hiện dưới Luật được ban hành thường chậm so với yêu cầu
và thiếu đồng bộ
(2) Nội dung quy định của Luật có những điểm chưa thật phù hợp:
- Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng còn hạn hẹp;
- Phạm vi về hệ thống tổ chức thống kê chưa đầy đủ;
- Quy định về Bảng phân loại thống kê chưa đầy đủ
(3) Một số điều khoản không phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn và môi trường pháp
lý chung ở nước ta hiện nay
(4) Có những nội dung quy định còn chồng chéo
(5) Một số nội dung còn chung chung
(6) Có nội dung qui định về lĩnh vực hoạt động chưa được quy định xứng đáng với tầm quan trọng của lĩnh vực hoạt động đó
Nhận thức được những bất cập này, Tổng cục Thống kê đã đề nghị và được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chấp nhận tiến hành sửa đổi Luật Thống kê với lộ trình từ 2012 đến
2014 (dự kiến trình Quốc hội thông qua năm 2014)
b Thẩm định phương án điều tra thống kê của các Bộ, ngành, địa phương
Phương án điều tra thống kê của Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trước khi ban hành phải có sự thẩm định về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê của Tổng cục Thống
kê để bảo đảm tính thống nhất, không trùng lặp trong hoạt động thống kê
Hồ sơ gửi Tổng cục Thống kê thẩm định gồm: văn bản đề nghị thẩm định và bản dự
thảo phương án điều tra thống kê
Nội dung thẩm định gồm: phạm vi, đối tượng điều tra, đơn vị điều tra; mẫu phiếu điều tra; thời điểm, thời gian tiến hành điều tra; phương pháp điều tra, phương pháp tính,
tổng hợp các chỉ tiêu điều tra
Thời hạn thẩm định phương án điều tra thống kê là 15 ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ thẩm định
c Thẩm định chế độ báo cáo thống kê của các Bộ, ngành
Tổng cục Thống kê có trách nhiệm thẩm định về chuyên môn, nghiệp vụ đối với chế
độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp thuộc thẩm quyền ban hành
của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 39Hồ sơ gửi Tổng cục Thống kê thẩm định gồm: văn bản đề nghị thẩm định; dự thảo chế
độ báo cáo thống kê, các biểu mẫu báo cáo; bản giải thích và hướng dẫn tổ chức thực hiện
Nội dung thẩm định gồm: đối tượng áp dụng chế độ báo cáo, phạm vi thu thập, tổng hợp, mẫu biểu báo cáo, nguồn số liệu, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê, kỳ hạn báo
cáo, nơi nhận báo cáo và các yêu cầu của việc xây dựng chế độ báo cáo
Thời hạn thẩm định phương án điều tra thống kê là 15 ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ thẩm định
d Nghiên cứu, xây dựng, tham gia ý kiến đối với các văn bản
- Tổng hợp và soạn thảo thông tư và hướng dẫn thay năm gốc 1994 bằng năm gốc
mới 2010 và tính các chỉ tiêu thống kê theo giá so sánh:
- Thông tư số 02/2012/TT-BKHĐT ngày 04/4/2012 quy định năm 2010 làm năm gốc thay năm 1994
- Một số phương pháp thống kê quan trọng đã được nghiên cứu, cải tiến hoàn thiện
đã nâng cao chất lượng số liệu như: Việc thay thế bảng cố định không còn phù hợp bằng việc áp dụng hệ thống chỉ số giá; Công tác thống kê theo lãnh thổ phục vụ tính các chỉ tiêu tổng hợp ở cấp tỉnh, thành phố để khắc phục tình trạng chênh lệch số liệu giữa Trung ương và địa phương đã được thực hiện; Phương pháp thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ cũng được triển khai thực hiện, phục vụ việc thu thập, tổng hợp và công bố số liệu thống
kê về lĩnh vực quan trọng này
- Sử dụng Hệ thống chỉ số giá để tính các chỉ tiêu theo giá so sánh thuộc các ngành trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam 2007 trừ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (sử dụng bảng giá cố định 2010) Hệ thống chỉ số giá để tính các chỉ tiêu theo giá so sánh gồm:
- Chỉ số giá tiêu dùng;
- Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian;
- Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất;
- Chỉ số giá sản xuất;
- Chỉ số giá xây dựng;
- Chỉ số giá bất động sản;
- Chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu;
- Chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu
Trang 40
Theo phương pháp này đồng thời với việc sử dụng Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2007 thay cho Hệ thống ngành kinh tế quốc dân 1994 đòi hỏi phải thực hiện một khối lượng công việc rất lớn để tạo ra các dãy số liệu: 2001 – 2010 theo VSIC 1993 và năm gốc 1994 và dãy số liệu 2011 – 2015 theo VSIC 2007 và gốc 2010
Mặc dù Hệ thống chỉ số giá đã được đẩy mạnh, tuy nhiên khó khăn lớn nhất cảu việc triển khai Thông tư này là Hệ thống chỉ số giá chi tiết cần được đẩy mạnh và hoàn thiện; mặt khác việc chuyển đổi số liệu theo hai phiên bản phan ngành cũng là một thách thức không nhỏ đổi với công tác phương pháp chế độ và công nghệ thông tin
- Nghiên cứu, xây dựng và tham gia ý kiến về các văn bản, báo cáo của Tổng cục và
Bộ, ngành, chẳng hạn như: Đề án, báo cáo, kế hoạch, các văn bản quy phạm pháp luật (dự thảo luật, pháp lệnh, Nghị định, Thông tư…)
3 Xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê có quan hệ với nhau theo quy mô, phạm vi, đặc điểm nào đó của hiện tượng kinh tế-xã hội
a Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu của đất nước,
Ngày 2/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2012/QĐ- TTg
về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
Danh mục Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia với 350 chỉ tiêu thuộc 21 lĩnh vực: Đất đai, khí hậu, đơn vị hành chính; Dân số; Lao động, việc làm và bình đẳng giới; Doanh nghiệp, cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp; Đầu tư và xây dựng; Tài khoản quốc gia; Tài chính công; Tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản; Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; Công nghiệp; Thương mại; Giá cả; Giao thông vận tải; Thông tin, truyền thông và công nghệ thông tin; Khoa học và công nghệ; Giáo dục và Đào tạo; Y tế
và chăm sóc sức khoẻ; Văn hoá thể thao và du lịch; Mức sông dân cư; Trật tự, an toàn xã hội và tư pháp và Bảo vệ môi trường Trong đó, từng nhóm, tên chỉ tiêu có quy định phân
tổ chủ yếu, kỳ công bố, lộ trình thực hiện, cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là cơ sở để phân công, phối hợp trong hoạt động thống kê, xây dựng chương trình điều tra thống kê quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế độ báo cáo thống kê cơ sở
b Hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ, ngành
Căn cứ vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành các chỉ tiêu thống kê phục vụ yêu cầu quản lý, sử dụng thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách