CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIÊN NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ ..... Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong đề tài nghiên cứu là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Đinh Phước Như
Trang 22
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Khoa học trường Đại học Sài Gòn, cùng với quý thầy cô trường Đại học Sài Gòn và các thầy cô ở trường THPT trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Thọc sinh Nguyễn Đăng Thuấn, giảng viên trường Đại học Sài Gòn đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn trực tiếp cho chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tác giả
Đinh Phước Như
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH SÁCH CÁC BẢNG 7
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH 8
PHẦN I: MỞ ĐẦU 10
1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC ĐỀ TÀI Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 10
2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 10
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 11
4 CÁCH TIẾP CẬN 11
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
6 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12
6.1 Đối tượng nghiên cứu 12
6.2 Phạm vi nghiên cứu 12
7 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12
PHẦN II: NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 14
1 NĂNG LỰC 14
1.1 Khái niệm năng lực 14
1.2 Phân loại năng lực 14
1.2.1 Năng lực chung 14
1.2.2 Năng lực đặc thù 18
1.2.3 Năng lực đặc thù trong môn Vật lý 19
Trang 44
1.3 Cấu trúc năng lực 24
1.4 Hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT 26
1.4.1 Sự cần thiết của việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT 26
1.4.2 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT 28
2 BÀI TẬP VẬT LÝ VÀ BÀI TẬP VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 36
2.1 Bài tập Vật lý 36
2.1.1 Vai trò và chức năng của bài tập Vật lý trong dạy học 36
2.1.2 Phân loại bài tập Vật lý 38
2.2 Bài tập Vật lý theo định hướng phát triển năng lực 39
2.2.1 Khái niệm 39
2.2.2 Đặc điểm 39
2.2.2.1 Yêu cầu của bài tập 40
2.2.2.2 Hỗ trợ học tích lũy 40
2.2.2.3 Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập 40
2.2.2.4 Xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn 40
2.2.2.5 Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp 40
2.2.2.6 Tích cực hóa hoạt động nhận thức 40
2.2.2.7 Có những con đường và giải pháp khác nhau 40
2.2.2.8 Phân hóa nội tại 41
2.2.3 Sự cần thiết của việc xây dựng bài tập phát triển năng lực 41
2.2.4 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập Vật lý theo định hướng phát triển năng lực 42
3 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 43
Trang 5CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÝ PHẦN NHIỆT HỌC
_ LỚP 10 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 47
1 MỤC TIÊU DẠY HỌC PHẦN NHIỆT HỌC 47
2 XÁC ĐỊNH CÁC NĂNG LỰC CẦN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHO HỌC SINH KHI HỌC XONG PHẦN NHIỆT HỌC 47
3 HỆ THỐNG BÀI TẬP 47
4 CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIÊN NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 62
5 MỘT SỐ GIÁO ÁN 63
PHỤ LỤC I 73
PHỤ LỤC II 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 77 Bảng 6: Ghép nối lý thuyết về quá trình đẳng nhiệt 79
8 Bảng 7: Số liệu thu được từ một bài thí nghiệm điện học lớp 9 86
9 Bảng 8: Ghép nối lý thuyết về quá trình đẳng áp 90
10 Bảng 9: Bảng gợi ý cách trình bày kết quả thí nghiệm về 3 định luật
11 Bảng 10: Bảng số liệu đo được về áp suất và khối lượng riêng của
12 Bảng 11: Ghép nối lý thuyết về chất rắn kết tinh, chất rắn vô định
13 Bảng 12: Bảng số liệu thí nghiệm đun băng phiến trong thời gian 15
Trang 88
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH
1 Sơ đồ 1: Sơ đồ khái quát quy trình xây dựng hệ thống bài tập Vật
2 Sơ đồ 2: Nguyên tắc hoạt động của máy nhiệt 104
7 Hình 5: Đồ thị biểu diễn quá trình biến đổi trạng thái khí 95
8 Hình 6: Đồ thị biểu diễn quá trình biến đổi trạng thái khí 96
9 Hình 7: Hình mô tả tổng quan các hình thức truyền nhiệt 99
10 Hình 8: Hình ảnh về một chiếc tủ lạnh có bề ngoài thô, nặng 100
11 Hình 9: Đồ thị biểu diễn quá trình biến đổi trạng thái khí 103
12 Hình 10: Một trong những hình ảnh về động cơ hơi nước đầu tiên 107
13 Hình 11: Hình ảnh về lá ớt, lá sen trong tự nhiên 113
14 Hình 12: Hình ảnh giọt nước đọng trên lá sen 116
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 10Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, với bối cảnh đất nước đang trên đường hội nhập quốc tế, tốc độ phát triển xã hội ngày càng nhanh, với những biến đổi liên tục
và khôn lường, yêu cầu đối với mỗi cá nhân ngày càng cao thì việc đầu tư cho giáo dục có ý nghĩa quan trọng quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực tương lai của đất nước Nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường đổi mới kiểm tra đánh giá, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã tập trung chỉ đạo đổi mới hoạt động giáo dục, nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản về
tổ chức hoạt động dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường trung học
Bên cạnh đó, Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo đã đặt ra yêu cầu mới cho giáo dục nói chung và dạy học Vật lý nói riêng, đó không chỉ cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng mà còn phải phát triển năng lực người học Khái niệm năng lực, cấu
Trang 11trúc năng lực, các phương pháp tổ chức dạy học và hệ thống bài tập bổ trợ nhằm hình thành, phát triển năng lực cho học sinh THPT là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, là vấn đề mới chưa có nhiều nghiên cứu đề cập
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn, nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Thông qua đó, kết quả học tập được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục Nên chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực có thể hữu ích cho việc đổi mới giáo dục
Trước kế hoạch đổi mới SGK vào năm 2018 theo định hướng phát triển năng lực của người học thì cần có thêm nhiều nghiên cứu, tài liệu để hỗ trợ cho giáo viên, sinh viên các trường sư phạm để có kế hoạch giảng dạy phù hợp Trong đó, việc xây dựng một hệ thống các bài tập tương ứng với việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực là một việc làm hết sức cần thiết mang tính thực tiễn Xác định được tầm quan trọng của vấn đề này, nên chúng tôi chọn hướng nghiên cứu
đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập Vật lý phần Nhiệt học – lớp 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực”
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xây dựng hệ thống bài tập Vật lý phần Nhiệt học - lớp 10 THPT nhằm hình thành và bồi dưỡng năng lực cho học sinh
4 CÁCH TIẾP CẬN
Đề tài tiếp cận trực tiếp chương trình Vật lý lớp 10 phần Nhiệt học hiện nay, mà
cụ thể là hệ thống các bài tập Dựa vào tài liệu tập huấn Giáo viên THPT năm 2014 của Bộ Giáo dục và đào tạo để tham khảo về các năng lực chuyên biệt của bộ môn Vật
lý, sau đó xây dựng hệ thống các bài tập phù hợp với các loại năng lực này
Trang 1212
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tiến hành sử dụng phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: tham khảo tài liệu liên quan đến việc phát triển năng lực học sinh
6 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống bài tập Vật lý phần Nhiệt học - lớp 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ khảo sát hệ thống bài tập Vật lý phần nhiệt học lớp 10 THPT
7 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lý luận về bài tập Vật lý, phương pháp dạy học bài tập Vật lý
- Nghiên cứu lý luận về năng lực, hình thành và bồi dưỡng năng lực người học
- Xây dựng hệ thống bài tập Vật lý phần nhiệt học lớp 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
Trang 1414
PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1 NĂNG LỰC
1.1 Khái niệm năng lực
Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đưa ra khái niệm về năng lực, chẳng hạn như:
- Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể (OECD*, 2002) [13]
- Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp…trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001) [13]
- Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng thái độ
và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống (Quebec-Ministere de I’Education, 2004) [1, 13]
Từ đó, chúng tôi thống nhất và đưa ra khái niệm năng lực như sau:
“Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của cá nhân vào việc giải quyết các tình huống đặt ra để thu được kết quả có chất lượng cao”
1.2 Phân loại năng lực
Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại Nhìn vào chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của các nước có thể thấy 2 loại chính: Đó là những năng lực chung và năng lực đặc thù (năng lực cụ thể, năng lực đặc thù) [1]
1.2.1 Năng lực chung
“Năng lực chung” là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại năng lực chung Theo tài liệu tập huấn thì năng lực chung gồm 10 năng lực cụ thể dưới đây: [1]
* OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development), thành lập năm 1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC)
Trang 15- Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của giáo viên, bạn bè, chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập
Năng lực giải quyết vấn đề
- Phân tích được tình huống trong học tập, phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập
- Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề, đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề
- Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện
Năng lực sáng tạo
- Đặt câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng, xác định và làm rõ thông tin,
ý tưởng mới, phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau
- Hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho, đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp, so sánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất
- Suy nghĩ và khái quát hóa thành tiến trình, tôn trọng các quan điểm trái chiều,
áp dụng điều đã biết vào tình huống tương tự với những điều chỉnh hợp lý
- Hứng thú, tự do trong suy nghĩ, chủ động nêu ý kiến, không quá lo lắng về tính đúng sai của ý kiến đề xuất, phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến khác
Trang 1616
Năng lực tự quản lý
- Nhận ra được các yếu tố tác động đến hành động của bản thân trong học tập và trong giao tiếp hàng ngày, kiềm chế được cảm xúc của bản thân trong các tình huống ngoài ý muốn
- Ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình, xây dựng và thực hiện được kế hoạch nhằm đạt được mục đích, nhận ra và có ứng xử phù hợp với những tình huống không an toàn
- Tự đánh giá, tự điều chỉnh những hành động chưa hợp lý của bản thân trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày
- Đánh giá được hình thể của bản thân so với chuẩn về chiều cao, cân nặng, nhận
ra những dấu hiệu thay đổi của bản thân trong giai đoạn dậy thì, có ý thức ăn uống, rèn luyện và nghỉ ngơi phù hợp để nâng cao sức khỏe, nhận ra và kiểm soát được những yếu tố ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và tinh thần trong môi trường sống và học tập
Năng lực giao tiếp
- Bước đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp
- Khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp, nhận ra được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm, thái độ của đối tượng giao tiếp
- Diễn đạt ý tưởng một cách tự tin, thể hiện được biểu cả phù hợp với đối tượng
và bối cảnh giao tiếp
Năng lực hợp tác
- Chủ động đề xuất mục đích hợp tác khi được giao các nhiệm vụ, xác định được loại công việc nào có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp
- Biết trách nhiệm, vai trò của mình trong nhóm ứng với công việc cụ thể, phân tích nhiệm vụ của cả nhóm để nêu được các hoạt động phải thực hiện, trong đó tự đánh giá được hoạt động mình có thể đảm nhiệm tốt nhất để tự đề xuất cho nhóm phân công
- Nhận biết được đặc điểm, khả năng của từng thành viên cũng như kết quả làm việc nhóm, dự kiến phân công từng thành viên trong nhóm các công việc phù hợp
Trang 17- Chủ động và gương mẫu hoàn thành phần việc được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung, chia sẻ, khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm
- Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động chung của nhóm, nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm
Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
- Sử dụng các thiết bị ICT* để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản, sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau, tổ chức và lưu giữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị
Năng lực sử dụng ngôn ngữ
- Nghe hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các bài đối thoại, chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận, nói chính xác, đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội dung chủ đề thuộc chương trình học tập, đọc hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các văn bản, tài liệu ngắn, viết đúng các dạng văn bản về những chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân ưa thích, viết tóm tắt nội dung chính của bài văn, câu chuyện ngắn
- Phát âm đúng nhị điệu và ngữ điệu, hiểu từ vựng thông dụng được sử dụng trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ, thông qua các ngữ cảnh có nghĩa, phân tích được cấu trúc và ý nghĩa giao tiếp của các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh, câu cảm khán, câu khẳng định, câu phủ định, câu đơn, câu ghép, câu phức, câu điều kiện
- Đạt năng lực bậc 2 về 1 ngoại ngữ
Năng lực tính toán
- Sử dụng các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia, lũy thừa, khai căn) trong học tập
và trong cuộc sống, hiểu và có thể sử dụng các kiến thức, kĩ năng về đo lường, ước tính trong các tình huống quen thuộc
Trang 1818
- Sử dụng được các thuật ngữ, kí hiệu toán học, tính chất các số và của các hình học, sử dụng được thống kê toán học trong học tập và trong một số tình huống đơn giản hàng ngày, hình dung và có thể vẽ phác thảo các đối tượng, trong môi trường xung quanh, nêu được tính chất cơ bản của chúng
- Hiểu và biểu diễn được mối quan hệ toán học giữa các yếu tố trong các tình huống học tập và trong đời sống, bước đầu vận dụng được các bài toán tối ưu trong học tập và trong cuộc sống biết sử dụng một số yếu tố của logic hình thức để lập luận
và diễn đạt ý tưởng
- Sử dụng được các dụng cụ đo, vẽ, tính, sử dụng được máy tính cầm tay trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày, bước đầu sử dụng máy vi tính để tính toán trong học tập
Ngoài ra, khái nhiệm “năng lực chung” còn được hội đồng châu Âu gọi là năng lực chính Cũng cần lưu ý là khái niệm năng lực chính được nhiều nước trong khối
EU sử dụng với các thuật ngữ khác nhau như: Năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu,
kĩ năng chính, kĩ năng cốt lõi, năng lực cơ sở, khả năng, phẩm chất chính; kĩ năng chuyển giao được
Và việc phân loại năng lực chính này cũng có khác biệt với 10 loại năng lực trên, cụ thể là có khá nhiều nước đề xuất/ lựa chọn cách phân thành 8 lĩnh vực năng
lực chính như sau: [1]
- Tư duy phê phán, tư duy logic
- Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ
- Tính toán, ứng dụng số Đọc-viết
- Làm việc nhóm - quan hệ với người khác
- Công nghệ thông tin- truyền thông (ICT)
* ICT là cụm từ thường dùng như từ đồng nghĩa rộng hơn cho công nghệ thông tin, nhưng thường là một thuật ngữ
chung để nhấn mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và sự kết hợp của viễn thông ICT bao gồm tất cả các phương tiện
kỹ thuật được sử dụng để xử lý thông tin và trợ giúp liên lạc, bao gồm phần cứng và mạng máy tính, điện thoại, phương tiện truyền thông, tất cả các loại xử lý âm thanh và video, điều khiển dựa trên truyền tải và mạng và các chức năng giám sát
Trang 19Ví dụ: Ở lĩnh vực tự nhiên có các năng lực đặc thù như: năng lực tính toán, năng lực quan sát, năng lực dự đoán Còn ở lĩnh vực xã hội ta có các năng lực ngôn ngữ, năng lực đọc hiểu, năng lực lý luận
Việc xác định các năng lực đặc thù của một lĩnh vực hoặc một môn học cụ thể nào đó, cần căn cứ vào mục tiêu chung của giáo dục và đặc thù môn học
Có nhiều quan điểm xác định “Năng lực đặc thù” cho từng môn học, từng chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau Nhưng thông thường có 2 quan điểm: xây dựng
“Năng lực đặc thù” bằng cách tìm các biểu hiện của “Năng lực chung” trong lĩnh vực/ môn học cần xây dựng, từ đó xây dựng các “Năng lực đặc thù” của lĩnh vực/ môn học
đó Hoặc xây dựng các năng lực đặc thù dựa trên đặc điểm của lĩnh vực/ môn học
1.2.3 Năng lực đặc thù trong môn Vật lý
Bảng 1: Bảng năng lực chuyên biệt môn Vật lý được cụ thể hóa từ năng lực chung [1]
Năng lực chung Biểu hiện trong môn Vật lý
Năng lực giải quyết vần đề - Đặc biệt quan trọng là năng lực thực nghiệm
- Đặt được những câu hỏi về hiện tượng tự
Trang 2020
nhiên: Hiện tượng diễn ra như thế nào? Điều kiện diễn ra hiện tượng là gì? Các đại lượng trong hiện tượng tự nhiên có mối quan hệ với nhau như thế nào? Các dụng cụ cấu tạo và nguyên tắc hoạt động như thế nào? …
- Đưa ra được cách thức tìm ra câu trả lời bằng suy luận lý thuyết hoặc khảo sát thực nghiệm
- Khái quát hóa rút ra kết luận từ kết quả thu được
- Đánh giá độ tin cậy và kết quả thu được
Năng lực sáng tạo
- Thiết kế được phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết (hoặc dự đoán)
- Lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu
- Giải được bài tập sáng tạo
- Lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề một cách tối ưu
Năng lực tự quản lý - Không có tính đặc thù
Năng lực giao tiếp
- Sử dụng được ngôn ngữ Vật lý để mô tả hiện tượng
- Lập được bảng và mô tả bằng số liệu thực nghiệm
- Vẽ được đồ thị từ bảng số liệu cho trước
- Vẽ được sơ đồ thí nghiệm
- Mô tả được sơ đồ thí nghiệm
- Đưa ra các lập luận logic, biện chứng
Năng lực hợp tác
- Tiến hành thí nghiệm theo nhóm
- Tiến hành thí nghiệm theo các khu vực khác nhau
Năng lực sử dụng công
nghệ thông tin và truyền
- Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng (maple, coachọc sinh…) để mô hình hóa quá trình
Trang 21Môn Vật lý Năng lực thành phần của môn Vật lý
Nhóm năng lực liên quan
đến sử dụng kiến thức Vật
lý
- Trình bày được kiến thức về các hiện tượng, đại lượng, định luật, nguyên lý Vật lý cơ bản, các phép đo, các hằng số Vật lý
- Trình bày được mối quan hệ giữa các kiến thức Vật lý
- Sự dụng được kiến thức Vật lý để thực hiện các nhiệm vụ học tập
- Vận dụng (giải thích, dự đoán, tính toán, đề ra giải pháp, đánh giá giải pháp…) kiến thức Vật lý vào các tình huống thực tiễn
Nhóm năng lực về
phương pháp (tập trung
- Đặt ra những câu hỏi vệ một sự kiện Vật lý
- Mô tả được các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn
Trang 2222
vào năng lực thực nghiệm
và năng lực mô hình hóa)
ngữ Vật lý và chỉ ra các quy luật Vật lý trong hiện tượng đó
- Thu thập, đánh giá, lựa chọn và xử lý thông tin
từ các nguồn khác nhau để giải quyết vấn đề trong học tập Vật lý
- Vận dụng sự tương tự và các mô hình để xây dựng kiến thức Vật lý
- Lựa chọn và sử dụng các công cụ toán học phù hợp trong học tập Vật lý
- Chỉ ra được điều kiện lý tưởng của hiện tượng Vật lý
- Đề xuất được giả thuyết, suy ra các hệ quả có thể kiểm tra được
- Xác định mục đích, đề xuất phương án, lắp ráp, tiến hành xử lý kết quả thí nghiệm và rút ra nhận xét
- Biện luận tính đúng đắn của kết quả thí nghiệm
và tính đúng đắn các kết luận được khái quát hóa từ kết quả thí nghiệm này
Nhóm năng lực thành
phần trao đổi thông tin
- Trao đổi kiến thức và ứng dụng Vật lý bằng ngôn ngữ Vật lý và các cách diễn tả đặc thù của Vật lý
- Phân biệt được những mô tả các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ Vật lý (chuyên ngành)
- Lựa chọn, đánh giá được các nguồn thông tin khác nhau
- Mô tả được cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các thiết bị kĩ thuật, công nghệ
- Ghi lại được các kết quả từ các hoạt động học tập Vật lý của mình (nghe giảng, tìm kiếm thông tin, thí nghiệm, làm việc nhóm…) một cách phù hợp
- Thảo luận được kết quả công việc của mình và
Trang 23những vấn đề liên quan dưới góc nhìn Vật lý
- Tham gia hoạt động nhóm trong học tập Vật lý
Nhóm năng lực thành
phần liên quan đến cá
nhân
- Xác định được trình độ hiện có về kiến thức, thái
độ của cá nhân trong học tập Vật lý
- Lập kế hoạch và thực hiện được kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch học tập Vật lý nhằm nâng cao trình độ bản thân
- Chỉ ra được vai trò (cơ hội) và hạn chế của các quan điểm Vật lý trong các trường hợp cụ thể trong môn Vật lý và ngoài môn Vật lý
- So sánh và đánh giá được dưới khía cạnh Vật lý các giải pháp kĩ thuật khác nhau về mặt kinh tế, xã hội
và môi trường
- Sử dụng được kiến thức Vật lý để đánh giá và cảnh báo mức độ an toàn của thí nghiệm, của các vấn
đề trong cuộc sống và của các công nghệ hiện đại
- Nhận ra được ảnh hưởng Vật lý lên các mối quan
Trang 24- “Năng lực chuyên môn” là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung chuyên môn
và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động
- “Năng lực phương pháp” là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và năng lực phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được học thông qua việc học phương pháp luận- giải quyết vấn đề
- “Năng lực xã hội” là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp úng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp
- “Năng lực cá thể” là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc- đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm
Trang 25Tái hiện kiến thức
- Tái hiện lại được các kiến thức và đối tượng Vật lý cơ bản
Vận dụng kiến thức
- Xác định và sử dụng kiến thức Vật
lý trong tình huống đơn giản
- Sử dụng phép tương
tự
Liên kết và chuyển tải kiến thức
- Vận dụng kiến thức trong tình huống có phần mới mẻ
- Lựa chọn được đặc tính phù hợp
- Áp dụng, mô tả các phương pháp, đặc biệt là phương pháp thực nghiệm
Sử dụng các phương pháp chuyên biệt
- Sử dụng các chiến lược giải bài tập
- Lập kế hoạch và tiến hành thí nghiệm đơn giản
- Mở rộng kiến thức theo hướng dẫn
Lựa chọn và vận dụng các phương pháp chuyên biệt để giải quyết vấn đề
- Lựa chọn và áp dụng một cách có mục đích là liên kết các phương pháp chuyên môn, bao gồm cả thí nghiệm đơn giản và toán học hóa
- Tự chiếm lĩnh kiến thức
Sử dụng hình thức diễn tả phù hợp
- Diễn tả một đối tượng bằng ngôn
Tự lựa chọn cách diễn tả và sử dụng
- Lựa chọn, vận dụng
và phản hồi các hình
Trang 2626
nói và viết hoặc theo mẫu cho trước theo hướng dẫn
- Đặt câu hỏi về đối tượng
ngữ Vật lý và có cấu trúc
- Nhận định về một đối tượng
- Lý giải các nhận định
thức diễn tả một cách
có tính toán và hợp
lý
- Thảo luận về mức độ giới hạn phù hợp của một chủ đề
- Phát hiện được bối cảnh công nghệ đơn giản dưới nhãn quan Vật lý
- Bình luận những đánh giá có sẵn
- Đưa ra những quyết định theo các khía cạnh đặc trưng của Vật lý
- Phân biệt giữa các
bộ môn Vật lý và bộ môn khác của việc đánh giá
- Tự đưa ra những đánh giá của bản thân
- Đánh giá ý nghĩa các kiến thức Vật lý
- Sử dụng các kiến thức Vật lý như nền tảng quá trình đánh giá các đối tượng
- Sắp xếp các hiện tượng vào một bối cảnh Vật lý
1.4 Hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT
1.4.1 Sự cần thiết của việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT
Đối với chương trình dạy học theo truyền thống việc giáo dục chủ yếu “dựa vào
nội dung/ chủ đề” (content or topic based approach) hoặc là “định hướng đầu vào”
Tiếp cận nội dung là cách tiếp cận nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một
lĩnh vực/môn học nào đó Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn
học sinh biết và hiểu (know-what) cái gì?
Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào yêu cầu nội dung học vấn của một môn khoa học nên thường mang tính "hàn lâm", nặng về lý thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú ý đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học
- Ưu điểm của dạy học theo truyền thống:
Trang 27 Truyền thụ cho người học những tri thức mang tính khoa học và có hệ thống
- Nhược điểm dạy học theo truyền thống:
Xã hội ngày càng phát triển nên tri thức thay đổi và lạc hậu nhanh chóng, việc quy định cứng nhắc những nội dung trong chương trình giáo dục được cung cấp trong sách giáo khoa và quá trình tiếp thu ở nhà trường nhanh chóng bị lạc hậu so với tri thức hiện đại
Việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn
Phương pháp kiểm tra, đánh giá còn đơn điệu, thiếu tính đa dạng, chủ yếu thực hiện đánh giá bằng các bài viết dạng tự luận, trắc nghiệm khách quan, vấn đáp, gây nên sự nhàm chán trong học tập, không phát huy cao năng lực của học sinh
Phương pháp dạy học mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sản phẩm giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động
Chương trình dạy học tiếp cận năng lực là chương trình tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra (Outcome-based Education – OBE)
Tiếp cận kết quả đầu ra là cách tiếp cận nêu rõ kết quả- những khả năng hoặc kĩ
năng mà học sinh mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể" Nói cách khác, cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi:
Chúng ta muốn học sinh biết và có thể làm (know-how) được những gì? Chứ không chỉ biết và hiểu (know-what)
- Ưu điểm dạy học theo tiếp cận năng lực:
Tạo điều kiện quản lý chất lượng kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của học sinh
Hình thành cho học sinh khả năng kiểm soát được năng lực để từ đó đánh giá được kết quả học tập phù hợp với bản thân
Chương trình được thiết kế, tổ chức giúp học sinh có thể chia sẻ, đánh giá lẫn nhau hỗ trợ để đạt được kết quả học tập tốt
Khám phá cơ hội học tập đa dạng
Tạo ra các đồ dùng học tập đại diện cho từng năng lực học sinh
Trang 28 Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các
kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo
- Nhược điểm dạy học theo tiếp cận năng lực:
Nếu vận dụng một cách sai lệch, không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học thì
có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức Ngoài ra chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện
→ Ngày nay, xã hội ngày một phát triển nên nhiệm vụ xã hội đặt ra cho giáo dục ngày càng cao hơn Giáo dục cần phải giải quyết những mâu thuẫn tri thức ngày càng tăng mà thời gian đào tạo lại có hạn Giáo dục cần đào tạo ra những con người đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống, có khả năng hòa nhập và cạnh tranh quốc tế Do đó, chúng ta cần phải chuyển
từ dạy học định hướng nội dung sang dạy học định hướng phát triển năng lực để giúp cho học sinh hoàn thiện bản thân mình một cách toàn diện về trí, đức, thể, mĩ và ngoài việc học để biết còn có thể vận dụng một cách có khoa học những nội dung kiến thức
đã học được để phát triển năng lực bản thân và tạo điều kiện phát triển chung cho toàn xã hội [1, 12]
1.4.2 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT
Biện pháp 1: Định hướng lại mục tiêu dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh
Trang 29Muốn hình thành và phát triển năng lực cho học sinh thông qua các hoạt động dạy học việc đầu tiên là phải xác định được mục tiêu dạy học, từ đó mới có cơ sở để hình thành nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với năng lực của học sinh Để đạt được các mục đích này cần phải thay đổi mục tiêu kiến thức và mục tiêu kĩ năng cụ thể như sau:
Đối với mục tiêu kiến thức: Ngoài các yêu cầu về mức độ như nhận biết, tái
hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng kiến thức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế Học sinh nắm được hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau
Ngoài việc định hướng lại những mục tiêu về kiến thức không thể bỏ qua việc
định hướng mục tiêu kĩ năng để giúp cho học sinh phát triển năng lực Đối với mục tiêu kĩ năng: yêu cầu học sinh phát triển kĩ năng thực hiện các hoạt động đa dạng Các
mục tiêu này đạt được thông qua các hoạt động trong và ngoài nhà trường Nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức, rèn cho học sinh khả năng giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn một cách linh hoạt
Biện pháp 2: Đổi mới nội dung dạy học dựa trên những mục tiêu đã đặt ra
Để xây dựng nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực cần phải:
- Chuyển từ dạy học theo định hướng nội dung – chú trọng kết quả đầu vào
sang định hướng năng lực – chú trọng kết quả đầu ra
- Chuyển từ đánh giá tổng kết sang đánh giá quá trình; từ đánh giá chủ yếu ghi
nhớ, hiểu kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của
thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo
- Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra gắn với các tình huống thực tiễn, các kiến thức tích hợp, liên môn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính theo hướng phát triển năng lực không nên quy định chi tiết
- Trong việc thiết kế bài dạy, cần xác định mục tiêu dạy học về kiến thức, kĩ năng một cách rõ ràng, có thể đạt được, đánh giá và có thể kiểm tra
- Trong việc xác định nội dung dạy học, không chỉ chú ý đến các kiến thức kĩ năng chuyên môn mà cần chú ý những nội dung có thể phát triển các năng lực chung như: năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể
- Trong việc thiết kế nội dung dạy học cần bắt đầu từ bình diện vĩ mô: xác định quan điểm, hình thức tổ chức dạy học phù hợp Từ đó xác định các nội dung dạy học
Trang 30Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở trường THPT [1]
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn
đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp Bằng các hoạt động cụ thể như sau:
Một là, cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các
kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như
kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Chẳng hạn có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học phát hiện và giải quyết vấn
đề
Hai là, tăng cường sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp phát triển năng lực cho học sinh
Trang 31Ngoài những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập cần tăng cường sử dụng phối hợp các phương pháp, hình thức tổ chức giúp phát triển năng lực như:
- Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm
nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên "Bàn tay nặn bột" chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…
- Mô hình VNEN (Viet Nam Escuela Nueva): Chuyển hoạt động, hình thức dạy
học truyền thống: Thầy chủ động hướng dẫn học sinh tìm ra tri thức sang học sinh tự giác tổ chức các hoạt động học tập của mình Học sinh biết hợp tác và thông qua sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm học tập, học sinh hoàn toàn chủ động để khám phá và tìm ra tri thức Học sinh tự đánh giá bản thân mình, và được bạn bè đánh giá thông qua hoạt động nhóm Phối hợp quy trình của các môn học hiện nay với tiến trình 10 bước học tập và qui trình 5 bước lên lớp của mô hình VNEN Tức là theo qui trình của tiết dạy các môn học hiện nay giáo viên lồng ghép, thay đổi một số hình thức lên lớp mà trong đó giáo viên mang tính chủ đạo sang các hoạt động học sinh tự tổ chức các hoạt động học tập của cá nhân, nhóm, lớp… thông qua các “lô gô” và “lệnh”
- Dạy học theo tình huống (Situated learning): Dạy học được tổ chức theo
những chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực của cuộc sống và nghề nghiệp Quá trình dạy học được tổ chức trong một môi trường tạo điều kiện kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối quan hệ xã hội của việc học tập “Giáo dục là chuẩn bị cho người học vào việc giải quyết các tình huống của cuộc sống” Việc học cần được liên
hệ với các tình huống hiện thực (SoulB Robinsohn 1967)
- Nghiên cứu trường hợp (Case study method): Trong đó người học tự lực
nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra
- Dạy học dự án (Project – based learning): Học sinh thực hiện một nhiệm vụ
học tập phức hợp gắn liền với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được
- Dạy học theo trạm (learning by station) là cách thức tổ chức dạy học đặt dấu
nhấn vào việc tổ chức nội dung dạy học thành từng nhiệm vụ nhận thức độc lập của
Trang 3232
các nhóm học sinh khác nhau Học sinh có thể thực hiện nhiệm vụ theo cặp, theo nhóm hoặc hoạt động cá nhân theo một thứ tự linh hoạt Việc phân hóa trong dạy học theo trạm khá là linh hoạt, đa dạng, có thể thực hiện phân hóa theo nội dung, cũng có thể tổ chức dạy học theo trạm với sự phân hóa về mức độ hướng dẫn cụ thể, chi tiết hay là khái quát, định hướng chung thông qua hệ thống phiếu trợ giúp
- Các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác như: Khăn trải bàn, mảnh
ghép, bể cá, đổ bi, theo góc, 1 phút, hỏi dây chuyền, hỏi chuyên gia,…
Ba là, kết hợp đa dạng các phương pháp với nhau
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhựơc điểm
và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học
Bốn là, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác
Đối với việc dạy học truyền thống việc truyền thụ kiến thức chỉ theo một chiều giáo viên đọc chép, giáo viên hoạt động là chủ yếu nên học sinh trở nên thụ động, tiếp nhận kiến thức một cách máy móc Phương pháp dạy học phát triển năng lực chú trọng đến việc tích cực hoá học sinh hoạt động trí tuệ, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, những tình huống trong cuộc sống, tham gia các hoạt động nhóm, vì vậy cần đổi mới mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh theo hướng cộng tác trao đổi qua lại lẫn nhau Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự tìm tòi kiến thức
Năm là, vận dụng dạy học theo định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn,
tư duy và hành động, nhà trường và xã hội
Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có
Trang 33thể công bố Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành động
Sáu là, vận dụng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những
mức độ tự lực khác nhau của học sinh
Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn
mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn Vì vậy bên cạnh dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học
và phương pháp dạy học Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều khả năng ứng dụng trong dạy học Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các
Trang 3434
phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning) Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học mới Webquest là một ví
dụ về phương pháp dạy học mới với phương tiện mới là dạy học sử dụng mạng điện
tử, trong đó học sinh khám phá tri thức trên mạng một cách có định hướng
Tám là, sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học
Chín là, tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học Vì vậy bên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của các môn khoa học tự nhiên; các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật; phương pháp
“Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học;…
Biện pháp 4: Đổi mới kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình dạy học cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của học sinh Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra những quyết định sư phạm giúp học sinh học tập ngày càng tiến bộ
Có thể sử dụng một số công cụ đánh giá nhằm phát triển năng lực:
- Xây dựng phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí (Rubic) là bảng thang điểm
chi tiết mô tả đầy đủ các tiêu chí mà người học cần đạt được Nó là công cụ đánh giá chính xác mức độ đạt chuẩn của học sinh và cung câp thông tin phản hồi để học sinh tiến bộ không ngừng Nội dung Rubric tập hợp các tiêu chí liên hệ với mục tiêu học tập và được sử dụng để đánh giá hoặc thông báo về sản phẩm, năng lực thực hiện hoặc quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập
Trang 35- Hồ sơ học tập là bộ sưu tập có hệ thống các hoạt động học tập của học sinh
trong thời gian liên tục Nó giúp giáo viên và học sinh đánh giá sự phát triển và trưởng thành của học sinh.Thông qua hồ sơ học tập, học sinh hình thành ý thức sở hữu hồ sơ học tập của bản thân, từ đó biết được bản thân tiến bộ đến đâu, cần hoàn thiện ở mặt nào
- Một số công cụ đánh giá khác như: Ghi chép ngắn là việc đánh giá thường
xuyên thông qua quan sát học sinh trong lớp học, thẻ kiểm tra nhằm đánh giá kiến thức của học sinh trước, trong và sau mỗi bài học hoặc sau mỗi chủ đề học tập, tập san có thể được sử dụng để đánh giá quy trình học tập và sự phát triển của học sinh Chúng
có thể ở dạng mở hoặc giáo viên cung cấp các câu hỏi, hướng dẫn cách làm
Đánh giá theo năng lực không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá mà là khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Đánh giá kết quả học tập theo từng giai đoạn phát triển nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh
Đánh giá kết các môn học, hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học cần phải:
- Dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hướng tiếp cận năng lực) từng môn học, từng hoạt động, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái
độ (theo định hướng tiếp cận năng lực) của học sinh của mỗi cấp học
- Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng
- Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá
- Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời việc dạy và học
Việc đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập môn học của giáo viên được thể hiện qua một số đặc trưng cơ bản sau:
Trang 3636
- Xác định được mục đích chủ yếu của đánh giá kết quả học tập là so sánh năng lực của học sinh với mức độ yêu cầu của chuẩn kiến thức và kĩ năng môn học ở từng chủ đề, từng lớp học, để từ đó cải thiện kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học
- Tiến hành đánh giá kết quả học tập môn học theo các công đoạn cơ bản là: Xác định loại quyết định mà chúng ta sẽ phải đề ra, xác định các tiêu chí, thu thập thông tin thích hợp có giá trị và đáng tin cậy, phân tích và xử lý thông tin, xác nhận kết quả học tập và ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy và học [1, 13]
2 BÀI TẬP VẬT LÝ VÀ BÀI TẬP VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC
2.1 Bài tập Vật lý
Bài tập là hệ thống những câu hỏi, bài toán nhằm giúp con người xử lý, rèn
luyện những vấn đề nào đó (bài toán: bất cứ vấn đề nào đưa ra cần giải quyết theo cách tính toán) [2]
Bài tập Vật lý là bài tập đặt ra đòi hỏi phải giải quyết bằng những suy luận logic,
những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật, các thuyết Vật lý
Theo nghĩa rộng, bài tập Vật lý được hiểu là mỗi vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài toán đối với học sinh Sự tư duy tích cực luôn là việc giải bài tập
2.1.1 Vai trò và chức năng của bài tập Vật lý trong dạy học
Trong quá trình dạy học Vật lý, các bài tập Vật lý có vai trò và chức năng quan trọng đặc biệt, chúng được sử dụng theo những mục đích khác nhau:
- Bài tập Vật lý có thể được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới
- Bài tập tạo ra tình huống có vấn đề để bước vào dạy bài mới
- Bài tập giúp cho việc ôn tập đào sâu, mở rộng kiến thức
Khi giải các bài tập, học sinh phải nhớ lại các công thức, định luật, kiến thức đã học, có khi đòi hỏi phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức khái quát trừu tượng trong cả một chương, một phần hoặc giữa các phần, vào những trường hợp cụ thể rất đa dạng, nhờ đó mà học sinh sẽ hiểu rõ hơn, ghi nhớ cũng chắc các kiến thức đã học, nắm được những biểu hiện cụ thể của chúng trong thực tế, phát hiện ngày càng nhiều những hiện tượng, khái niệm hoặc chịu sự chi phối của các định luật hay thuộc
Trang 37phạm vi ứng dụng của chúng Ngoài những ứng dụng quan trọng trong kỹ thuật, bài tập Vật lý sẽ giúp cho học sinh thấy được những ứng dụng muôn hình, muôn vẻ trong thực tiễn của các kiến thức đã học
Các khái niệm, định luật Vật lý rất đơn giản, nhưng biểu hiện của chúng trong
tự nhiên lại rất phức tạp Bài tập sẽ giúp cho học sinh phân tích để nhận biết được những trường hợp phức tạp
- Bài tập có thể là điểm khởi đầu dẫn dắt đến kiến thức mới
Với trình độ toán học đã phát triển, nhiều khi các bài tập được sử dụng một cách khéo léo có thể dẫn học sinh đến những suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để giải thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra
- Giải bài tập Vật lý rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát
Có thể xây dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn Khi giải các bài tập đó không chỉ làm cho học sinh nắm vững hơn các kiến thức đã học, mà còn tập cho học sinh quen với việc liên hệ lý thuyết với thực tế vận dụng kiến thức đã học giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống như giải thích các hiện tượng cụ thể của thực tiễn,
dự đoán các hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn
- Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh
Trong khi giải bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà học sinh rút ra được nên tư duy học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được nâng cao, tính kiên trì được phát triển
- Giải bài tập Vật lý góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh
Trong khi giải bài tập học sinh phải huy động các thao tác tư duy để xây dựng những lập luận, thực hiện việc tính toán, có khi phải tiến hành thí nghiệm, thực hiện các phép đo, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng, kiểm tra các kết luận của mình (đánh giá kết quả giải quyết) Trong những điều kiện đó tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực làm việc độc lập của học sinh được nâng cao
- Giải bài tập Vật lý để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh
Trang 3838
Bài tập Vật lý cũng là phương tiện hiệu quả để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh Tuỳ theo cách đặt câu hỏi kiểm tra, ta có thể phân loại được các mức độ nắm vững kiến thức của học sinh, khiến cho việc đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh được chính xác
- Thông qua bài tập Vật lý có thể rèn luyện cho học sinh những đức tính tốt và tác phong làm việc khoa học
Khi giải bài tập học sinh có thể rèn luyện được tính tự lực cao, tính kiên trì vượt khó, tính cẩn thẩn, tính khiêm tốn học hỏi…
2.1.2 Phân loại bài tập Vật lý
Có rất nhiều cách phân loại bài tập Vật lý Nếu dựa vào phương tiện giải, có thể chia bài tập Vật lý thành bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập
đồ thị Nếu dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh, có thể chia bài tập thành bài tập tập dượt, bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo
a) Bài tập định tính
Bài tập định tính là bài tập mà khi giải học sinh không cần phải thực hiện các phép tính phức tạp hay chỉ làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được
Muốn giải bài tập định tính học sinh phải thực hiện những phép suy luận logic,
do đó phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật Vật lý và nhận biết được những biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể
Đa số các bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc dự đoán một hiện tượng xảy ra trong những điều kiện xác định
Bài tập định tính có thể sử dụng một hình vẽ đơn giản, bài tập định tính có thể chuyển thành một dạng của bài tập thí nghiệm
b) Bài tập tính toán
Bài tập tính toán là những bài tập mà muốn giải chúng ta phải thực hiện một loạt phép tính và kết quả là thu được một đáp số định lượng Có thể chia bài tập tính toán ra làm hai loại: bài tập tập dượt và bài tập tổng hợp
c) Bài tập tính toán tập dượt
Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản Những bài
Trang 39tập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa của các định luật và các công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị Vật lý và thói quen cần thiết để giải những bài tập phức tạp hơn
d) Bài tập tính toán tổng hợp
Bài tập tính toán tổng hợp là bài tập mà muốn giải nó thì phải vận dụng nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp cho học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình Vật lý, tập cho học sinh biết phân tích những hiện tượng thực tế phức tạp ra thành những phần đơn giản tuân theo một định luật xác định
e) Bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải
lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập
Bài tập thí nghiệm cũng có thể có dạng định tính hoặc định lượng
Vận dụng các định luật Vật lý để lý giải các hiện tượng mới là nội dung chính của bài tập thí nghiệm
f) Bài tập đồ thị
Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị
2.2 Bài tập Vật lý theo định hướng phát triển năng lực
Các thành tố quan trọng trong việc đánh giá việc đổi mới xây dựng bài tập là:
Sự đa dạng của bài tập, chất lượng bài tập, sự lồng ghép bài tập vào giờ học và sự liên kết với nhau của các bài tập
Trang 4040
Những đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực:
2.2.2.1 Yêu cầu của bài tập
- Có mức độ khó khác nhau
- Mô tả tri thức và kỹ năng yêu cầu
- Định hướng theo kết quả
2.2.2.2 Hỗ trợ học tích lũy
- Liên kết các nội dung qua suốt các năm học
- Làm nhận biết được sự gia tăng của năng lực
- Vận dụng thường xuyên cái đã học
2.2.2.3 Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập
- Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân
- Tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân
- Sử dụng sai lầm như là cơ hội
2.2.2.4 Xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn
- Bài tập luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở
- Thay đổi bài tập đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây dựng tri thức thông minh)
- Thử các hình thức luyện tập khác nhau
2.2.2.5 Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp
- Tăng cường năng lực xã hội thông qua làm việc nhóm
- Lập luận, lí giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức
2.2.2.6 Tích cực hóa hoạt động nhận thức
- Bài tập giải quyết vấn đề và vận dụng
- Kết nối với kinh nghiệm đời sống
- Phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề
2.2.2.7 Có những con đường và giải pháp khác nhau
- Nuôi dưỡng sự đa dạng của các con đường, giải pháp
- Đặt vấn đề mở