1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch huyện côn đảo, tỉnh bà rịa vũng tàu

130 534 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, chúng em đề ra một số giải pháp nhằm giúp mọi người nhận thức được vai trò và tầm quan trọng về tiềm năng phát triển du lịch của Côn Đảo; đặc biệt là nâng cao nhận thức của

Trang 1

BẢN TÓM TẮT TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Mã số: SV2014-07

1 Vấn đề nghiên cứu: TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN

CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

2 Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu:

- Xác lập cơ sở khoa học nghiên cứu sự phát triển du lịch

- Thấy được tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch của Côn Đảo

- Xây dựng định hướng và giải pháp phát triển tiềm năng du lịch của Côn Đảo trong thời kì mới

3 Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu:

- Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến sự phát triển tiềm năng du lịch

- Phân tích, đánh giá sự tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến ngành du lịch của Côn Đảo

- Đánh giá tiềm năng của ngành du lịch Côn Đảo và so sánh lợi thế du lịch của địa phương với các địa phương khác trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Dựa vào đặc điểm tài nguyên và điều kiện tự nhiên liên quan, đưa ra các định hướng và giải pháp phát triển tiềm năng du lịch Côn Đảo

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống

- Phương pháp thống kê du lịch

- Phương pháp bản đồ, biểu đồ

- Phương pháp dự báo

5 Kết quả nghiên cứu:

- Đánh giá “Phát triển du lịch của huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” Trên

cơ sở đó đề ra những giải pháp để phát huy những thế mạnh, khắc phục những hạn chế còn tồn tại để góp phần thúc đẩy du lịch ở Côn Đảo phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có

- Giúp mọi người nhận thức được vai trò và tầm quan trọng về tiềm năng phát triển du lịch của Côn Đảo

- Nhận ra các đặc điểm nổi bật nhằm thu hút khách du lịch đến với Côn Đảo

- Nâng cao nhận thức của người dân trong việc phát triển du lịch gắn với việc bảo

vệ môi trường hướng tới sự phát triển bền vững

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Chúng em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Khoa Sư phạm Khoa học

Xã hội đã giúp đỡ, hỗ trợ nhóm em trong suốt quá trình thực hiện công trình nghiên cứu khoa học và đặc biệt chúng em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Trịnh Duy Oánh – Thầy đã luôn sát cánh, nhiệt tình, luôn quan tâm, hỗ trợ và chỉ dẫn tận tình cho nhóm chúng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học với đề tài: TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Đây là lần đầu tiên nhóm thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học trong thời gian tương đối ngắn Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng nhóm em cũng đã cố gắng hết mình bằng sự nhiệt huyết và đam mê học hỏi của tuổi trẻ để hoàn thành đề tài này Do thời gian có hạn và trình độ của các thành viên trong nhóm còn nhiều hạn chế nên bài Nghiên cứu khoa học của nhóm em không tránh khỏi thiếu sót cũng như còn nhiều bất cập Nhóm em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của quý thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 07 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Võ Văn Chỉ

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU Danh mục hình

1.1 Mức độ tăng trưởng lượng khách tham quan ở Châu Á - Thái Bình

2.6 Số khách quốc tế và trong nước tới Côn Đảo, từ năm 2009 đến

Danh mục bảng

Trang 4

2.4 Lịch tàu Côn Đảo 9, Côn Đảo 10, Tuyến Cảng Cát Lỡ, Vũng Tàu –

Trang 6

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Với đề tài nghiên cứu khoa học này trong khoảng thời gian 11 tháng, nhóm em

đã tìm hiểu, nghiên cứu các tiềm năng phát triển du lịch của Côn Đảo thông qua sách, báo, kênh thông tin đại chúng, các bài nghiên cứu của các luận giả đi trước,… Qua quá trình nghiên cứu, chúng em nhận thấy rằng, Côn Đảo là một vùng đất rất giàu tiềm năng để phát triển du lịch Trong những năm gần đây, Côn Đảo trong lòng người du lịch ở trong nước trở nên gần gũi, thân thuộc hơn; đối với du khách nước ngoài cái tên

“Côn Đảo” trở nên quen thuộc hơn và là điểm đến lí tưởng cho các du khách thích khám phá, mạo hiểm với các dịch vụ du lịch của vùng

Để phát triển du lịch theo hướng bền vững, nhóm em cũng đã chỉ ra những thế mạnh, hạn chế của vùng nhằm góp phần thúc đẩy du lịch ở Côn Đảo phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có Bên cạnh đó, chúng em đề ra một số giải pháp nhằm giúp mọi người nhận thức được vai trò và tầm quan trọng về tiềm năng phát triển du lịch của Côn Đảo; đặc biệt là nâng cao nhận thức của người dân trong việc phát triển du lịch gắn với việc bảo vệ môi trường hướng tới sự phát triển bền vững

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế trên thế giới, du lịch đã trở thành một

bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội của con người Du lịch không những là một ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn giúp con người có điều kiện giao lưu văn hóa giữa các quốc gia vùng miền Chính vì vậy ngày nay du lịch đã nằm trong chiến lược phát triển của rất nhiều quốc gia, trở thành nền kinh tế quan trọng có đóng góp lớn trong sự phát triển của các nước

Ở Việt Nam ngành du lịch giữ một vai trò quan trọng trong việc phát triển thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy chịu sự ảnh hưởng của những biến động toàn cầu và khu vực nhưng với sự nỗ lực của lãnh đạo và cán bộ các cơ quan quản lý du lịch từ Trung ương đến địa phương, các doanh nghiệp du lịch trong cả nước, du lịch Việt Nam vẫn đảm bảo tăng trưởng vượt bậc với sự mở rộng quy mô về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ du lịch; hệ thống hạ tầng gắn với quy hoạch và đầu tư phát triển các khu, tuyến, điểm, đô thị du lịch trên 7 vùng du lịch của cả nước; hệ thống doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực lữ hành, lưu trú, vận chuyển, giải trí với chuỗi các sản phẩm du lịch đa dạng hướng tới nhiều thị trường mới, đồng thời với lực lượng lao động trực tiếp

và gián tiếp được tăng cường cả về số lượng và trình độ chuyên nghiệp Những thành tựu đó đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển ngành du lịch trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới của đất nước Trong năm 2013, khi bối cảnh nền kinh tế vẫn đang trong quá trình khắc phục suy thoái, tái cấu trúc và từng bước tìm kiếm động lực tăng trưởng mới, du lịch là ngành kinh tế duy nhất duy trì tốc độ tăng trưởng cao và là điểm sáng của nền kinh tế Việt Nam Mặc dù phải vượt qua nhiều khó khăn và thách thức nhưng năm 2013, cả nước đã đón 7,57 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng 10,6%; 35 triệu lượt khách nội địa; tổng thu trực tiếp từ khách du lịch đạt 200 nghìn tỷ đồng, đóng góp trên 6% GDP

Trang 8

Côn Đảo hay Côn Sơn là tên một quần đảo ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý Khu du lịch Côn Đảo là điểm du lịch mới được đưa vào khai thác và với lợi thế về cảnh quan Côn Đảo đã được đánh giá là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn vào bậc nhất của nước ta hiện nay Côn Đảo được nhiều du khách đánh giá là thiên đường của nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên (rừng và biển) Côn Đảo là một trong 21 khu du lịch quốc gia của Việt Nam với nhiều địa danh đẹp nổi tiếng như Bãi Đầm Trầu, Cầu tàu 914, được xem là hòn đảo du lịch với những bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, làn nước trong xanh mát lạnh, bãi cát dài phẳng mịn trải dài dưới chân những vách đá sừng sững Không những thế, Côn Đảo còn là nơi du khách có thể khám phá những giá trị về lịch sử của mảnh đất và con người nơi đây được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc với nhiều địa danh lịch sử khác như chuồng cọp Côn Đảo, nơi chứng kiến một phần cuộc chiến gian khổ của nhân dân Việt Nam Với những giá trị về cả thiên nhiên và văn hóa, Côn Đảo đang dần trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách Nhiều năm trở lại đây khu du lịch Côn Đảo được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác phục vụ du lịch thì du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu càng phát triển với định hướng khai thác du lịch thành ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh

Để góp phần vào việc phát triển du lịch của đất nước, khai thác có hiệu quả tiềm

năng du lịch tại Côn Đảo – Bà Rịa – Vũng Tàu Việc chọn đề tài “TÌM HIỂU TIỀM

NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU” nhằm nghiên cứu và đánh giá hoạt động du lịch tại Côn Đảo, trên cơ sở đó đề

xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch, bảo vệ môi trường tự nhiên của địa phương, góp phần tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân địa phương

2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục tiêu

- Xác lập cơ sở khoa học nghiên cứu sự phát triển bền vững du lịch

Trang 9

- Thấy được tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch của huyện Côn Đảo

- Xây dựng định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch Côn Đảo đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mới

2.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến phát triển bền vững du lịch

- Phân tích, đánh giá sự tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến ngành

Du lịch huyện Côn Đảo

- Đánh giá tính bền vững của ngành du lịch huyện Côn Đảo và lợi thế so sánh du lịch địa phương với các địa phương khác trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Dựa vào đặc điểm tài nguyên và các điều kiện liên quan, đưa ra các định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo

2.3 Ý nghĩa của đề tài

- Củng cố lý thuyết về phát triển du lịch bền vững

- Xây dựng cơ sở lý thuyết phát triển du lịch bền vững cho huyện Côn Đảo

- Điều tra, khảo sát, đánh giá khai thác tài nguyên du lịch tại khu du lịch Côn Đảo Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để phát huy những lợi thế, khắc phục những hạn chế còn tồn tại góp phần thúc đẩy khu du lịch Côn Đảo phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Cho tới nay, chưa có một báo cáo quy hoạch hay chiến lược nào để định hướng phát triển bền vững cho du lịch Côn Đảo Năm 2004, Ủy ban Kinh tế Trung ương triển khai dự án “Phát triển Côn Đảo” và VNAT cũng hoàn thành báo cáo “Định hướng Phát triển Du lịch Côn Đảo” Những tài liệu này đánh giá sơ bộ về tiềm năng du lịch của Côn Đảo, đồng thời tổng kết về tình hình hoạt động du lịch của huyện Những vấn đề

Trang 10

được quan tâm bao gồm “huy động sức lực” để phát triển du lịch cùng với việc quan tâm tới nguồn tài nguyên đất và nước trên quần đảo Những báo cáo này cũng đưa ra những giải pháp cho việc phát triển du lịch cũng như khẳng định quy hoạch du lịch đóng vai trò then chốt

4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Nội dung nghiên cứu:

+ Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững

+ Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch ở Côn Đảo

+ Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch của Côn Đảo

- Thời gian: từ năm 2003 – 2013

- Không gian: toàn huyện Côn Đảo

5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi năng lực, tăng đầu tư phát triển

du lịch để đảm bảo du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước

Trang 11

- Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tính dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực sau:

+ Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch

+ Tuyên truyền, quảng bá du lịch

+ Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

+ Nghiên cứu, đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch

+ Hiện đại hoá các hoạt động du lịch

+ Xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; nhập khẩu phương tiện cung cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và du lịch quốc gia

+ Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo

- Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch

- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch

5.1.2 Quan điểm hệ thống lãnh thổ

Phát triển du lịch ở bất kỳ cấp vùng hoặc trung tâm nào cũng phải là một phần cấu thành không thể tách rời trong hệ thống du lịch chung của cả nước Các hệ thống lãnh thổ du lịch thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại nội tại của từng

Trang 12

phân hệ, giữa các phân hệ du lịch trong một hệ thống với nhau và các môi trường xung quanh, giữa các hệ thống lãnh thổ du lịch cùng cấp và khác cấp, giữa hệ thống lãnh tổ

du lịch và hệ thống kinh tế - xã hội Quan điểm hệ thống còn đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù với sự phân hoá theo lãnh thổ từ cấp quốc gia đến cấp vùng và điểm Mặc khác, các đối tượng nghiên cứu của sinh thái cần được xác định trên một lãnh thổ để phân tích, nghiên cứu tìm ra những sự khác biệt và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau

5.1.3 Quan điểm phát triển du lịch bền vững

Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của toàn nhân loại trong thế kỷ XXI Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai Vì vậy quan điểm phát triển này cần được soi sáng, vận dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch trong nghiên cứu phát triển du lịch

Trang 13

5.1.5 Quan điểm môi trường

Du lịch hiện nay đã thật sự trở thành một ngành kinh tế, mà hoạt động kinh tế rõ ràng phải tính đến lợi ích và chi phí Những lợi ích thu về trong hoạt động du lịch không chỉ có ý nghĩa kinh tế và văn hoá mà còn phải tính đến lợi ích về môi trường Do

đó phải tính đến những thiệt hại về môi trường, các hệ sinh thái ở các điểm - tuyến du lịch do tác động của hoạt động du lịch Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển bền vững du lịch bởi sự tồn tại của loại hình du lịch này phụ thuộc hoàn toàn vào tình trạng của các hệ sinh thái và môi trường

5.1.6 Quan điểm viễn cảnh - lịch sử

Quan điểm này thể hiện ở chỗ:

- Chú ý tới khía cạnh địa lý, lịch sử khi xác định tổ chức không gian du lịch trên phạm vi khu vực và cả nước nói chung

- Phân tích quá trình hình thành và phát triển điểm - tuyến du lịch trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống

Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học Phương pháp này được sử dụng đặc biệt có hiệu quả trong nghiên cứu tự nhiên và tổ chức khai thác lãnh thổ du lịch Phát triển bền vững có liên quan chặt chẽ tới các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; vì vậy, trong nghiên cứu đây

là phương pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

5.2.2 Phương pháp thống kê du lịch

Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trính nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng và qúa trình, đối chiếu biến

Trang 14

động, phát triển trong hoạt động du lịch Phương pháp này áp dụng để thống kê các hệ sinh thái đặc thù, các tài nguyên du lịch quan trọng và phụ trợ, thống kê hệ thống cơ sở

hạ tầng phục vụ du lịch; thống kê đánh giá lượng khách; đánh giá tỷ lệ doanh thu; tỷ trọng và mức tăng trưởng du lịch nói chung để đưa ra bức tranh chung về hiện trạng

5.2.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Phương pháp này cho phép thu thập những nguồn thông tin mới phát hiện phân

bố trong không gian của các đối tượng nghiên cứu Bản đồ còn là phương tiện để cụ thể hoá, biểu đạt kết quả nghiên cứu về cấu trúc, đặc điểm và phân bố không gian của các đối tượng du lịch

Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu bất kỳ tổ chức không gian lãnh thổ du lịch nào, đặc biệt là khi nghiên cơ sở khoa học cho sự phát triển bền vững du lịch nói chung và tổ chức không gian hoạt động du lịch nói riêng

Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành với việc thể hiện sự phân bố lãnh thổ của các khu bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái đặc thù, hệ thống cơ

sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật Phương bản đồ sẽ đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng công nghệ GIS (Geographic Information System - hệ thông tin địa lý) để phân tích đánh giá tiềm năng du lịch căn cứ vào mức độ quan trọng và phân hoá lãnh thổ của các tài nguyên và điều kiện có liên quan cũng như để phân tích phát hiện các mối quan hệ trong tổ chức không gian du lịch

5.2.4 Phương pháp dự báo

Đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ rất quan trọng là xác lập cơ sở khoa học để tổ chức phát triển du lịch bền vững của huyện Côn Đảo Vì vậy phương pháp dự báo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu, tổ chức hướng khai thác xây dựng các điểm, tuyến du lịch; sử dụng tài nguyên du lịch một cách hiệu quả Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững du lịch là dự báo về

Trang 15

nguồn khách, cơ cấu khách và thị trường khai thác khách; dự báo về khả năng đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các điểm du lịch bổ trợ; dự báo về phát triển cơ sở hạ tầng, mức tăng trưởng và phát triển của ngành du lịch

6 BỐ CỤC CỦA BÀI NGHIÊN CỨU

Ngoài phần mở đầu và kết luận bài nghiên cứu khoa học có kết cấu thành 3 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phát triển bền vững du lịch

 Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch của Côn Đảo

 Chương 3: Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch của Côn Đảo

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

DU LỊCH 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Khái niệm về du lịch

Ngày nay dịch vụ là một ngành kinh tế phát triển vượt bậc trên phạm vi toàn thế giới Trong tất cả các hoạt động của dịch vụ thì ngành du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cao Nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch là nguồn thu ngoại tệ chính, là ngành kinh tế quan trọng

Du lịch xuất hiện từ khi nào? Du lịch là gì? Đã có rất nhiều câu trả lời, rất nhiều khái niệm, có nhiều cách tiếp cận với nhiều cách hiểu khác nhau, sau đây là một số khái niệm cơ bản về du lịch

Du lịch là một hiện tượng Trước thế kỷ thứ XIX đến tận đầu thế kỷ XX du lịch hầu như vẫn được coi là tầng lớp giàu có, quý tộc và đây chỉ là một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế - xã hội

Năm 1811 lần đầu tiên tại Anh, từ du lịch (Tourism) được xuất hiện sớm nhất trong quyển Từ điển Oxford Theo đó, du lịch có định nghĩa như sau:

“Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích giải trí” Ở đây giải trí là động cơ chính

Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và giáo sư, tiến sĩ Krapf - hai người được coi là đặt nền móng cho lý thuyết về cùng du lịch đưa ra định nghĩa như sau:

“Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”

Trường Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc) định nghĩa như sau:

Trang 17

“Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú cho họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức định kỳ”

Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm:

“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”

Dựa trên những lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu du lịch khoa Du lịch và Khách sạn (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) đã định nghĩa du lịch như sau:

“Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn

du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”

Tại khoảng 1, Điều 4, chương I của Luật Du lịch, thuật ngữ “du lịch” được hiểu như sau:

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham

gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội

Trang 18

1.1.2 Khái niệm về khách du lịch

Trong hoạt động du lịch, trong khai thác du lịch thì nhân tố đóng vai trò quan trọng là khách du lịch Bởi lẽ, nếu phát triển du lịch mà không có khách du lịch thì sẽ là con số không Việc xác định ai là khách du lịch có nhiều quan điểm khách nhau Ở đây cần phân biệt giữa khách du lịch, khách tham quan và lữ khách dựa vào tiêu thức: Mục đích, thời gian và không gian chuyến đi

Theo nhà kinh tế học người Anh, Odgil Vi khẳng định: Để trở thành khách du lịch thì cần có hai điều kiện: Thứ nhất: Phải đi xa nhà thời gian dưới một năm; thứ hai:

Ở đó phải tiêu những khoảng tiền đã tiết kiệm ở nơi khác

Giáo sư Khadginicolov – một trong những nhà đi đầu về du lịch của Bulgarie đã đưa ra định nghĩa:

“Khách du lịch là người hành trình tự nguyện với những mục đích hòa bình Trong cuộc hành trình của mình họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”

Các định nghĩa trên đều mang tính phiếm diện, chưa đầy đủ, chủ yếu mang tính chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét không đầy đủ, hạn chế nội dung thực của khái niệm – khách du lịch

Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia – League of Nations – năm 1937 tổ chức này đưa ra khái niệm:

“Bất ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”

Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam trong khoảng 2, điều 4, chương I đã nêu rõ:

Trang 19

“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [9]

1.1.3 Khái niệm về SPDL

Khi đề cập đến bất cứ hoạt động kinh doanh nào chúng ta cũng không thể không nhắc đến sản phẩm của hoạt động đó Trong du lịch khi tìm hiểu về khái niệm du lịch thì chúng ta cũng cần phải tìm hiểu về SPDL

SPDL là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ

sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó

SPDL = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ hàng hóa du lịch

Hiện nay khái niệm này rất khái quát, trong phạm vi bài tham luận này có thể hiểu sản phẩm du lịch (SPDL) là tất cả những giá trị về vật chất lẫn tinh thần của một địa phương mà du khách đến hưởng thụ và trả tiền SPDL bao gồm sản phẩm vật thể và sản phẩm phi vật thể, sản phẩm tự nhiên và sản phẩm nhân tạo

Theo TS Nguyễn Văn Bình trong bài viết “Bàn về SPDL”: có thể hiểu SPDL theo hai hướng tiếp cận: Một là từ phía cung, SPDL là toàn bộ dịch vụ của người kinh doanh du lịch dựa trên vật thu hút du lịch (tài nguyên) và khởi sự du lịch nhằm cung cấp cho du khách để thỏa mãn nhu cầu hoạt động du lịch Hai là từ phái người du lịch, SPDL là quá trình du lịch một lần do du khách bỏ thời gian, chi phí và sức lực nhất định để đổi được Từ đó dẫn đến khái niệm SPDL là một tổ hợp cấu thành gồm hai yếu tố: vật thu hút du lịch và toàn bộ hệ thống dịch vụ cung cấp cho du khách nhằm thỏa mãn mục đích hưởng thụ tại nơi đích đến

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNTWO) khuyến cáo nên sử dụng một khái niệm tiêu biểu vừa khái quát cao vừa cụ thể về SPDL Theo đó SPDL được cấu thành từ: kết

Trang 20

cấu hạ tầng, tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

và dịch vụ cung ứng (nhân lực du lịch là yếu tố quyết định)

Theo điều 4 luật du lịch:

“SPDL là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”

1.1.4 Sự phát triển bền vững

Cụm từ "phát triển bền vững" có nguồn gốc từ thực tiễn quản lý rừng ở Đức vào

thế kỷ XIX, nhưng mãi đến thập niên 80 của thế kỷ XX mới được phổ biến rộng rãi

Năm 1980, IUCN cho rằng: "phát triển bền vững phải cân nhắc đến việc khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau”

Năm 1987, Uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Groharlem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ "phát triển bền vững" trong báo cáo "tương

lai của chúng ta" như sau: “phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của những thế hệ mai sau”

Theo hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất năm 1992, được tổ chức Riodejaneiro

thì: "phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp giữa

ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội"

Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia đều đề cập đến "phát triển bền vững" trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển

Đối với Việt Nam, "phát triển bền vững" đựơc thể hiện trong chỉ thị 36/CT của

Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25.6.1998: mục tiêu và các quan

Trang 21

điểm cơ bản của phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững

1.1.5 Du lịch bền vững

Khái niệm du lịch bền vững (Sustainable tourism) được xuất hiện vào năm

1996, trên cơ sở cải tiến và nâng cấp khái niệm về du lịch mềm của những năm 90 và thật sự gây được sự chú ý rộng rãi Mặc dù chưa đạt đến giai đoạn chín muồi, nhưng nó cũng thể hiện được điểm đặc trưng cơ bản của DLBV, đó là: DLBV không chỉ cổ vũ cho hoạt động du lịch ít gây tổn hại cho môi trường mà còn thu hút và đòi hỏi sự tham gia của tất cả các thành tố của ngành công nghiệp du lịch: các tổ hợp khách sạn toàn cầu, các tổ chức du lịch lữ hành, các khách sạn nhỏ bé biệt lập, với mục tiêu: sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ văn hoá và phúc lợi cộng đồng địa phương; tạo lập sự công bằng trong nội bộ và giữa các thế hệ

"Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên, các đặc điểm văn hoá kèm theo (có thể là cả trong quá khứ và hiện tại) theo cách khuyến cáo

về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương" - (World Conservation Union,

1996)

Cũng trong thời gian này, Hội đồng Du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) khái

niệm: "Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng

Du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai"

Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào

đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống (Hens L.1998)

Trang 22

Theo quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam, phát triển Du lịch phải được định hướng và quản lí theo phương châm: kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng Du lịch; khai thác, sử dụng hợp lí và phát triển tài nguyên Du lịch tự nhiên; chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; tránh hiện đại hoá hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích; xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh; đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch

Như vậy, du lịch bền vững không phải là trào lưu du lịch mà đó là cương lĩnh phát triển du lịch của thời đại

1.1.6 Điểm du lịch

Các nhà nghiên cứu và lập pháp đã đưa điểm du lịch vào Pháp lệnh Du lịch

được chủ tịch nước ký và công bố vào tháng 2.1999, theo đó "điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch"

Như vậy theo Pháp lệnh Du lịch, "điểm du lịch" là khái niệm tương đối mở, không hạn chế về quy mô lãnh thổ Đồng thời với khái niệm trên, "điểm du lịch" có thể bao gồm: điểm tài nguyên (tiềm năng), nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn và có khả năng thu hút khách song có thể chưa đưa vào khai thác; và điểm chức năng - nơi các tài nguyên du lịch đã được khai thác đưa vào phục vụ nhu cầu khách du lịch (tức là đã có sức thu hút khách du lịch)

Tuy nhiên khái niệm trên vẫn để ngỏ vấn đề "quy hoạch" đối với điểm du lịch Trong trường hợp lãnh thổ điểm du lịch được quy hoạch thì sự khác biệt với khái niệm

"khu du lich" được xác định ngay trong Pháp lệnh Du lịch, theo đó "khu du lịch là nơi

có tài nguyên du lịch…, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách…" là chưa rõ ràng Trong thực tế cuộc sống, hai khái niệm này

thường được sử dụng một cách vô thức mà chưa có sự phân biệt rõ ràng

Trang 23

và hệ thống giao thông liên kết chúng Do vậy, tuyến du lịch có thể là tuyến du lịch đường bộ, tuyến du lịch đường thuỷ, tuyến du lịch hàng không hoặc tuyến du lịch tổng hợp với các phân đoạn có các loại phương tiện vận chuyển khác nhau

Tuyến du lịch có thể là tuyến du lịch tổng hợp (liên kết các điểm du lịch chức năng khác nhau), hoặc tuyến du lịch chuyên đề (liên kết các điểm du lịch có chức năng, sản phẩm du lịch tương đồng)

Tuyến du lịch là một khái niệm không hạn chế bởi ranh giới hành chính Các tuyến du lịch có thể được xây dựng phát triển trong một đơn vị hành chính (trong trường hợp có các điểm du lịch cần thiết phân bố trọn trong đơn vị hành chính đó), song trong nhiều trường hợp, tuyến du lịch được phát triển trên lãnh thổ xuyên ranh giới hành chính (liên xã, liên huyện, liên tỉnh/thành phố), thậm chí xuyên quốc gia Trong xu thế hội nhập hợp tác cùng phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch thì các tuyến du lịch liên vùng như vậy thường chiếm ưu thế Điều này cũng làm tăng đáng kể sức hấp dẫn của các tuyến du lịch

1.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN VÀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH

1.2.1 Những điều kiện cơ bản để phát triển bền vững du lịch

Để ngành du lịch phát triển một cách bền vững cần những điều kiện sau:

Trang 24

1.2.1.1 Sự đa dạng của tài nguyên du lịch

Đối với tài nguyên thiên nhiên, gắn với nó là loại hình du lịch, đòi hỏi tính đa dạng sinh học cao

Đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh thái, đa dạng di truyền và đa dạng loài

Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống và mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu… đó là các hệ sinh thái (eco - systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc một số loài sinh vật (theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh Rio De Janeiro về môi trường)

Đối với tài nguyên nhân văn bao gồm những di tích lịch sử, di tích cách mạng, những công trình văn hoá, kiến trúc… kể cả những giá trị văn hoá truyền thống cần được giữ gìn, bảo tồn để mỗi điểm du lịch mang nét độc đáo riêng tạo sự hấp dẫn đa dạng cho ngành du lịch

Vì hơn ai hết chỉ có họ mới ý thức được quyến lợi họ được hưởng và bảo vệ môi trường du lịch chính là bảo vệ cuộc sống của chính họ Họ cũng là những người truyền

Trang 25

đạt những kiến thức đó đến du khách hiệu quả nhất Từ đó tất cả các lực lượng tham gia du lịch, dân bản địa cùng nhau bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, là điều kiện quan trọng để du lịch phát triển một cách bền vững

Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên và môi trường

Họ chỉ đơn giản tạo cho du khách một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, để đạt được nền du lịch bền vững, các nhà điều hành du lịch phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, cộng đồng địa phương và các lực lượng bảo

vệ môi trường với mục đích bảo vệ lâu dài các giá trị tự nhiên, nhân văn, văn hoá địa phương và môi trường; cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với du khách

1.2.1.3 Đảm bảo về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch

Giao thông vận tải: đảm bảo nhu cầu đi lại cho du khách từ đất liền ra Côn Đảo

và ngược lại; đến các điểm du lịch

Thông tin liên lạc: đảm bảo để du khách liên lạc với gia đình, người thân

Điện, nước: cung cấp đầy đủ cho các hoạt du lịch và sinh hoạt cho du khách

Cơ sở lưu trú: chất lượng và phù hợp với môi trường du lịch của địa phương

Các dịch vụ du lịch khác: ăn, uống, mua sắm… phải đảm bảo trên tinh thần tươi sống, an toàn vệ sinh thực phẩm, giá cả phù hợp

1.2.1.4 Tuân thủ chặt chẽ các quy định về "sức chứa"

Nhằm hạn chế tới tới mức tối đa tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên

du lịch và môi trường, đạt đến nền du lịch bền vững, cần tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về "sức chứa" Khái niệm "sức chứa" được hiểu từ bốn khía cạnh: vật

Trang 26

lý, sinh học, tâm lý học và xã hội học Tất cả những khía cạnh này có liên quan đến lượng khách ở một thời điểm trong cùng địa điểm

Đứng trên góc độ vật lý: "sức chứa" ở đây được hiểu là số lượng tối đa du

khách mà khu vực đó có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ

Đứng ở góc độ sinh học: sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu lớn

hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra Sức chứa này sẽ đạt tới khi số lượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởng tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã, làm cho hệ sinh thái xuống cấp (ví dụ: làm phá vỡ tập quán kết bầy, làm đất bị xói mòn…); tài nguyên nhân văn bị tổn hại và các giá trị truyền thống dần mai mọt, mất đi

Đứng ở góc độ tâm lý: Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu

vượt quá bản thân du khách cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Nói cách khác mức độ thoả mãn của

du khách giảm xuống quá mức bình thường do tình trạng quá tải

Đứng ở góc độ xã hội: sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà ở đó bắt đầu

xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá - xã hội, kinh tế - xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, bị xâm nhập

Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này, năng lực quản lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý…) của khu du lịch sẽ không đáp ứng được nhu cầu của du khàch, làm mất khả năng quản lý kiểm soát hoạt động của khách và kết quả sẽ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội

Trang 27

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả tính định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác về sức chứa cho một khu vực Mặt khác mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm

Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là "quan niệm" về sự

"đông đúc" của các nhà nghiên cứu khác nhau sẽ khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau Rõ ràng, để đáp ứng yêu cầu này của du lịch, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể và căn cứ vào đó sẽ có những quyết định về quản lý Điều này cần được tiến hành với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau phù hợp với tâm lý và quan niệm của họ

1.2.1.5 Thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của du khách

Việc thoả mãn nâng cao nhu cầu hiểu biết của du khách về tự nhiên, văn hoá bản địa thường rất khó khăn song lại là nhu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch Vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan

1.2.2 Những nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững du lịch

Phát triển bền vững chủ trương ủng hộ việc lưu lại cho các thế hệ tương lai một nguồn tài nguyên thiên nhiên không kém hơn so với cái mà các thế hệ trước được hưởng Ngăn ngừa những thay đổi không thể tránh được đối với tài sản môi trường

Trang 28

không có khả năng thay thế, ngăn chặn sự mất đi của tầng ôzôn và các loài sinh vật, sự phá hoại chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái, điều này cũng có nghĩa là việc tính tới các dịch vụ được môi trường thiên nhiên cung cấp, những dịch vụ này không phải

là "hàng hoá cho không" mà phải được tính vào chi phí các hoạt động kinh tế

Các nguyên tắc như vậy cũng được áp dụng đối với tài nguyên nhân văn Cần trân trong các nền văn hoá địa phương, truyền thống dân tộc, kế sinh nhai và đất đai người ta dựa vào để sống

Việc sử dụng bền vững, bảo tồn và bảo vệ các nguồn lực này là vấn đề sống còn đối với việc quản lý hợp lý mang tính toàn cầu và cũng mang ý nghĩa kinh doanh tích cực

1.2.2.2 Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng du lịch

Sự tiêu thụ quá mức sẽ dẫn tới sự huỷ hoại môi trường toàn cầu và đi ngược lại với sữ phát triển bền vững Kiểu tiêu thụ này là đặc trưng của những nước có nền công nghiệp phát triển và lan rộng rất nhanh trên toàn cầu

Sự tiêu dùng tài nguyên môi trường và các tài nguyên khác một cách lãng phí, không cần thiết đã gây ra sự ô nhiễm và xáo trộn về văn hoá, xã hội Sự phớt lờ hoặc không quản lí chất thải của các công trình mà dự án triển khai không có đánh giá tác động đến môi trường làm cho môi trường xuống cấp lâu dài, khó khắc phục Vì thế cần

"phạt ô nhiễm" đối với các công trình trên

1.2.2.3 Duy trì tính đa dạng

Việc duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội là hết sức quan trọng cho sự phát triển bền vững du lịch và là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch

Trang 29

Sự đa dạng trong môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội là thế mạnh mang lại khả năng phục hồi cho những đột biến và áp lực Đa dạng cũng sự sống còn để tránh việc quá phụ thuộc một hay một vài nguồn hỗ trợ sinh tồn

Phát triển bền vững chủ trương việc để lại cho thế hệ tương lai sự đa dạng cả về thiên nhiên và nhân văn không ít hơn những gì thế hệ trước được thừa hưởng Nhận thức được rằng thay đổi về môi trường sinh học, văn hoá, kinh tế là kết cục không tránh khỏi của bất cứ loại hình phát triển nào

Chiến lược Bảo Tồn Thế Giới (1980) nhấn mạnh sự cần thiết bảo tồn đa dạng nguồn gen Từ đó mục đích đã được mở rộng, trong đó có sự đa dạng các cơ cấu chính trị, kinh tế - xã hội và các nền văn hoá

1.2.2.4 Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch

Hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia và địa phương, tiến hành đánh giá tác động môi trường làm tăng khả năng tồn tại lâu dài của ngành du lịch

Các mâu thuẫn quyền lợi, sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên và tình trạng quá phụ thuộc có thể tránh hay giảm thiểu được bằng cách hợp nhất lĩnh vực này với lĩnh vực khác dựa trên hai qui tắc: quy hoạch chiến lược dài hạn và đánh giá tác động môi trường

Khuôn khổ hoạch định có tính chiến lược cho phép đánh giá các tác động của sự phát triển đối với các điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường ở cả cấp địa phương và khu vực trong khuôn khổ ngắn trung và dài hạn

Đánh giá tác động môi trường được tiến hành trong các giai đoạn lập kế hoạch

và thực hiện của dự án sẽ làm giảm thiểu tổn hại đối với môi trường tự nhiên, kinh tế

và xã hội Đánh giá tác động của môi trường bao gồm tác động gián tiếp và trực tiếp của con người đối với các hệ động - thực vật, đất đai, nguồn nước, khí hậu và cảnh

Trang 30

quan; và cả tác động qua lại của các nhân tố này với các tài nguyên nhân văn Tuy nhiên sự đánh giá này mới diễn ra chủ yếu ở Cộng đồng Châu Âu, phần lớn các nước còn lại đang trong giai đoạn thử nghiệm

1.2.2.5 Hỗ trợ kinh tế địa phương

Ngành du lịch hỗ trợ được các hoạt động kinh tế địa phương, tính đến các giá trị

và chi phí về mặt môi trường thì mới bảo vệ được nền kinh tế địa phương và tránh được sự tổn thất về môi trường

Sự tăng trưởng kinh tế thể hiện qua sự tăng trưởng của Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) mà biểu hiện của nó là các giá trị hàng hoá trên thị trường; còn giá trị các loại hình dịch vụ và tài nguyên môi trường không được tính, dẫn đến tình trạng huỷ hoại môi trường

Sự phát triển bền vững, một mặt thoả mãn nhu cầu và phúc lợi của con người đồng thời vẫn duy trì và cải thiện môi trường Lưu tâm đến chức năng kinh tế và việc đánh giá tác động đến môi trường của các dự án đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng

Cốt lõi của sự phát triển kinh tế bền vững là tính không phụ thuộc, ngày càng phát triển và đa dạng Nó đòi hỏi sự tái thiết lập hệ thống thị trường để hợp lý hoá các dịch vụ ở góc độ môi trường và các chi phí sản xuất có tính xã hội rộng lớn hơn

Hoạt động kinh tế quan tâm đến môi trường cũng là quan tâm đến lợi ích quần chúng địa phương

1.2.2.6 Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương

Việc tham gia của cộng động địa phương vào Du lịch sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho họ và môi trường mà còn nâng cao chất lượng Du lịch

Sự tham gia của cộng đồng địa phương là rất cần thiết để phát triển hợp lý và bền vững Ngược lại sự phát triển bền vững sẽ đáp ứng được nhu cầu của dân bản địa

Trang 31

bảo vệ môi trường thiên nhiên và văn hoá của họ Để đạt được mục tiêu đó, cần có chiến lược phát triển phù hợp của địa phương sở tại

Để sự tham gia của cộng đồng địa phương thật sự hiệu quả, cần có chiến lược giáo dục bài bản, khoa học và cho phép họ tham gia vào quá trình hoạch định và tiến hành các chiến lược phát triển

1.2.2.7 Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng có liên quan

Sự đồng lòng giữa công nghiệp Du lịch với cộng đồng địa phương, các tổ chức

và các cơ quan khác nhau là rất cần thiết, đồng thời cùng nhau giải toả các mâu thuẫn tiềm ẩn về quyền lợi

Tham khảo ý kiến quần chúng nhằm tranh thủ sự quan tâm của họ trong việc dung hoà giữa phát triển kinh tế (đặc biệt là công nghiệp) và sự tác động tiềm ẩn của

nó lên môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá Đó là việc làm cần thiết để đánh giá một

dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực và tối đa hoá sự đóng góp của quần chúng địa phương

Thiếu sự tham khảo ý kiến giữa cơ quan nhà nước và cộng đồng địa phương có thể đưa đến sự thù địch và đối kháng thậm chí khó có thể giải quyết được các mâu thuẫn về quyền lợi

Các cộng đồng địa phương trên toàn thế giới nếu được trang bị kiến thức đầy

đủ, họ sẽ là những người quan tâm nhất và đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường của chúnh mình

Phát triển bền vững là tính đến các nhu cầu hiện tại, tương lai và phúc lợi của con người dựa trên sự lựa chọn, hiểu biết về những chi phí phát triển môi trường, xã hội và văn hoá Tham khảo ý kiến mang tính chất then chốt vì nó hàm nghĩa trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa vào kỹ năng, kiến thức và các nguồn lực địa phương

Trang 32

1.2.2.8 Đào tạo nhân viên

Việc đào tạo nhân viên trong đó có lồng ghép vấn đề du lịch bền vững vào thực tiễn công việc, cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương vào mọi cấp sẽ làm tăng chất lượng sản phẩm du lịch

Một lực lượng lao động được đào tạo và có kỹ năng thành thạo không những đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch việc đào tạo đúng mức và nhận thức của người học về tầm quan trọng và tính chất phức tạp của du lịch góp phần nâng cao lòng tự hào nghề nghiệp, sự tự tin và tự nguyện công tác của nhân viên; nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, lòng tin vào tính hiệu quả của tất cả các cấp đối với sự phát triển của ngành du lịch

Việc đào tạo phải bao gồm cả giáo dục đa văn hoá nhằm tăng cường hiểu biết cho học viên giúp họ đem lại sự hài lòng cao nhất cho du khách

Đào tạo và sử dụng nhân viên là người địa phương, đặc biệt là các cán bộ tổ chức và các hướng dẫn viên du lịch sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho ngành

Sự phát triển bền vững nhấn mạnh đến tăng cường giáo dục nhằm mục đích nâng cao sự phồn vinh về kinh tế - xã hội Giáo dục nâng cao nhận thức về quản lý môi trường là then chốt cho sự phát triển tổng hợp bền vững cần phải bao hàm những vấn

đề về xã hội, văn hoá và kinh tế

1.2.2.9 Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm

Việc tiếp thị cung cấp thông tin cho du khách một cách đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách đối với môi trường thiên nhiên, văn hoá,

xã hội của địa phương đồng thời làm tăng thêm sự thoả mãn cho du khách

Tiếp thị và quảng cáo là vũ khí lợi hại giúp bán thành công bất cứ sản phẩm nào Phát triển bền vững dựa trên sự tiếp thị đầy đủ và trung thực các thông tin về sản

Trang 33

phẩm góp phần nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên, nhân văn và mức sống (có tính đến giá thành của những giá trị về môi trường)

Chiến lược tiềp thị đối với du lịch bền vững bao gồm việc xác định, đánh giá và luôn rà soát lại mặt cung của tài nguyên du lịch và những nguồn lực khác, đồng thời luôn quan tâm đến cán cân cung - cầu

Sự tăng trưởng của du lịch và sự hoán vị của các điểm tham quan tạo nên sự cạnh tranh trong tiếp thị du lịch

1.2.2.10 Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu

Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu và giàm sát ngành công nghiệp du lịch thông qua việc sử dụng và phân tích hiệu quả các số liệu là cần thiết trong việc giải quyết những vấn đề tồn đọng, mang đến lợi ích cho các điểm tham quan, cho ngành và

Trang 34

- Tài nguyên du lịch:

Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề quan trọng cơ bản để xây dựng nên các điểm, tuyến du lịch Điều này đã được khẳng định ngay trong pháp lệnh du lịch: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo

ra sự hấp dẫn du lịch"

Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác để thoả mãn nhu cầu du lịch, nhiều tài nguyên du lịch còn tồn tại ở dạng tiềm năng do:

+ Chưa được nghiên cứu điều tra và đánh giá đầy đủ

+ Chưa có nhu cầu khai thác do khả năng "cầu" còn thấp

+ Tính đặc sắc của tài nguyên thấp hoặc chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khai thác hình thành các sản phẩm du lịch

+ Các điều kiện để tiếp cận và các phương tiện để khai thác hạn chế, do đó chưa

có khả năng hoặc gặp nhiều khó khăn trong khai thác

+ Chưa đủ khả năng đầu tư để khai thác

Trong thực tế, ở nước ta, nhiều di tích văn hoá lịch sử, lịch sử cách mạng mặc

dù đã được xếp hạng song chưa được khai thác phục vụ du lịch; nhiều khu rừng nguyên sinh với tính đa dạng sinh học cao, nhiều bãi biển đẹp ở miền Trung, nhiều lễ hội… vẫn chưa đầy đủ điều kiện đưa vào khai thác và sử dụng.

Ngoài tài nguyên du lịch, nhân tố quan trọng cơ bản để xây dựng các điểm, tuyến du lịch còn có các yếu tố khác như vị trí địa lý, các điều kiện tự nhiên như mưa, gió, sương mù, dòng chảy… Các yếu tố này trong nhiều trường hợp quyết định mức độ

sử dụng tài nguyên và ảnh hưởng rất nhiều đến sức hấp dẫn của các điểm, tuyến du lịch

Trang 35

- Cơ sở hạ tầng du lịch

Nếu tài nguyên du lịch là yếu tố cơ sở quan trọng để tạo nên các điểm, các trung tâm, các vùng du lịch, qua đó hình thành các tuyến du lịch thì cơ sở hạ tầng du lịch là yếu tố đảm bảo cho việc khai thác những giá trị tài nguyên đó hình thành nên các điểm/khu du lịch Đặc biệt cơ sở hạ tầng du lịch mà trực tiếp là hệ thống giao thông là điều kiện không thể thiếu để hình thành nên các tuyến du lịch Cơ sở hạ tầng du lịch bao gồm:

Hệ thống phương tiện giao thông:

Đây được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu bởi hoạt động du lịch gắn liền với sự di chuyển của du khách từ nơi cư trú đến các điểm tham quan Hệ thống giao thông ở đây không chỉ là hệ thống đường (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không) mà còn bao gồm cả các đầu mối giao thông như sân bay, nhà ga, bến cảng, các cửa khẩu quốc tế

Hệ thống cung cấp điện:

Đối với hoạt động du lịch, điện là nguồn năng lượng không thể thiếu đảm bảo sinh hoạt của khách du lịch và các dịch vụ du lịch có liên quan Trong du lịch bền vững luôn khuyến khích các nguồn năng lượng tự nhiên tại chỗ như các máy thuỷ điện nhỏ, pin mặt trời… thân thiện môi trường

Hệ thống cấp, thoát nước:

Là yếu tố cơ sở hạ tầng du lịch không thể thiếu trong hoạt động du lịch vì nó đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của du khách Hệ thống cấp nước và xử lý nước thải trong hoạt động du lịch luôn là yếu tố được coi trọng khi xây dựng các điểm/khu

du lịch Đối với phát triển bền vững du lịch thì vấn đề xử lý nước thải là đặc biệt quan trọng vì nước thải sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái và ô nhiễm môi trường, huỷ hoại ngay nguồn tài nguyên chính mà điểm du lịch đó khai thác và phát triển

Trang 36

Hệ thống thông tin liên lạc:

Đảm bảo hệ thống hạ tầng thông tin liên lạc để đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc với bạn bè, người thân thậm chí còn duy trì các mối liên hệ công việc mà người đó đảm nhận trong thời gian đi du lịch là rất quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động du lịch

Ngoài những yếu tố hạ tầng cơ sở du lịch cơ bản trên, một số yếu tố khác cũng cần được lưu ý bao gồm: hạ tầng tài chính, hạ tầng y tế… để đáp ứng nhu cầu của hoạt động du lịch

- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là những yếu tố trực tiếp tham gia vào việc hình thành các sản phẩm du lịch, có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch, vì vậy chúng

có vai trò quan trọng trong việc xây dựng các điểm, tuyến du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất của ngành du lịch và cơ

sở vật chất của một số ngành dịch vụ có liên quan

Những yếu tố cơ bản của hệ thống cơ sở vật chất du lịch bao gồm:

Cơ sở lưu trú du lịch là: "cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác

phục vụ khách du lịch Cơ sở lưu trú du lịch gồm khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn

hộ, lều bãi cắm trại cho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu" (pháp lệnh du lịch 1999) Đây được xem như loại cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cơ bản thuộc

hệ thống dịch vụ của ngành

Cơ sở thể thao, vui chơi giải trí: đáp ứng nhu cầu thư giãn, vui chơi giải trí và

tái tạo sức khoẻ cho du khách Những cơ sở này bao gồm các công trình thể thao, các công viên vui chơi giải trí ngoài cơ sở lưu trú…

Trang 37

Các công trình thông tin, văn hoá, biểu diễn nghệ thuật: như trung tâm văn

hoá - thông tin, rạp chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ nghệ thuật, phòng trưng bày triển lãm… Đây đồng thời cũng là những công trình phúc lợi xã hội

Các cơ sở dịch vụ bảo trợ khác: như hiệu rửa ảnh, trạm xăng dầu, hiệu cắt tóc,

hiệu sửa chữa đồng hồ… Thực chất đây là các cơ sở dịch vụ xã hội tham gia vào các hoạt động cung ứng dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách du lịch

1.2.3.2 Những chỉ tiêu cơ bản để xây dựng các điểm, tuyến du lịch

Việc xây dựng các điểm và qua đó là các tuyến du lịch thường dựa trên những chỉ tiêu cơ bản sau:

- Vị trí của điểm du lịch:

Vị trí tương đối của điểm du lịch với thị trường cung cấp khách có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng phát triển hoạt động du lịch ở điểm du lịch đó Thực tế cho thấy những điểm du lịch có tài nguyên du lịch với mức độ hấp dẫn tương đồng thì điểm du lịch nào có vị trí gần với thị trường cung cấp khách hơn thì việc xây dựng phát triển điểm du lịch đó sẽ thuận lợi hơn

Xác định mức độ thuận lợi để xây dựng phát triển các điểm du lịch ở góc độ khoảng cách từ thị trường nguồn đến vị trí điểm du lịch, trên cơ sở thực tiễn hoạt động

du lịch thường sử dụng 4 cấp:

Rất thuận lợi: khoảng cách từ 10 - 100 km, thời gian đi đường ít hơn 3 giờ và

có thể sử dụng từ 2 - 3 phương tiện vận chuyển thông dụng

Khá thuận lợi: khoảng cách 100 - 200 km, thời gian đi đường ít hơn 5 giờ và có

thể sử dụng từ 2 - 3 phương tiện vận chuyển thông dụng

Thuận lợi: khoảng cách từ 200 - 500 km, thời gian đi đường ít hơn 12 giờ và có

thể sử dụng 1 - 2 phương tiện vận chuyển thông dụng

Trang 38

Kém thuận lợi: khoảng cách trên 500 km, thời gian đi đường hơn 24 giờ và có

thể sử dụng từ 1 - 2 phương tiện vận chuyển thông dụng

- Độ hấp dẫn của điểm du lịch:

Độ hấp dẫn của điểm du lịch là chỉ tiêu mang tính tổng hợp các yếu tố như tính hấp dẫn của cảnh quan được nhiều du khách công nhận; sự thích hợp của khí hậu; tính đặc sắc và độc đáo của các đối tượng tham quan du lịch… Độ hấp dẫn này thường được chia thành 4 cấp:

Rất hấp dẫn: có ít nhất trên 5 cảnh quan đẹp được thừa nhận; có ít nhất 5 di tích

đặc sắc và những tài nguyên du lịch khác để có thể phát triển được ít nhất 5 loại hình

du lịch

Khá hấp dẫn: có ít nhất 3 - 5 cảnh quan đẹp được thừa nhận; có ít nhất 2 di tích

đặc sắc và những tài nguyên du lịch khác để có thể phát triển được từ 3 - 5 loại hình du lịch

Hấp dẫn: có ít nhất 1 - 2 cảnh quan đẹp được thừa nhận; có ít nhất 1 di tích đặc

sắc và những tài nguyên du lịch khác để có thể phát triển được 1 - 2 loại hình du lịch

Kém hấp dẫn: có cảnh quan đơn điệu và chỉ có thể phát triển được 1 loại hình

du lịch

- Điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:

Đây được xem là chỉ tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển điểm, tuyến du lịch với 4 mức độ khác nhau:

Rất tốt: điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ, đạt

tiêu chuẩn quốc tế Với điều kiện này, việc khai thác các tiềm năng để phát triển các điểm, tuyến du lịch rất thuận lợi đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách ở trình độ cao

Trang 39

Khá tốt: có cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn

quốc gia

Trung bình: có được một số cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật đạt tiêu

chuẩn quốc gia nhưng không đồng bộ

Kém: điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, không đồng

bộ

- Thời gian hoạt động của điểm du lịch:

Thời gian hoạt động của điểm du lịch được xác định bởi khoảng thời gian thích hợp về các điều kiện khí hậu, thời tiết đối với sức khoẻ và đảm bảo an toàn cho du khách cũng như điều kiện thuận lợi để đưa khách đi du lịch theo chương trình

Thời gian hoạt động du lịch quyết định tính chất thường xuyên hay mùa vụ của hoạt động du lịch, từ đó tác động đến kế hoách khai thác, đầu tư và hoạt động kinh doanh du lịch tại các điểm, tuyến du lịch Để tiện lợi trong việc xem xét chỉ tiêu này trong tổng thể các chỉ tiêu liên quan đến việc xây dựng phát triển các điểm, tuyến du lịch, việc đánh giá thời gian hoạt động của điểm du lịch cũng có thể chia làm 4 cấp:

Rất dài: có trên 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch

và có ít nhất trên 180 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người

Khá dài: có từ 150 - 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du

lịch và có từ 120 - 180 ngày có điều kiện khí hậu phù hợp với sức khoẻ con người

Dài: có từ 100 - 150 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch

và có từ 90 - 120 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người

Ngắn: có dưới 100 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và

dưới 90 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người

Trang 40

- Sức chứa của điểm du lịch:

Sức chứa của điểm du lịch phản ánh khả năng và quy mô triển khai hoạt động của điểm du lịch mà không nảy sinh những tác động tiêu cực đến tài nguyên, môi trường và xã hội Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững du lịch

Trong thực tế, việc xác định "sức chứa" của một điểm du lịch rất khó bởi cần triển khai việc quan trắc bằng thực nghiệm Trong nhiều trường hợp, nhiệm vụ này được thực hiện bằng việc kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các nước, đặc biệt các nước trong khu vực nơi có những điều kiện tương đồng hoặc bằng kinh nghiệm thực tiễn

Sức chứa (chỉ khả năng tiếp nhận khách) của điểm du lịch cũng thường được chia thành 4 cấp:

Rất lớn: trên 1.000 lượt khách/ngày

Khá lớn: từ 500 - 1.000 lượt khách/ngày

Trung bình: từ 100 - 500 lượt khách/ngày

Nhỏ: dưới 100 lượt khách/ngày

Tuy nhiên có thể nhận thấy sức chứa của điểm du lịch phụ thuộc rất nhiều vào qui mô lãnh thổ của điểm du lịch đó

- Tính bền vững của điểm du lịch:

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tồn tại, tự phục hồi của các thành phần tự nhiên của điểm du lịch trước áp lực tác động của hoạt động du lịch, hoặc các tác động tự nhiên, kinh tế - xã hội khác Tính bền vững này cũng được chia thành 4 cấp:

Ngày đăng: 20/09/2017, 12:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
17. Pirojnik (1985), Cơ sở địa lý dịch vụ và du lịch, Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải biên dịch – Tài liệu tư liệu lưu trữ tại khoa du lịch học Khác
18. Thạch Cơ Sơn (2003), Bà Rịa - Vũng Tàu, di tích danh thắng tiêu biểu, Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Khác
19. Thủ tướng Chính phủ (2005), quyết định phê duyệt đề án phát triển KT – XH huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Khác
20. Trần Đức Thanh (2000), Nhập môn khoa học du lịch. NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội Khác
21. Trần Đức Thạnh (chủ biên); Lê Đức An; Nguyễn Hữu Cử; Trần Đình Lân Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w