Các nước ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phát triển, vươn lên mạnh mẽ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… Bên cạnh đó, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã gây nên sự ảnh hưởng to lớn đ
Trang 1MỤC LỤC
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 11
1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh 11
1.2 Tình hình nước Mỹ 16
1.3 Tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương 24
Chương 2 SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG THỜI BARACK OBAMA TỪ 2009 ĐẾN NĂM 2014 38
2.1 Nguyên nhân Mỹ điều chỉnh chính sách đối ngoại 38
2.1.1 Vị trí quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương 38
2.1.2 Sự suy giảm vị trí của Mỹ ở khu vực Châu Á –Thái Bình Dương 39
2.2 Mỹ gia tăng can dự vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương 41
2.2.1 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương dưới thời Tổng thống G.W.Bush 42
2.2.2 Chính sách xoay trục của Mỹ 47
Chương 3 TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG 54
3.1 Tác động 54
3.1.1 Tác động về kinh tế 54
3.1.2 Tác động về chính trị 54
3.1.3 Tác động về quân sự 55
3.2 Những thách thức trong chính sách của Mỹ đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 56
3.2.1 Đối với Mỹ 56
Trang 23.2.2 Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 62 KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 3BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Đề tài: Thực thi Chính sách của Mỹ đối với châu Á –Thái Bình Dương
dưới thời Tổng thống B.Obama (2009-2014)
Mã số: SV2015-07
1 Vấn đề nghiên cứu (vấn đề, tính cấp thiết)
Năm 2009 là một năm đầy biến động đối với thế giới, đặc biệt là Mỹ Vì vào 20/1/2009, lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ có một vị tổng thống da màu lên nắm quyền trong số 44 vị tổng thống của quốc gia hợp chúng quốc Chính quyền của ông B.Obama đã được thừa hưởng một “di sản” khủng hoảng nặng nề từ chính quyền tiền nhiệm là G.W Bush như chính quyền của tổng thống Franklin Roosevelt đã “thừa hưởng” cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1930 của tổng thống Herbert Hoower
B.Obama trở thành Tổng thống khi nước Mỹ lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trong sau tám năm tại nhiệm của G.W.Bush Đầu thế kỉ XXI, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã có những bước phát triển vượt bậc,đây là một thị trường đầy tiềm năng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài ( FDI) mạnh, với trữ lượng dự trữ ngoại tệ lớn Các nước ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương phát triển, vươn lên mạnh mẽ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… Bên cạnh đó, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã gây nên sự ảnh hưởng to lớn đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong khi chính quyền của G.W Bush đã làm sụt giảm vị trí và vai trò của Mỹ ở khu vực này trong giai đoạn tại nhiệm Do đó, khi lên nắm quyền Tổng thống B.Obama phải có những chính sách, chiến lược để vực dậy nền kinh tế cũng như vị thế của Mỹ trên trường quốc tế Ông B.Obama đã đưa ra “học thuyết B Obama” (Obama doctrine) thay cho “Học thuyết G.W.Bush” với mục đích đưa Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về các chính sách đối ngoại của Mỹ cũng là một điều cần thiết, vì nó giúp cho các quốc gia có những đối sách phát triển cũng như là có những chính sách quốc phòng phù hợp Ngoài ra, Mỹ cũng là một đối tác quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực kinh kế, quốc phòng Chính vì vậy, tìm hiểu chính sách
“tái cân bằng quyền lực” của Mỹ là điều cần thiết Do đó, tôi quyết định chọn “ Chính
Trang 4sách của Mỹ đối với Châu Á-Thái Bình Dương dưới thời tổng thống B.Obama từ năm
2009 đến năm 2014” làm đề tài nghiên cứu của tôi
2 Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Tổng thống B.Obama, đồng thời rút
ra những nhận xét về chính sách đối ngoại đó
3 Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu
Thu thập, xử lí, sử dụng những tư liệu có độ tin cậy khoa họclàm sáng tỏ bối cảnh của Châu Á –Thái Bình Dương đầu thế kỉ XXI Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Tổng thống B.Obama đối với khu vực này Qua đó, đánh giá những tác động của
sự điều chỉnh chính sách ngoại giao mà Mỹ thực hiện đối với Châu Á-Thái Bình Dương
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính
Cơ sở phương pháp luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về chính sách đối ngoại của Mỹ và vai trò của chính sách đối ngoại của nhà nước
Chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và so sánh lịch sử để xem xét, phân tích nguyên nhân buộc Mỹ phải điều chỉnh những thay đổi chính sách đối ngoại đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Tổng thống B.Obama
Về phương pháp logic, chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích những chính sách đối ngoại của Tổng thống B.Obama đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương trên các phương diện chính trị-ngoại giao, kinh tế, quốc phòng-an ninh Những tác động của việc thay đổi này đối với sự phát triển của khu vực châu Á- Thái Bình Dương Từ đó rút ra bài học cho việc hợp tác trong quan hệ Việt Nam-Mỹ hiện nay Bên cạnh hai phương pháp nghiên cứu trên Chúng tôi còn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp để xử lý những số liệu kinh tế, những sự kiện lịch sử
Trang 55 Kết quả nghiên cứu (ý nghĩa của các kết quả) và các sản phẩm (Bài báo
khoa học, phần mềm máy tính, quy trình công nghệ, mẫu, sáng chế,)(nếu có)
Đề tài “Chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương dưới thời Tổng Thống B.Obama từ năm 2009 đến năm 2014” có những đóng góp khiêm tốn sau: Thứ nhất, tập hợp, xử lí và hệ thống hóa các tư liệu lịch sử có độ tin cậy để làm rõ Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng Thống B.Obama từ năm 2009 đến năm
2014 trên các lĩnh vực chính trị-ngoại giao, kinh tế, quốc phòng - an ninh
Thứ hai, góp phần khái quát hóa những điều chỉnh trong chính sách ngoại giao mới của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương Đưa ra được những nhận xét về sự tác động của chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương trên nhiều phương diện
Thứ ba, đề tài là một tài liệu hữu ích cho giảng viên, sinh viên khi học tập, nghiên cứu về lịch sử quan hệ quốc tế của Mỹ và khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Trang 6
ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEM The Asia – Europe Meeting Hội nghị thượng đỉnh Á -Âu
BBC British Broadcasting Corporation Thông tấn xã quốc gia của Vương
quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland EAS East Asia Summit Hội nghị thượng đỉnh Đông Á FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
NATO North Atlantic Treaty Organization Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây
Dương TPP Trans – Pacific Partnership Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Trang 7Roosevelt đã “thừa hưởng” cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1930 của tổng thống Herbert Hoower
B.Obama trở thành Tổng thống khi nước Mỹ lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trong sau tám năm tại nhiệm của G.W.Bush Đầu thế kỉ XXI, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã có những bước phát triển vượt bậc,đây là một thị trường đầy tiềm năng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài ( FDI) mạnh, với trữ lượng dự trữ ngoại tệ lớn Các nước ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phát triển, vươn lên mạnh mẽ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… Bên cạnh đó, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã gây nên sự ảnh hưởng to lớn đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trong khi chính quyền của G.W.Bush đã làm sụt giảm vị trí và vai trò của Mỹ ở khu vực này trong giai đoạn tại nhiệm Do đó, khi lên nắm quyền Tổng thống B.Obama phải có những chính sách, chiến lược để vực dậy nền kinh tế cũng như vị thế của Mỹ trên trường quốc tế Ông B.Obama đã đưa ra “học thuyết B Obama” (Obama doctrine) thay cho “Học thuyết G.W.Bush” với mục đích đưa Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về các chính sách đối ngoại của Mỹ cũng là một điều cần thiết, vì nó giúp cho các quốc gia có những đối sách phát triển cũng như là có những chính sách quốc phòng phù hợp Ngoài ra, Mỹ cũng là một đối tác quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực kinh kế,quốc phòng Chính vì vậy, tìm hiểu chính sách
“tái cân bằng quyền lực” của Mỹ là điều cần thiết Do đó, tôi quyết định chọn “Chính sách của Mỹ đối với Châu Á-Thái Bình Dương dưới thời tổng thống B.Obama từ năm
2009 đến năm 2014” làm đề tài nghiên cứu của tôi
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính sách của Mỹ đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương dưới thời Tổng thống B.Obama từ năm 2009 đến năm 2014 là một vấn đề thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể là:
Phạm Quang Minh (2014), Giáo trình Quan hệ quốc tế ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội) đã dành ra một chương để làm rõ mối
quan hệ ngoại giao giữa Mĩ với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ở các giai đoạn
trong chiến tranh lạnh, sau chiến tranh lạnh, sự biến đổi về chính sách ngoại giao của
Mỹ và những thách thức, triển vọng mà Mỹ phải đối mặt ở Khu vực này
Tác giả Nguyễn Trường (2013), Quan hệ quốc tế trong kỉ nguyên Châu Á - Thái Bình Dương (Nxb Tri Thức) cũng đã một phần giúp ta nắm được tình hình nước Mỹ
khi Tổng thống B.Obama lên nắm quyền và những chính sách thực tiễn mang tính chiến lược mà Mỹ áp dụng trong quan hệ ngoại giao với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Ngoài công trình nghiên cứu trên còn có, Nguyễn Trường (2010), Thế giới thời hậu chiến tranh lạnh (Nxb Tri Thức) cũng có những nghiên cứu về B.obama và thế kỉ của
Mỹ, những thách thức đang đón đợi chính quyền B.Obama
Nguyễn Thái Yên Hương, Tạ Minh Tuấn, Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kì (Nxb
Giáo dục Việt Nam) đã tập hợp được một số bài viết của các tác giả khác nhau ban về những chính sách đối ngoại của chính quyền B.Obama và những rào cản mà Mĩ gặp phải khi thực hiện chính sách ngoại giao cởi mở
Ngoài ra, cũng còn một số tác giả đã quan tâm và tìm hiểu vấn đề này, như tác giả
Nguyễn Hoàng Giáp với tác phẩm Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á hiện nay (Nxb Chính trị quốc gia, năm 2013) đã cung cấp những tư liệu về vị trí, vai trò của Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của những nước lớn Hay tác phẩm Quan hệ Trung - Mỹ hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới gốc độ cân bằng quyền lực (Nxb
Chính trị quốc gia, năm 2011) đã bổ sung, đóng góp thêm một số tư liệu về tương lai của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương khi Mỹ thực hiện chính sách ngoại giao mới đối với Trung Quốc
Trang 9Những công trình trên đây cung cấp nhiều tư liệu khoa học, đáng tin cậy giúp chúng tôi kế thừa, tham khảo và sử dụng trong bài tập nghiên cứu Các chuyên khảo trên cũng đã gợi mở cho chúng tôi một số ý tưởng khoa học trong khi chúng tôi thực hiện
đề tài nghiên cứu
Tuy nhiên, những chuyên khảo này chỉ tổng quát, không chi tiết được những vấn đề đơn lẻ Chưa phân tích sâu về những chính sách của Hoa Kỳ đối với các nước Bài nghiên cứu này bổ sung tương đối hoàn chỉnh và đầy đủ chính sách của Mỹ đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và những tác động của sự điều chỉnh này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề
Đề tài tìm hiểu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Tổng thống B.Obama, đồng thời rút
ra những nhận xét về chính sách đối ngoại đó
Nhiệm vụ nghiên cứu: Thu thập, xử lí, sử dụng những tư liệu có độ tin cậy khoa học làm sáng tỏ bối cảnh của Châu Á –Thái Bình Dương đầu thế kỉ XXI Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Tổng thống B.Obama đối với khu vực này Qua đó, đánh giá những tác động của sự điều chỉnh chính sách ngoại giao mà Mỹ thực hiện đối với Châu Á- Thái Bình Dương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là chính sách của Mỹ đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương dưới thời tổng thống B.Obama từ 2009-2014 trên các phương diện kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh và những tác động của nó
Về phạm vi nghiên cứu là chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Châu Thái Bình Dương dưới thời cầm quyền của Tổng thống B.Obama từ năm 2009 đến năm 2014
Á-5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính
Cơ sở phương pháp luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách đối ngoại của Mĩ và vai trò của chính sách đối ngoại của nhà nước
Trang 10Chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và so sánh lịch sử để xem xét, phân tích nguyên nhân buộc Mỹ phải điều chỉnh những thay đổi chính sách đối ngoại đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Tổng thống B.Obama
Về phương pháp logic, chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích những chính sách đối ngoại của Tổng thống B.Obama đối với khu vực Châu Á -Thái Bình Dương trên các phương diện chính trị-ngoại giao, kinh tế, quốc phòng-an ninh Những tác động của việc thay đổi này đối với sự phát triển của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Từ đó rút ra bài học cho việc hợp tác trong quan hệ Việt - Mỹ hiện nay
Bên cạnh hai phương pháp nghiên cứu trên Chúng tôi còn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp để xử lý những số liệu kinh tế, những sự kiện lịch sử
Trang 11
Chương I NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh
1.1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh
Năm 1991, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết sụp đổ làm cho trật tự hai cực Ianta tan rã, mở ra thời kì mới cho lịch sử thế giới, chuyển từ hai cực đối đầu sang
“trật tự một siêu cường – đa trung tâm” [10, tr.179] Mỹ trở thành trung tâm quyền lực của thế giới cả về chính trị lẫn kinh tế, dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năng lượng và sự cạnh tranh mạnh mẽ của các nước đang phát triển Một điều kiện thuận lợi khác cho Mỹ là sự đe dọa của hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn, trật tự thế giới hai cực sau chiến tranh thế giới thứ hai trong hình thái của sự đối đầu Đông - Tây đã chấm dứt tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ và các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới phát triển Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Mỹ cũng phải đương đầu với những khó khăn không nhỏ, như sự vươn lên mạnh mẽ của Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Tây Âu đã làm thay đổi tương quan lực lượng trên thế giới, đe dọa vị thế cũng như là khả năng ảnh hưởng của Mỹ trên trường quốc tế, ảnh hưởng nền kinh tế - xã hội của Mỹ một cách nghiêm trọng Việc sụp đổ của hệ thống Xã hội chủ nghĩa trên giới
và sự suy yếu tương đối của Mỹ sau cuộc chiến tranh lạnh là một cơ hội để Nhật Bản,
Ấn Độ và Tây Âu vươn lên, củng cố vị thế cũng như sức ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế
Mỹ vẫn nuôi tham vọng làm bá chủ thế giới, nên không ngừng ra sức thiết lập một trật tự thế giới mới đơn cực Tuy nhiên, việc thiết lập này chứa đựng nhiều mâu thuẫn, bất trắc do lúc này trên thế có hai khuynh hướng đối nghịch nhau: nếu như Mỹ muốn xây dựng trật tự thế giới đơn cực do Mỹ đứng đầu thì các trung tâm quyền lực mới nổi lên như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ hay các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) lại đấu tranh để xây dựng một thế giới đa cực Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng “đơn cực” và “ đa cực”, “đơn phương” và “đa phương” đang diễn ra ngày càng gay gắt Biểu hiện của cuộc đấu tranh này là sự chống trả của các nước lớn như Anh, Nga, Pháp trong chiến tranh Iraq (tháng 3/2003), những căng thẳng trong mối quan hệ Nga -
Trang 12Mỹ xung quanh vấn đề NATO mở rộng sang hướng Đông và việc Mỹ triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ ở Đông Âu, cũng như cuộc xung đột ở Nam Oxetia (tháng 8/2008) và những bất ổn tại khu vực Trung Đông – Bắc Phi hiện nay [9, tr 30 -31]
Để ngăn chặn khuynh hướng đa cực, Mỹ đã lợi dụng tối đa sự tương quan lực lượng
có lợi cho mình, đẩy mạnh thiết lập “trật tự mới”, mà bản chất là thế giới đơn cực do
Mỹ đứng đầu và chi phối
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc (1991), vấn đề giao lưu quốc tế cũng có nhiều biến chuyển cơ bản với sự ưu tiên hàng đầu dành cho sự phát triển kinh tế Hầu hết các nước đều vì mục đích kinh tế mà tham gia vào các tổ chức tập hợp lực lượng của thế giới Các trung tâm quyền lực mới trên thế giới hình thành trên cơ sở tập trung sức mạnh của các nước về kinh tế - chính trị Việc tăng cường hình thành và hợp tác này tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt, đây chính là tiền đề thúc đẩy sự hình thành của một thế giới đa cực Văn kiện đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhận định
“Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển nhưng các nước lớn vẫn chi phối các quan hệ quốc tế” [9, tr.32]
Như vậy, sự thay đổi đầu tiên khi trật tự hai cực Ianta sụp đổ là sự thay đổi tương quan lực lượng trên thế giới, những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của hình hình chính trị và khuynh hướng hình thành một thế giới đa cực với nhiều trung tâm quyền lực đang hình thành
Thế giới bước vào một cách mạng khoa học và kĩ thuật lần thứ ba. Khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới bước vào một giai đoạn chưa từng có trong lịch sử Cuộc cách mạng khoa học công nghệ này đã làm thay đổi rõ rệt đời sống của con người, đẩy nền kinh tế thế giới bước lên một tầm cao mới, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa và làm biến đổi các lĩnh vực của đời sống xã hội theo những chiều sâu khác nhau Nhưng đa số, những thành tựu khoa học
kĩ thuật này tập trung ở các nước lớn, tiềm lực kinh tế mạnh, lực lượng nghiên cứu khoa học hùng hậu và hệ thống các công ty xuyên quốc gia nhiều Các nước đang phát triển hay các nước kém phát triển khó tiếp cận với các thành tựu khoa học kĩ thuật do
có sự hạn chế về nhiều mặt nhân lực, vật lực Các quốc gia này có nguy cơ bị tuột hậu
và bị “hòa tan” trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ
Trang 13Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ ngày càng phát triển đã tạo ra những bước ngoặc lịch sử, đó chính là sự hình thành nền kinh tế tri thức Ngày nay, thông tin khoa học kĩ thuật và công nghệ là vô cùng cần thiết, nếu không được chú trọng và quan tâm đầu tư đúng mức, các quốc gia sẽ bị đẩy lùi và rơi vào suy thoái, không bắt kịp xu hướng chung của thế giới Cuộc cách mạng này lôi cuốn mạnh mẽ và tác động trực tiếp đến sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, nó tạo ra sự thay đổi căn bản trong đời sống con người cũng như phát triển của kinh tế xã hội và vị thế của quốc gia dân tộc trên chính trường quốc tế
Hệ quả của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ là quá trình toàn cầu hóa Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ của những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới Hiện nay, quá trình này đang chịu sự chi phối mạnh mẽ của các nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia, chứa đựng rất nhiều cơ hội cũng thách thức, thuận lợi và khó khăn, vừa hợp tác vừa cạnh tranh Toàn cầu hóa chi phối mạnh
mẽ nền kinh tế thế giới, thúc đẩy mối quan hệ liên kết giữa các quốc gia với nhau, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường phát triển trên toàn thế giới, hình thành các tổ chức kinh tế thế giới Các nền kinh tế độc lập nhưng vẫn dựa vào nhau, thực hiện liên kết, hợp tác và xâm nhập lẫn nhau Toàn cầu hóa đẩy mạnh quá trình hợp tác, liên kết
và giao lưu văn hóa với nhau giữa các khu vực, từ đó tạo điều kiện cho các lực lượng chính trị bày tỏ chính kiến, bảo vệ lợi ích hay tập hợp lực lượng… để thực hiện những mục tiêu của mình
Toàn cầu hóa bị chi phối bởi các nước phát triển, nên lợi ích từ toàn cầu hóa phần lớn sẽ thuộc về các nước có tiềm lực kinh tế lớn Điều này đã làm trầm trọng hơn khoảng cách giàu nghèo, làm chênh lệch hơn trình độ phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Toàn cầu hóa không đơn thuần là một quá trình kinh tế - kĩ thuật mà còn là một cuộc đấu tranh kinh tế - xã hội, kinh tế - chính trị và văn hóa - tư tưởng một cách gay gắt giữa một bên là những quốc gia tư bản chủ nghĩa và một bên là độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, dân tộc; giữa sự phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng và sự phân hóa giàu - nghèo sâu sắc; mâu thuẫn giữa các quốc gia khi lựa chọn những con đường phát triển khác nhau Quá trình này vẫn hấp dẫn và lôi kéo rất
Trang 14nhiều nước tham gia và trở thành xu thế chung hiện nay Như vậy, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ bùng nổ đã tạo điều kiện cho các nước có những bước phát triển mạnh mẽ, đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa Bên cạnh đó nó còn có tác động không nhỏ đến nền kinh tế - chính trị - xã hội và quan hệ quốc tế của mỗi quốc gia
Một đặc điểm nổi bật của thế giới vào những năm đầu của thế kỉ XXI là các nước lớn có tác động rất lớn trong việc phát triển thế giới Mối quan hệ giữa các nước lớn cũng ảnh hưởng và chi phối nhiều về vấn đề phát triển của thế giới Trên thế giới có
trên dưới 200 quốc gia dân tộc khác nhau, trong đó có một số cường quốc có sự chi phối mạnh mẽ đối với nền kinh tế, chính trị toàn thế giới, tiêu biểu là Mỹ Mỹ có ưu thế vượt trội cả về kinh tế lẫn chính trị từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, vấn
đề chạy đua của các nước ngày càng quyết liệt, các trung tâm tài chính và quyền lực trên thế giới hình thành ngày càng nhiều đã rút ngắn đáng kể sự chênh lệch về thực lực kinh tế giữa các nước tư bản lớn, cũng như trong khu vực Từ sau chiến tranh lạnh kết thúc, hầu hết các nước đều có sự điều chỉnh trong chiến lược đối ngoại của mình để có thể duy trì hoặc mở rộng ảnh hưởng, tranh giành lợi ích trên nhiều lĩnh vực Các nước lớn cũng tăng cường hợp tác với nhau bằng các mối quan hệ đồng minh, đối tác chiến lược, đối tác xây dựng, đối thoại chiến lược, đối thủ trực tiếp, đối thoại tiềm tàng [9, tr 37] Mức độ của các mối quan hệ cũng không dừng lại ở một cấp độ nào mà luôn có
sự thay đổi, chuyển hóa khó đoán Các nước lớn giữ mối quan hệ ngoại giao với nhau theo cách tránh đối đầu trực diện để có thể vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau, ưu tiên cho mối quan hệ mang tính thỏa ước hay hợp tác Một điều đáng chú ý, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tránh đồi đầu một cách trực diện với Mỹ, nhưng không có nghĩa là không có sự cạnh tranh, chạy đua với Mỹ nhằm xây dựng một thế giới đa cực
Song song với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học công nghệ là những vấn
đề mang tính toàn cầu mà nhân loại đang phải đối mặt Những vấn đề cấp thiết mang
tính toàn cầu đe dọa tới sự tồn tại của con người là sự bành trướng của các thế lực khủng bố và tội phạm quốc tế, vấn đề ô nhiễm môi trường và trái đất nóng dần lên, sự bùng nổ dân số thế giới một cách mạnh mẽ, các vấn đề về sức khỏe, bệnh hiểm
Trang 15nghèo… Đây không là vấn đề riêng lẽ của từng quốc gia hay từng khu vực mà của toàn thế giới, điều này đã có tác động mạnh mẽ đến mối quan hệ, hợp tác của các nước với nhau Dù đã có nhiều chuyển biến tích cực sau một thời gian dài hợp tác xử lý của các quốc gia nhưng tính chất và sự nghiêm trọng của vấn đề còn đáng lo ngại, nó đòi hỏi các nước không ngừng hợp tác, chung sức giải quyết để có những hiệu quả thiết thực hơn
1.1.2 Xu thế quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh
Sau chiến tranh lạnh, thế giới chủ yếu vận động theo xu hướng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển Hòa bình, ổn định và hợp tác là mong muốn cấp thiết của tất cả
các quốc gia, dân tộc trên thế giới Ưu tiên số một của các nước trong giai đoạn này là
sự phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa hàng đầu và giữ vai trò quyết định với với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp để củng cố quốc phòng an ninh, tạo
sự ổn định chính trị trong nước và phát triển các mối quan hệ hợp tác quốc tế Mỗi quốc gia đều đề ra những chiến lược đối ngoại khác nhau nhằm mục đích phục vụ đường lối, chính sách phát triển kinh tế, đồng thời xây dựng mối quan hệ hợp tác quốc
tế, tranh thủ các điều kiện thuận lợi từ bên ngoài để phục vụ cho sự phát triển của đất nước Hầu hết các quốc gia đều xây dựng mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển với các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước láng giềng có chung đường biên giới
Các nước không ngừng đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nhưng cũng cạnh tranh gay gắt
Hiện nay, hầu hết các nước đều tham gia vào các diễn đàn, các tổ chức liên kết, hợp tác trong khu vực và quốc tế về phát triển kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực khác Quá trình hợp tác diễn ra mạnh mẽ nhưng cũng kèm theo sự chạy đua, cạnh tranh gay gắt giữa các nước, trong điều kiện như hiện nay, khoa học và công nghệ phát triển, toàn cầu hóa mạnh mẽ, các quốc gia không thể tách khỏi xu thế hội nhập chung của cả thế giới mà phải thực hiện các chính sách liên kết, hợp tác để phát triển Việc liên kết nhằm duy trì và củng cố hòa bình, ổn định chính trị, tạo điều kiện để giao lưu văn hóa, giáo dục, y tế và đẩy mạnh quá trình hội nhập với khu vực và thế giới
Ý thức độc lập tự chủ của các dân tộc ngày càng được nâng cao Các dân tộc luôn
coi trọng độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, đấu tranh chống sự áp đặt, can thiệp
Trang 16của các nước lớn Các quốc gia, dân tộc đều điều chỉnh chính sách đối ngoại để có thể giành vị trí thuận lợi và có thể tận dụng, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ, vốn đầu tư từ nước ngoài và những kinh nghiệm quản lý để xây dựng kinh tế - xã hội Đối với các nước đang phát triển, do chưa đủ điều kiện phát triển cũng như tiềm lực kinh tế còn yếu, nên còn phụ thuộc nhiều vào các nước phát triển để tranh thủ các điều kiện thuận lợi và phát triển đất nước, đây cũng là một thử thách to lớn đối với những quốc gia này
Hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu sụp đổ là một tổn thất đối với phe
Xã hội chủ nghĩa trên thế giới Tuy nhiên, các Đảng cộng sản và giai cấp công nhân trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì hòa bình, an ninh thế giới, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ Dù thế lực tư bản chủ nghĩa trên thế giới ngày càng lớn mạnh và có ưu
thế, nhưng các Đảng cộng sản và giai cấp công nhân, lực lượng tiến bộ trên thế giới vẫn kiên quyết đấu tranh vì mục tiêu hòa bình, dân chủ Hệ thống xã hội chủ nghĩa không chiếm ưu thế nhưng vẫn là một lực lượng quan trọng, vượt qua những thử thách khắc nghiệt của quy luật lịch sử, dần được phục hồi và lãnh đạo phong trào của giai cấp vô sản Các cấp cầm quyền đã có những điều chỉnh quan trọng trong chiến lược, tìm kiếm cách thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, đổi mới phương thức tập hợp lực lượng, không ngừng nâng cao vị trí, vai trò của mình Sự dần phục hồi và phát triển lại của quốc tế cộng sản đã mở ra cơ hội cho phong trào cộng sản, công nhân và phong trào cánh tả trên thế giới ở những năm đầu của thế kỷ XXI
Một xu thế phát triển khác của thế giới chính là sự hợp tác và đấu tranh giữa các nước khác nhau về thể chế chính trị để cùng tồn tại trong hòa bình, ổn định Quy luật
tất yếu của quan hệ quốc tế là vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các quốc gia với nhau
Đó là một nguyên tắc khách quan, là phương pháp để giải quyết các vấn đề trong quan
hệ quốc tế hiện nay Khi vấn đề hội nhập trở thành một vấn đề cấp thiết đối với các quốc gia dân tộc thì rất cần một môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của mỗi nước là điều kiện hội nhập tốt hơn, hiệu quả hơn với khu vực và thế giới
1.2 Tình hình nước Mỹ
Ngày 20/1/2009, Barack Obama đắc cử và trở thành vị tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử của Mỹ Việc B.Obama bước lên nắm quyền làm chủ Nhà Trắng được
Trang 17xem như một bước ngoặt trong lịch sử Mỹ, tạo cho cử tri Mỹ một hi vọng cho một giai đoạn mới Giai đoạn phục hồi cho Mỹ sau thời gian dài khủng hoảng về kinh tế, tài chính và quân sự Chính quyền mới phải tìm cách vực dậy một nước Mỹ xứng danh là siêu cường lãnh đạo thế giới như mong muốn chứ không đơn thuần là thay đổi Đảng cầm quyền là có thể phục hồi Trong hình hình Mỹ hiện tại, “liệu có vị tổng thống nào
đủ sức đương đầu với sức ép mang tính áp đảo của các tập đoàn quân sự - kĩ nghệ, cũng như cộng đồng 16 cơ quan tình báo ngoại - hiến - pháp đại diện nhiều nhóm hậu thuẫn với sức mạnh quyền lực hùng hậu” [15, tr.95] Chính quyền G.W.Bush đã xây dựng một thể chế mang tính đế quốc sâu sắc “sự lan tràn của một bức màn bí mật chính thức, một mạng lưới cảnh sát, và quyền thám thính rình rập của nhà cầm quyền.” [15, tr.95]
Nhìn về lịch sử Mỹ sẽ thấy việc Barack Obama đắc cử chức Tổng thống vào tháng 1/2009 không khác gì so với thời kì Tổng thống Franklin Roosevelt bắt đầu lên nắm quyền năm 1932, nó mở đầu cho một thời kì dân chủ mới hiếm hoi trong hệ thống chính trị Mỹ
Khi Barack Obama lên nắm quyền, tỉ lệ thất nghiệp cao 6,7%, áp lực suy thoái kinh
tế rộng khắp cả nước, nhiều ngân hàng và quỹ đầu tư rơi vào tình trạng đóng bang và
vỡ nợ, các khu nhà ở bán trả góp thì bị thu hồi và phát mãi vì người mua không đủ khả năng chi trả [15, tr 97] Thu nhập của cá nhân, hộ gia đình sụt giảm nhưng giá thực phẩm và đồ tiêu dùng hằng ngày, nhiên liệu tăng cao, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra phức tạp Tốn kém cho quân sự trong hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, sự thất bại trong quan hệ ngoại giao với các nước như Iran, Palestin, Pakistan…đặc biệt là đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khi chính quyền G.W.Bush đánh giá thấp khu vực rộng lớn và đầy tiềm năng này Ngân sách quốc gia ngày một thâm hụt, cán cân thương mại mất cân bằng nghiêm trọng
Tổng thống Obama phải tái cơ cấu lại tất cả, từ hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia từng là siêu cường nhưng giờ đang trên đà tuột dốc và chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước đang phát triển Barack Obama lên nắm quyền trong điều kiện hoàn toàn khác so với G.W.Bush, ông phải đôi mặt với nhiều thử thách cùng một
Trang 18lúc, đối mặt với hậu quả của những chính sách tổng thống tiền nhiệm thực hiện trong tám năm nắm quyền
Trước tiên là sự khủng hoảng về kinh tế tài chính Trên tờ báo “The New Yourk Times”, ra ngày 18/8/2008 đã đưa tin: “Mỹ đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng và bất ngờ, hơn bất cứ cuộc khủng hoảng nào trong đời sống của thế hệ chúng ta…” [15, tr 97] Tháng 8/2008, cuộc khủng hoảng tài chính đã lan ra toàn hệ thống, trước tình thế cấp bách đó là, Henry M Paulson đã đưa ra một chương
trình gọi là “Chương trình cứu cấp các tài sản mất giá” (Troubled Asset Relief Program – TARP) nhằm mục đích ổn định tài chính và thị trường bất động sản, vực
dậy nền kinh tế đang suy thoái Tuy nhiên, tất cả điều không mang lại kết quả như mong muốn của giới cầm quyền Mỹ lúc bấy giờ
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này là do sự quản lý tín dụng và rủi ro sai lầm của toàn hệ thống tài chính Dụng cụ phức tạp Credit Default Swaps – CDS [15, tr 99] (phiếu trao đổi tín dụng thiếu khả năng hoàn trái) được đưa vào sử dụng nhằm mục đích giúp các định chế tính dụng giảm được mức độ rủi ro khi đầu tư vào bất động sản
và không thu lại được
Trong thực tiễn thì chính sách CDS không mang lại hiệu quả như mong muốn, nó làm giảm sự chú ý của các nhà đầu tư đến định lượng những rủi ro, bất trắc có thể xảy
ra Hơn nữa, hành động phân tán rủi ro này làm cho việc định tính của mọi định chế khác vô cùng khó khăn bởi thiếu đi tính lành mạnh trong đánh giá thực tế
Trong Quốc Hội, các nghị sĩ đã xem sự phá sản của các tập đoàn lớn như AIG, Bear Stearns, Leehman Brothers là mốc đánh dấu cho sự thất bại của chính sách Alan Greenspan - Chủ tịch cục Dự trữ liên bang nhằm gỡ bỏ mọi sự giám sát đối với hệ thống tài chính trong mấy thập kỉ qua Mô hình này đạt đỉnh điểm trong thời gian nắm quyền của Bush và đến năm 2009 thì nó đã sụp đổ Cuộc khủng hoảng tài chính đã cho chúng ta thấy được những nhược điểm mang tính dây chuyền cơ cấu trong hệ thống chính trị Mỹ - một nhược điểm nguy hiểm đã đẩy tới tình trạng một tổng thống què quặc, không còn khả năng lãnh đạo dù chưa hết nhiệm kỳ [15, tr 99] Quốc hội cũng không thể đưa ra giải pháp nào cho tình cảnh này Nói cách khác, lúc này Đảng Cộng hòa đã không còn có thể nắm quyền áp đảo trên trường chính trị khi phải đương đầu và
Trang 19bất lực trước cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính Cuộc khủng hoảng này xảy ra ở một thời gian chuyển giao và thiếu đi sự điều hành của một trung tâm quyền lực Trong khi
ý thức hệ của cả hai Đảng phái lại khác xa nhau nên không thể có những hành động phối hợp để cứu vãn tình thế Một vài hành động hữu ích được thực hiện nhưng cũng chỉ mang tính chất vá víu tạm thời chứ không giải quyết được triệt để các vấn đề Trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính xảy ra vào 9/2008, mọi thiện chí của các chủ đầu tư cũng như là chủ nợ của siêu cường này đã gần như tan biến hết Các nhà đầu tư châu Á đã hoài nghi thái độ “vô tiền khoáng hậu” của hệ thống tài chính của Mỹ từ rất lâu khi khủng hoảng bắt đầu Đầu năm 2008, các nguồn vốn đầu tư vào
Mỹ rất dồi dào nhưng đến 9/2008 thì nguổn vốn đầu tư giảm sút do các nhà đầu tư e dè trước cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ Chính sự suy giảm đầu tư nước ngoài nên Mỹ mất thêm một nguồn lợi tức khổng lồ để đối phó với khủng hoảng thanh khoản và tín dụng
Sự khủng hoảng về an ninh quốc gia là hậu quả biết trước của khủng hoảng kinh tế chính trị Khi lên nắm quyền, Tổng thống Barack Obama phải nhanh chóng giải quyết những vấn đề mất quân bình ngày một sâu sắc và trầm trọng giữa vai trò bá chủ mang tính lịch sử của Mỹ trên thế giới và tiềm lực kinh tế ngày một suy giảm của chính siêu cường Mỹ Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính không phải là mối lo duy nhất của chính quyền Barack Obama Sự khủng hoảng về chiến lược ngoại giao với cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu mà G.W.Bush đã theo đuổi suốt gần tám năm tại nhiệm cũng
là thách thức đối với chính quyền mới Cuộc chiến này đã tiêu hao rất nhiều kinh phí, chịu sự chỉ trích mạnh mẽ của dư luận thế giới và hơn hết lúc này nó đã hoàn toàn mất
đi phương hướng hoạt động Cuộc chiến chống khủng bố chỉ là danh nghĩa mà chính quyền của Tổng thống Bush dựng lên để che đậy tham vọng và âm mưu của mình Bởi lợi ích mà cuộc chiến này mang lại cho các nhà thầu quốc phòng, cho các nhà vận động hành lang, các viện nghiên cứu chiến lược, các tướng lĩnh, sĩ quan có tham vọng cao là rất lớn
Sau hơn bảy năm tiến hành chiến tranh toàn cầu chống khủng bố, chính quyền của
G W Bush vẫn chưa tìm được lấy một điểm dừng chân trong chiến trường rộng lớn Cuộc chiến tranh mang tính chiến lược mà G W Bush xem trọng và để lại cho người
Trang 20kế nghiệm là cuộc chiến với Iraq Đây là khu vực được xem như là một mặt trận chính của chiến lược chống khủng bố toàn cầu Dù đã sắp rời Nhà Trắng, nhưng Bush và những người thân cận của mình còn rêu rao đợt tăng quân cuối cùng vào cuối năm
2007 đã mang lại thắng lợi cho Mỹ
Một cuộc chiến khác, đó chính là cuộc chiến với Afghanistan Cuộc chiến tranh mà thời gian diễn ra đã tám năm nhưng vẫn chưa có dấu hiệu nào cho sự tạm dừng hoặc chấm dứt Các viên chức Mỹ đã không còn màn tới chiến trường ở Afghanistan khi tình hình ở Iraq ngày một lún lầy trầm trọng, chỉ đến khi khu vực này rơi vào tình trạng báo động cả về chính trị lẫn quân sự, “Al - Qaeda vẫn kiên trì, Taliban ngày một táo bạo” [15, tr.102] thì các quan chức của chính quyền G.W
Bush mới quay lại chú ý NATO lúc này cũng không còn đủ khả năng giúp Mỹ thay đổi được tình hình và sự trợ giúp này có xảy ra chăng cũng chỉ trong suy nghĩ của giới chức chính quyền Bush Tổng thống Bush từng đưa ra lập luận sẽ cải biến, bình định
và canh tân lại vùng lãnh thổ Afghanistan nhưng cuối cùng kết quả chỉ biến vùng đất này thành nơi sản xuất nha phiến lớn nhất trên thế giới
Bên cạnh đó, vẫn còn vô số cuộc chiến khác được G.W.Bush thực hiện trong che giấu đang diễn ra trên vùng đất Pakistan Truyền thông không ngừng đưa tin về các về những hoạt động quân sự của Mỹ từ không kích, đặc biệt là các loại tên lửa, máy bay không người lái nhưng được trang bị đầy đủ vũ khí đang hằng ngày oanh tạc, đến các cuộc hành quân trên bộ, từ vùng lãnh thổ của Afghanistan sang Pakistan đã xuất hiện Cuộc chiến này ngày một leo thang, gây thương vong cho một số khủng bố và nhiều dân lành Nhưng số quân khủng bố bị tiêu diệt quá ít, không đủ sức gây ảnh hưởng đến các lực lượng Taliban, nhưng số dân thường thương vong lại nhiều vô kể Chính những điều này đã tạo cơ hội cho Taliban chiêu mộ thêm các tân binh thánh chiến Cuộc chiến cuối cùng trong di sản chống khủng bố của tổng thống Bush là cuộc chiến của Condoleezza Tuy là một cuộc chiến không có sự tham gia chính thức của quân đội Mỹ nhưng vẫn là cuộc chiến quan trọng hơn cả, bởi đây là cuộc xung đột tiếp diễn giữa Israel và Palestine
Nếu như di sản của Tổng thống Bush là cuộc chiến tranh với Iraq thì di sản mà Ngoại trưởng Rice để lại cho chính quyền mới lại là sự cố gắng mang lại hòa bình cho
Trang 21Palestine Nếu như thất bại, ngoại trưởng Condoleezza Rice sẽ không có thành tích nào đáng kể và còn bị xem là một ngoại trưởng tầm thường nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai [15, tr 103]
Cuộc chạy đua trong chiến tranh chống khủng bố mà Tổng thống Bush và các bộ máy chính quyền của ông theo đuổi đã không mang lại kết quả như mong muốn Nói đúng hơn nó là một mối tai họa, bởi chỉ trong tám năm nó đã tiêu tốn của Mỹ một khối lượng tài nguyên kết xù mà lợi tức mang lại thì chẳng có gì đáng giá
Cuộc chiến với Liên Bang Nga ở Georgia gần đây là một bằng chứng cụ thể cho thấy lực lượng quân sự hùng hậu của Mỹ đang bị dàn trải mỏng và có thể đánh mất đi khả năng đối phó với các hành động bất ngờ tại một nơi nào đó trên thế giới Ngoài những lời tố cáo của phó tổng thống Cheney thì người dân Mỹ không có một phản ứng nào hiệu quả đối với người Nga ở Georgia Thực chất, lúc này tòa Bạch Ốc đã không còn sức mạnh như trước đây mà chỉ có thể giới hạn trong những lời chỉ trích hay phiền trách
Tình cảnh của những người lính viễn chinh Mỹ ở Trung Đông cũng không tốt đẹp
gì Tình trạng mất quân bình ngày một trầm trọng trong khu vực, trong khi đó sức ảnh hưởng của Iraq ngày càng vượt mức kiểm soát của Mỹ
Sự suy giảm về kinh tế và quân sự của Mỹ đã kéo theo sự hao mòn trong “quyền lực mềm” của Mỹ Tháng 8/2008, chính quyền của Tổng thống Bush đã phải đối mặt với những làn sóng chỉ trích mạnh mẽ về vai trò của Mỹ trong vai trò định hướng cho nền kinh tế toàn cầu Sự thất bại rõ ràng, trong một địa hạt người dân Mỹ thường rất tự hào, đã bào mòn khả năng thuyết phục và xây đắp đồng minh trong những vùng khác, như chống lại nạn tàn sát ở Dafur, tiễu trừ nạn cướp biển ở vịnh Aden hay chế ngự
những toan tính của Liên Bang Nga trong những sân sau mà họ thường gọi là “near abroad” [15, tr 103]
Ngay từ bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, người dân của Mười ba bang thuộc địa đã đưa nhân quyền lên vị trí hàng đầu và nó được xem là bản tuyên ngôn tiến bộ nhất Tuy nhiên, vai trò về đạo đức và và vai trò lãnh đạo về nhân quyền lúc này của Mỹ đã
bị sụp đổ bởi những chính sách tra tấn, bí mật giam giữ và chuyên chở tù binh hệ thống nhà tù trên khắp thế giới
Trang 22Một thử thách cũng liên quan đến sự sống còn của Mỹ là vấn đề năng lượng Bởi trong suốt thời gian cầm quyền chính quyền của Bush, chính sách năng lượng mà giới cầm quyền thực hiện là một chính sách sai lầm hoàn toàn Ông đã phớt lờ và giao toàn quyền cho phó tổng thống Chenny về vấn đề năng lương, tiến hành cuộc chiến tranh ở Iraq để ngăn chặn sự tranh giành ảnh hưởng của quốc gia này đối với Mỹ ở khu vực vùng vịnh Ba Tư Đây là một thử thách vô cùng lớn lao, bởi lúc này đây Mỹ đang phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng năng lượng ngày một nghiêm trọng
Dân số đông (khoảng hơn 320 triệu người), nên Mỹ cần đến ¼ tổng số năng lượng cung câp cho toàn cầu Trong đó 40% nhiên liệu cần dùng là dầu hỏa, khoảng 20 triệu thùng hay 840 triệu gallon mỗi ngày [15, tr.105] Ngoài ra, nguồn năng lượng còn lại lấy từ than đá và một phần còn lại lấy từ hơi đốt thiên nhiên Làm sao để có thể cung cấp đủ nguồn năng lượng cho người dân cả nước khi nền kinh đang rơi vào suy thoái
và khủng hoảng là một bài toán khó cho giới cầm quyền của Mỹ lúc này, và càng nặng
nề hơn trong những năm tháng sắp tới đấy là chua nói đến tình trạng ô nhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kín do khí thải của lượng nguyên liệu vừa sử dụng
Theo nhận xét của giáo sư Michael T Klare thì Barack Obama phải nhanh chóng giải quyết ba vấn đề cơ bản và quan trọng trong vấn đề năng lượng:
a Trong tương lai, trữ lượng cũng như nguồn cung cấp dầu hỏa sẽ giảm đáng kể
Mỹ lại sử dụng nguồn nhiên liệu dầu lửa để thỏa mãn nhu cầu năng lượng Vì vậy, chính quyền của Tổng thống Barack Obama phải nhanh chóng tìm ra một sự thay thế trong vấn đề sử dụng dầu hỏa là chính yếu của quốc gia
b Thể tích khí thải nhà kính ở Mỹ luôn nằm ở mức cao nhất, bởi ở quốc gia này than đá là một loại nhiên liệu khá phổ biến Nhưng do phương cách sử dụng chưa hợp lí nên dẫn đến lượng khí thải ra môi trường rất lớn Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân và cả sự phát triển của thế giới
c Dầu hỏa vẫn là nguồn nhiên liệu chiếm vị trí dầu tiên bởi chưa có một nguồn năng lượng nào khác thay thế dược vị trí của nó kể cả tổng hợp các nguồn nhiên liệu thiên nhiên, năng lượng nguyên tử, nhiên liệu sinh học hay năng lượng gió và năng lượng mặt trời [15, tr 95]
Trang 23Trong tình trạng giá cả của mặt hàng năng lượng dầu hỏa tăng giảm bất ngờ (từ đỉnh điểm ở mức 147 USD/ mỗi thùng thì có khi giảm xuống cón trên dưới 50 USD/ mỗi thùng) [15, tr 106] do ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế đã đẩy đến tình trạng những phương án đầu tư vào những nguồn năng lượng thay thế và tái tạo đã không còn mang lại lợi ích và không cần thiết Có chăng là cần thiết trong vấn đề giảm hiện tượng hiệu ứng nhà kính, bảo vệ môi trường
Đó là những giá trị của hiện tại, còn theo Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế
(Unternational Enery Agency) thì giá dầu hỏa sẽ tăng nhanh vào những năm tới Có
thể trước năm 2030, giá mỗi thùng dầu hảo sẽ vượt ngưỡng 200USD [15, tr106] Nguyên nhân của sự tăng giá này là do số quốc gia sử dụng nguồn năng lượng dầu hỏa ngày một tăng, bên cạnh đó là do các nguồn cung cấp dầu hỏa bấp bênh, không ổn định
Tình trạng thiếu thốn về nguồn nhiên liệu tất yếu sẽ dẫn tới sự cạnh tranh của những nước có nhu cầu Nguy hiểm hơn là sự cạnh tranh đó có thể dẫn tới những cuộc chiến tranh liên miên, vì năng lượng hay đúng hơn là vì trữ lượng dầu hỏa còn lại đều tồn tại trong những khu vực bất ổn, nhiều biến động bất ngờ Nếu mỗi quốc gia không có những bước phát triển hay những bước di riêng cho mình thì một cuộc khủng hoảng năng lượng xảy ra lần nữa là một điều khó tránh khỏi Và lần khủng hoảng này có tính chất chấn địa rất cao, nó đe dọa đến sự tồn vong của cả thế giới Đây quả là thử thách
hàng đầu cho chính quyền mới - một chính quyền có - thể - làm (a can - do administration) - theo lời tổng thống Obama [15, tr.106]
Sự tính toán của các chuyên viên năng lượng thì con người đã sử dụng hơn 50% nguồn năng lượng dầu hỏa có được và đang dần tiến đến mức sử dụng tối đa Các chuyên gia cũng không tính toán được thời gian nguồn nhiên liệu này sẽ cạn kiệt là vào khoảng thời gian nào Có thể là trong khoảng 5 năm hay 7 năm hoặc có thể sẽ nhanh hơn thế, do dân số thế giới ngày một tăng, nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều Và mức sản xuất đó cũng chỉ dừng lại ở mức thấp, từ 90 đến 95 triệu thùng mỗi ngày chứ không đạt ngưỡng 115 đến 125 triệu thùng trên ngày như dự báo của Bộ năng lượng
Mỹ [15, tr.106]
Trang 24Sự sụt giảm không chỉ dừng lại ở đó mà còn tăng nhanh vào những năm sau Bởi các mỏ dầu hỏa hiện đang sản xuất đã được đưa vào khai thác thừ lâu và trữ lượng đã sắp hết Trước đây người tta dự đoán những chỉ số sụt giảm chỉ nằm ở mức từ 4% đến 5% thì nay con số thực tế con số đó đã lên đến 9% - một con số cao đáng ngạc nhiên [15, tr 107] Trữ lượng giảm nhanh chóng, số lượng mỏ dầu lớn trên thế giới không còn nhiều Trong tương lai, cả thế giới phải trông chờ vào các mỏ dầu có trữ lượng nhỏ, khó khai khác hoặc khai thác được thì cũng chịu sự tranh chấp của các nước có nhu cầu sử dụng nguồn nhiên liệu này cao
Trong đời sống hiện nay, nguồn năng lượng ảnh hưởng và chi phối từ di chuyển, sưởi ấm, điều hòa nhiệt độ, du lịch, thức ăn, sức khỏe hay ngay cả nền hòa bình của thế giới Vì thế, vấn đề trước tiên cần giải quyết đo là năng lượng cho quốc gia - một vấn đề không hề dễ giải quyết đối với chính quyền mới dối với Tổng thống và Quốc hội sắp tới Và qua việc xử lí nguồn nhiên liệu tiêu dùng trong nước thì còn phải quan tâm, chú ý đến bảo vệ môi trường
1.3 Tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương
1.3.1 Sự trỗi dậy mạnh mẽ của châu Á – Thái Bình Dương
Theo khảo sát, trong giai đoạn 1980 -1990 khu vực này có sự tăng trưởng kinh tế ở mức rất cao, đến mức Tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB) còn gọi sự tăng trưởng này
là “phép màu Đông Á” (East Asia Miracle), có sức hút mạnh mẽ đối với các nền kinh
tế khác trên thế giới [17, tr 42] Bước vào những năm đầu thế kỉ XXI, châu Á trở thành một khu vực có nền kinh tế năng động nhất thế giới, chỉ trong khoảng thời gian
6 năm (2002 -2008), mức tăng trưởng kinh tế của châu Á đã đạt mức trung bình khoảng 5,0 % hằng năm (tính theo giá trị tuyệt đối USD theo thời giá) và 6,1% (tính theo PPP – giá trên cơ sở sức mua) Khu vực này đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thế giới với giá trị khá lớn, khoảng 80% Châu Á trở thành thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu của lớn thứ hai của Mỹ (bảng số liệu 1)
Trang 25Bảng 1 Tỷ lệ thương mại giữa Mỹ với các khu vực trên thế giới (%)
2000 2010 2000 2010
Châu Á bao gồm Trung Quốc 22,0 23,5 23,5 32,2
Châu Á không bao gồm Trung Quốc 20,3 17,6 22,6 16,2
1.3.2 Sự trỗi dậy mạnh mẽ của các Trung Quốc
1.3.2.1 Chiến lược phát triển của Trung Quốc những năm đầu thế kỉ XXI
Ngày 1/10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, trải qua một thời gian dài hơn 30 năm thực hiện các chính sách mở cửa và hội nhập, đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc trở thành một “siêu cường đang trỗi dậy” [17, tr 45] Trung Quốc đã đưa
ra hàng loạt các chính sách, chiến lược phát triển, trong đó phải nhắc đến chiến lược có tên gọi “trỗi dậy hòa bình” hay chiến lược “phát triển hòa bình”
Chiến lược này được nhắc đến rất nhiều trong các bài phát biểu của Trịnh Tất Kiên trong năm 2002 với mong muốn xoa diệu những căng thẳng cũng như những quan ngại mà các nước phương Tây và Mỹ về Trung Quốc [4, tr 15] Chiến lược này của Trung Quốc lấy toàn cầu hóa làm trọng tâm và nó có thành công hay không phụ thuộc vào khả năng mở rộng thị trường phát triển kinh tế và xây dựng các mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp với các nước
Năm 2005, Chủ tịch Trung Quốc - Hồ Cẩm Đào đã công bố chiến lược “Con đường phát triển hòa bình của Trung Quốc” với năm điểm chính:
Trang 26(1) Phát triển hòa bình là con đường tất yếu của việc hiện đại hóa Trung Quốc; (2) Thúc đẩy hòa bình và phát triển thế giới với sự phát triển của Trung Quốc; (3) Dựa vào nội lực và cải cách sáng tạo để thực hiện phát triển;
(4) Thực hiện cùng có lợi và cùng phát triển với các quốc gia khác;
(5) Xây dựng một thế giới hài hòa với nền hòa bình lâu dài và thịnh vượng chung [4, tr 15]
Trong 5 điểm chính của “Con đường phát triển hòa bình” thì điểm (1) Phát triển hòa bình là con đường tất yếu của việc hiện đại hóa Trung Quốc là quan trọng nhất Bởi nó xác định đường lối chiến lược phát triển của quốc gia và thể hiện được mục tiêu giới cầm quyền Hồ Cẩm Đào muốn hướng đến
Đề ra chiến lược phát triển theo hướng “phát triển hòa bình”, tuy nhiên Trung Quốc vẫn không từ bỏ tham vọng vươn ra biển của mình, nhất là trong thế kỉ XXI khi mà biển đóng một vai trò quan trọng trong phát tiển kinh tế Tham vọng này của
Trung Quốc thể hiện rất rõ trong “Chính sách đại dương quốc gia” được xây dựng vào thập kỉ 90 của thế kỉ XX với việc xác định những mối quan tâm hàng hải, gồm: (1) Đảm bảo các quyền và lợi ích hàng hải;
(2) Tăng cường phát triển toàn diện và việc quản lý các vùng ven biển và bảo vệ các khu vực ngoải khơi và hình thành các vành đai kinh tế ven biển;
(3) Lập kế hoạch và triển khai thực hiện phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đồng thời cải thiện việc theo dõi, giám sát, thực thi pháp luật và quản lý đối với môi trường biển;
(4) Tăng cường nghiên cứu và phát triển công nghệ hải dương hoc;
(5) Thiết lập hệ thống quản lý hàng hải toàn diện;
(6) Tích cực tham gia hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển hàng hải Trung Quốc còn cho xây dựng lực lượng hải quân mạnh, trang bị các phương tiện hiện đại
để thực hiện các ý đồ của mình về biển [4, tr 18]
Năm 2004, Chính sách Trắng của Trung Quốc đã khẳng định “Hải quân đã mở rộng không gian và mở rộng chiều sâu cho các hoạt động phòng thủ ngoài khơi” [4, tr 18] Không dừng lại ở đó, hai năm sau (2006) Trung Quốc tiếp tục khẳng định tham vọng của mình bằng nội dung Sách trắng: “Hải quân nhắm tới mở rộng dần dần chiều sâu
Trang 27chiến lược cho các hoạt động phòng thủ ngoài khơi” [4, tr 19] Đến năm 2008, Sách Trắng lại một lần nữa khẳng định ý đồ của Trung Quốc đối với vần đề biển đảo: “Kể
từ năm 1980 Hải quân đã nhận thức về một sự chuyển đổi chiến lược sang các hoạt động phòng thủ ngoài khơi” [4, tr 20] Chính sách Trắng năm 2010, Trung Quốc càng khẳng định khả năng thực hiện tham vọng và không ngừng nhấn mạnh “bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển”, đồng thời cũng xem đây là một phần không thể thiếu của chính sách quốc phòng Năm 2010, tại Đại hội lần thứ XVIII, Trung Quốc đã công khai chiến lược hướng biển đầy tham vọng của mình qua tuyên bố của Tổng Bí Thư
Hồ Cẩm Đào rằng Trung Quốc muốn trở thành một quốc gia mạnh về biển: “Chúng ta nên tăng cường khả năng khai thác các nguồn tài nguyên biển, đẩy mạnh và phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ các quyền và lợi ích liên quan đến biển của Trung Quốc, và xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc biển” [4, tr 20]
Như vậy, sau hơn 30 năm thực hiện cải cách và mở cửa, Trung Quốc đã có những bước tiến quan trọng và gặt hái được nhiều thành công trên các lĩnh vực khác nhau, ngày càng trở thành cường quốc hùng mạnh và có sức ảnh hưởng mạng trên thế giới cũng như là khu vực châu Á – Thái Bình Dương
1.3.2.2 Trung Quốc và sự trỗi dậy về mặt kinh tế
Đến những năm đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc trỗi dậy và vượt bậc ở lĩnh vực kinh tế
- thương mại Tỉ lệ tăng trưởng GDP hằng năm rất cao, khoảng trên dưới 10%, trong
đó, kỉ lục nhất là ở năm 2007, với tỉ lệ tăng GDP là 14,2% [4, tr 21] Với mức tăng trường này, Trung Quốc đã nhanh chóng vượt qua Pháp, Đức và trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới
Tuy nhiên, đến năm 2011, con số tăng trưởng này đã chậm và có phần giảm sút (chỉ còn khoảng 8%) [4, tr 21] Trong giai đoạn 2008 – 2012, khi các quốc gia đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, Trung Quốc vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao Với mức dân số cao nhất, Trung Quốc có lợi thế thúc đẩy mức tăng GDP tiêu dùng Tổng kết những kết quả đạt dược trong năm 2012, ông Mã Kiến Đường, Cục trưởng Cục Thống kê nhà nước Trung Quốc phát biểu: “có thể dùng hai câu nói để khái quát tình hình vận hành kinh tế 2012: Câu thứ nhất là, vận hành
Trang 28kinh tế quốc dân tuy chậm lại nhưng vững chắc, câu thứ hai là, phát triển kinh tế xã hội tiến lên trong vững chắc Nói cụ thể hơn có thể dùng cách nói là “bốn cái vững” và
“bốn cái mới” Bốn cái vững là, tăng trưởng kinh tế nhìn chung bình ổn, tình hình việc làm nhìn chung ổn định, vật giá nhìn chung ổn định, cơ sở nông nghiệp tiếp tục vững chắc Bốn cái mới là, điều chỉnh cơ cấu có tiến triển mới, sáng tạo khoa học công nghệ
có bước đột phá mới, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải có hiệu quả mới, đời sống nhân dân có bước cải thiện mới” [4, tr 22] Điều này chứng tỏ tiềm năng Trung Quốc
là rất lớn, có khả năng trở thành cường quốc số một về kinh tế trong tương lai và sẽ có ảnh hưởng lớn trong vấn đề đại chính trị của thế giới, đe dọa vị trí và sự ảnh hưởng của Mỹ trên trường quốc tế Quy mô và cơ cấu kinh tế của Trung quốc trong năm 2012
đã đạt đến 80% quy mô kinh tế Mỹ Tỉ số GDP Trung Quốc đóng góp cho thế giới đã tăng lên nhanh chóng từ 3,25% vào năm 1990 đến 2012, con số này đã đạt mức 15% Trong khi Mỹ đạt mức tăng trưởng cao nhất là vào những năm 1999 (24,3%) và đến năm 2012 thì chỉ còn 18,7% [4, tr 22 -23] Theo dự báo của EIU, đến năm 2017 Trung Quốc sẽ bắt kịp Mỹ và đến năm 2030 tỉ lệ GDP của Trung Quốc có thể đạt mức 24,1%, vượt trên cả Mỹ [4, tr 24]
Bảng 2 Thương mại của Trung Quốc với thế giới giai đoạn 2001 -2013
Trang 292011 1.899,3 1.741,4 157,9
Nguồn: Hoàng Minh Hằng (2015), An ninh Đông Bắc Á trước sự trỗi dậy của
Trung Quốc và sự gia tăng can dự châu Á của Hoa Kỳ, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, tr.24
Trung Quốc rất xem trọng lĩnh vực thương mại và nhanh chóng có sự chuyển mình
để trở thành một cường quốc về thương mại với giá trị xuất khẩu không ngừng tăng hằng năm Trong khoảng 13 năm, cán cân xuất nhập khẩu của Trung quốc đã tăng từ 266,2 tỷ USD lên 2213,7 tỷ USD, giá trị nhập khẩu tăng từ 243,6 tỷ lên 1949,6 tỷ USD) [4, tr 24] (tăng gấp 8 lần) Theo dự báo của Ngân hàng thế giới thì con số này
sẽ còn tăng lên dến 20% vào năm 2030 [4, tr 24]
Trung Quốc đã vượt Đức và trở thành nước xuất khẩu lớn nhất và thành nước nhập khẩu lớn thứ hai thế giới vào năm 2009 Đến năm 2012, Trung Quốc đã nhanh chóng vượt Mỹ để trở thành quốc gia có nền thương mại lớn nhất thế giới Trung Quốc là quốc gia có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới với gần 3,7 nghìn tỉ USD (tính đến 9/2013) [4, tr 28]
Trung Quốc cũng là nước có nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cao nhất trong số các nước đang phát triển Tuy có bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng con số này vẫn rất cao và có chiều hướng gia tăng theo từng năm Đến năm
2012 thì Trung Quốc là thị trường thứ hai thu hút vốn đầu tư nước ngoài sau Mỹ Bên cạnh khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì Trung Quốc còn là nguồn cung cấp trị giá đâu tư cho các nước rất cao Với chiến lược “tiến ra toàn cầu”, giá trị đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc ngày càng mạnh Năm 2002, giá trị đầu tư nước ngoài đạt mức 2,5 tỉ USD thì đến năm 2012 đã đạt đến mức 84,2 tỉ USD [4, tr 28] (tăng gần 34 lần) Theo nghiên cứu của Liên Hợp Quốc, năm 2012 Trung Quốc đã vượt lên trở thành nguồn cung cấp FDI lớn thứ ba trên thế giới với tổng giá trị khoảng 450 tỉ USD [4, tr 29]
Như vậy, bước vào thế kỉ XXI, Trung Quốc đã có sự trở mình và vươn lên mạnh
mẽ, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Cho dù vẫn cón nhiều hạn chế và khó khăn nhưng
Trang 30không thể không ghi nhận những thành tích mà Trung Quốc đã đạt được và khả năng Trung Quốc sẽ thay thế Mỹ trong việc chi phối toàn bộ nền kinh tế tài chính toàn cầu
1.3.2.3 Những bước tiến vượt bậc về quân sự
Sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế đã kéo theo vấn đề hiện đại hóa nền quốc phòng Trung Quốc đã xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh để đối phó với sự đe dọa của các thế lực bên ngoài, đặc biệt là Mỹ Trung Quốc đã một phần lớn sức lao động sản xuất thành sức chiến đấu (quân đội thường trực) và chuyển hóa một phần của cải vật chất quốc gia thành năng lực quân sự (trang thiết bị, vũ khí) Trung Quốc đang ngày càng đẩy mạnh công tác hiện đại hóa quân sự và nền quốc phòng của mình Giới cầm quyền Trung Quốc xây dựng quân đội theo hướng chú trọng chất lượng và số lượng “Không phải để đánh Mỹ mà không để Mỹ đánh, để đảm bảo mình không bị lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới đánh và chiến thắng” [4, tr 30] Năm 2010, Chính sách Trắng Trung Quốc đã cụ thể hóa các mục tiêu quân sự, quốc phòng của nước này: Một là, bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh và những lợi ích phát triển quốc gia; hai là duy trì sự hài hòa và ổn định xã hội; ba là tăng cường hiện đại hóa quốc phòng và lực lượng vũ trang; bốn là, duy trì thế giới hòa bình và ổn định Những mục tiêu trên bao ham nhiều nhiệm vụ như bảo vệ tổ quốc, ngăn chặn chủ nghĩa li khai ở Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, bảo vệ quyền và các lợi ích hàng hải” [4, tr 30] Theo báo cáo của giới cầm quyền Trung Quốc, chi phí quốc phòng của nước này tăng lên theo mỗi năm, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ 2010 - 2014, con số đầu tư cho quốc phòng đã tăng tới 50 tỉ USD, dưa chi phí quốc phòng của Trung Quốc đạt ngưỡng 131,57 tỷ USD [4, tr 31]
Ngoài những khoảng chi phi dành cho quốc phòng, Trung Quốc cũng không ngừng gia tăng sự ảnh hưởng của giới quân sự trong bộ máy chính quyền Hiện nay, trong tổ chức bộ máy nhà nước của Đảng Cộng Sản Trung Quốc có tới 18% là các nhân vật có xuất thân từ quân đội Sự tham gia của các nhân vật quân đội trong bộ máy chính quyền đã góp phần nâng cao vai trò của quân đội Ông Joseph Cheng, Giám đốc trung tâm nghiên cứu hiện đại tại Đại Học Hồng Kông cho rằng “Chắc chắn vị thế của quân đội đang ngày càng được đẩy mạnh nhờ xu hướng dân tộc chủ nghĩa ở trong nước, cũng như điều kiện tài chính được cải thiện” [4, tr 33]
Trang 31Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là đẩy mạnh và thực hiện hiện đại hóa nền quốc phòng, sự hiện dại hóa này thể hiện cụ thể qua từng mặt:
Lực lượng hải quân: sự hiện đại hóa được thể hiện qua lực lượng tàu ngầm Hiện
tại, Trung Quốc vẫn đang đẩy mạnh sản xuất tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo JIN (SSBN) và trong tương lai, Trung Quốc sẽ ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất tàu ngầm có tên lửa dẫn đường, cho phép tác chiến cả trên bộ Ngoài ra, Trung Quốc còn tiến hành trao đổi mua bán tàu ngầm Kilo với Nga từ năm 1990 và năm 2000 và
dự kiến sẽ tiếp tục công tác xây dựng chế tạo thêm khoảng 20 tàu ngầm trong thời gian tới Bên cạnh đó, Trung Quốc còn đẩy mạnh phát triển các chiến hạm trên biển, với nhiều loại tàu khác nhau như tàu khu trục có tên lửa dẫn đường (DDG), khinh hạm (tàu khu trục nhỏ) có tên lửa dẫn đường Đây là điều kiện để mở rộng phạm vi hoạt động của các vùng biển xa, vượt ra ngoài phạm vi của phòng không bờ biển
Trung Quốc còn phát triển thêm các chiến hạm nhỏ để phục vụ các hoạt động trong vùng nước ven biển Bên cạnh đó Trung quốc còn tăng cường lực lượng tàu đổ bộ và
đã đưa vào hoạt động vào năm 2012 Đáng chú ý hơn cả là việc ra mắt và đưa vào sử dụng hàng không mẫu hạm có tên gọi là Liêu Ninh
Lực lượng không quân: Trung Quốc không ngừng nâng cao các hoạt động đào tạo
phi công, nghiên cứu cũng như là trang bị các phương tiện hiện đại, phục vụ cho mục đích quân sự Công ty chế tạo hàng không Shaanxi Aircraft Company của Trung Quốc
đã cho ra mắt và đưa vào sử dụng dòng máy bay vận tải quân sự có tên gọi Y-9 Với phương tiện vận tải mới này, tốc độ bay có thể đạt đến 650km/h và tầm hoạt động là 7800km [4, tr 38]
Lực lượng lục quân: Bộ binh cũng là lĩnh vực nhận được sự đầu tư rất nhiều của
Trung Quốc Việc hiện đại hóa này được thực hiện thông qua tái cơ cấu quy mô lớn lực lượng lục quân, bao gồm một lực lượng triển khai đặc biệt hoạt động và nhanh chóng hơn, được trang bị công nghệ tiên tiến Lực lượng lục quân còn được cải thiện thiết giáp, phòng không, hàng không, phối hợp mặt đất và trên không cũng như là khả năng chiến đấu điện tử [4, tr 39]
Trong những năm gần đây Trung Quốc còn chú trọng vào việc trang bị và hiện đại hóa hệ thống tên lửa đại đạo của mình, phát triển và thử nghiệm các loại tên lửa khác
Trang 32nhau, nâng cấp hệ thống tên lửa cũ và phát triển các hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo
Có thể nhận thấy rằng, Trung Quốc đã có những bước tiến vượt bậc về sức mạnh quân sự Từ một quốc gia có lực lượng quân đội chủ yếu là nông dân và vũ khí thô sơ,
cũ kỹ, lạc hậu Trung Quốc đã nhanh chóng phát triển thành một lực lượng quân đội hùng mạnh, được đào tạo chuyên nghiệp và được trang bị các vũ khí hiện đại, tối tân
và trở thành quốc gia có nền quốc phòng lớn thư mười trên thế giới
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc không chỉ thể hiện ở lĩnh vực kinh tế mà còn
ở cả lĩnh vực quân sự, điều này cho thấy khả năng trở thành một siêu cường có ảnh hưởng lớn đến kinh tế và chính trị toàn cầu Sự vươn mình này là một mối đe dọa đối với Mỹ và đòi hỏi các quốc gia khác phải có sự thay đổi trong chính sách đối ngoại đối với Trung Quốc
Như vậy, Trung Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, quốc phòng và trở thành cường quốc ở châu Á cũng như trên thế giới Đối với Mỹ, đây là một đối trọng trong công cuộc thiết lập thế giới đơn cực Chính vì thế, chính quyền Tổng thống Obama phải có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại đối với Trung Quốc để có thể vừa hợp tác phát triển kinh tế, vừa kiểm chế sự trỗi dậy của quốc gia này ngày một mạnh mẽ hơn
1.3.3 Sự phát triển của ASEAN
Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa chính trị rất quan trọng, từ lâu đã trở thành khu vực chiến lược trong cuộc chạy đua cạnh tranh của các nước lớn Khu vực này cũng chịu không ít sự chi phối của các nước lớn trong xu hướng phát triển từ việc hình thành các mô hình kinh tế - xã hội đến con đường phát triển thương mại, đổi mới
và dân chủ Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, sự chuyển biến nhanh chóng của khu vực này đã lôi kéo mạnh mẽ sự can dự của các nước lớn vào khu vực này, đặc biệt
là Mỹ và Trung Quốc
1.3.3.1 ASEAN từ thực thể kinh tế chính trị đến hình thành cộng đồng khu vực
Ý tưởng hình thành một ASEAN được hình thành từ năm 1967, tuy nhiên do sự đối đầu về chính trị, tư tưởng cũng như sự chia rẽ do cuộc Chiến tranh lạnh mà đến 1997 thì tổ chức này mới thật sự hình thành và thống nhất “mở đầu cho một Đông Nam Á
Trang 33thống nhất và hùng mạnh trong tương lai” [18, tr 90 -91] Sự hình thành và thống nhất này đã tạo cái nhìn mới về hành động chiến lược và hợp tác an ninh không chỉ của các nước trong khu vực và còn đối với các khu vực khác trên thế giới, nhất là các nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc
Việc hình thành nên cộng đồng ASEAN đã làm tăng nhanh chóng sức mạnh tập thể, tính phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, đồng thời nâng cao ý thức khu vực của các quốc gia Là khu vực năng động, đông dân, diện tích đến 4,5 triệu Km2, GDP hơn 2.100 tỷ USD và giá trị thương mại gần 2.400 tỷ USD (2011) [18, tr 91], ASEAN là một khu vực đầy tiềm năng, có tiếng nói tập thể trong các vấn đề chung của toàn cầu và là khu vực không thể thiếu trong các chính sách đối ngoại của các quốc gia, khu vực khác trên thế giới
Song song với quá trình hình thành cộng đồng khu vực, ASEAN không ngừng thúc đẩy tiến trình hợp tác và phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh
và hợp tác xã hội hóa hướng tới mục tiêu chung là thành lập Cộng đồng ASEAN phát triển vững mạnh
Về kinh tế: Từ những năm 90 của thế kỷ 20, các quốc gia ASEAN đã xây dựng
Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) Năm 1998, các quốc gia trong cộng đồng khu vực ASEAN đã thông qua Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN – AIA và đến năm 2003 đã đưa ra cam kết chính thức triển khai xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (EAC) – một trong ba trụ cột chính của Cộng đồng ASEAN [18, tr 92]
ASEAN đã đưa ra và thực hiện một cách có hiệu quả các Kế hoạch, chương trình hành
động cụ thể Chương trình hành động Viêng Chăn (2004), Kế hoạch và Hành động xây dựng ASEAN, đặc biệt là Kế hoạch tổng thể AEC năm 200, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN Các kế hoạch,
chương trình này có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy nhanh chóng quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư nội khối giữa các quốc gia trong khu vực để ASEAN thành một khối thống nhất, có tính cạnh tranh mạnh và hội nhập nhanh chóng vào nền kinh
tế thế giới
Các quốc gia ASEAN đã nhanh chóng và khẩn trương thực hiện các nội dung quan trọng để đạt được những mục tiêu đã đề ra:
Trang 34(1) “Tự do hóa 5 thành tố cấu thành thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất
(2) Hoàn thiện thể chế ở các quốc gia, khu vực và đẩy mạnh hợp tác đối với các vấn đề liên quan đến chính sách cạnh tranh
(3) Đẩy mạnh thực hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) và các hoạt động khác nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN
(4) Triển khai thực hiện các FTA, thỏa thuận và liên kết với các đối tác bên ngoài của ASEAN” [ 18, tr 92-93]
Chỉ sau một thời gian thực hiện, ASEAN đã thành một khu vực có Cộng đồng kinh
tế thống nhất, tác động tích cực đến quá trình liên kết kinh tế và an ninh trong khu vực nói riêng, châu Á – Thái Bình Dương nói chung Các đối tác chủ chốt của ASEAN, phải đối mặt với những cơ hội cũng như thách thức về hợp tác và cạnh tranh khi ASEAN trở nên thịnh vượng, phát triển mạnh mẽ và trở thành trung tâm của Đông Nam Á
Về Chính trị: ra đời với mục tiêu tăng cường mối quan hệ hợp tác về kinh tế, văn hóa – xã hội giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á nhưng thực chất là sự hợp tác
để chống lại tác động của cuộc chiến tranh ở Đông Dương và sau đó là cuộc Chiến tranh lạnh Nhờ có sự đoàn kết, xử lý ổn thỏa các mối tranh chấp giữa các nước thành viên thông qua đối thoại hòa bình mà vị thế và tiếng nói của ASEAN trên trường thế giới không ngừng được nâng cao Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng mối quan
hệ hòa bình, hợp tác hữu nghị giữa các nước thành viên để cùng thực hiện các mục tiêu kinh tế đã đề ra, tăng cường hợp tác với các cường quốc lớn ở bên ngoài như Mỹ, Trung Quốc
Cơ chế chính trị thường xuyên và định kì thực hiện của ASEAN là đối thoại, mọi công việc cũng như các xung đột khu vực đều được đưa ra bàn luận, thương lượng tập thể thông qua cuộc họp của quan chức các quốc gia, nhất là cuộc họp của các Bộ trưởng, các nguyên thủ quốc gia các nước thành viên ASEAN Việc giải quyết vấn đề theo hướng đối thoại hòa bình đã thúc đẩy tình đoàn kết, hợp tác hữu nghị giữa các nước láng giềng trong khu vực với nhau Cộng đồng ASEAN đã đưa ra nhiều chế định mang tính chính trị - pháp lý để giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình - ổn định
khu vực như Tuyên bố ứng xử của các bên về Biển Đông (2002), Tuyên bố Hòa hợp
Trang 35ASEAN II- DAC II, Tuyên bố Bali II (2003) với mục tiêu và phương hướng thành lập Cộng đồng ASEAN, trong đó có Cộng đồng Chính trị - An ninh - APSC, Hội nghị Quốc phòng ASEAN - ADMM (2006), Hội nghị Quốc phòng ASEAN mở rộng – ADMM + (2010), Hiến chương ASEAN – ASEAN Chart (2007), Hiệp định về ưu đãi, miễn trừ ASEAN, Nghị định thư về cơ chế giải quyết các vấn đề tranh chấp và lập Ủy bản Nhân quyền ASEAN (2009), Tuyên bố Nhân quyền ASEAN và lập Viện hòa bình ASEAN (2012) [18, tr 95] Các văn bản pháp lý này được xem là chuẩn mực ứng xử
giữa cac nước thành viên trong khu vực ASEAn với nhau và nhận được sự công nhận của nhân dân các nước thành viên và thế giới
1.3.3.2 ASEAN – nhân tố chủ đạo trong tiến trình mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và sự hình thành cấu trúc an ninh mới
Ngay từ những ngày đầu thành lập, ASEAN ý thức được tính quan trọng, cấp bách của việc thiết lập mối quan hệ hợp tác với các nước lớn, các tổ chức lớn trên thế giới Trải qua thời gian dài chịu ảnh hưởng của cuộc chiến tranh ở Đông Dương và Chiến tranh lạnh, đến năm 1991, tranh thủ bầu không khí hòa hoãn và hợp tác toàn cầu khi chiến tranh lạnh kết thú, ASEAN đã đẩy mạnh mở rộng các mối quan hệ hợp tác, đối thoại với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và các nước lớn như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… Bên cạnh đó ASEAN còn không ngừng tăng cường mối quan hệ hợp tác với các tổ chức, thể chế của các khu vực khác nhau trên thế giới như Diễn đàn Nam Thái Bình Dương, Hiệp hội khu vực Nam Á, Cộng đồng Phát triển Nam Phi… ngoài ra còn có các tổ chức khác ở khu vực Nam Mỹ, Trung Mỹ Bước sang thiên niên kỷ mới, ASEAN đã không ngừng nổ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN với một trong ba trụ cột chính là Cộng đồng chính trị An ninh (APSC) APSC được đưa ra từ năm 2004 và đã đạt được những kết quả nhất định trong việc kêu gọi các nước ngoài cùng tham gia Hiệp ước TAC với mục đích đưa Hiệp ước này thành bộ luật quy định các quy tắc ứng xử trong quan hệ quốc tế của ASEAN “Đến năm 2009
đã có 12 nước ngoài ASEAN tham gia vào TAC: Trung Quốc và Ấn Độ (7/2003), Nhật Bản và Pakixtan (11/2004), Hàn Quốc và Nga (2004), Mông Cổ và Niudilan (2005), Australia (12/2005), Pháp và Đông TiMo (1/2007) và Mỹ (2009)” [18, tr 99] Sau khi tham gia vào TAC, mối quan hệ giữa ASEAn và Mỹ đã có cải thiện rõ rệt và
Trang 36có những bước tiến quan trọng trong đối thoại chiến lược Mỹ đã nhanh chóng tổ chức một Hội nghị thượng đỉnh với ASEAN ngay sau khi ký hiệp định TAC và không ngừng đưa ra các sáng kiến ngoại giao với ASEAN
Bên cạnh việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác với Mỹ, ASEAN cũng không ngừng
mở rộng quan hệ đối tác với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… những đối tác chủ chốt trong khu vực châu Á
Chỉ trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, ASEAN đã không ngừng thực hiện và
phát huy những nguyên tắc được ghi trong Hiến chương “Duy trì vai trò trung tâm và chủ động của ASEAN như là một động lực chủ chốt trong quan hệ và hợp tác với các đối tác bên ngoài như một cấu trúc khu vực mở, minh bạch và bao trùm”, “Giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa ra bên ngoài, đồng thời duy trì tính chủ động , hướng ra bên ngoài, thu nạp và không phân biệt đối xử” [18, tr 101] để xây dựng thể chế hợp tác đa phương theo kiểu “ASEAN và các vòng tròn đồng tâm” khi mà châu Á – Thái Bình Dương chưa thể hình thành nên một
cấu trúc an ninh thống nhất toàn châu lục để xử lý các vấn đề chung Việc ASEAN nhanh chóng hình thành cấu trúc an ninh nhằm mục đích đối phó với tình trạng suy giảm sự hiện diện quân sự của Mỹ và Nga ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và sự
“nhảy vào” của Trung Quốc với mục đích thay thế