1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát sự sinh trưởng phát triển của trùn quế trong môi trường phân heo trên qui mô phòng thí nghiệm

54 349 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tái sử dụng phân heo ta có nhiều cách nhưng trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi dùng phân heo để nuôi trùn quế nhằm tăng thu nhập và xử lí được lượng phân heo thải bỏ.. - Khảo sát s

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

BẢN TÓM TẮT 3

DANH MỤC BẢNG 5

DANH MỤC HÌNH 6

DANH MỤC VIẾT TẮT 7

MỞ ĐẦU 8

I Tính cấp thiết của đề tài 8

II Mục tiêu đề tài 9

III Phạm vi nghiên cứu 9

IV Phương pháp nghiên cứu 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11

I Tổng quan về nguyên liệu 11

1.1 Khái quát về phân heo 11

1.1.1 Nguồn thức ăn và phân heo ăn cám 13

1.1.2 Nguồn thức ăn và phân của heo ăn tạp 14

1.2 Vấn đề xử lý phân heo tại Việt Nam 16

1.2.1 Xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm Biogas 16

1.2.2 Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học 17

1.2.3 Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ (Compost) 18

1.2.4 Xử lý bằng công nghệ ép tách phân 18

1.3 Khái quát về rơm rạ phối trộn 19

II Tổng quan vể trùn quế 19

2.1 Khái quát về trùn quế 19

2.1.1 Đặc điểm hình thái 20

2.1.2 Cấu tạo cơ thề 21

2.1.3 Đặc điểm sinh lý 23

2.1.3 Đặc điểm sinh sản 24

2.2 Kỹ thuật nuôi trùn quế 25

2.2.1 Đặc điểm chuồng trại 25

Trang 2

2.2.2 Chất nền 27

2.2.3 Giống trùn 27

2.2.4 Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng trùn quế 28

2.3 Giá trị của trùn quế 31

CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM 33

I Xử lý phân heo 33

II Mô hình thực nghiệm nuôi trùn quế 33

2.1 Trùn giống 33

2.2 Thùng nuôi trùn 34

III Khảo sát sinh trưởng của trùn quế trong môi trường phân heo 34

3.1 Các bước tiến hành 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

I Biến động khối lượng thức ăn 38

II Sự biến động các thông số vật lý trong quá trình thí nghiệm 38

III Khảo sát khả năng sinh trưởng của trùn quế trong môi trường phân heo 40

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

I Kết luận 44

II Kiến nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC HÌNH 46

Trang 3

BẢN TÓM TẮT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA TRÙN QUẾ TRONG MÔI TRƯỜNG PHÂN HEO TRÊN QUI MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM

Mã số: SV2015-14

1 Vấn đề nghiên cứu (vấn đề, tính cấp thiết)

Hiện nay, nhu cầu sử dụng lương thực thực phẩm ngày càng cao, các trang trại, đồn điền lớn nhỏ xuất hiện trên nhiều vùng miền ở nước ta nhằm tăng sản lượng để cung cấp nhu cầu thiết yếu của con người Kéo theo đó là sự gia tăng các loại phế phẩm nông nghiệp, trong chăn nuôi phế phẩm chủ yếu là phân gia súc Nhưng một thực trạng đáng buồn chính là chúng ta chưa tận dụng triệt để các phế phẩm đó, điển hình là phân heo Đối với phân heo chúng ta có thể dùng để ủ Biogas, phân bón, nhưng trong thực tế các trang trại chăn nuôi gia súc ở nước ta chủ yếu là mô hình nhỏ lẻ, nên việc sử dụng chúng

để ủ Biogas là không phù hợp Nếu như không sử dụng hoặc sử dụng không hết thì lượng phân thải ra môi trường sẽ gây nguy hại đến sức khỏe con người cũng như gây ô nhiễm môi trường Vì thế việc xử lý cũng như tái sử dụng phân heo là một việc tất yếu để tìm ra các giải pháp nhằm giúp mọi người tăng thêm thu nhập cũng như bảo vệ môi trường

Để tái sử dụng phân heo ta có nhiều cách nhưng trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi dùng phân heo để nuôi trùn quế nhằm tăng thu nhập và xử lí được lượng phân heo thải bỏ

2 Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của trùn quế trong môi trường phân heo

3 Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu

Xác định khả năng sinh trưởng và phát triển tốt của trùn quế trong môi trường phân heo phối trộn với rơm với tỉ lệ phù hợp

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

- Tìm hiểu và thu thập tài liệu: nghiên cứu và tổng quan tài liệu về phân heo và những đặc điểm cơ bản về trùn quế

- Mô hình phòng thí nghiệm: tiến hành làm thí nghiệm trên đối tượng thực tế trong những điều kiện xác định

- Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của trùn quế trong môi trường phân heo phối trộn với phế phẩm nông nghiệp ở các tỉ lệ các nhau, thông qua theo dõi mật độ trùn quế và yếu tố nhiệt độ

- Thu thập và xử lý số liệu: thu thập và xử lý số liệu bằng phần mềm excel 2010

- Tham khảo ý kiến chuyên gia: tham khảo ý kiến của giảng viên hướng dẫn và các chuyên gia liên quan

5 Kết quả nghiên cứu (ý nghĩa của các kết quả) và các sản phẩm (Bài báo khoa học, phần mềm máy tính quy trình công nghệ, mẫu, sáng chế, …)(nếu có)

Công thức thức ăn thích hợp nhất cho trùn phát triển là phân heo tươi phối trộn 15% rơm rạ Trong quá trình nuôi cần kiểm soát nhiệt độ khối chất nền để đảm bảo trùn phát triển tốt Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đế sự sinh trưởng và phát triển của trùn

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thành phần của các loại phân heo và rơm (%) 16

Bảng 1.2 Số liệu thống kê hàng năm về sản lượng lương thực 19

Bảng 3.1 Thông số vật lý mẫu thức ăn đã phối trộn (tỷ lệ 1:5 nước) 34

Bảng 3.2 Mật độ trùn giống 34

Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm 36

Bảng 4.1 Tốc độ tăng sinh khối của trùn theo các công thức cách nhau sau 60 ngày nuôi 39

Bảng 4.2 Khả năng chuyển hóa thức ăn của trùn quế 41

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.2 Khúc xạ kế 37Hình 1.3 Biểu độ biến động nhiệt độ trong chu kỳ nuôi 39

Trang 8

MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, nhu cầu sử dụng thịt gia súc ngày càng cao, các trang trại, đồn điền lớn nhỏ xuất hiện trên nhiều vùng miền ở nước ta nhằm tăng sản lượng để cung cấp nhu cầu thiết yếu của con người Kéo theo đó là sự gia tăng các loại chất thải trong chăn nuôi, chủ yếu

là phân gia súc, đặc biệt là phân heo Chăn nuôi gia súc, trong 3 tháng đầu năm chủ yếu tập trung đầu tư bảo đảm tiêu dùng trong dịp tết Nguyên Đán 2015 Theo báo cáo sơ bộ,

ước tính đàn lợn tăng 2%; sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng tăng 4% - 4,5% (tổng cục thống kê quý 1 năm 2015) Do những đặc tính riêng biệt của phân heo mà quá trình quản

lý loại phế phẩm này vấp phải nhiều khó khăn cụ thể là về mặt thu gom và lưu giữ, nên

đa phần chúng được thải trực tiếp vào môi trường Gây ô nhiễm môi trường nói chung và nghiêm trọng hơn là đối với môi trường nước, ảnh hưởng đến đời sống trong khu vực cụ thể là về mặt sức khỏe và sản xuất kinh tế

Nhiều biện pháp xử lý chất thải nuôi heo đã được đưa ra tuy nhiên còn nhiều bất cập

và hạn chế, môt số biện pháp có hiệu quả về khía cạnh môi trường nhưng hiệu quả về mặt kinh tế chưa cao, ví dụ như ủ làm biogas có thể xử lý được phần lớn mùi, chất ô nhiễm nhưng chi phí đầu tư ban đầu tương đối cao so với điều kiện chăn nuôi quy mô nhỏ ở Việt Nam Hơn nữa, hiệu suất chuyển đổi năng lượng tạo ra chưa cao ngay cả khí biogas thành phẩm cũng chưa được tận dụng tốt, phải xả bỏ góp phần làm gia tăng biến

đổi khí hậu (Hồng và cộng sự, 2012) Hoặc sử dụng ấu trùng ruồi lính đen (Black Soldier Fly Larvae) nồng độ của các chất dinh dưỡng giảm 40-55% (Larry Newton và cộng sự, 2005) Tuy nhiên vấn đề tiếp cận xã hội đối với vật nuôi này ở Việt Nam còn nhiều hạn

chế và còn khá mới mẻ Vấn đề cấp thiết nhất là đưa ra một giải pháp vừa đảm bảo xử lý hiệu quả lượng chất thải trên vừa mang lại hiệu quả kinh tế và có khả năng áp dụng rộng rãi trong thực tế

Đề tài "Khảo sát sự sinh trưởng phát triển của trùn quế trong môi trường phân heo trên quy mô phòng thí nghiệm" nhằm đáp ứng nhu cầu trên Bởi đối tượng mà đề tài hướng đến đó là trùn quế, một loại vật nuôi không mới tuy chưa phổ biến nhưng những hiệu quả mà nó mang lại là không thể phủ nhận Chi phí đầu tư nuôi trùn không lớn Mặt

Trang 9

bằng nuôi có thể tận dụng trong vườn nhà hoặc các bãi nuôi công nghiệp, các chuồng trại cũ bỏ không; hoặc làm các lều tán, nhà tạm có mái che; sử dụng các vật dụng đơn giản như chum, chậu, khay gỗ, thùng xốp v v…Thức ăn để nuôi trùn chủ yếu sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có như rác hữu cơ (rau, củ, hoa quả, vỏ trái cây loại bỏ, rơm rạ, các loại bã đã ép dầu…), phân trâu, bò, dê, lợn, gà… rất dồi dào và rẻ tiền Kỹ thuật nuôi đơn giản, trùn lại ít bệnh, tốn ít công chăm sóc Thịt trùn là sản phẩm ưa chuộng trên thị trường chăn nuôi nên nếu sản xuất để bán thì có lợi nhuận đáng kể, mang lại giá trị cao Phân trùn quế là loại phân hữu cơ giàu vi sinh vật có hiệu quả cao trong nông nghiệp

(Nguyễn Văn Sang, 2012)

Đề tài hoàn toàn có khả năng cung cấp cơ sở khoa học để áp dụng vào thực tế đáp ứng nhu cầu xử lý lượng phân heo thải bỏ, cũng như tận dụng chúng như một loại tài nguyên

để phát triển ngành nuôi trùn quế góp phần gia tăng hiệu quả kinh tế thúc đẩy người chăn nuôi áp dụng rộng rãi vào thực tế

II Mục tiêu đề tài

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của trùn quế trong môi trường phân heo

III Phạm vi nghiên cứu

- Mẫu phân heo tại cơ sở chăn nuôi heo gia đình tại huyện Bình Chánh, Tp HCM

- Giống trùn quế lấy từ trại trùn quế Thanh Dễ, tại ấp 3, xã Phạm Văn Cội, huyện

Củ Chi, Tp HCM

IV Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

-Phương pháp thực nghiệm: tiến hành làm thí nghiệm trên đối tượng thực tế trong những điều kiện xác định

-Thu thập và xử lý số liệu: thu thập và xử lý số liệu bằng phần mềm excel 2010

Trang 10

-Tham khảo ý kiến chuyên gia: tham khảo ý kiến của giảng viên hướng dẫn và các chuyên gia liên quan

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I Tổng quan về nguyên liệu

1.1 Khái quát về phân heo

Trong vòng 15 năm trở lại đây, số lượng trang trại chăn nuôi lợn đã gia tăng một cách đáng kể tại Việt Nam Tổng số lợn hiện nay gần 30 triệu con, trong khi đó đàn lơn

năm 200 chỉ có hơn 20 triệu con (theo Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn) Sự phát triển của ngành kinh tế này đã tạo ra một lượng phân

dư thừa nếu so sánh với diện tích trồng trọt hiện có Kết quả của sự dư thừa này là làm gia tăng ô nhiễm nước, không khí và đất; ngoài ra còn có các mùi hôi khó chịu, đặc biệt

là trong và xung quanh khu vực chuồng nuôi, kho chứa phân và trong quá trình rải phân Bằng cách đo cường độ và thời gian phát tán mùi hôi, người ta đã ước tính được 20% lượng mùi hôi bắt nguồn từ các khu chuồng nuôi, 10% từ các kho chứa, 5% từ quá trình tái sinh và 65% từ quá trình rải phân

Các tài liệu nghiên cứu về sự thoát khí từ phân lợn cho thấy các khí này chủ yếu là hỗn hợp của metan, cacbon dioxit, ammoniac và hydro sulphit Amoniac ở đây là thành phần chính, tuy nhiên nó không phải là chất khí có mùi nặng nhất Nồng độ trung bình

ảnh hưởng tới môi trường không khí xung quanh

Thể tích phân thải ra trong 1 ngày của một vật nuôi trung bình bằng 7% khối lượng của nó, đồng thời phụ thuộc vào một vài yếu tố như trọng lượng của vật nuôi và cách chăm sóc (cho ăn và tuần suất vệ sinh, v.v) Thêm vào đó, sự gia tăng của các tiêu chuẩn nghiêm ngặt và ý thức ngày càng được nâng cao của cộng đồng về các vấn đề môi trường đã và đang dẫn đến sự gia tăng nghiên cứu về các phương pháp xử lý ở nhiều quốc gia khác nhau

Trong phân của động vật có chứa phần lớn các chất dinh dưỡng của thức ăn gia súc, do tỷ lệ hấp thu các chất dinh dưỡng của gia súc từ thức ăn là thấp mà lại được bài tiết phần lớn ở phân Trung bình trong phân động vật có chứa tới 95% kali, 80%

Trang 12

photpho, 50% nito và 40% chất hữu cơ của thức ăn gia súc Sử dụng phân chuồng tốt là một biện pháp nâng cao hiệu quả xử lý nguồn phế thải gây ô nhiễm môi trường từ chăn nuôi rất hiệu quả

Trong phân chuồng thô có nhiều hạt cỏ dại, nhiều kén nhông côn trùng, nhiều bào

tử ngủ nghĩ của nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn gây bệnh cho cây trồng Khi bón phân chuồng tươi xuống đất, rất dễ nhận thấy hiện tượng các nấm bệnh Ngoài ra còn một số bệnh còn

có thể lây lan cho người như giun sán,… Việc sử dụng phân chuồng không qua xử lý liên quan tới vấn đề gia tăng cỏ dại Trong một số trường hợp, vấn đề này có thể là do hạt cỏ

có trong các loại phân trộn vào đất để lên luống, liếp Tuy nhiên trong một số trường hợp khác, sự phát triển mạnh mẽ của cỏ dại sau khi bón phân chuồng không phải do hạt cỏ có sẵn trong phân nhưng do tính năng kích thích của phân chuồng đối với hạt cỏ có sẵn trong đất Tùy thuộc vào loại cỏ dại phát triển, nguyên nhân có thể bắt nguồn từ sự bất cân đối dinh dưỡng đã nói tới ở trên Sự dư thừa kali và đạm đặc biệt ảnh hưởng tới vấn

đề cỏ dại Bên cạnh việc theo dõi đất đai và dinh dưỡng trong phân chuồng, sự quan tâm tới việc bón phân cũng góp phần làm giảm cỏ dại mọc tràn lan

Khi các chất dinh dưỡng trong phân chuồng thô bị rửa trôi hoặc ngấm xuống đất

từ các nông trại hoặc các khu vực tồn trữ, chúng không những gây nên tình trạng ô nhiễm

mà còn gây thất thoát cho nhà nông Khi bị ngấm xuống các tầng nước ngầm, các hợp chất Nitrat trong phân chuồng cũng như từ các nguồn phân bón khác gây nên nhiều vấn

đề liên quan tới sức khỏe con người Khi bị trôi theo dòng nước, các chất dinh dưỡng gây nên hiện tượng phú dưỡng làm cho nước ao hồ, sông suối quá giàu dinh dưỡng gây nên tình trạng rong rêu phát triển Hậu quả nghiêm trọng của việc thất thoát quá nhiều dưỡng chất có thể phải xem xét xa hơn là những vấn đề đơn giản đặt ra từ ban đầu Ngoài ra mùi phân và nước tiểu của gia súc có nhiều chất độc hại nếu không xử lý như khí amoniac, sulfure… sẽ tác động trực tiếp lên niêm mạc đường hô hấp gây kích ứng, tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập và phát triển Trong những công trình nghiên cứu về bệnh suyễn, người ta nhận thấy chính mùi khó chịu là một trong những nguyên nhân gây khởi phát cơn suyễn và các bệnh dị ứng khác Nuôi gia súc gần nhà là nuôi ổ chứa nhiều loại vi trùng, vi-rút khác, nguy hiểm cho sức khỏe Xây chuồng trại gia súc gần nhà rất có hại cho sức khỏe

Trang 13

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng hai loại phân từ hai loại heo có nguồn thức ăn khác nhau, đó là heo ăn cám và heo ăn tạp Ngoài ra, rơm là thành phần chất độn chúng tôi dùng để thực hiện nghiên cứu

1.1.1 Nguồn thức ăn và phân heo ăn cám

Các nhóm thức ăn trong chăn nuôi gồm: Nhóm thức ăn giàu năng lượng, nhóm thức ăn giàu đạm, nhóm thức ăn giàu khoáng và nhóm thức ăn giàu vitamin

Nhóm thức ăn giàu năng lượng có giá trị năng lượng cao, chủ yếu cung cấp năng lượng cho các hoạt động đi lại, thở, tiêu hóa thức ăn và góp phần tạo nên các sản phẩm như thịt, trứng, sữa, làm cho thai phát triển Nhóm thức ăn này gồm có: Hạt ngũ cốc (thóc, ngô,…) sản phẩm phụ từ ngũ cốc (tấm, cám gạo,…) và các loại củ (sắn, khoai lang, dong riềng, củ từ,…)

Nhóm thức ăn giàu đạm có hàm lượng đạm cao, chủ yếu tổng hợp thành đạm của

cơ thể Nhóm thức ăn này gồm có: Thức ăn giàu đạm có nguồn gốc thực vật (đậu tương, vừng, lạc, khô dầu,…) và thức ăn giàu đạm có nguồn gốc động vật (cá, bột cá, bột tôm, bột thịt, bột nhộng tằm, giun đất, mối,…)

Nhóm thức ăn giàu khoáng có hàm lượng các chất khoáng cao để tham gia vào quá trình cấu tạo xương và các bộ phận khác Nhóm thức ăn này gồm có: Bột vỏ don, vỏ cua, vỏ ốc, hến, tôm, vỏ trứng, bột xương,…

Nhóm thức ăn giàu Vitamin có hàm lượng vitamin cao, giúp quá trình trao đổi chất trong cơ thể Nhóm thức ăn này gồm có: Các loại rau, cỏ, lá cây, củ, quả (cà rốt, bí

đỏ, su hào, ) các loại vitamin công nghiệp và các loại premixvitamin- khoáng

Thành phần thức ăn của heo ăn cám gồm: bột cá, bột đậu nành, bột bắp (bột ngô), bột mì, cám gạo, bột gạo lức, bánh dầu đậu phụng, dầu thực vật, và một số vitamin khác Các loại này được phối trộn một cách phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng loại heo, như heo nái, heo con,…

Trang 14

Sau khi thu gom, phơi khô phân heo có dạng bột, ít mùi tiện cho việc di chuyển và chúng tôi sử dụng để phục vụ cho nghiên cứu này Hàm lượng dinh dưỡng của phân thể hiện trong bảng 1.1

1.1.2 Nguồn thức ăn và phân của heo ăn tạp

Một nghiên cứu mới cho thấy nếu Liên minh châu Âu thực hiện theo các công nghệ được phát triển ở các nước Đông Á trong việc xử lý nhiệt các thức ăn thừa rồi đem cho lợn ăn, 1,8 triệu héc-t a rừng có thể không bị chặt phá để trồng ngũ cốc và đậu tương làm thức ăn cho lợn, trong đó bao gồm hơn 0,25 triệu héc-ta rừng và thảo nguyên Brazil

Trong khi thức ăn thừa của người bị cấm cho lợn ăn ở khu vực EU vào năm 2002 sau đợt bùng phát dịch bệnh lở mồm long móng gây ra bởi một người nông dân Vương quốc Anh cho lợn ăn thức ăn thừa chưa được nấu chín, các quốc gia khác như Nhật Bản

đã tạo ra một hệ thống được kiểm soát chặt chẽ hơn trong việc tái chế thức ăn thừa thông qua xử lý nhiệt cho lợn

Các nước Đông Á đã chứng minh rằng chất thải thực phẩm có thể được tái chế an toàn Các mô hình trong một nghiên cứu mới đây cho thấy việc sử dụng thức ăn thừa cho lợn sẽ làm diện tích cần cho ngành chăn nuôi lợn của châu Âu giảm 21,5% và giảm một nửa chi phí thức ăn chăn nuôi cho nông dân châu Âu

Các nhà nghiên cứu mô tả thức ăn thừa thường được dùng ở các vùng khác trên thế giới, việc này có thể tiết kiệm một lượng tài nguyên khổng lồ toàn cầu và cung cấp một giải pháp tái chế thân thiện với môi trường cho khoảng 102,5 triệu tấn thức ăn bị lãng phí ở EU mỗi năm Hơn 35% chất thải thực phẩm hiện được tái chế thành thức ăn cho chăn nuôi ở Nhật

Các nhà nghiên cứu đã xem xét dữ liệu về diện tích đất hiện thời của EU dành cho chăn nuôi lợn, lượng chất thải thực phẩm trong Liên minh châu Âu, chất lượng và số lượng thịt lợn được tạo ra khi cho ăn thức ăn chăn nuôi và khi cho ăn thức ăn thừa tái chế Từ đó, họ sẽ lập mô hình tính toán bao nhiêu diện tích đất sẽ tiết kiệm được khi lệnh cấm sử dụng thức ăn thừa được loại bỏ

Trang 15

Khoảng 21,5 triệu tấn thịt lợn tương đương khoảng 34 kg thịt lợn mỗi người được sản xuất ở EU mỗi năm Chăn nuôi gia súc chiếm gần 75% diện tích đất nông nghiệp trên toàn thế giới, hầu hết được dành cho sản xuất thức ăn chăn nuôi Ngành chăn nuôi lợn của EU tạo vấn nạn môi trường do việc trồng đậu tương làm thức ăn chăn nuôi, khiến khu vực Nam Mỹ mất hơn 1,2 triệu ha

Thức ăn thừa cho lợn rẻ hơn nhiều so với ngũ cốc và đậu tương, việc cho lợn ăn thức ăn thừa có thể giảm bớt 50% chi phí cho nông dân chăn nuôi lợn châu Âu Một cuộc khảo sát gần đây phát hiện ra rằng 25% số nông dân ở Vương quốc Anh thừa nhận cho lợn ăn một cách bất hợp pháp các loại thức ăn thừa chưa được nấu chin, do đó những lệnh cấm hiện thời không đặc biệt an toàn Việc cho lợn ăn chất thải thực phẩm là nguy hiểm bởi vì lợn có thể nhiễm bệnh từ thịt sống, nhưng một hệ thống hỗ trợ theo luật định sử dụng thức ăn thừa tái chế nhờ xử lý nhiệt không có những nguy cơ này

Với nhu cầu thịt và các sản phẩm làm từ sữa dự báo sẽ tăng 60% vào năm 2050, việc giảm tác động của hệ thống chăn nuôi hiện tại đến môi trường sẽ ngày càng trở nên quan trọng

Zu Ermgassen chỉ ra rằng, mối quan tâm môi trường và kinh tế đang yêu cầu EU đánh giá lại lệnh cấm được đưa ra trong những năm 2000 cũng như những nỗ lực để tái chế chất thải thực phẩm có hiệu quả hơn Liên minh châu Âu hiện đang xem xét bãi bỏ lệnh cấm sử dụng phân lợn và phân gia cầm làm thức ăn cho cá và sử dụng côn trùng làm

thức ăn nuôi lợn và gia cầm (theo phys.org)

Đối với Việt Nam, việc tận thu cơm, phở, thức ăn thừa để chăn nuôi, chủ yếu là chăn nuôi lợn đã xuất hiện ở Hà Nội cách đây hơn 20 năm, hầu hết các gia đình ở nông thôn đều chăn nuôi lợn và mang tính chất nhỏ lẻ Bình quân mỗi hộ nuôi 1-2 con trong chuồng nhằm tận dụng nguồn thức ăn thừa của gia đình trong sinh hoạt hằng ngày Theo những người chăn nuôi lợn, nếu nuôi lợn bằng nguồn thức ăn cơm, phở thừa thì lợi nhuận mà người chăn nuôi thu được cao hơn, ổn định hơn so với nuôi bằng cám công nghiệp, vì người chăn nuôi luôn chủ động, không phụ thuộc nhiều đến giá cả thức ăn chăn nuôi lên xuống thất thường Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi không được lớn như chăn nuôi bằng thức ăn công nghiệp Ở một số vùng ven đô, có gia đình đã biết kết hợp cả 2

Trang 16

hình thức chăn nuôi này để tăng lợi nhuận Để tiện cho việc chuyên chở, họ mua cả ô tô tải nhỏ để chở cơm, phở, thức ăn thừa thu mua của các nhà hàng, khách sạn lớn trong nội thành…

Thành phần thức ăn của heo ăn tạp chủ yếu là thức ăn thừa từ các quán ăn nhỏ lẻ

do các trại chăn nuôi thu mua về và chế biến lại, trộn cám khi cần, ngoài ra còn có một số loại rau, như rau muống, rau lang, … được trồng xung quanh nhà để trộn thêm cho heo

ăn Tùy theo nhu cầu sử dụng dinh dưỡng của từng loại heo thì người dân sẽ trộn thức ăn thừa với cám công nghiệp, ví dụ như thức ăn ở các quán phở có nhiều đạm nên hạn chế dùng cám bột cá

Sau khi thu gom, phân heo được làm thoáng, tránh ánh nắng, và được ủ trong một thới gian ngắn và chúng tôi sử dụng để phục vụ cho nghiên cứu này Hàm lượng dinh dưỡng của phân được thể hiện ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Thành phần của các loại phân heo và rơm (%)

1.2 Vấn đề xử lý phân heo tại Việt Nam

1.2.1 Xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm Biogas

Phân heo có đặc tính hàm lượng chất hữu cơ cao, giàu Nitơ, vi sinh vật…khả năng gây ô nhiễm môi trường cao Nếu không xử lý thích hợp thì nó sẽ đe dọa các thành phần môi trường khác và ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng

Cũng do đặc tính trên mà khả năng áp dụng công nghệ phân hủy kỵ khí bằng bể Biogas thích hợp trong xử lý loại chất thải này Ít bùn, sinh năng lượng, dễ vận hành, ít tốn kém Nhiều công trình Biogas truyền thống làm được điều đó

Trang 17

Nhận thấy phế phẩm trong nông nghiệp cũng là một loại tài nguyên có thể tái sử dụng, người ta đã sử dụng rơm rạ bổ sung vào để góp phần thúc đẩy quá trình chuyển hóa metan trong công trình Biogas

Trong thực tiễn, tùy điều kiện từng nơi, từng quy mô trang trại có thể sử dụng loại hầm (công trình) khí sinh học sao cho phù hợp Xử lý chất thải chăn nuôi bằng công trình khí sinh học được đánh giá là giải pháp hữu ích nhằm giảm khí thải methane (khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính) và sản xuất năng lượng sạch Đến năm 2014, với trên

Theo thông báo quốc gia lần 2, tiềm năng giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của phương án này khoảng 22,6 triệu tấn CO2, chi phí giảm đối với vùng đồng bằng là 4,1 USD/tCO2, đối với miền núi 9,7 USD/tCO2, mang lại giá trị kinh tế khoảng 1.200 tỷ đồng về chất đốt Hiện nay, việc sử dụng hầm Biogas đang được người chăn nuôi quan tâm vì vừa bảo

vệ được môi trường vừa có thể thay thế chất đốt hoặc có thể được sử dụng cho chạy máy phát điện, tạo ra điện sinh hoạt gia đình và điện phục vụ trang trại

1.2.2 Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học

Xử lý môi trường bằng men sinh học: từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước người ta

đã sử dụng các chất men để giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được gọi là “Chế phẩm EM có nghĩa là vi sinh vật hữu hiệu” Ban đầu các chất này được nhập từ nước ngoài nhưng ngày nay các chất men đã được sản xuất nhiều ở trong nước Các men nghiên cứu sản xuất trong nước cũng rất phong phú và có ưu điểm là phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, khí hậu nước ta Người ta sử dụng men sinh học rất đa dạng như: Dùng bổ sung vào nước thải, dùng phun vào chuồng nuôi, vào chất thải để giảm mùi hôi, dùng trộn vào thức ăn…

Chăn nuôi trên đệm lót sinh học: là sử dụng các phế thải từ chế biến lâm sản (phôi bào, mùn cưa…) hoặc phế phụ phẩm trồng trọt (thân cây ngô, đậu, rơm, rạ, trấu, vỏ cà phê…) cắt nhỏ để làm đệm lót có bổ sung chế phẩm sinh học Công nghệ đệm lót sinh học đầu tiên được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp ở Nhật Bản từ đầu những năm

1980 Trên cơ sở nghiên cứu gốc chế phẩm EM của Nhật Bản, tiến sĩ Lê Khắc Quảng đã nghiên cứu, chọn tạo cho ra các sản phẩm EM chứa nhiều chủng loại vi sinh vật đã có

Trang 18

mặt trên thị trường Ngoài ra nhiều cơ sở khác cũng đã nghiên cứu và chọn tạo ra nhiều

tổ hợp vi sinh vật (men) phù hợp với các giá thể khác nhau và được thị trường chấp nhận Theo kết luận trên thì chăn nuôi trên đệm lót sinh học giảm gây ô nhiễm môi trường và phù hợp nhất đối với mô hình chăn nuôi nông hộ Tuy nhiên điều đáng lưu ý là đệm lót sinh học kỵ nước, sinh nhiệt nên địa hình cao ráo và việc làm mát, tản nhiệt khi thời tiết nóng cần phải được quan tâm

1.2.3 Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ (Compost)

Ủ phân compost là sử dụng chủ yếu bã phế thải thực vật, phân của động vật mà thông qua hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của vi sinh vật phân hủy và làm tăng cao chất lượng của sản phẩm, tạo nên phân bón hữu cơ giàu chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng Ủ phân bằng phương pháp này hoàn toàn nhờ sự lên men tự nhiên Nhờ qua trình lên men và nhiệt độ tự sinh của đống phân ủ sẽ tiêu diệt được phần lớn các mầm bệnh nguy hiểm, thậm chí ủ phân có thể phân hủy được cả xác động vật chết khi lượng phế thải thực vật đủ lớn Trong phân ủ có chứa chất mùn làm đất tơi xốp, tăng dung lượng hấp thụ khoáng của cây trồng, đồng thời có tác dụng tốt đến hệ vi sinh vật có ích trong đất Phân ủ còn có tác dụng tốt đối với tính chất lý hoá học và sinh học của đất, không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật và giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái

Trang 19

1.3 Khái quát về rơm rạ phối trộn

Rơm rạ là nguồn phế thải trong nông nghiệp, rơm rạ chiếm khoảng một nửa sản lượng của cây ngũ cốc, như lúa mạch, lúa mì, lúa gạo Trong trường hợp ở nước ta, thì rơm rạ chủ yếu phát sinh từ cây lúa nước Trung bình, để tạo ra 1 tấn gạo đã thải ra khoảng 1,2 tấn rơm rạ Sản lượng lúa gạo năm 2007 toàn quốc đạt 36 triệu tấn Như vậy, lượng rơm rạ thải ra hằng năm vào khoảng 43 triệu tấn Số liệu thống kê hằng năm được trình bày theo bảng 1.2

Bảng 1.2 Số liệu thống kê hàng năm về sản lượng lương thực

II Tổng quan vể trùn quế

2.1 Khái quát về trùn quế

Theo các tác giả Thái Trần bái và Đỗ Văn Nhượng (1985), ở Việt Nam có 6 họ trùn Họ Megascolecdae có tới 97 loài trong đó 110 loài của các họ trùn đất Trong số

Trang 20

này có loài Perionyx excavatus thường sống trên mặt đất, nơi ẩm ướt, có nhiều phân và rác mục (Nguyễn Văn Bảy, 2003)

Trùn quế tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae (họ cự dẫn), lơp Olygochaeta (lơp trùn ít tơ), ngành Annelides (trùn đốt) Trùn quế là động vật không xương sống, cơ thể phân đốt, phần đầu thoái hóa, có mang đai sinh dục,

có hệ cơ quan bên trong cơ thể như hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, được sắp xếp theo đốt Mỗi đốt mang một đôi hạch thần kinh giúp trùn ghi nhận cảm giác và phàn ứng đáp trả với các điều kiện môi trường bên ngoài một cách nhạy cảm

Trùn thuộc nhóm ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với quần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực tiếp như một số trùn địa phương

Trùn quế là một giống trùn được thuần hóa, nhập nội và đưa vào nuôi công nghiệp Là loài trùn mắn đẻ, xuất hiện rải rác ở vùng nhiệt đới, dễ bắt bằng tay và dễ thu hoạch Cơ thể giun quế nước chiếm khoảng 80 – 85%, chất khô khoảng 15 – 20% Hàm lượng các chất (tính trên trọng lượng chất khô) như sau: Protein: 68 –70%, lipid: 7 – 8%, chất đường: 12 –14 %, tro 11 – 12% Do có hàm lượng protein cao nên giun quế được xem là nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá cho các loại gia súc, gia cầm, thủy hải sản…

Sản phẩm phân trùn quế là loại phân hữu cơ sinh học có hàm lượng dinh dưỡng cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, không chứa các vi sinh vật gây bệnh đường ruột như Ecoli,samonela, Coliform,

Chúng được sử dụng rộng rãi trong việc chuyển hóa chất thải ở Philippines, Australia và một số nước khác (Gurrero, 1983; Edwards, 1995) Trùn được phân bố ở nhiều quốc gia: Việt nam, Ấn Độ, Indonesia, Úc, Đài Loan, Hawai,…

2.1.1 Đặc điểm hình thái

Cơ thể có hình trụ, dài hơi dẹp, phần đầu và đuôi hơi nhọn, cơ thể thon dài phân thành nhiều đốt, bên trong mỗi đốt tương ứng với một xoang thân Mỗi đốt có một vòng

Trang 21

tơ, khi di chuyển các đốt co duỗi kết hợp với lông tơ bên dưới các đốt bám vào cơ chất đẩy cơ thể di chuyển dễ dàng

Trên cơ thể trùn đã trưởng thành đai sinh dục thường có 1 vòng có dạng như chiếc nhẫn, đây là đai sinh dục Đai sinh dục thể hiện rất rõ khi trong giai đoạn sinh sản, thường vào ngày thứ 30 trong chu kỳ đời sống

a) Màu sắc

Tùy theo tuổi, trùn mới nở có màu trắng, trùn con có màu hồng nhạt, trùn trưởng thành và già có màu đỏ với màu mận chín có mặt lưng màu nhạt dần về phía bụng, bên ngoài cơ thể có một lớp kitin mỏng chứa sắc tố do đó khi ra ánh sáng cơ thể chúng phát quang màu xanh tím, có đường kẻ dưới bụng màu nhạt và sáng ở gần vành miệng

b) Kích thước

Trùn nhỏ dài khoảng 3cm, tiết diện 0,2cm Trùn trung bình dài khoảng 3 – 10cm, tiết

diện thân 0,2 – 0,5cm Trùn lớn dài trên 10cm, đường kính 0,5 – 0,6cm (Gautam và Chaudhuri, 2002 Trích dẫn bởi Nguyễn Văn Bảy, 2002)

2.1.2 Cấu tạo cơ thề

Hầu: Vách hầu có tầng cơ dày kéo dài từ đốt thứ III cho đến đốt thứ V

Thực quản: Nằm ở đốt thứ VI và đốt thứ VII, hai bên thực quản nhô ra 1 hoặc nhiều đôi có dạng hình túi, có tác dụng điều tiết độ pH, hỗ trợ các enzyme tiêu hóa hoạt động

Trang 22

và hệ vi sinh vật hữu ích trong đường tiêu hóa tồn tại và hoạt động đồng thời cũng có tác

Mề: Là bộ phận phình to của ống tiêu hóa có dạng túi tròn, thành mề mỏng, nằm ở đốt thứ VIII, IX, X nó có tác dụng chứa thức ăn tạm thời, làm ướt và làm mềm thức ăn

và cũng có tác dụng nhất định trong việc tiêu hóa một phần protein của thức ăn

Dạ dày: Là phần thu hẹp lại của ống tiêu hóa, nằm ở đốt thứ XI đến đốt thứ XIV, thông với ruột non, có tác dụng tiết ra enzyme tiêu hóa như enzyme protease, amylase, lipase, cellulose, kitinase,

Trực tràng: Có thành mỏng và hẹp, không có tác dụng tiêu hóa thức ăn mà chỉ là nơi chứa các chất thải sau khi tiêu hóa và đẩy ra ngoài qua hậu môn Lượng thức ăn mỗi ngày được ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể nó

Những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ tiêu hóa theo phân ra khỏi cơ thể trùn nhưng vẫn còn hoạt động ở màng dinh dưỡng trong một thời gian dài Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân trùn có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải

tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên

da

 Hệ sinh dục:

Trang 23

Trùn quế là loại động vật lưỡng tính, do đó chúng thụ tinh chéo để sinh sản, tuyến sinh dục tập trung ở một số đốt và có hệ thống dẫn tinh riêng

- Cơ quan sinh dục cái gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, túi nhận tinh

- Cơ quan sinh dục đực gồm có: tinh hoàn, túi chứa tinh, ống dẫn tinh và tiến liệt tuyến Cơ quan sinh dục nằm ở phần trước của cơ thể

2.1.3 Đặc điểm sinh lý

Trùn quế sống trên mặt đất, thích sống nơi môi trường ẩm ướt, tối, có nhiều chấ hữu

cơ đang phân hủy và độ pH ổn định Tế bào da của trùn quế rất mỏng, thường xuyên tiết ra chất nhờn để bảo vệ cơ thể và thích ứng với điều kiện chui rúc trong môi trường tối và ẩm thấp đo đó trùn quế rất nhạy, phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên

độ nhiệt độ cao, độ mặn và điều kiện khô hạn

a) Nhiệt độ

Nhiệt độ thích hợp cho trùn phát triển từ 5ᵒC – 30ᵒC, nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và sinh sản của trùn là 25ᵒC – 30ᵒC, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía nam, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh Ở nhiệt độ môi trường quá cao, để thích nghi trùn sẽ huy động năng lượng bằng cách tăng cường hô hấp, kéo theo quá trình dị hóa tăng theo, từ đó tiêu tốn thức ăn cũng tăng lên do đó nhiệt độ cao chúng sẽ bỏ đi và chết dần Quá trình trên theo chiều ngược lại ở nhiệt độ quá thấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết

Tóm lại, chúng có thể chết khi nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, khi quá khô và nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại khá lâu trong môi trường nước có đầy đủ oxy

b) Độ ẩm

Nước là thành phần quan trọng chiếm 80 – 85% khối lượng cơ thể trùn, với các loại giống khác nhau thì ngưỡng độ ẩm thích hợp cũng khác nhau, độ ẩm thích hợp nhất cho trùn sinh trưởng và phát triển là 60 – 70% Độ ẩm và nhiệt độ có mối quan hệ lẫn nhau và tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và sinh sản của trùn

Trang 24

c) Ánh nắng

Trùn rất sợ ánh nắng nên cần phải che chắn để tránh ánh nắng trực tiếp rọi vào chuồng làm cho giun sợ và chui xuống phía dưới để sống Tuy nhiên, khi che chắn vẫn phải đảm bảo được sự thông thoáng của chuồng trại và nhiệt độ trong chuồng nuôi

d) Độ pH

Chúng có thể sống ở phổ pH khá rộng từ 4 – 9 tuy nhiên trùn quế sống và sinh sản tốt nhất ở pH 6,5 – 7,5 Nếu pH quá thấp hoặc quá cao chúng sẽ bỏ đi

e) Không khí

Trùn quế hô hấp qua da, do đó môi trường sống đòi hỏi thoáng khí Tuy nhiên thức

với nồng độ cao trong môi trường nuôi Do đó phải tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi, tránh hiện tượng tồn lưu khí độc làm ảnh hưởng đến sự phát triển của giun

f) Tập tính ăn

Trùn ăn bất kỳ chất thải hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, gia cầm…) Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao

sẽ hấp dẫn chúng hơn, giúp cho chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn

Do vậy trong tự nhiên, trùn quế không đào hang sâu mà sống ở lớp bề mặt phía trên, những nơi ẩm thấp, gần cống rãnh, noi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thối rửa Chúng thường tìm thức ăn trong trời tối

2.1.3 Đặc điểm sinh sản

Trùn quế là sinh vật lưỡng tính ( có cả cơ quan sinh dục đực và cái ), chúng có đai

và lỗ sinh dục nằm ở phía đầu của cơ thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành

kén ở mỗi con, kén được hình thành ở đai sinh dục, kén trùn di chuyển dần về phía đầu

Kén trùn quế có dạng thon dài, một đầu tròn và một đầu kia nhọn hơn, kích thước gần 1mm ban đầu có màu trắng đục, sau đó chuyển sang xanh nhạt rồi vàng ngọc trai, sau đó chuyển sang màu xanh lục hoặc nâu nhạt , kén có màu nâu sẫm khi sắp nở

Trang 25

Thời gian nở tùy thuộc vào điều kiện môi trường – nhiệt độ, độ ẩm Trong điều kiện bình thường thời gian nở của ấu trùn là 2 – 3 tuần, mỗi kén chứa từ 1 – 20 trùn con Khi nhiệt độ tăng thì thời gian trung bình kén nở giảm, tỷ lệ kén nở tăng

Số lượng kén thay đổi theo giống loài, thông thường nếu chăm sóc tốt trong điều kiện thích hợp trùn có thể đẻ kén liên tục với tân xuất một kén trên tuần

Trùn trưởng thành (0,08 – 0,12g/con) → sinh đẻ con (20 ngày) → Kén (12 – 18 ngày) mỗi kén có thể nở từ 1 – 20 trùn con → Trùn con (<0,05g/con, dài 2 – 3mm), sau 5 – 7 ngày cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một vằn đỏ thẫm trên lưng dài 1 – 2cm

Trùn sinh trưởng bằng cách tăng số lượng đốt thân hoặc tăng tiết diện đốt Khoảng

từ 15 – 30 ngày sau, chúng trưởng thành và bắt đầu xuất hiện đai sinh dục (theo Arellano,

1997); từ lúc này chúng bắt đầu có khả năng bắt cặp và sinh sản Con trưởng thành khỏe

mạnh có màu mận chín và có sắc ánh kim trên cơ thể

Sau 60 ngày trùn đạt 8-10 cm (thu trùn thịt lúc này là tốt nhất)

Từ 70 – 90 ngày trùn bắt đầu đẻ trứng nhưng tỷ lệ nở thấp

Từ 90 ngày tuổi trở đi, trùn trưởng thành hoàn chỉnh, trùn đẻ rất khỏe (1tuần/lần)

và tỷ lê trứng nở cao nếu trùn được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt Những con trùn đã già có đai sinh dục thoái hóa Thời gian sinh sản của trùn liên tục quanh năm và cứ diễn ra trung bình một tuần một lần, nếu không có yếu tố bất lợi thì sự phát triển của trùn quế luôn tăng theo cấp số nhân

2.2 Kỹ thuật nuôi trùn quế

2.2.1 Đặc điểm chuồng trại

Tùy mục đích và quy mô kinh doanh mà ta xây dụng các dạng chuồn trại khác nhau Nếu nuôi với mục đích lấy trùn nhằm tăng khẩu phần ăn của vật nuôi thì có thể làm chuồng nuôi đơn giản như nuôi trong chum, chậu, Nếu nuôi lấy phân cần quy mô lớn hơn ta nên làm chuồng bằng nilon, gạch,

Trang 26

Có các phương thức như : Nuôi trùn trong nền bạt, hố đất, nuôi trong thùng hộp và nuôi trong bể xây, nuôi trùn trong trại mái lá, nuôi trùn trong các ô gạch

a) Nuôi trong chuồng có ngăn bể xây

Nếu nuôi trùn quy mô lớn nhằm kinh doanh thì nên xây chuồng Có thể làm lán mái riêng để che mưa, che nắng hoặc tận dụng gian nhà sẵn có để làm chuồng Tùy theo diện tích đất ta có thể xây chuồng dài rộng tùy ý Thông thường chuồng xây ngang 1,5m cao 0,4m, dài tùy thuộc vào diện tích mỗi nơi Có thể xây các ô liền nhau thành từng dãy dài Ở hai mặt đối diện mỗi ô nuôi chứa mỗi bên một cặp lỗ nhỏ để thoát nước Chuồng nuôi trùn được quây bằng gạch hoặc bằng gỗ ván

Đối với trại nuôi trong các vườn cây, nhằm tận dụng bóng mát như vườn cao su thì chiều rộng tiêu chuẩn của một trại nuôi là khoảng 2 m và chiều dài tùy ý phụ thuộc vào hiện trạng mặt bằng của vườn cao su, nhưng tối vẫn là 50 m Độ cao của lớp bạt đáy chứa phân trùn dao động từ 30 – 40 cm

Tuỳ theo lượng trùn giống ban đầu mà làm ô chuồng nuôi trùn rộng, hẹp khác nhau

20 cm, sau đó nâng cao dần theo lượng phân cho vào nhiều lên nhưng không quá 40 cm Chuồng được che phủ bởi lá dừa, lá cọ, rơm, rạ là tốt nhất, vì tạo được bóng mát và giữ được độ ẩm cao Tuy nhiên chuồng trại phải bảo đảm sự thông thoáng, không khí phải ra vào lưu thông

b) Nuôi trong khay chậu, hộp xốp

Áp dụng cho những hộ gia đình không có đất sản xuất hoặc muốn tận dụng tối đa các diện tích trống có thể sử dụng được, mô hình này có thể sử dụng các dụng cụ đơn giản và

rẻ tiền như các thùng gỗ, thau chậu, thùng xô…

Các thùng gỗ chỉ nên có kích thước vừa phải (vào khoảng 0,2 – 0,4 m, chiều cao khoảng 0,3 m) Các dụng cụ này nên được đặt trên các khung nhiều tầng để dễ chăm sóc

và tận dụng được không gian Đáy có khoang nhiều lỗ thoát nước

Trang 27

c) Nuôi trùn trong vườn cao su

Mỗi trại trùn có chiều rộng là khoảng 2 m, chiều dài tùy theo địa thế và nhu cầu của từng hộ nuôi, nhưng tối ưu là 50 m Được lót bạt đáy và có độ cao của lớp đạt đáy là 30

cm và có mái che bằng bạt với độ cao từ 1.2 – 1.5 m so với mặt đất, tùy thuộc vào chiều cao cây cao su và độ chiếu sáng của khu vực nuôi trùn

2.2.2 Chất nền

Là yếu tố quan trọng cho trùn trong thời gian đầu sinh sống, là nơi ở tạm thời và lâu dài của trùn quế nhằm tránh những điều kiện bất lợi của ngoại cảnh như ánh sáng nhiệt độ, đồng thời chất nền là nguồn cung cấp thức ăn ban đầu khi mới thả trùn vào ô nuôi Do đó chất nền phải đạt các yếu tố: tơi xốp, sạch, giàu dinh dưỡng, đảm bảo các điều kiện về độ ẩm, đô mặn, pH, phù hợp cho trùn sinh trưởng và phát triển Không chứa các chất độc hại

Do vậy người mua giống bắt buộc phải lấy dạng sinh khối, vừa an toàn cho vận chuyển vừa có chất nền lý tưởng cho trùn khi có chỗ ở mới

Vật liệu thường dùng làm chất nền như: giấy báo, giấy caton vụn, lá cây, các loài thực vật đã ủ oai, phế phẩm nông nghiệp như rơm, xơ dừa, vỏ đậu phộng, có thể sử dụng cả phân của trùn quế Tuy nhiên chất nền tốt nhất vẫn là phân động vật đã qua giai đoạn ủ nóng

2.2.3 Giống trùn

Ở Việt Nam, giống và chủng loại trùn khá phong phú Tuy nhiên, cho đến nay, các cơ sở nghiên cứu và sản xuất giống trùn phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu, cho năng suất cao còn rất hạn chế Nên liên hệ với các trại chăn nuôi trùn chuyên nghiệp để

có được nguồn giống khoẻ, chất lượng cao Khi mua giống, tốt nhất là mua ở dạng sinh khối (có lẫn cả trùn bố mẹ, trùn con, trứng kén trùn chưa nở và cơ chất mà trùn đang sống quen), để trùn không bị “sốc” trong môi trường mới lạ và sinh sản nhanh

Trùn có nhiều loại, hiện có ba giống trùn được nuôi phổ biến là: trùn Nhật Bản và trùn Đại Bình 3 Hai giống trùn kể trên có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, thích hợp với

Ngày đăng: 20/09/2017, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. L. Newton, D.W.Watson, C. Sheppard, G. Burtle, R. Dove, (2005). „Using the black soldier fly, Hermetia illucens, as a value-added tool for the managementof swinemanure’ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using the black soldier fly, Hermetia illucens, as a value-added tool for the managementof swine
Tác giả: L. Newton, D.W.Watson, C. Sheppard, G. Burtle, R. Dove
Năm: 2005
[3]. N.T. Hồng, P.K. Liệu, (2012). „Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải bằng hầm biogas quy mô hộ gia đình ở Thừa Thiên Huế’. Tạp chí khoa học, đại học Huế, tập 73, số 4, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải bằng hầm biogas quy mô hộ gia đình ở Thừa Thiên Huế’
Tác giả: N.T. Hồng, P.K. Liệu
Năm: 2012
[2]. N.V. Sang (2012). „Tài liệu tổng hợp trùn quế. Những điều cần biết cho người mới bắt đầu’ Khác
[4]. Tổng cục thống kê, (2015). Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2015 Khác
[5]. Nhóm thế hệ ưu tú, (2016) Kỹ thuật nuôi trùn quế trong vườn cao su Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w