1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tương tác biểu tượng trong ca từ trịnh công sơn (tt)

92 398 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nhận xét về mối quan hệ giữa ca từ và âm nhạc của Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Văn Cao từng viết: “Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ, hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một h

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tương tác là một thao tác thường xuyên trong đời sống hằng ngày của con người Trong văn học nghệ thuật, tương tác được xem là một thủ pháp nghệ thuật độc

đáo, nhằm phát hiện ra được những sự khác biệt nổi trội nhất giữa sự vật hiện tượng

Với sự phân biệt giữa khái niệm “ngôn ngữ” và “lời nói” của nhà ngôn ngữ Ferdinand de Saussure, bắt đầu từ đây, đối tượng của ngôn ngữ học không chỉ là ngôn ngữ trong cấu trúc tĩnh mà còn ở tính ngôn ngữ trong cách kết hợp, sử dụng của mỗi

cá nhân Tương tác biểu tượng là một biểu hiện đặc trưng ở bình diện nói năng, phản ánh tính đa dạng của chức năng ngôn ngữ và là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học lời nói

Cần phải thấy thêm rằng sự khởi nguồn của thuyết tương tác biểu tượng nổi lên

từ truyền thống triết học dụng hành Mĩ Cách tiếp cận này được xây dựng vào cuối thế

kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trong các bài viết của các nhà tư tưởng Charles S Pierce, William James và John Dewey (1859-1925), nhằm thách thức thế giới quan cơ học và những giả định nhị nguyên của thuyết duy lí cổ điển, vốn là triết học đã ngự trị tư tưởng Tây phương từ thế kỷ 17 Do vậy, việc nghiên cứu tương tác biểu tượng trong sáng tạo của một cá nhân thuộc lĩnh vực nghệ thuật được đặt nền tảng trên sự phối hợp lí thuyết liên môn và liên ngành bao gồm cả phong cách học, kí hiệu học và triết học tâm lí Hiện nay, có nhiều tác giả đã đi vào tìm hiểu đối tượng này trong ngữ liệu tác phẩm nghệ thuật và đã thu được nhiều kết luận có giá trị Những kết quả đó đã chứng minh tầm quan trọng của việc nghiên cứu tương tác biểu tượng trong tác phẩm văn học nghệ thuật, trở thành một xu hướng nghiên cứu mới mẻ thu hút sự quan tâm của các học giả khoa học hiện nay

1.2 Từ ngàn xưa âm nhạc là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi đời sống của mỗi con người, riêng bản thân âm nhạc đem lại cho chúng ta những thú

vị về cảm xúc, về đời sống tinh thần qua những ca từ du dương của từng dòng nhạc

“Tình khúc Trịnh Công Sơn”, “Những bài ca đi cùng năm tháng” hay “Tôi chỉ

là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những

Trang 2

giấc mơ đời hư ảo ” là những từ ngữ mà người ta thường hay dùng khi nhắc đến cái tên Trịnh Công Sơn – người nhạc sĩ cùng những ca khúc vượt thời gian, du dương, da diết, như ru con người ta đi vào giấc ngủ để chiêm nghiệm, để yêu thương tha thiết Nhắc đến Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ tạo dựng được cho mình một hình ảnh độc lập bởi ca từ trong từng ca khúc và bởi giai điệu mang tên Trịnh Công Sơn, người ta vẫn thường gọi ông cùng với các ca khúc của ông bằng tên gọi bình dị “Nhạc Trịnh”

Là “tên mục đồng lãng du của thời đại”, Trịnh Công Sơn được xem là một trong những nhạc sĩ viết lời ca hay nhất Nhạc ngữ Trịnh rất mới và điều làm nên cái mới lạ của con người Trịnh Công Sơn phần chính là nhờ vào vẻ đẹp của ca từ và các biểu tượng ngôn ngữ, bởi qua đó ta có thể thấu hiểu tường tận thế giới quan, nhân sinh quan và những triết lí sống của người nghệ sĩ này Ca từ Trịnh Công Sơn có thể nói là nơi chứa đựng một số lượng khá nhiều các biểu tượng thành một hệ thống và có mối quan hệ tương tác lẫn nhau Chính sự tương tác đặc sắc ấy đã hấp dẫn và lôi cuốn hàng triệu trái tim người đọc Để nhận xét về mối quan hệ giữa ca từ và âm nhạc của Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Văn Cao từng viết: “Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ, hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim ” [19] và nếu đi sâu hơn vào các khía cạnh tu từ trong tác phẩm Trịnh Công Sơn, nhà phê bình Đặng Tiến từ Paris trong một bài viết mới đây có nêu lên đặc điểm rằng: “lời ca ấy sử dụng nhiều hình ảnh, biểu tượng bị xé lẻ, đi thẳng vào tâm tưởng người nghe, mà không đòi hỏi

họ phải hiểu nghĩa chính xác” [19] Tìm hiểu tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn, chúng ta có thể khái quát lên những kết luận có giá trị về hiệu quả của nó trong biểu hiện nội dung nghệ thuật và trong việc hình thành phong cách nghệ thuật của tác giả Tuy phần ca từ “Nhạc Trịnh” nói chung và tương tác biểu tượng trong ca

từ của Trịnh Công Sơn là một trong những nhân tố đặc biệt nhưng đến nay có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về mảng đề tài này một cách đầy đủ và sâu sắc

1.3 Lựa chọn thực hiện đề tài Tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn, chúng tôi muốn thông qua việc xác định, phân tích, đi sâu vào nghiên cứu bản

chất cũng như ý nghĩa biểu trưng và mức độ khái quát của từng biểu tượng, và đặc biệt là mối quan hệ tương tác giữa chúng trong ca từ Trịnh Công Sơn Từ đó đề tài

Trang 3

mong muốn những kết quả đạt được sẽ có thể góp phần giúp chúng ta hiểu hơn về quan niệm nghệ thuật của nhạc sĩ về con người, về tình yêu và cõi thế

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu biểu tƣợng

Kí hiệu học có rất nhiều phân ngành nhỏ, và việc nghiên cứu biểu tượng được rất nhiều các học giả quan tâm Để có thể hiểu cách thức hình thành, lối xếp đặt, cũng như cách giải thích các biểu tượng không chỉ là nhiệm vụ của ngành kí hiệu học, ngôn ngữ học mà còn có sự đóng góp khoa lịch sử các nền văn minh và tôn giáo, khoa văn hóa nhân chủng học, khoa phê bình nghệ thuật, khoa tâm lí học, y học,… Các học giả không chỉ nghiên cứu về biểu tượng trong tôn giáo mà còn nghiên cứu biểu tượng của giấc mơ, biểu tượng trong các ngành nghệ thuật, những biểu tượng y học, biểu tượng

thiên văn học (chiêm tinh), biểu tượng kinh tế, biểu tượng chính trị,…

Bởi sự hình thành thú vị và cách giải thích không bao giờ theo khuôn mẫu nên biểu tượng có sức hấp dẫn riêng Chính thế, nhà phân tâm học Thụy Sĩ Carl Gustav

Jung trong tác phẩm Thăm dò tiềm thức(Dẫn theo [26]) đã mất một nửa thế kỉ để

nghiên cứu các biểu tượng tự nhiên, ông kết luận rằng: nếu chịu khó tìm hiểu, giấc mơ

và biểu tượng giấc mơ đem lại cho chúng ta sự hiểu biết quý giá

Trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Dictionnaire des symbols) [2]

của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã tập hợp và giải thích ý nghĩa các biểu tượng của thế giới thuộc các lĩnh vực khác nhau và bao quát được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương diện: dân tộc học, xã hội học, tâm

lí học, thần thoại học, tôn giáo học,… Ngoài ra còn có một số cuốn từ điển khác cũng

đề cập đến các biểu tượng chung của thế giới như: Adictionary of symbols (Tom Chetwynd), Diccionario de symbolos (Eduardo Cirlot), The migration of symbols

(Goblet d’ Alviella),… Ngoài ra sức hút của biểu tượng cũng được tiểu thuyết gia Dan

Brown thể hiện qua những sáng tác gây nhiều tiếng vang: Mật mã Da Vinci (The Da Vinci code), Pháo đài số (Digital Fortress), Thiên thần và ác quỷ (Angels and demons), Biểu tượng đánh mất (The lost symbol) Các tác phẩm này có một sức hấp

dẫn lớn bởi những bí ẩn được tạo ra từ các biểu tượng Cơ đốc giáo

Trang 4

Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề biểu tượng: Kíhiệu học – một số vấn đề cơ bản (Nguyễn Đức Dân) (Dẫn theo [26]), Tín hiệu và biểu trưng trong tác phẩm Cuộc sống ở trong ngôn ngữ (Hoàng Tuệ) [22], Ý nghĩa biểu trưng của các con số trong tiếng Việt (Đỗ Thị Hồng Nhung) (Dẫn theo [26]), Biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Thị Hồng Ngân) (Dẫn theo [26]), Tìmhiểu những nhân tố tác động đến ý nghĩa của biểu tượng (Nguyễn Thị Ngân Hoa) (Dẫn theo [26]), Biểu tượng nước trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Thị Hồng Ngân) (Dẫn theo [27]), Nhân học biểu tượng và các tiếp cận lí thuyết trong nhân học biểu tượng (Đinh Hồng Hải) (Dẫn theo [27]), Biểu tượng “nước” trong thơ

ca dân gian và thơ ca hiện đại các dân tộc ít người (Nguyễn Thị Thanh Lưu) (Dẫn theo [27]).Trên trang web thegioidienanh.vn cũng có đăng bài Một số biểu trưng trong phim Việt Nam ở nước ngoài

Trịnh Công Sơn - Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của tác giả Bùi Vĩnh

Phúc được xem là cuốn sách xuất sắc nói về ca từ trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn Trong tập sách này, tác giả sử dụng phương pháp xếp chồng văn bản (superposition)

và liên-văn-bản (intertextuality), với những phân tích thi pháp học, để phát hiện các

ám ảnh nghệ thuật trong sáng tác của Trịnh Công Sơn: Ám ảnh chiến tranh, Ám ảnh

về sự cô đơn, Ám ảnh về sự phụ rẫy, Ám ảnh về những nhắc nhở của cuộc đời, của thiên nhiên, Ám ảnh về Cuộc-Chia-Tay-Lớn, Ám ảnh thân phận, Ám ảnh từ sự tự mâu thuẫn và giằng xé, Ám ảnh từ sự gắn bó với một người nữ, Ám ảnh về cái vô thường của cuộc đời Qua hơn 330 trang, tác giả dành một tỷ lệ thích đáng để viết về thời gian nghệ thuật trong tâm thức nhạc sĩ qua nhiều ca khúc, cũng như không gian nghệ thuật bao gồm: trời đất, núi sông, biển sóng, mây, mưa, nắng, mặt trời, mặt trăng, rừng và phố của Trịnh

Hầu hết các nghiên cứu trong nước cũng đi đến nhận định cho biểu tượng không phải là một cái bình chứa đựng những giá trị khô cứng, cũ mòn của thời quá khứ Nó là một sinh thể sống động, vừa già nua, vừa trẻ trung bởi sự hàm kết các giá trị truyền thống đã được định hình và sự đắp bồi các giá trị tươi mới

Trang 5

2.2 Lịch sử nghiên cứu tương tác biểu tượng

Với tư cách là một viễn tưởng xã hội học riêng biệt, thuyết tương tác biểu tượng nổi lên từ truyền thống triết học dụng hành Mỹ Cách tiếp cận này được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trong các bài viết của Charles S Pierce, William James và John Dewey (1859-1925) Các nhà tư tưởng này đã thách thức thế giới quan cơ học và những giả định nhị nguyên của thuyết duy lí cổ điển, vốn là triết học đã ngự trị tư tưởng Tây phương từ thế kỷ 17

Trong cuốn sách nổi danh Mind, Self, and Society/ Tâm thức, bản ngã và xã hội

(1934) (Dẫn theo [27]), Mead đã khơi nguồn cảm hứng cho sinh viên Herbert Blumer–người trở thành một nhà xã hội học kiệt xuất, người đấu tranh cho những công lao và tính khả dụng của các lí thuyết của Mead đối với phân tích xã hội học

Cuốn sách có nhan đề Symbolic Interactionism/ Thuyết tương tác biểu trưng (1969)

(Dẫn theo [27]) là công trình tập hợp một số bài viết của Blumer, sử dụng và bàn rộng thêm những ý niệm của Mead Tác phẩm được thừa nhận như là phát ngôn cho viễn tưởng về thuyết tương tác biểu tượng

Blumer cùng đồng nghiệp của mình là Everett Hughes có một sự ảnh hưởng quan trọng đến một nhóm sinh viên mà ông đào tạo tại trường Đại học Chicago những năm 40, 50 Nhóm người này, gồm cả một số học giả trứ danh như: Howard Becker, Erving Goffman, và Anselm L Strauss, đã phát triển hơn nữa viễn tưởng thuyết tương tác biểu trưng Blumer đưa ra 3 tiền đề trung tâm và chúng đã cung cấp phần cốt lõi cho viễn tượng lí thuyết của họ Blumer nhấn mạnh rằng các nghĩa của sự vật phái sinh từ và xuất hiện thông qua sự tương tác xã hội Con người biết được các sự vật có nghĩa gì khi họ tương tác với nhau Khái niệm lí thuyết tương tác biểu trưng là quan điểm cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác mà đọc và lí giải chúng Theo khái niệm thì chúng ta luôn tìm được những ý nghĩa gán cho mỗi hành động cử chỉ đó tức

là các biểu tượng Chỉ khi chúng ta đặt mình vào vị trí của đối tượng tương tác, ta mới

có thể hiểu hết ý nghĩa của những phát ngôn, những cử chỉ, hành động của họ Ngôn ngữ nói và viết được xem là hệ thống biểu tượng quan trọng bậc nhất của lí thuyết tương tác biểu tượng

Trang 6

Và chính các tác giả C.S.Peice, W.Jame, John Dewey,… là những người đã đưa ra môt định hướng nghiên cứu mới: Sự tương tác biểu tượng trong phạm vi các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Theo đó, sự tương tác biểu tượng trong một tác phẩm văn học được hiểu là mối quan hệ tác động qua lại giữa hệ thống các biểu tượng nhà văn sử dụng Các kiểu kết hợp, quan hệ khác nhau của các biểu tượng sẽ tạo ra những

ý nghĩa khác nhau, và phụ thuộc vào tài năng sáng tạo, sự trải nghiệm đời sống mang đậm dấu ấn cá nhân của từng chủ thể

Ở Việt Nam, số công trình khoa học nghiên cứu về lí thuyết tương tác biểu tượng không nhiều Người viết chủ yếu tìm thấy những bài dịch về lí thuyết tương tác biểu tượng (biểu trưng) của tác giả Đinh Hồng Phúc từ những công trình khoa học của các tác giả nước ngoài (Gary Alan, FineKent Sandstrom) Ngoài ra, người viết còn tìm

thấy một công trình khoa học Tìm hiểu về lí thuyết tương tác biểu tượng(Dẫn theo

[27]) của tác giả Trần Huy Cường, trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật thành phố Hồ

Chí Minh Đặc biệt, công trình Tương tác biểu tượng trong diễn ngôn truyện kể (Nguyễn Thị Ngân Hoa), Tương tác biểu tượng trong tiểu thuyết ngàn cánh hạc (Y Kawabata) (Dẫn theo [27]) của tác giả Lê Thị Thanh Huyền và Giá trị của sự tương tác biểu tượng trong tác phẩm văn chương (Đoàn Tiến Thuật) ra đời đã đánh dấu thật

sự một hướng nghiên cứu mới về tương tác biểu tượng trong văn học nghệ thuật ở Việt Nam, khẳng định sự tương tác đó có thể là theo hướng tương đồng hay đối lập, nhưng tựu trung lại nó giúp làm cho ý nghĩa của các biểu tượng phát triển, từ đó mà làm giàu giá trị nội dung và nghệ thuật cho tác phẩm

2.3 Lịch sử nghiên cứu Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn là một hiện tượng hiếm gặp Nhạc Trịnh Công Sơn tồn tại như một dòng nhạc độc lập bên cạnh những dòng khác như Nhạc cách mạng, Nhạc thính phòng, Nhạc tiền chiến, Nhạc dân ca, Nhạc trẻ,… trong đời sống âm nhạc Việt Nam hiện nay Lần đầu tiên đến với công chúng năm 1958, nhạc Trịnh chiếm được tình cảm của đông đảo công chúng ở mọi lứa tuổi, ngành nghề, mọi giới Người Việt tìm đến nhạc Trịnh với sự đồng cảm sâu sắc bởi nhạc của ông là tiếng nói tha thiết của quê hương, tình yêu và thân phận Qua con đường âm nhạc của Trịnh Công Sơn, chúng ta cảm nhận được một gương mặt Việt Nam trong chiến tranh với những mất

Trang 7

mát đau thương và khát khao hòa bình Trịnh Công Sơn từng xuất hiện trên nhiều tạp chí uy tín của trong và ngoài nước như Time, New York Time, Figaro, Lemonde,… Báo chí Mĩ cũng từng ví ông là Bob Dylan của Việt Nam Đặc biệt từ khi Trịnh Công Sơn qua đời đã có hàng trăm bài báo rải rác, hàng chục số báo đặc biệt của bạn bè thân hữu gần xa cũng như các công trình nghiên cứu ra đời để tưởng nhớ ông Có thể nói, bài viết về Trịnh Công Sơn chiếm số lượng lớn, tuy nhiên những công trình thật

sự nghiên cứu về ngôn ngữ Trịnh Công Sơn quả không nhiều

Các công trình nghiên cứu của tác giả ngoài nước có thể kể đến như: luận văn tiến sĩ của Yoshi Michiko (Dẫn theo [26]), một nhà nghiên cứu nữ của Nhật Bản, đã

dành tất cả đam mê để viết về ca từ của Trịnh và Ca khúc da vàng của ông Luận văn

bảo vệ thành công với đồng loạt các điểm 10 tại ĐH Paris Tiếp theo là những bài báo,

nhận định của những học giả tên tuổi như Mary Heibert (Mỹ) với bài viết Trịnh Công Sơn, người sáng tác và trình diễn ca khúc, một Bob Dylan của Việt Nam ngày 06/05/1993 (Dẫn theo [26]); Patrich Sabatier (Pháp) với bài Kẻ du ca bất khuất – tạp chí Libération năm 1994 (Dẫn theo [26]); Jean Claudepomonti (Pháp) với bài Trịnh Công Sơn, người du ca của Việt Nam trên tạp chí Lemonde số ra ngày 04/04/2001

(Dẫn theo [26]) Và không thể không kể đến những bài báo khác của John Schafer

(Mỹ) với Ở xứ người xa xôi nhớ anh Trịnh Công Sơn (Dẫn theo [26])

Những nhận định hầu hết bày tỏ sự yêu mến dành đến Trịnh Công Sơn và sự ảnh hưởng của âm nhạc Trịnh đến tâm hồn người nghe Đặc biệt là nỗi xúc động sâu sắc trước lời ca của Trịnh Có thể nói, Trịnh Công Sơn chiếm được một tình cảm đặc biệt ưu ái từ báo chí và giới nghiên cứu ngoài nước Nhạc ngữ của ông cũng được đánh giá là những tác phẩm nghệ thuật đích thực làm lay động trái tim triệu con người

Ở trong nước, Trịnh Công Sơn được đánh giá là một nhạc sĩ thiên tài mà tên tuổi của ông có ảnh hướng lớn đến đời sống âm nhạc, văn hóa của người Việt Nam Minh chứng là có hàng trăm bài báo, hàng chục cuốn sách dày dặn viết về ông Đó là

Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, xuất bản năm 2005 [23] Đây là một tạp bút thể hiện cách cảm nhận về Nhạc phản chiến, Tình ca Trịnh Công Sơn, Khônggian Huế trong nhạc phẩm Trịnh Công

Trang 8

Sơncũng những câu chuyện kỉ niệm mà người bạn thân Hoàng Phủ Ngọc Tường có

dịp trải qua cùng nhạc sĩ

Tập sách Trịnh Công Sơn-Một nhạc sĩ thiên tài [24] của Bửu Ý là nén tâm

nhang được cắm chung vào bình tưởng niệm mà hàng ngàn người đã thắp lên Bửu Ý

đã phát hiện được cách kết hợp từ ngữ và ý nghĩa của nó trong việctạo nên một trường phái ngôn ngữ của riêng Trịnh

Năm 2000, Nhà xuất bản Trẻ cho ra đời tập sách Người hát rong qua nhiều thế

hệ với lời tri ân: “Anh trở về trong cát bụi với niềm tiếc thương vô hạn của bạn bè, của

người thân và công chúng Không thể tập hợp hết cảm xúc mà mọi người dành cho anh lúc còn sống và sau khi ra đi Bởi có nhiều người bộc lộ cảm xúc bằng từ ngữ bằng âm thanh, màu sắc,… còn số đông biểu lộ bằng sự im lặng ngậm ngùi” [12] Với

3 phần, cuốn sách là tập hợp những bài viết của Trịnh Công Sơn trước và sau ngày 01/04/2001 cùng với bài viết của bạn bè, đồng nghiệp

Rơi lệ ru người (xuất bản năm 2004) (Dẫn theo [27]) là ấn phẩm ra đời như

một sự ghi nhận tất cả những đóng góp của cố nhạc sĩ NXB Phụ nữ tập trung sự quan tâm cho những bài viết có liên quan đến phụ nữ và hình ảnh nữ giới trong nhạc Trịnh,

điều mà sinh thời Trịnh từng tâm sự: “Tôi đã viết Lời mẹ ru, Ngủđi con, Huyền thoại

mẹ và nhiều ca khúc khác về phụ nữ Việt Nam Tôi nghĩ phụ nữ là người sinh ra nhân

loại và cho tình yêu Cuộc đời không có phụ nữ thì không có gì đáng sống cả” Đây là

điểm khác giữa Rơi lệ ru người và những công trình khác

Nhà xuất bản Thuận Hóa, trung tâm văn hóa Đông Tây năm 2004 đã xuất bản

cuốn sách Một cõi Trịnh Công Sơn (Dẫn theo [27]) Công trình với những bài viết tâm huyết và cảm xúc như Trịnh Công Sơn người thơ ca (Văn Cao), Nói về Trịnh Công Sơn (Trịnh Cung), Lời thơ trong ca khúc Trịnh Công Sơn (Phạm Phú Phong), Trịnh Công Sơn những ám ảnh nghệ thuật (Bùi Vĩnh Phúc),…

Bằng cách này hay cách khác, các tập sách nhìn chung đã bộc lộ được tình yêu,

niềm say mê đối với Trịnh Công Sơn và nhạc phẩm của ông Đặc biệt, tác phẩm Trịnh Công Sơn hạt bụi trong cõi thiên thu [5]của tác giả Bích Hạnh là một công trình trực

tiếp nghiên cứu về biểu tượng trong ca từ của Trịnh Công Sơn

Trang 9

Biểu tượng là vấn đề được nhiều học giả Việt Nam quan tâm, đặc biệt là ý nghĩa biểu trưng của các con số và màu sắc Có thể nói tác giả Bích Hạnh với công

trình Trịnh Công Sơn hạt bụi trong cõi thiên thu là người đi được xa nhất về việc

nghiên cứu biểu tượng trong ca từ, cụ thể là trong ca từ Trịnh Công Sơn

Từ tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu kể trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc

có nhiều học giả, trong đó có các học giả Việt Nam đang tìm hiểu và nghiên cứu về biểu tượng đủ cho thấy sự mới mẻ, hấp dẫn và cần thiết của việc nghiên cứu vấn đề này trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, tương tác biểu tượng cũng là một lí thuyết còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, đặc biệt là tương tác biểu tượng trong tác phẩm văn học nghệ thuật Việc làm này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết bởi đây là một con đường mới và hiệu quả trong việc đi tìm cái hay cái đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật

Có thể thấy rằng, sức hấp dẫn lạ kì của nhạc ngữ Trịnh Công Sơn đối với các học giả là điều không cần bàn cãi, nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đi nghiên cứu về tương tác biểu tượng trong ca từ của ông Từ sức hút của biểu tượng, của tương tác biểu tượng đến vẻ đẹp chưa được khám phá hết trong ca từ của Trịnh, tất cả những điều trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu về tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn Lựa chọn đề tài nghiên cứu này, đề tài mong muốn

sẽ góp phần xác nhận khả năng ứng dụng của lí thuyết tương tác biểu tượng vào để phân tích ngôn ngữ nghệ thuật, giúp khám phá những giá trị mới trong nhạc ngữ của Trịnh, từ đó đánh giá đúng tầm phong cách nghệ thuật của Trịnh Công Sơn trong sáng tạo ca từ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, nghiên cứu của chúng tôi hướng đến những mục đích sau đây:

- Xác nhận khả năng ứng dụng của lí thuyết tương tác biểu tượng vào để phân tích ca từ Trịnh Công Sơn;

- Khám phá những giá trị mới trong nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn;

Trang 10

- Từ đó, đánh giá đúng tầm phong cách nghệ thuật của Trịnh Công Sơn trong sáng tạo ca từ cũng như vai trò của việc ứng dụng lí thuyết tương tác biểu tượng để nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật

Để thực hiện được những mục đích nói trên, đề tài tập trung giải quyết các vấn

đề chính đó là:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến tương tác biểu tượng -Tìm hiểu các mẫu gốc văn hóa, biểu tượng và tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn

- Phân tích các giá trị của các tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những biểu tượng văn hóa mang tính tương tác trong ca từ Trịnh Công Sơn và những giá trị nghệ thuật mà tương tác biểu tượng đem lại cho ca từ của tác phẩm

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Công trình nghiên cứu những bài hát được rút ra từ tuyển tập “Trịnh Công Sơn tuyển tập những ca khúc không năm tháng” của Nhà xuất bản Âm nhạc năm 1998

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

a Phương pháp thống kê

Sưu tầm, đọc, nghiên cứu tài liệu, sách báo, Internet, các nguồn sách từ các tác giả uy tín, các giáo sư, tiến sĩ có liên quan đến đề tài nghiên cứu, phân tích, tổng hợp,

hệ thống hóa đơn vị ca từ có chứa biểu tượng tương tác

b Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu

Phân tích sự kế thừa và chuyển đổi ý nghĩa của biểu tượng theo hướng lịch đại,

so sánh, đối chiếu trên mặt đồng đại

c Phương pháp phân tích tổng hợp

Mô tả, phân tích sự tương tác của các biểu tượng

Trang 11

6 Cấu trúc đề tài nghiên cứu

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm có 3 chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Khảo sát các tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn Chương 3 Giá trị của tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn

Ở đề tài nghiên cứu này, vì đặc thù của đề tài, nên dung lượng chương 2 sẽ được chúng tôi triển khai với số lượng trang viết dày hơn so hai chương còn lại

Trang 12

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Lí thuyết biểu tượng

1.1.1 Nguồn gốc hình thành biểu tượng

Biểu tượng là một khái niệm đang được đẩy mạnh nghiên cứu trên thế giới bởi đến nay khái niệm biểu tượng vẫn là một lĩnh vực chứa đựng nhiều bí ẩn Thuật ngữ biểu tượng (symbol /symbole) bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp có nghĩa là hợp lại, tập trung lại, tụ họp lại

Ban đầu ý nghĩa của biểu tượng như là dấu hiệu để nhận diện Nó là một vật được cắt làm đôi Ý nghĩa của thuật ngữ ngày có lẽ bắt nguồn từ tập tục của người Hi Lạp cổ đại Vào thời đó, người ta dùng một miếng đất sét nung, chia làm hai, mỗi thành viên giữ một mảnh, sau này ráp hai mảnh lại thì cha mẹ con cái, hai người bạn, chủ và khách, người cho vay và người đi vay sẽ nhận ra nhau Các hội kín khi kết nạp thành viên cũng sử dụng cách thức này Mỗi thành viên sẽ được giao cho các mảnh vỏ

sò có chạm khắc đặc biệt, họ dùng các vỏ sò này làm dấu hiệu để nhận ra nhau mỗi

khi hội họp Jean Chevalier và Alain Gheerbrant trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới nhận xét rằng: “Biểu tượng chia ra và kết hợp lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng

phân li và tái hợp; nó gợi lên ý nghĩa về một cộng đồng đã bị chia tách và có thể tái hợp, hình thành Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong những cái gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra” [2,XXIII]

Qua những ý nghĩa ban đầu của biểu tượng, có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Biểu tượng đại diện cho những điều ngoài bản thân nó” Quá trình hình thành của biểu tượng cũng khác nhau Biểu tượng có thể được hình thành qua liên tưởng, như hoa sen được xem là biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ bởi hoa sen 8 cánh ứng với

8 hướng không gian Bên cạnh đó biểu tượng cũng được hình thành từ kinh nghiệm thực tế Trong văn học, trên cơ sở những ẩn dụ hợp logic trong những tình huống cụ thể có thể hình thành những biểu tượng lâm thời của một tác phẩm

Trang 13

Ở các nước như Mỹ, Anh, Pháp, Đức…, người ta đẩy mạnh các nghiên cứu về biểu tượng xã hội Chẳng hạn như hiện nay, trong ở Pháp có bốn dòng lớn nghiên cứu biểu tượng xã hội: Một dòng chuyên khảo miêu tả nhằm ghi lại các biểu tượng của nhóm về một đối tượng nào đó (Moscovisi và các học trò của ông) Dòng thứ hai nghiên cứu ảnh hưởng của các biểu tượng xã hội lên ứng xử (Codol, Arbic) Dòng thứ

ba chuyên nghiên cứu các kỹ thuật đo lường các biểu tượng xã hội nhằm nắm bắt các cấu trúc của chúng, và dòng cuối cùng chuyên tìm hiểu những biến đổi của các biểu tượng xã hội (Jodelet, Di Giacomo, Flament, Arbic), cũng như tìm các cơ chế ngầm ẩn của các sự biến đổi này

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về biểu tượng vẫn còn hạn chế cả về mặt lí luận và thực tiễn Nguyên nhân có thể là do các nhà khoa học chưa ý thức hết được tầm quan trọng của nó, hoặc cũng có thể do sự né tránh những tranh cãi sẽ gặp phải khi bàn đến hệ thống khái niệm và phạm trù của khái niệm này

Biểu tượng trong tiếng Việt là một từ gốc Hán được dùng khá trừu tượng Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là: “hình ảnh tượng trưng,” nghĩa thứ hai là: “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm

dứt” [11,26] Còn theoTừ điển tâm lí học của Vũ Dũng- NXB KHXH – 2000- cho

rằng: "Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai." Còn symbol trong tiếng Anh là một từ bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ ở châu Âu

(symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp) Theo Từ điển Biểu tượng của C.G.Liungman thì “những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm

người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó”

Biểu tượng có tính đa nghĩa nhưng chúng ta có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu hình và biểu ý Trên thế giới, thuật ngữ symbology được nhiều từ điển giải thích với

các ý nghĩa: là 1-Việc nghiên cứu hoặc sử dụng các biểu tượng và 2-Tập hợp các biểu tượng (1: the study or use of symbols 2: symbols collectively) Các từ điển nghệ thuật

có thêm một ý nghĩa là: 3-Nghệ thuật sử dụng các biểu tượng để nhắc đến một trào

Trang 14

lưu nghệ thuật thịnh hành ở châu Âu vào thế kỷ XIX Như vậy, thuật ngữ symbology trong tiếng Anh tương đương với nghiên cứu biểu tượng (hoặc biểu tượng học) trong tiếng Việt

Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước

đó, được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước Biểu tượng không phải hoàn toàn là thực tế, bởi vì nó

là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác Tuy nhiên, những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt động tâm trí của chủ thể Biểu tượng chính là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã được tri giác từ trước Nói một cách dễ hiểu thì biểu tượng là cái sự vật cái hình ảnh giúp chúng ta vượt qua dáng vẻ bên ngoài để đi tìm ý nghĩa thiêng liêng bên trong Và khi nghiên cứu biểu tượng, người ta phải nghiên cứu trên cở sở liên ngành của các ngành như: ngôn ngữ, nhân học, kí hiệu học, triết học, logic học, xã hội học,…

Nếu dựa vào tiêu chí hình tượng của sự vật và hiện tượng tri giác từ trước được sắp xếp lại trong ý thức con người đến mức độ nào, người ta phân chia biểu tượng thành hai loại:

+ Biểu tượng của trí nhớ : là hình ảnh của tri giác lúc trước được tái hiện lại trong một hoàn cảnh nhất định

+ Biểu tượng của tưởng tượng : là hình ảnh mới được trí tưởng tượng tạo nên trên nền của biểu tượng cũ

Biểu tượng của tưởng tượng khác về chất so với biểu tượng của trí nhớ Biểu tượng của tưởng tượng là hình ảnh mới, được chế biến lại từ những biểu tượng của trí nhớ, là: “biểu tượng của biểu tượng", thường được chủ thể sáng tạo dựa trên các cách thay đổi số lượng, kích thước, chắp ghép, liên hợp, nhấn mạnh, điển hình hoá

Do đó, sự phản ánh của biểu tượng tưởng tượng mang tính chất gián tiếp và khái quát cao hơn so với biểu tượng trí nhớ

Trang 15

1.1.2 Quá trình phát triển và vai trò của biểu tƣợng

1.1.2.1 Quá trình phát triển của biểu tượng

Con người đã được chứng minh có sự tồn tại cách đây hàng triệu năm (4 đến 6 triệu năm) và sống thành cộng đồng Khi sống thành cộng đồng thì nhu cầu giao tiếp của con người là không thể thiếu Từ đó ngôn ngữ - công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người được hình thành Vào đầu thời kì đồ đồng chữ viết mới xuất hiện Vậy con người đã dùng phương tiện nào để truyền tin cho nhau trước khi có chữ viết?

Thời ấy có những kiểu kí hiệu truyền tin khác nhau: dùng các thẻ gỗ được khắc vạch để ghi nhớ, dùng các chuỗi vỏ sò, vỏ hến (được gọi là các wampum của những người Indiens ở Bắc Mỹ), dùng dây, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt cùng các bộ phận khác của con vật để thông báo Tuy nhiên cách thông báo này có nguy cơ bị mất thông tin Vì thế mà các vật thực đã được thay thế bằng các hình vẽ Người ta vẽ hoặc khắc lên đá một cặp sừng hươu thay vì một cặp sừng hươu thực, vẽ mũi tên để thông báo nơi đây có nhiều chim muông Dân du mục sống ở hoang mạc Ai Cập vẽ một hình tròn trên có một vạch thẳng đứng biểu thị cho cái dilu (cái túi bằng da đeo ở cổ bằng sợi dây thừng) để thông báo rằng anh ta đã đào đất ở đây và tìm thấy nước Từ đây hình thành các loại kí hiệu bằng các hình vẽ biểu trưng giúp cho trí nhớ Các hình vẽ trở thành kí hiệu chứa đựng thông tin: dùng một sự vật cụ thể để biểu thị một khái niệm trừu tượng

Có thể nói ngôn ngữ chỉ là hệ thống giao tiếp quan trọng nhất, chứ không phải

là duy nhất của con người bởi vì phương tiện giao tiếp của con người rất phong phú bao gồm: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ kí hiệu của người câm điếc, các nghi

lễ tượng trưng, các hình ảnh, cử chỉ, điệu bộ, và có cả biểu tượng,… “Biểu tượng được xem là hệ thống tiền kí tự vì chúng khá dễ nhớ, ghi lại ý và truyền đạt thông tin nhanh nhất Ngày nay do tiết kiệm lời, tránh phải in ấn dịch thuật phức tạp, do thế giới ngày nay là “thế giới phẳng”, trong xu thế toàn cầu hóa đó, người ta đã hình thành những kí hiệu giao tiếp bằng hình vẽ ghi ý, tạo thành những đơn vị có nghĩa trong giao tiếp có những hình vẽ (Sa) có thể nhận thức được, lại có những hình vẽ (Sa) hoàn toàn do qui ước” (Dẫn theo [26])

Trang 16

1.1.2.2.Vai trò của biểu tượng

Ngày nay, biểu tượng là những kí hiệu, hình vẽ này mang tính phổ quát, dùng chung cho toàn thế giới hay ít nhất cũng chung cho một khu vực Biểu tượng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, thần thoại, các nghi

lễ tôn giáo,…

Trong quá trình tồn tại và phát triển, biểu tượng không hề giảm vai trò quan trọng của nó vì chúng tiếp tục xuất hiện trong phim ảnh, văn học Không những thế, biểu tượng còn cho thấy tầm quan trọng trong lĩnh vực tâm lí học Biểu tượng của giấc

mơ là một sản phẩm của ngành tâm lí học, các học giả cho rằng con người tri giác thế giới không chỉ bằng các giác quan mà còn bằng tiềm thức Biểu tượng của giấc mơ, nó trở thành liệu pháp để điều trị các căn bệnh liên quan đến tâm lí Khi giải thích được ý nghĩa các biểu tượng trong giấc mơ thì chúng ta có thể chữa bệnh: bệnh suy nhược thần kinh, bệnh mất trí nhớ

Biểu tượng có vai trò nối kết con người ở những thế hệ khác nhau, bởi mỗi tập thể người, mỗi thời đại, mối quốc gia có những biểu tượng của riêng mình Khi chúng

ta rung động trước một biểu tượng nghĩa là chúng ta đã tham gia vào tập thể người, vào thời đại hay quốc gia ấy mà không cần thông qua ngôn ngữ nói hay viết Jean Chevalier và Alain Gheerbrant khẳng định vai trò của biểu tượng: “Thời đại không có biểu tượng là thời đại chết; xã hội thiếu biểu tượng là xã hội chết Một nền văn minh không còn có biểu tượng thì sẽ chết; nó chỉ còn thuộc về lịch sử” [2,XXXIII]

1.1.3 Những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “biểu tƣợng”

Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu về thuật ngữ “symbol” “Sự lẫn lộn này khiến biểu tượng bị yếu đi, thoái hóa thành một dạng tu từ, thành kinh viện hay tầm thường” [2, XVIII] Chính việc có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ dẫn đến nhiều nhẫm lẫn đáng tiếc, cụ thể: khi thuật ngữ logo chưa ra đời thì symbol trong tiếng Anh và symbole trong tiếng Pháp cũng được dùng để chỉ chung cho cả logo và biểu tượng Khi định nghĩa logo, Wikipedia Việt Nam cũng dùng từ biểu trưng để chỉ khái niệm này, khiến cho người đọc nhầm tưởng khái niệm symbol và logo là một.Không

Trang 17

chỉ có sự nhầm lẫn giữa biểu tượng với logo mà người ta còn nhẫm lẫn thuật ngữ này với khái niệm kí hiệu Nguyên nhân là do các tác giả dùng thuật ngữ symbol như một

kí hiệu Vì thế mà thuật ngữ symbol được Peirce và Saussure dùng theo hai cách khác nhau Đối với Saussure, ông dùng từ symbole với kí hiệu toán học, đại số học, khoa học là những kí hiệu mang tính chất hoàn toàn võ đoán: mỗi kí hiệu toán học Sa có một Se là khái niệm, được xác lập hoàn toàn võ đoán Còn với Peirce, symbol là một

kí hiệu “mọi từ ngữ, mọi câu, mọi quyển sách và tất cả kí hiệu qui ước đều là các symbol” (Dẫn theo [21]) Đó cũng là lí do khiến các nhà nghiên cứu như Sebeok, Lev Semionovich Vygotsky và cả Susanne Langer đã nghiên cứu nhằm phân biệt rõ giữa

kí hiệu và biểu tượng Chính mối quan hệ có lí do, tính tất yếu giữa hai mặt của biểu

tượng là điểm quan trọng để phân biệt biểu tượng với kí hiệu Tác giả của Biểu tượng văn hóa thế giới đã chỉ ra rất đúng rằng: “Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu, ở chỗ

dấu hiệu là một qui ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt vẫn xa lạ nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự chồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [2,XIX] Như vậy thì biểu tượng phong phú hơn một dấu hiệu, kí hiệu đơn thuần: hiệu lực của nó vượt ra ngoài ý nghĩa, nó phụ thuộc vào cách giải thích và cách giải thích thì phụ thuộc vào một thiên hướng nào đó Biểu tượng, dù không có cách gì định nghĩa nó, vì tự bản chất nó phá

vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm Biểu tượng đã hình thành cùng lịch sử hàng ngàn năm của nhân loại, và có sự diễn biến không ngừng về mặt nội hàm và về mặt khái niệm (hoặc mở rộng hoặc thu hẹp)

Không chỉ có sự nhầm lẫn giữa biểu tượng với logo hay kí hiệu mà còn có sự nhầm lẫn với tính biểu tượng và hệ biểu tượng Với mục đích xác định rõ thuật ngữ biểu tượng và phân biệt rạch ròi hình ảnh tượng trưng với các hình ảnh khác mà chúng

ta thường hay lẫn lộn, tác giả Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đã tiến hành phân

biệt rõ khái niệm biểu tượng với biểu hiện, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ, loại suy, triệu chứng, dụ ngôn, dụ ngôn luận lí ở trang XVII Bởi không có định nghĩa chuẩn cho thuật ngữ symbol trong tiếng Anh và symbole trong tiếng Pháp từ đó mà có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm biểu tượng Có lẽ do mức độ xuất hiện trong ngữ cảnh rất cao nên biểu tượng được dùng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như: văn học,

Trang 18

khoa học, toán học, âm nhạc, tâm lí, tôn giáo,… Bên cạnh việc được thể hiện ra trên

đồ họa, biểu tượng còn có thể được hiện thực hóa thông qua sự tri nhận của con người hoặc qua những sự vật cụ thể trong đời sống Mỗi lĩnh vực có những định nghĩa khác nhau về biểu tượng

Tuy nhiên, dù khái niệm biểu tượng có nhiều cách hiểu khác nhau và không dễ dàng gì định nghĩa nó, cuối cùng chúng ta cũng cần xác định lại thế nào là biểu tượng

Vì vậy, Nguyễn Đức Dân trong Kíhiệu học một số vấn đề cơ bản, đề tài khoa học cấp

đại học quốc gia – TP.Hồ Chí Minh cho rằng: “Biểu tượng có thể là một đối tượng, hình ảnh, từ ngữ, âm thanh hay những dấu hiệu đặc biệt dùng để biểu hiện những đối tượng khác thông qua sự liên tưởng, sự giống nha, hay do qui ước

Biểu tượng được dùng trong những ngành nghệ thuật, những tổ chức xã hội, tôn giáo, những phạm trù tinh thần, tâm linh,…” (Dẫn theo [21])

Biểu tượng luôn mang tính đa trị Cấp độ đầu tiên của các biểu tượng là mẫu gốc, khi đi vào đời sống thì các mẫu gốc có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng khác nhau Khi nghiên cứu biểu tượng trước hết chúng ta cần lập một danh mục các biểu tượng sau đó liệt kê các kiểu giải thích tiêu biểu nhất về các biểu tượng cụ thể

1.2 Lí thuyết tương tác biểu tượng

1.2.1 Sự chuyển hóa từ biểu tượng văn hóa sang biểu tượng ngôn từ nghệ thuật

Biểu tượng đến với ta dưới dạng biến thể, không phải là một hằng số bất biến, trừu tượng Đó là kết quả của các quá trình chuyển hóa không ngừng giữa các cấp độ của biểu tượng, từ khởi nguyên là các mẫu gốc (biểu tượng mẹ, cố định trong vô thức tập thể) đến các biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng ngôn từ)

Đi vào nghệ thuật ngôn từ - văn học, ca từ, biểu tượng (symbol) chuyển hóa thành các từ - Biểu tượng (word symbol), hay là các biểu tượng ngôn từ nghệ thuật Như vậy, biểu tượng ngôn từ nghệ thuật (trong đó có ca từ) chính là kết quả của quá trình hiện thực hóa các mẫu gốc biểu tượng trong đời sống tinh thần của nhân loại bằng cái vỏ âm thanh hoặc chữ viết của ngôn ngữ, dưới sự tác động tích cực của một chủ thể - tác giả, người sở hữu kinh nghiệm xã hội và trải nghiệm cá nhân riêng tư

Trang 19

Hay nói cách khác, đây là sự chuyển hóa biểu tượng từ bình diện văn hóa (ngôn ngữ chung) sang bình diện chủ thể (ngôn ngữ thơ ca) Kết quả của quá trình chuyển hóa này cho thấy vai trò tích cực của chủ thể sáng tạo trong khả năng điều chỉnh (gia tăng hoặc triệt tiêu) các ý nghĩa của biểu tượng gốc Với những tài năng càng lớn, phong cách càng độc đáo thì nét nghĩa phái sinh, liên hội, sự làm giàu cho nội hàm nghĩa biểu tượng càng phong phú

Dưới sự điều khiển của chủ thể sáng tạo, các word – symbol được sản sinh thông qua cơ chế cơ bản: kết hợp tương tác giữa hai loại biến thể lựa chọn (biến thể từ vựng và biến thể kết hợp) Trong đó biến thể kết hợp giữ vai trò quyết định

1.2.2 Tương tác biểu tượng

Lí thuyết tương tác biểu tượng (symbolic interactionism) được Herbert George Blumer (1900 - 1987) đề cập đến một cách có hệ thống vào năm 1969 trong công trình

nghiên cứu Symbolic Interactionism: Perspective and Method trên cơ sở kế thừa các

luận điểm của George Herbert Mead (1863 - 1931), cho rằng: thế giới của con người

là tập hợp các biểu tượng: thực thể (sự vật và các thuộc tính của chúng) và các hành

vi, hành động (action) tác động lên các thực thể này

Theo quan điểm của H Blumer, có hai hướng cơ bản để giải mã ý nghĩa của biểu tượng: thực nghiệm và phi thực nghiệm Các nhà thực chứng cho rằng ý nghĩa của các biểu tượng được kế thừa từ chính sự vật còn lí thuyết chủ yếu của phái phi thực chứng là các ý nghĩa của biểu tượng mang thuộc tính tâm lí

H Blumer đã kết hợp cả hai quan điểm này trong việc lí giải ý nghĩa của các biểu tượng (symbol) trong mọi bình diện của đời sống con người, mà trước hết là đời sống xã hội, đề cao sự tương tác của các biểu tượng trong đời sống xã hội, trong những vận động xã hội (social moverments)

Các luận điểm của ông về vấn đề này đã tạo ra các tiền đề cho việc nghiên cứu tương tác biểu tượng:

- Thứ nhất, con người hành động theo những ý nghĩa cơ bản mà sự vật đem lại

- Thứ hai, những ý nghĩa vượt ra khỏi sự kiểm soát xã hội

Trang 20

- Thứ ba, ý nghĩa của sự vật được biến đổi thông qua quá trình tự phản ánh reflections) và tương tác (interaction) trong tư duy biểu tượng của mỗi cá nhân

(self Thứ tư, con người sáng tạo lại thế giới theo sự trải nghiệm đời sống của chính

- Thứ năm, những ý nghĩa này thoát ra khỏi sự tương tác nói trên, hình thành bởi

sự tự phản ánh mà mỗi cá nhân đem lại cho những cảnh huống (situation) của nó

- Thứ sáu, quá trình tương tác tự thân (self-interation) này gắn kết với những tương tác xã hội và đến lượt chúng, ảnh hưởng tới sự tương tác xã hội đó Điều này có nghĩa là sự tương tác biểu tượng (symbolic interation), sự thống nhất và kết hợp giữa mặt tự nó và mặt xã hội, là ý nghĩa chủ yếu mà qua đó bản thể của con người cố gắng nhào nặn những hành vi mang tính xã hội, tính cộng đồng của nó

- Thứ bảy, tập hợp những hành vi đó, sự hình thành, tan rã, xung đột, liên kết của chúng tạo nên cái gọi là “đời sống xã hội của xã hội con người”

Từ đó, H Blumer chỉ ra sự tương tác giữa các hành vi của cá nhân và cộng đồng trong quá trình chuyển hóa ý nghĩa của các thực thể - biểu tượng, vừa như một thực thể vật chất mà con người phải trải nghiệm trong các cảnh huống (situation) của quá trình sinh tồn đòi hỏi hành vi hồi đáp trong các mối quan hệ xã hội dựa trên sự giải mã biểu tượng, hơn là hành vi hồi đáp dựa trên sự tác động của môi trường, điển hình là sự giải mã biểu tượng của ngôn ngữ, cử chỉ cũng như hành động của người khác vì đời sống xã hội là một quá trình vận động và thương thuyết, để hiểu được người khác, con người bắt buộc phải tham gia vào quá trình tương tác biểu tượng

Dựa trên những quan điểm trên, H Blumer định nghĩa tương tác biểu tượng

theo ba luận điểm chính:

1 Con người ứng xử với sự vật (bao gồm cả những cá nhân khác) dựa trên ý nghĩa của chúng đối với sự tồn tại, trải nghiệm của họ

2 Ý nghĩa của sự vật hình thành nên từ các tương tác xã hội giữa chúng và các thực thể xung quanh

3 Ý nghĩa được xử lí và biến đổi thông qua một quá trình giải mã mà mỗi cá nhân dùng để giải quyết sự việc mà nó phải đối mặt

Trang 21

Từ những luận điểm của H Blumer về vấn đề tương tác biểu tượng trên bình diện xã hội, tâm lí, có thể nhận thấy một nguyên lí quan trọng trong việc tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của biểu tượng, hệ biểu tượng trong nghệ thuật nói chung, nghệ thuật ngôn từ nói riêng: biểu tượng luôn phải được tìm hiểu trong những mối quan hệ, trong những ngữ cảnh cụ thể, gắn với những chủ thể tinh thần nhất định Ý nghĩa của các biểu tượng, hệ biểu tượng không phải là một mẫu chung sẵn có mà luôn là những biến

số nảy sinh trong quá trình tương tác với hàng loạt yếu tố khác Sự gặp nhau giữa các giá trị và ý nghĩa tạo nên những vùng hội tụ, giao thoa về nghĩa chứ không phải sự diễn dịch từ một ý nghĩa sẵn có Mỗi người nghệ sĩ, đặc biệt là nghệ sĩ ngôn từ, khi sử dụng ngôn ngữ như một mã sẵn có, đã phải tìm cách tạo ra những lực tương hỗ mới để thốt lên được một tiếng nói của riêng mình trong thế giới của các mã, các tín hiệu đã được dùng đi dùng lại không biết bao nhiêu lần

1.3 Vài nét về cuộc đời của Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939, mất ngày 1 tháng 4 năm 2001, được xem là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến Theo thống kê chưa đầy đủ thì cho số tác phẩm để lại của ông ước chừng không dưới 600 ca khúc và phần lớn là tình ca Trong đó, số ca khúc của ông được các thế hệ người hâm mộ biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc) Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly Ngoài ra sáng tác nhạc, ông còn tham gia vào lĩnh vực thơ ca, hội họa nhưng dấu ấn không sâu đậm như mảng âm nhạc

Ông sinh ra ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế Ông lớn lên tại Huế,theo học các trường Lyceè Francais và Provindence

và sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây

Đến năm 17 tuổi, ông sáng tác tác phẩm đầu tiên là bài Sương đêm và Sao chiều vào Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản

An Phú in năm 1959, được Thanh Thúy trình bày Từ đó, tên tuổi của ông được nhiều người biết đến hơn

Trang 22

Tại một quán cà phê đơn sơ dựng trên bãi đất cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên

do xã hội chủ trương, từ cuối năm 1966, ông cùng ca sĩ Khánh Ly biểu diễn những tác phẩm của mình và thực sự tạo được ấn tượng với những người thưởng thức lúc bấy giờ

Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly Về cái duyên được gặp gỡ và làm việc cùng ca sĩ Khánh

Ly, Trịnh Công Sơn có chia sẻ: "Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa Đó cũng là lí do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh

Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly"

Còn về phần Khánh Ly, cô kể lại giai đoạn cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 60 ấy: "Thực sự tôi rất mê hát Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn"

Không chỉ ảnh hưởng rộng lớn đối với những người yêu nhạc trong nước, Trịnh Công Sơn đã chứng mình được sức hút của phong cách nhạc của bản thân với

công chúng Nhật Bản năm 1970 qua một số tác phẩm như Diễm Xưa (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), Ca dao Mẹ, Ngủ đi con

Là một nhạc sĩ chuyên sáng tác về nhạc tình yêu, những tình khúc của ông rất hay, rất lãng mạn Thế nhưng, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận là có con Một trong những lí do khiến ông không tiến tới hôn nhân được người em gái chia sẻ: "Anh Sơn luôn ngại làm

Trang 23

phiền người sẽ ở cùng phòng với mình, bởi anh cực kỳ ít ăn và ít ngủ và có giờ giấc làm việc chẳng giống ai Anh thường xuyên thức dậy giữa khuya khi nghĩ ra được ý nào đó và ngồi viết lại hoặc vẽ đến sáng Bởi vậy mà khi lần đầu tiên có ý định cưới

vợ - một Việt kiều Pháp (sáu tháng ở Pháp, sáu tháng ở Việt Nam), anh đã có những

dự định rất rõ ràng: Anh và chị sẽ có hai căn phòng nằm cạnh nhau chứ không phải lúc nào cũng ở chung phòng để có thể giữ được sự riêng tư cần thiết.”

Nhưng trong suốt cuộc đời của Trịnh Công Sơn, người ta thấy có rất nhiều bóng hồng xuất hiện cả trong và ngoài nước Ta có thể kể đến mối tình đầu, thực chất chỉ là 1 tình bạn đẹp của ông là với ca sĩ Khánh Ly, rồi sau đó với một cô gái Nhật Bản làm luận án tiến sĩ về âm nhạc Trịnh Công Sơn Hai người cũng đã tiến xa đến một kế hoạch đám cưới nhưng rồi cũng không thành vì anh Sơn không chấp nhận một vài nguyên tắc của gia đình người Nhật đưa ra khi anh về làm rể Và Dao Ánh (người trong mộng của ông từ năm 1964 đến năm 1967) - em ruột của bà Ngô Vũ Bích Diễm

Đây chính là "bóng hồng" trong nhạc phẩm Diễm xưa Trước khi yêu Dao Ánh, Trịnh

Công Sơn từng dành tình cảm với cô chị gái Bích Diễm nhưng tình cảm ấy không thành Mối tình thứ tư của ông là với ca sĩ Hồng Nhung, và mối tình thứ năm của ông

là với VA (khi ông mất VA là một trong số các người thân ở bên cạnh ông) và nhiều người phụ nữ khác

Phong tình, lãng tử là thế nhưng những năm cuối cùng của cuộc đời, niềm say

mê lớn nhất của Trịnh Công Sơn gần như dành hết cho ca sĩ Hồng Nhung mà theo ông

là "Một người quá gần gũi không biết phải gọi là ai!" Với Hồng Nhung, tâm hồn Trịnh gần như trẻ lại, khiến bước chân ông trở nên bối rối, ngập ngừng với buổi hẹn ban đầu

Nhắc đến Trịnh Công Sơn, Bùi Phúc Vĩnh trong “Trịnh Công Sơn – ngôn ngữ

và những ám ảnh nghệ thuật”, Nhà xuất bản Trẻ, 2013, có chia sẻ rằng: “Trịnh Công

Sơn, trong cái nhìn của người viết tập chuyên luận nhỏ này, vẫn là một con người Việt Nam, nếu không nói đó là một thiên tài của đất nước Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung

Ông cũng tiêu biểu cho một vài nét rất đẹp của tâm hồn Việt Nam, những nét tài hoa và tha thiết mà bất cứ một con người nào trên thế giới còn có sự rung động

Trang 24

trước cái đẹp của cuộc sống, còn có sự rung động trước cái xót xa và đau thương của thân phận con người trong cuộc sống trần thế này, đều có thể chia sẻ

Đóng góp của Trịnh Công Sơn trên mặt nghệ thuật là đóng góp của một con người Việt Nam vào sự nhận thức cái đẹp, cái đau thương, tình yêu và thân phận làm người của nhân loại nói chung Cuộc sống của con người là một cuộc tiếp cận khổ đau, nhưng qua khổ đau, nó tìm thấy cái đẹp và sự cứu rỗi của chính mình cùng với kinh nghiệm sống bi thiết và việc đi đến cùng một cách quả cảm thân phận làm người của mình.” [15,bìa]

1.4 Ca từ và đôi nét về ca từ của Trịnh Công Sơn

Đối tượng nghiên cứu của người viết là ca từ trong nhạc phẩm Trịnh Công Sơn, nghĩa là người viết đã tách phần lời ra khỏi phần nhạc và chỉ nghiên cứu phần lời Trong quá trình xử lí dữ liệu, người viết luôn lưu ý đến áp lực của âm nhạc đã chi phối đến cấu trúc của ca từ để có cách lí giải hợp lí

1.4.2 Đôi nét về ca từ Trịnh Công Sơn

Theo cách hiểu thông thường, ca từ là lời của bài hát, là yếu tố quyết định làm nên tính nghệ thuật, tính tư tưởng cho một ca khúc Thế nhưng, Trịnh Công Sơn tạo ra nét đặc sắc, riêng chỉ mình ông có ở chỗ ca từ của ông không đơn thuần là lời của bài hát mà nó còn là lời của một bài thơ, một tác phẩm nghệ thuật ẩn chứa trong đấy Về mối quan hệ giữa ca từ và âm nhạc của Trịnh Công Sơn, nhạc sỹ Văn Cao từng nhận xét: “Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim ” Với nhạc sĩ Phạm Duy, ông cho rằng: “ngôn ngữ trong nhạc

Trang 25

Trịnh Công Sơn rất mới, chất chứa những hình ảnh lạ lùng, quyến rũ như cơn mưa hồng, thuở hồng hoang, dấu địa đàng, cánh vạc bay ” Và với nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc, ông chia sẻ: “Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, điều đó đã hẳn Nhưng trên và trước, người nhạc sĩ ấy lại là một thi sĩ tự trong bản chất và trong cách thế sai sử ngôn ngữ của mình Và chính là từ những dòng ca từ tuyệt đẹp pha lẫn những nét đau đớn, xót xa và rất lạ lùng của Trịnh Công Sơn mà cuộc đời đã mở ra chứa chan những điều tuyệt mộng và bi thiết trước mắt nhìn của chúng ta, những người nghe anh Chính vì thế, cho dù đây là một nhạc sĩ tài hoa, điểm nổi bật và đáng nói hơn hết trong nghệ thuật của Trịnh Công Sơn lại nằm trong những hình ảnh mà anh đã nhìn thấy hoặc khám phá ra, cũng như trong cái ngôn ngữ mà anh đã dùng để cất giấu, hé lộ, bật mở hoặc nâng đỡ những hình ảnh ấy và làm cho chúng cất cánh bay lên.”[15,5-6]

Vậy chất thơ trong ca từ của Trịnh Công Sơn được thể hiện như thế nào? Ta thấy ràng thơ thường nói điều chưa nói bằng cách phủ nhận điều đã nói Chất thơ trong ca từ nhạc Trịnh được "chế tác" bằng cách diễn đạt mang đặc trưng ấy của văn chương Cách thể hiện này thường tạo cho lời ca của nhạc Trịnh một nét nghĩa nhoè

Ca từ của Trịnh Công Sơn vì thế có khi làm cho người nghe nhạc cảm thấy khó hiểu Cũng vì lẽ này mà sau năm 1975, có người đã phê phán nhạc Trịnh là "vague", là "mơ hồ"

Trong số gần 600 ca khúc mà Trịnh Công Sơn để lại, có hơn 400 ca khúc là nhạc tình Ca từ của Trịnh Công Sơn lời đẹp, ý sâu, âm điệu nhẹ nhàng, êm ái Ông viết lời một cách dễ dàng, tự nhiên “như lấy chữ từ trong túi ra” theo cách nói của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát Có người còn so sánh rằng: Trịnh Công Sơn viết nhạc không khác gì Nguyễn Bính làm thơ Đây là những tài năng thiên phú Những người như thế, phong cách hình thành rất sớm và nó chi phối gần như suốt cả cuộc đời sáng tác của họ Thực ra, số lượng từ mà Trịnh Công Sơn sử dụng không lớn và có một số

từ được anh dùng đi dùng lại khá nhiều lần Trịnh Công Sơn có những cách ghép từ rất lạ như: tuổi đá buồn, hạ trắng, con tim mù loà, chợt hồn xanh buốt Kiểu ghép từ mới lạ này đã góp phần làm nên phong cách riêng của Trịnh Công Sơn

Bên cạnh việc biến hóa về cách sử dụng từ, ca từ của Trịnh Công Sơn còn thể hiện sự độc đáo qua việc hiệu ứng kết hợp với cách ngắt nhịp khiến cho mạch nhạc,

Trang 26

tâm trạng của tác giả được thể hiện sâu sắc Ta thấy nhịp điệu trong ca từ là yếu tố vô cùng quan trọng làm nên nhạc điệu của ca khúc Các nhà thơ, các nhạc sĩ tài năng đều

có các kiểu ngắt nhịp riêng phù hợp với nhịp điệu của cảm xúc Trịnh Công Sơn cũng

có rất nhiều kiểu ngắt nhịp

Bên cạnh đó, vần cũng là một yếu tố quan trọng của cả thơ lẫn nhạc Trịnh Công Sơn gieo vần hết sức linh hoạt và sáng tạo Nhạc Trịnh dễ nhớ, dễ hát một phần cũng do lối gieo vần của tác giả Cũng như Nguyễn Bính, Trịnh gieo vần một cách tự nhiên, không hề gò ép Trịnh Công Sơn có nhiều cách gieo vần nhưng cách gieo vần được anh sử dụng nhiều nhất trong ca từ của ông là cách gieo vần “chân” (các từ hiệp vần đều nằm cuối câu) và thường liền với nhau từng nhóm ba câu một vần Cách gieo vần này cũng góp phần tạo nên âm điệu riêng của nhạc Trịnh Công Sơn

Không những vậy, ca từ của Trịnh Công Sơn đẹp, giàu hình ảnh, giàu ý nghĩa, gây ấn tượng khó quên đối với người nghe là bởi cách thức sử dụng các biện pháp tu

từ của ông quá ấn tượng Nghe và đọc gần bốn trăm tình khúc của Trịnh Công Sơn, ta nhận thấy biện pháp tu từ mà nhạc sĩ sử dụng khá nhiều là biện pháp so sánh.Nhạc sĩ

có một số so sánh hết sức bất ngờ, gây ấn tượng mạnh Có lẽ chỉ Trịnh Công Sơn mới

so sánh: Tình yêu như trái phá / con tim mù loà; Tình yêu như vết cháy trên da thịt người; Buồn như giọt máu Đối tượng được đưa ra so sánh chủ yếu là những hiện tượng thiên nhiên, gần gũi với đời sống hàng ngày Chẳng hạn như: Tình yêu như biển, biển rộng hai vai / Tình yêu như biển, biển hẹp tay người Lạc lối (Lặng lẽ nơi này) Đây là cách so sánh mà không phải ai cũng hiểu Tình yêu như biển thì quá rõ nhưng vì sao biển rộng hai vai? Điều này làm cho ca từ của Trịnh có những “nét nhoè”, kích thích trí tò mò của người nghe Nhưng cách so sánh hơi khó hiểu ấy không nhiều Phần lớn Trịnh Công Sơn chọn cách so sánh tương đối dễ hiểu, dễ nhớ

Chẳng hạn như: Bao nhiêu năm làm kiếp con người / Chợt một chiều tóc trắng như

vôi (Cát bụi); Một người về đỉnh cao / Một người về vực sâu / Để cuộc tình chìm mau / Như bóng chim cuối đèo (Tình nhớ); Trời còn làm mây, mây trôi lang thang /

Sợi tóc em buồn, trôi nhanh, trôi nhanh / như dòng nước hiền Tuổi buồn như lá / gió

mãi cuốn đi / quay tận cuối trời… (Tuổi đá buồn); Cuộc tình lên cao vút / như chim

mỏi cánh rồi / như chim xa lìa bầy / như chim xa lìa trời / như chim bỏ đường

Trang 27

bay… (Tình sầu) Người bình thường chỉ có thể so sánh “như chim mỏi cánh rồi” là

hết, nhưng Trịnh Công Sơn có thể so sánh liên tục mà lại hết sức dễ dàng như lấy “từ trong túi ra” Muốn so sánh dễ dàng như vậy phải có óc liên tương phong phú và nhạy bén Với Trịnh, thiên nhiên là người bạn thân thiết sẵn sàng trở thành chất liệu giúp nhạc sĩ thể hiện ý tưởng, tình cảm của mình Thiên nhiên không chỉ trở thành đối tượng để so sánh mà còn biến thành hình ảnh ẩn dụ, nhân hoá trong những tình khúc của Trịnh Nghe nhạc Trịnh, ta bắt gặp rất nhiều các hình ảnh: Con chim ở đậu, con cá

ở trọ; chợt buồn trong mắt nai; đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ; sỏi đá trông em từng giờ…

Luôn có những cuộc “hôn phối” trong ca từ của Trịnh Công Sơn Và nó được

“lạ hóa” bằng những biện pháp tu từ như: so sánh thành phố hoang vu như một lần qua cuộc tình, ẩn dụ Môi nào hãy còn thơm cho ta phơi cuộc tình, nhân hóa Trên giọt máu cuồng điên, con chim đứng lặng câm, câu hỏi tu từ Làm sao em biết bia đá không đau? Và Trịnh Công Sơn đã sáng tạo không ngừng nghỉ để sản sinh ra những biểu

tượng giàu giá trị nhận thức và thẩm mĩ

Các biểu tượng này lại có sự tương tác với nhau để tạo cho ca từ của Trịnh những nét nghĩa mới, có ý nghĩa tái sinh Tóm lại những đặc điểm về ca từ trên đã góp phần tạo cho nhạc Trịnh Công Sơn sự giản dị mà không đơn điệu, quen thuộc mà vẫn mới lạ, triết lí mà chứa chan tình cảm

Trang 28

Chương 2

KHẢO SÁT CÁC BIỂU TƯỢNG

VÀ TƯƠNG TÁC BIỂU TƯỢNG TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN

Ở đề tài này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các biểu tượng có sự tương tác lẫn nhau Trong tổng số 127 ca khúc được khảo sát, có nhiều biểu tượng xuất hiện, tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn chỉ tập trung khảo sát tần số xuất hiện của 8 biểu tượng có

giá trị tương tác (gồm: Sông, Núi, Biển, Con đường, Vườn, Lửa, Hoa, Vực thẳm) và biểu tượng có số lần xuất hiện cao là Đôi môi trong quan hệ với biểu tượng Lửa Do

số lần xuất hiện của một biểu tượng trong một bài hát rất nhiều nên chúng tôi lựa chọn đưa ra số liệu về tần số xuất hiện của biểu tượng dựa trên đầu ca khúc, chứ không khảo sát số liệu cụ thể tần số xuất hiện của biểu tượng trong từng bài Phương pháp này sẽ được thực hiện với tất cả các biểu tượng nằm trong phạm vi mà công trình khảo sát

2.1 Cặp đôi tương tác “Sông” – “Núi”

2.1.1 Tìm hiểu về biểu tượng “Sông” (hay “Dòng sông”) và “Núi”

2.1.1.1 Biểu tượng “Sông”

Sông là biểu tượng gốc trong văn hóa nhân loại, sản sinh ra từ mẫu gốc Nước Sông theo nghĩa từ điển là: “Dòng nước tự nhiên tương đối lớn, chảy thường xuyên trên mặt đất, thuyền bè thường đi lại được Sông có khúc, người có lúc” [14,1110]

Sông là biểu tượng đa nghĩa trong văn hóa nhân loại Biểu tượng Sông hay

dòng nước chảy là biểu tượng của “Khả năng của vạn vật, của tính lưu chuyển của mọi dạng thể” [2,829], của sự phong nhiêu, cái chết và sự đổi mới Dòng chảy với sự lưu chuyển của nó và khả năng nhấn chìm vạn vật vào trong lòng nó là dòng chảy của

sự sống và sự chết Và trong dòng chảy luôn mang tính lưỡng cực Sự chảy xuôi dòng

về phía đại dương là sự trở về với trạng thái bất phân, là lối vào Niết Bàn Còn sự ngược dòng là sự trở về với cội nguồn Thần thánh, với bản thể Sông là một không gian nước đặc biệt Sông phì nhiêu và cuộn sóng, sông kích thích ở con người sự mơ mộng và ước muốn phiêu lưu Ngày xưa, sông thường là nơi trầm mình của những số

Trang 29

phận nhiều ẩn ức, để lại quá khứ trên bờ để biệt xứ li hương Sông bí ẩn và sông biến thiên nên nó trở thành biểu tượng cho dòng đời vô định

Từ bản chất vật lí của nước – sông là khối chất lỏng trong suốt, có thể nhìn thấu và xuyên qua, sông cũng có thể xóa nhòa, tràn lấp và che dấu vào trong lòng nó rất nhiều bí ẩn Sông có khả năng đóng khép và lưu giữ, làm biến mất vật rơi vào trong lòng nó Sông cũng có khả năng phản chiếu Dường như dưới dòng chảy sâu kín

ấy là một đối xứng với lòng người u uẩn Tâm lí con người khi gặp uẩn ức thì luôn xuất hiện nhu cầu đối diện, soi mình và đôi khi chiếu xạ những uẩn ức ấy vào những

sự vật trong tự nhiên Sông có khi lại là sự giải thoát vĩnh viễn, sông giải thoát con người, mở ra một cõi sống khác, hay một ước mơ duy trì cuộc sống vĩnh viễn Chảy xuống từ trên cao, quanh co qua những thung lũng, biến mất trong những hồ và biển, dòng sông tượng trưng cho đời người và chuỗi liên tiếp những mong ước, những tình cảm, những ý định và thiên hình vạn trạng những bước ngoặt của chúng (Dẫn theo [2])

“Sông” trong âm nhạc Trịnh Công Sơn là một biểu tượng đẹp Sông là hình ảnh gần gũi với con người không chỉ nằm ở khía cạnh địa lí mà còn trong cả tâm hồn Thường thì mỗi khi nhắc đến sông người ta thường nghĩ đến những suy nghĩ tốt, sông đem lại cho con người những ước mơ thoát dòng và chính dòng sông quấn quanh cuộc

sống của con người Trong Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật ,

đề cập khá nhiều về những nỗi ám ảnh của nhạc sĩ Trịnh, và sông cũng là một trong những ám ảnh của ông Trịnh Công Sơn từng thổ lộ: “Những ngày mệt mỏi, tôi thường tìm về bên một dòng sông – nơi thành phố của quá khứ”, và “Ngồi bên dòng sông, nhiều đêm tôi nghe ra những đổi thay quá lớn” [23,101-102] Sông là nơi Trịnh Công Sơn gửi gắm những tâm sự sâu lắng của mình, và dòng sông cũng là nhân chứng cho những đổi thay của cuộc đời và lòng người

Với biểu tượng Sông, trong tổng số 127 ca khúc, Sông xuất hiện ở 43 ca khúc chiếm tỉ lệ 33,9% Trong ca từ Trịnh Công Sơn, Sông xuất hiện với các biến thể kết hợp trên ngữ đoạn lời ca như: sông – thương đau, sông – hấp hối, sông – âm thầm, sông – nằm lạnh, sông – bão tố, sông – nhớ, sông – mơ, sông – ngủ sâu, sông mang tin buồn, sông – qua đời,… đều hàm ý về những thân phận long đong, sầu muộn, lụi

Trang 30

tàn Khi xuất hiện trong các biến thể kết hợp: ngồi bên sông, tìm trên sông, tìm về sông, … cho thấy sông như là điểm hẹn tìm về khi lòng gợn những ưu tư, muộn phiền

Có lần sông xuất hiện trong một ngữ cố định Sông cạn đá mòn thể hiện sự bất biến

của lòng người trong sự thay đổi thiên hình vạn trạng của thiên nhiên

Những không gian cuộc đời nhiều khi quá chật hẹp và làm con người cảm thấy

bí bức Chính những lúc đó sông cho con người một lối thoát Sông sẵn sàng nghe những lời tâm sự của người, và chở những mơ ước đi xa Có những lúc sông nâng ước

mơ của con người lên cao, dường như sông chính là biểu tượng về một người bạn gần hơn là người có thể tin cậy Sông là biểu tượng về sự bồi đắp và nuôi dưỡng Và khi những ước mơ của con người được sông đưa lên cao, sông quả thật đã dìu dắt con người giữa cuộc thênh thang trời đất:

Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi / Con sông là thuyền / mây

xa là buồm / Từng giọt sương thu hết mênh mông

Người ra đi bến sông nằm lạnh / Này nhân gian, có nghe đời nghiêng?

(Có nghe đời nghiêng)

Chính vì sông là nguồn an ủi, là nơi ôm ấp những thiết tha, đau đớn của ta, là nơi rửa sạch những vết thương mà ta có thể bắt gặp giữa đời này, Trịnh Công Sơn (và

cả người nữ của anh) thường tìm về với sông để kể lể, hỏi han

Trang 31

Bởi lẽ ấy, rồi người lại trở về.Sông ôm ấp, gìn giữ và chở đi xa những mơ ước hay những dấu buồn đau của con người Biểu tượng “sông” trong sáng tác Trịnh Công Sơn thật sự đẹp

Dường như bão qua dòng sông nước lên / Đời không có mưa mà vẫn ướt mềm

(Gần như niềm tuyệt vọng)

Tìm lại trên sông những dấu hài

(Đóa hoa vô thường)

Một dòng sông sâu chở hồn thương đau

(Em đi trong chiều)

Ngoài hình ảnh của “sông” , trong các sáng tác của Trịnh Công Sơn còn mang đậm hình ảnh “núi”

2.1.1.2 Biểu tượng “Núi”

Núi theo nghĩa từ điển là danh từ, chỉ “Địa hình lồi, sườn dốc, nổi cao lên trên mặt đất, thường cao trên 200m Leo núi Mặt trời khuất sau núi Núi đá Miền núi Chất cao như núi” [14,955]

Núi là biểu tượng gốc nảy sinh từ mẫu gốc Bầu trời Núi đã đi vào tâm thức

công đồng và trở thành một biểu tượng trong văn hóa nhân loại Với đặc điểm cao, thẳng đứng, gần trời, núi tham gia vào hệ biểu tượng của cái siêu tại, siêu phàm Ý nghĩa tượng trưng của núi có nhiều mặt: nó vừa là chiều cao, vừa là điểm trung tâm, vừa thể hiện cho quyền năng và quyền thế siêu việt

Trung Quốc coi núi là tượng trưng nguyên thủy của tổ quốc Trong vũ trụ quan của tổ tiên người Trung Quốc, núi chiếm địa vị tương tự với địa vị thống trị của Hoàng đế trong dân gian Người Trung Quốc coi hiện tượng sập núi như là sự tượng trưng cho sự ra đi của một Hoàng đế

“Theo Luc Benoist, núi là hình mẫu tự nhiên của mọi kiến trúc, biểu tượng của tâm mà một trong các hình ảnh nguyên thủy là chiếc cột trụ trong Phật giáo, chiếc cột của Hermes, đá thiêng của người Sémite, đá đài thời đồ đá mới, Omphalos Hi Lạp, Linga của người Hindu, cột tháp đá Ai Cập,… Mọi công trình xây dựng như đền thờ, cung điện, thành phố, đô thị, … đều là tâm của một thế giới, và thế giới đó hẳn phát

Trang 32

triển như phôi người, tức từ tâm ra, tâm là điểm tiếp nối của các ảnh hưởng từ sáu hướng của không gian” [5,42]

Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, Núi vừa là chiều cao, vừa là điểm trung tâm Với tính cách là trung tâm

của những hiện tượng hiển linh trong khí quyển và rất nhiều sự tích thần hiện, núi là biểu hiện của cái bản thể biểu hiện Núi là nơi trời và đất gặp nhau, là nơi ở của thánh thần, và là điểm cuối cùng của con đường đi lên của con người Việc leo lên núi được hình dung như là việc đi lên Trời, như là phương tiện để bước vào mối quan hệ với thần linh, trở về với khởi nguyên Các Hoàng đế Trung Hoa làm lễ tế trời trên đỉnh núi; Moise đón nhận các bản thập giới trên đỉnh núi Shinai; Thần Civa – Maheshvara thường xuyên hiện xuống trên đỉnh núi ba – phnom, Các vị tiên đạo giáo trên đỉnh núi bay về trời” [2,669]

Ngoài ra, hai tác giả của cuốn từ điển này còn cho rằng “Núi cũng thể hiện khái niệm về tính ổn định, bất di bất dịch và đôi khi cả về tính thanh khiết Theo người Sumériens, núi là khối nguyên sơ chưa phân hóa, là quả trứng thế giới, là nguồn sinh

ra vạn vật Trong hội họa cổ điển Trung Hoa, núi đối lập với nước như dương với âm, như trạng thái bất di bất dịch đối lập với trạng thái vô thường Trạng thái thứ nhất thường thể hiện bằng hòn núi đá.Trạng thái thứ hai bằng dòng thác Trong Kinh Thánh, núi còn gợi biểu tượng về sự an toàn” [2,701] Núi còn được coi là tượng trưng cho quyền thế và tham vọng của loài người.Người Ả rập cho rằng núi là tâm điểm của thế giới, là cái rốn của vũ trụ Một đỉnh núi vươn lên trời cao còn tượng trưng cho nơi

cư ngụ của thần mặt trời

Trong ca từ Trịnh Công Sơn, những ca khúc có chứa hình ảnh núi là 27/127

bài, chiếm tỉ lệ 21,2% Núi xuất hiện trong ca từ của Trịnh Công Sơn với những biến thể đồng nghĩa Hán Việt, chẳng hạn như: Non, nghĩa từ điển cũng là Núi, thường dùng trong phạm vi văn chương Lội suối trèo non Non xanh” [14,945]; xuất hiện ở dạng biến thể từ vựng gần nghĩa như Đồi, “dạng địa hình lồi, có sườn thoải, thường không cao quá 200m Ngọn đồi trọc, Đồi chè” [14,440]; và Đèo, “chỗ thấp và dễ vượt qua nhất trên đường giao thông đi qua các đỉnh núi Trèo đèo lội suối.Qua đèo” [13,401]

Biến thể đồng nghĩa “Non” thường được Trịnh Công Sơn thể hiện trong những ca

Trang 33

khúc Thân phận ca để làm tăng thêm sắc thái trang trọng, cổ điển cho lời ca của mình

Núi cũng tồn tại các biến thể từ vựng như: chân núi, chân đồi, đầu núi, đầu non, cuối đèo,… để cụ hóa các không gian tâm trạng; xuất hiện ở dạng biến thể kết hợp ngay trong mối quan hệ nội bộ của từ: núi non, đồi non, non ngà,… để nhấn mạnh vào tính vững chãi của núi Các biến thể kết hợp chủ yếu của Núi trên trục ngữ đoạn của lời ca rất tản mát: lên núi tìm, núi đầy mồ, lên núi nằm, núi đợi chờ, về bên kia núi, Các biến thể kết hợp chủ yếu của "núi" khi đi vào ngôn ngữ lời ca trên trục ngữ

đoạn rất tản mát: lên núi tìm, núi đầy mồ, lên núi nằm, núi đợi chờ, về bên kia núi,

nó chủ yếu diễn tả tâm trạng của nhạc sĩ khi nói về niềm đau thân phận trong cảnh chiến tranh loạn lạc, dự cảm về cái chết, hoặc mặc cảm của trái tim đau đớn vì yêu Núi từ ý nghĩa bản thể, từ những giá trị biểu trưng trong kí tích văn hoá, khi đi vào ca

từ Trịnh Công Sơn, nó đã được tái tạo lại, mang một ý nghĩa mới mẻ: biểu tượng cho

sự vững chãi, an toàn, là "Điểm hẹn trăm năm" của đời người Và với mỗi biến thể trên trục hệ hình và biến thể kết hợp trên trục ngữ đoạn của lời ca, biểu tượng "núi" lại mang một ý nghĩa biểu trưng riêng khi tương tác với các yếu tố ngôn ngữ trên trục tuyến tính của ngôn từ

Hình ảnh núi trước hết là nơi quy tụ một phần của đời người, điểm hẹn gặp của những kiếp người không may mắn:

Khi đất nước tôi thanh bình / Tôi sẽ đi thăm / Tôi sẽ đi thăm, nhiều nghĩa địa /

Đi xem mộ bia nhiều như nấm / Khi đất nước tôi không còn chiến tranh / Mẹ già lên núi tìm xương con mình

(Tôi sẽ đi thăm)

Chỉ trong vài ca từ mang hình ảnh “núi” đã gợi lên cho người đọc cả một trường liên tưởng gợi đến cảnh u ám, chết chóc, những từ ngữ cùng trường nghĩa miêu

tả cõi chết đồng loạt xuất hiện: nghĩa địa, mộ bia, xương đi kèm hư từ "nhiều" đã nhấn mạnh về số đông, mang tính đồng loạt Với Trịnh Công Sơn, cái đích của các cuộc kiếm tìm di hài là "lên núi" Núi là nơi hẹn gặp của con người khi tìm về với bản thể:

Trang 34

Một ngàn năm nô lệ giặc tàu / Một trăm năm nô lệ giặc tây / Hai mươi năm nội chiến từng ngày / Gia tài của mẹ một rừng xương / Gia tài của mẹ một núi đầy mồ

(Gia tài của mẹ)

Thứ hai, núi còn là một điểm hẹn Một điểm hẹn trăm năm, khi con người dù như một ngọn gió kia, đã thấy mệt mỏi với đôi cánh lang thang của mình:

Cuồng phong cánh mỏi / Về bên núi đợi / Ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay

(Chiếc lá thu phai)

Chợt như xác thân không còn / Tưởng mình như là cơn gió / Về chân núi thăm nấm mồ

(Lời thiên thu gọi)

Tôi như là người ngồi trong đêm dài / nhìn tôi đang quá ngậm ngùi / Một hôm buồn lên núi nằm xuống

Một chiều núi bỗng mang thân cánh đồng / thì cùng dòng nước khóc giùm

Trang 35

nhận thấy sự hư vô của chính mình qua "cơn gió", thấy thấp thoáng trước mắt tiếng gọi của một cõi "thiên thu":

Lòng tôi có khi mơ hồ / Tưởng mình đang là cơn gió / Về chân núi thăm nấm

mồ / Giữa đường trưa có tôi bơ phờ / Chợt tôi thấy thiên thu là một đường không bến

bờ

(Lời thiên thu gọi)

Từ ý nghĩa bản thể và những biểu trưng văn hóa chung của nhân loại, Núi đi

vào ca từ Trịnh Công Sơn đã được tái tạo lại, mang những nét nghĩa mới mẻ: biểu trưng cho sự vững chãi, an toàn, và đặc biệt đây là “Điểm hẹn trăm năm” của đời người – núi là nơi trở về Khi tương tác với các yếu tố ngôn ngữ trên trục tuyến tính

cũng với những biến thể trên trục hệ hình, biểu tượng Núi lại mang một ý nghĩa riêng

2.1.2 Sự tương tác giữa cặp đôi biểu tượng Sông – Núi

Sông và Núi đều là những biểu tượng gốc trong văn hóa nhân loại.Và văn hóa

phương Đông, trong đó có cả Việt Nam, hai biểu tượng này cũng có mối liên hệ, gắn

bó mật thiết Từ Hán Việt giang sơn là đại diện chỉ về đất nước, Tổ quốc Đã từ rất

lâu, hình ảnh cặp đôi “ sông – núi” đã ăn sâu trong tâm thức người Việt Từ huyền thoại xưa kia, trong lịch sử của dân tộc Việt Nam hình ảnh của mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân chẳng phải là hiện thân của hình ảnh sông – núi đó sao Đi cùng sự phát triển của lịch sử, hình ảnh sông và núi luôn luôn hiện diện trong mọi đời sống của con người Từ những ngọn núi cao hùng vĩ hay những con sông dài thẳng tắp trĩu nặng phù sa vốn đã in sâu trong mỗi con người, không chỉ trong cuộc sống mà ngay cả các lĩnh vực nghệ thuật như âm nhac, thơ ca, hội họa đều được nhắc tới rất nhiều

Với âm nhạc của Trịnh Công Sơn cũng vậy, hình ảnh về cặp đôi sông – núi được ông sử dụng khá nhiều trong các tác phẩm và nó trở thành một cặp tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn

Trong ca từ Trịnh Công Sơn, hai biểu tượng Sông - Núi xuất hiện với tần số

cao, và sự tương tác giữa chúng thể hiện trên ba chiều quan hệ: quan hệ tương sinh, quan hệ đối xứng và qua hệ đồng quy Đây chính là một trong những cặp đôi tương tác mang lại nhiều giá trị nhất trong ca từ của Trịnh Công Sơn

Trang 36

2.1.2.1 Quan hệ đối xứng

Cùng một xuất phát điểm, biểu tượng Sông và Núi trong văn hóa nhân loại đi

vào ca từ Trịnh Công Sơn bị đẩy về hai thái cực, chúng không ngừng soi chiếu vào nhau, đối xứng tựa như hình và bóng Đây là kiểu tương tác có giá trị sản sinh ý nghĩa liên hội mới mẻ, độc đáo nhất trong ca từ của Trịnh, đồng thời tạo ra ý vị quấn quyện, xuyên thấu, đượm chất triết lí trong ca khúc của ông

Đời người là một cơ số của những “hội ngộ rồi chia li”, sống và gặp gỡ rồi yêu mến nhau là những “tin vui” diệu kì, để có lúc chúng ta cảm thấy mình không đơn độc Thế nhưng, cuộc sống cũng mang trong mình tính nhị nguyên, “trong gặp gỡ đã thấy mầm li biệt”, có hẹn mà không gặp, có gặp cũng không thành, những cuộc tình lỡ làng, mà ở đây không chỉ là tình yêu lứa đôi Điều còn lại không gì hơn vết thương lòng cần xoa dịu “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người” Con người luôn muốn gần gũi thiên nhiên cả trong tâm trạng đớn đau hay hạnh phúc, thiên nhiên với

sự vĩ mô của nó mới đủ sức thấu hiểu tâm lí con người Nhất là trong những lúc bi quan tuyệt vọng đến cùng cực, chính thiên nhiên là nguồn an ủi lớn lao, sâu sắc nhất cho con người Với đặc tính chuyển dời của sông và sự vững bền của núi trong văn hóa nhân loại, khi đi vào trong ca khúc Trịnh Công Sơn, Sông và Núi trong quá trình tương tác đã hình thành những ý nghĩa biểu trưng mới

Sông với khả năng đóng khép và lưu giữ, là nơi ngưng đọng những nét đẹp tinh

tế của tâm hồn con người Trong giây phút “tìm tình” thuở ban đầu, lúc tình còn nguyên sơ và tinh khôi như giấy mới, thì tình yêu thánh thiện ấy cũng để lại những

dấu ấn bên dòng sông: “Tìm em tôi tìm / Nhủ lòng tôi ơi / Tìm đêm chưa từng / Tìm ngày tinh khôi / Tìm chim trong đàn / Ngậm hạt sương mai / Tìm lại bên sông / Những

dấu hài” (Đóa hoa vô thường)

Dòng chảy vốn mang trong mình tính chất động, luôn luôn biến thiên, lưu chuyển, chảy trôi và bôi xóa Sông là nơi chứng kiến sự vô thường của cuộc đời và sự

phai phôi của lòng người Sông là biểu hiện cho sự chảy trôi của thời gian: “làm con

Trang 37

sông cho tháng ngày trôi”; sự phai tàn của tuổi xuân và nhan sắc: “Mười năm chân

bước trên đường dài / Tóc người dòng sông ấy đã phai” (Có một dòng sông đã qua

đời) Hay: “Dòng sông trước kia tôi về bỗng giờ đây đã khô không ngờ” (Lời thiên thu gọi)

Có lúc, sông trở thành biểu tượng cho dòng đời vô định: “Những sông trôi âm thầm / Trong đám rong rêu xếp hàng / Những mặt đường lặng câm / Những mặt người buồn tênh / Sóng đưa linh hồn / Có mưa quanh chỗ nằm / Mãi một đời về không /

Giữa trập trùng thác nguồn” (Một ngày như mọi ngày)

Thế nhưng, dòng sông trong nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn chủ yếu biểu tượng cho những cuộc tình sớm đổi thay và nhanh chóng ra đi Trịnh từng ví cuộc tình mười

năm xưa của mình là “dòng sông hoa muối bay rì rào” và lòng người “tựa như khăn mới thêu” Sông trong nhạc Trịnh có lúc là người tình cất bước ra đi: “Từng người

tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ” (Tình xa)

Mỗi một người tình đi qua là một kí ức như những sông nhỏ sống động.Mỗi một cuộc tình đều đẹp như một bức họa thiên nhiên, nơi có dòng sông nhuốm men diễm tình Với Trịnh, tình yêu – dù có mang dáng vẻ của sự phụ rẫy thì đó vẫn là một tình yêu đẹp – một vẻ đẹp vô thường kiểu bi cảm aware của mĩ học Nhật Bản Tình yêu muôn đời như dòng sông, lúc dạt dào khi cạn khô, nó luôn thu dọn và cất vào lòng mình những đắng ngọt của lứa đôi, để con người dẫu đớn đau vẫn không quên đi tình

yêu Trịnh đã gọi em – người tình đi về trên dòng sông kỉ niệm, đây là cách người nghệ sĩ bất tử hóa tình yêu: “Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay / Nắng qua mắt buồn lòng hoa bướm say / Lối em đi về trời không có mây / Gọi em cho nắng chết

trên sông dài” (Hạ trắng)

Sông còn ẩn dụ cho người tình ở lại đơn côi, lẻ bóng vì một người đã ra đi:

“Người ra đi bến sông nằm lạnh / Này nhân gian có nghe đời nghiêng” (Có nghe đời nghiêng)

Một trái tim yêu chân thành, đắm đuối tất nhiên khó thoát khỏi “bi ai” khi chứng kiến sự đổi thay của lòng người Với Trịnh Công Sơn, ông đã vứt bỏ khỏi lòng mình những nỗi ưu tư, phiền muộn, ham muốn, tị hiềm, hờn giận và oán thán, như lời

Trang 38

ca thanh thản của ông: “Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du / …Trăng muôn đời

thiếu nợ mà sông không nhớ ra” (Biết đâu nguồn cội)

Hình ảnh dòng sông và trăng thật sinh động Dòng sông chính là tôi và con trăng kia là em Em là người tình lãng du còn tôi là kẻ si tình chờ đợi Con sông là tôi bao dung, thứ tha cho dù em “muôn đời thiếu nợ”, đó cũng chính là lẽ sống và tình yêu Cũng chính những ca từ như thế đã khiến cho người nghe nhạc Trịnh cảm nhận được sự độ lượng, vị tha ở con người này Có lẽ Trịnh đã thấm nhuần tư tưởng của Phật giáo, trong cuộc đời “Sắc sắc không không” này thì “Lễ vật lớn nhất của con người là lòng bao dung” Trịnh đã chọn cách thứ tha khi đối mặt với những nỗi bất hạnh đớn đau và cả nỗi tuyệt vọng: “Có những ngày tuyệt vọng cùng cực tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau… Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đời suối, đời người cũng để sống và hãy thả trôi những tị hiềm” Đó là sự thanh thản của con người trước những ganh đua được mất, sự thanh thản khi nhận ra cuộc đời mong manh, biết mỉm cười trước cõi tạm Có thể nói sông là một ám ảnh lớn đối với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, là nơi ông gửi gắm những trăn trở, những suy tư đau đáu về cuộc đời

Trong hệ biểu tượng của thế giới, với đặc tính vững chãi, bất biến, núi tham gia vào cái siêu tại, siêu phàm Trong nhiều ca khúc của Trịnh, Sông là nơi gặp gỡ thuở ban sơ của những mối tình, là nơi ra đi, thì Núi là nơi qui tụ một phần đời của nhân loại, là điểm hẹn cuối cùng của con người và là chốn trở về

Sông bao lần chứng kiến sự dối gian, phụ rẫy và tiếng bước chân quay đi của những người tình Như một quy luật tất yếu của cuộc sống, và của cả tình yêu, con người trong những cuộc tình không trọn vẹn luôn khao khát trở về bên nhau dù trong khoảnh khắc Núi với bản thể là “Tâm”, khi đi vào ca từ Trịnh Côn Sơn, núi trở thành

nơi hội ngộ của những cuộc tình rạn vỡ: “Tình yêu như cơn bão đi qua địa cầu / Tình

thắp cơn sầu / Tình dìu qua hố sâu / Tình vời lên núi cao” (Tình sầu) Tình yêu được

Trịnh Công Sơn ví như “nỗi chết cơn đau thật dài” Khi tình yêu gian dối chỉ đem đến cho nhau những muộn phiền, hẹn gặp tình trên núi cao – đó có thể là nơi xóa đi những buồn đau tê tái

Với Trịnh Công Sơn, Núi có khi là điểm hẹn của tình yêu, là nơi người kiếm

tìm hạnh phúc dẫu có vô thường: “Tìm tình trên núi / Em gặp mây bay / Tìm tình giữa

Trang 39

chợ / Tình phai mất rồi” (Bống không là bống) Vui và buồn, hội ngộ và chia li luôn

song hành với nhau Tình yêu là khái niệm con người cố công tìm kiếm, hạnh phúc là điều hiện hữu rồi tan biến, nhạt phai Đó chính là tính nhị nguyên của cuộc đời

Với ý nghĩa cố định, vững chãi, không thay đổi, Núi là biểu hiện của sự chờ đợi người ra đi sẽ quay trở về Tương đồng với nét nghĩa này, Núi là điểm hẹn của những

người tình: “Ngày mai em đi / Đồi núi nghiêng nghiêng chờ đợi / Sỏi đá trông em từng

giờ / Nghe buồn nhịp chân bơ vơ” (Biển nhớ)

Núi cũng là điểm hẹn cuối cùng, cái đích mà con người trở về sau một chuyến

đi dài đầy mệt mỏi, về để hội ngộ và để được thứ tha: “Từng lời tà dương là lời mộ địa / Từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe / Trong khi ta về lại nhớ ta đi / Đi lên non cao đi về biển rộng / Đôi tay nhân gian chưa tưng độ lượng / Ngọn gió hoang vu

thổi buốt xuân thì” (Một cõi đi về)

Để ám chỉ miền viên miễn xa xăm – nơi con người có giấc ngủ ngàn thu ấy, Trịnh không còn cách nào hơn việc dùng những từ Hán Việt có độ vang và độ nhòe về nghĩa để có thể diễn tả một cách thật sự nghiêm túc và trang trọng cái “Cõi đi về”, như một định mệnh khe khắt phủ lên đầu của con người Bởi một lẽ là không ai từ tận cùng cõi chết trở lại dương gian mà có thể nói một cách xác thực, đầy đủ về nó Trong

ca khúc này có sự xuất hiện dày đặc những từ Hán Việt vừa nói đến cõi chết, vừa ám

chỉ cõi chết: tà dương, mộ địa, nhân gian, độ lượng, hoang vu, xuân thì,… Các cặp tiểu đối: ta về / ta đi ; đi lên / đi về ; non cao / biển rộng… đã cho thấy “sự rời xa

nhân gian của con người là một cuộc hành trình bất đắc dĩ bởi kiếp người được sinh

ra là từ ngẫu nhiên” [5,57] Heidegger gọi thân phận làm người là một sự “ruồng bỏ”, còn Marcel xem con người như một lữ hành đã hình thành trên quãng đường phải đi,

và cái đích của lữ hành không ở đâu khác, chính là nơi “non cao” - cõi chết

Biến thể “chân núi” trong ca từ Trịnh Công Sơn có quan hệ tương tác với “nấm mồ”, “thiên thu”,… thì Núi còn là điểm hẹn tâm linh Ta bắt gặp Trịnh với một dáng

vẻ siêu thoát mang ý vị của Thiền Một trạng thái “mơ hồ” đầy triết học, hồ nghi chính

sự hiện hữu của mình Con người cảm thấy sự hư vô của mình qua những “cơn gió”

và thấy thấp thoáng trước mắt là tiếng gọi của một cõi “thiên thu” trong khi bản thân

đang tồn tại bằng xương bằng thịt: “Lòng tôi có khi mơ hồ / Tưởng mình đang là cơn

Trang 40

gió / Về chân núi thăm nấm mồ / Giữa đường trưa có tôi bơ phờ / Chợt tôi thấy thiên

thu là một đường không bến bờ” (Lời thiên thu gọi)

Trong ca khúc của Trịnh Công Sơn hay xuất hiện những sự vật, hiện tượng gắn

với từ “cuối”: cuối trời, cuối đèo, cuối đường, cuối dòng sông, cuối cuộc tình,… Từ

“cuối” đi với các kết hợp từ trong văn chương trở thành một tín hiệu thẩm mĩ đặc biệt

“Cuối” như một điểm dừng, kết thúc cả về mặt không gian lẫn thời gian Ở ca khúc

Như chim ưu phiền, nhạc sĩ rất tinh tế khi đã sử dụng hình ảnh so sánh “tôi” như

“chim” để làm nổi bật sự lênh đênh, bé nhỏ, vô định - nét tương đồng giữa cánh chim

và đời người Cùng với những sự kết hợp khác trên trục ngữ đoạn với các tính từ chỉ

tâm trạng “ưu phiền”, “buồn”, “quạnh hiu”, “u sầu”,… đã làm chuyển biến ý nghĩa

của biểu tượng: Núi trở thành nơi tìm về tìm an nhiên của những số phận thiếu hạnh

phúc trần gian: “Tôi như chim ưu phiền / Bay về cuối dòng sông / Con sông mang tin buồn / Nằm chờ những đóa hồng / Tôi như con chim chiều / Mang đầy nắng quạnh

hiu / Trên đôi vai u sầu / Tìm về nơi cuối đèo” (Như chim ưu phiền)

Trong biểu tượng văn hóa thế giới, đối lập với ý nghĩa vô thường của sông, núi với ý nghĩa biểu trưng cho những gì bền vững, bất di bất dịch Trong ca từ Trịnh Công Sơn, núi còn là điểm hẹn trăm năm cho một cuộc vuông tròn Khi con người mỏi cánh

trong cuộc sinh tồn thì tìm về bên kia núi: “Nằm nghe giữa trời / Dòn vang tiếng cười

/ Điệu kèn ai buốt trong tôi / Cuồng phong cánh mỏi / Về bên núi đợi…” (Chiếc lá thu

phai)

Cái chết không được hoan nghênh nhưng vẫn được Trịnh đợi chờ, với Trịnh cái chết dường như đã đến từ kiếp trước và con người này đã chuẩn bị tâm lí cho sự kiện tất yếu đó Triết học hiện sinh phương Tây cho rằng cái chết giống như sự cố trong cuộc đời bi thảm của con người “Cái chết cũng gắn bó với nhân vị, có ý nghĩa là nếu cuộc sống của riêng tôi, không ai có thể chết thay tôi nên cái chết cũng mang tính đặc hữu của riêng tôi” [3] Nhà triết học hiện sinh người Pháp cho rằng: “Tôi chỉ hiện sinh khi tôi không còn hiện sinh nữa” [3] Triết lí dân gian cũng là “sống gửi thác về”, nhân gian chỉ là “cõi tạm” Phật giáo cũng cho rằng cuộc đời con người chỉ là kiếp phù sinh Về cõi Niết Bàn là về với cái vĩnh hằng, bất diệt Còn trong ca từ của Trịnh

Công Sơn, về với núi, về với đất mẹ mới là về cõi thiên thu: “Trên đời người trổ

Ngày đăng: 20/09/2017, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Viết Á, Âm nhạc Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, tập I, Nhà xuất bản Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
2. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
3. Nguyễn Tiến Dũng, Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
4. S.Freud, C.Jung, E.Frommm, Phân tâm học và văn hóa tâm linh, Đỗ Lai Thúy (biên soạn), Nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn hóa tâm linh
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa thông tin
5. Bích Hạnh, Trịnh Công Sơn, hạt bụi trong cõi thiên thu, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn, hạt bụi trong cõi thiên thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
6. Nguyễn Thị Ngân Hoa, Sựphát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục dân tộc trong thơ ca Việt Nam, Luận án Tiến sĩ ngữ văn – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sựphát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục dân tộc trong thơ ca Việt Nam
7. Nguyễn Hữu Thái Hòa, Vườn xưa – hành trình âm nhạc Trịnh Công Sơn, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vườn xưa – hành trình âm nhạc Trịnh Công Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
8. Nguyễn Thị Thanh Huyền, Ẩn dụ tri nhận – mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận – mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn
9. Nguyễn Thị Hồng Lam, Biểu trưng văn hóa trong Thơ Mới qua một số hình tượng tiêu biểu, Khóa luận tốt nghiệp, Đại hịc Sư phạm Huế, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu trưng văn hóa trong Thơ Mới qua một số hình tượng tiêu biểu
10. Phạm Thị Tuyết Minh, Hình ảnh con đường trong thơ tản Đà, Báo cáo khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh con đường trong thơ tản Đà
11. Lê Si Na, Sự biểu đạt không – thời gian trong ca từ Trịnh Công Sơn, Báo cáo khoa học, Đại học Sư phạm Huế, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biểu đạt không – thời gian trong ca từ Trịnh Công Sơn
12. Nhiều tác giả, Người hát rong qua nhiều thế hệ, Nhà xuất bản Trẻ, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người hát rong qua nhiều thế hệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
13. Nhiều tác giả, Trịnh Công Sơn – người hát rong qua nhiều thế hệ, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn – người hát rong qua nhiều thế hệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
14. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
15. Bùi Vĩnh Phúc, Trịnh Công Sơn – ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn – ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn
16. Diêu Vĩ Quân (chủ biên), Bí ẩn của chiêm mộng và vu thuật, Dịch giả: Lí Khắc Cung, Hiệu đính: Nguyễn Thị Ngọc San, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí ẩn của chiêm mộng và vu thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
17. Nguyễn Quang Sáng, Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Tác phẩm mới
18. Nguyễn Thị Hồng Sanh, Biện pháp so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn
19. Trịnh Công Sơn, Những bài ca không năm tháng, Nhà xuất bản Âm nhạc, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài ca không năm tháng
Nhà XB: Nhà xuất bản Âm nhạc
29. Thiện Phúc – http://www.phatgiao.com/dict/tp-ve/va18v3.htm 30. http://www.aber.ac.uk Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w