Một trong những thách thức lớn đối với bảo tồn ĐDSH là sức ép của cộng đồng địa phương thông qua các hoạt động kinh tế - dân sinh liên quan tới quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
HỒ VĂN CỬ
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA YOK DON
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
HỒ VĂN CỬ
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA YOK DON
Chuyên ngành: Kỹ thuật Lâm sinh
Mã số: 62.62.60.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Phạm Bình Quyền
Hà Tây, 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án này là trung thực; chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ luận án nào; không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công
bố Các thông tin trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc; các hình không ghi nguồn trích dẫn là của tác giả
Hồ Văn Cử
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quí thầy giáo ở Đại học Lâm nghiệp, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Tây nguyên, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật - Viện Khoa học Tự nhiên
và Công nghệ Quốc gia và các chuyên gia
Trước tiên, tôi xin được thành kính tri ân cố PGS.T.S Phạm Nhật - Đại học Lâm nghiệp đã hướng dẫn cho tôi từ những ngày đầu nghiên cứu về khu hệ thú Tiếp sau, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Phạm Bình Quyền - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiếp tục hướng dẫn tôi hoàn thành luận án
Nhân dịp này, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới T.S Nguyễn Cử - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra xây dựng danh lục chim, T.S Đặng Ngọc Cần - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, GS.TS Lê Vũ Khôi - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng danh lục thú; PGS.TS Bảo Huy - Đại học Tây Nguyên; TS Andrew Grieser Johns - FRR; TS Barney Long - WWF,…đã đóng góp những ý tưởng khoa học quí báu về quản lý bảo tồn Đa dạng sinh học
Xin bày tỏ lòng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, đặc biệt là Bộ môn Quản lý Động vật rừng, Khoa Đào tạo sau đại học của trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong học tập và hoàn thành luận án Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Vườn quốc gia Yok Don, phòng Khoa học Kỹ thuật, Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Don, Hạt kiểm lâm huyện Buôn Đôn, Ủy ban nhân dân huyện Buôn Đôn, Ủy ban nhân dân xã Krông Na, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đăk Lăk đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu phục vụ xây dựng luận án
Cảm ơn sự tài trợ về tài chính của Dự án PARC và Quỹ rừng nhiệt đới (TFT) cho nghiên cứu này Xin được cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ và khuyến khích động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận án Tôi xin được gửi lời cảm ơn những người thân trong gia đình đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi cả về tinh thần và vật chất để tôi yên tâm hoàn thành luận án
Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Tây, tháng 4 năm 2008
Trang 51.3.2 Nghiên cứu nguyên nhân suy giảm Đa dạng sinh học 26
1.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại khu
2.2.1 Đánh giá tính Đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Yok Don 41
2.2.2 Đánh giá hiện trạng về các giải pháp bảo tồn Đa dạng sinh
2.2.3 Đề xuất các giải pháp bảo tồn Đa dạng sinh học cho Vườn
46
Trang 6Mục Tiêu đề Trang
2.3.7 Đánh giá hiện trạng về các giải pháp bảo tồn đã được áp dụng
và đề xuất giải pháp dựa trên nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái
49
3.1.4 Các khu vực quan trọng đối với bảo tồn thú và chim 94
3.1.5 Tầm quan trọng của Vườn quốc gia Yok Don trong công tác
bảo tồn Đa dạng sinh học của Việt Nam và trong khu vực
96
3.2 Hiện trạng quản lý bảo tồn Đa dạng sinh học tại Vườn quốc
gia Yok Don
97
3.2.11 Ảnh hưởng của các chương trình, chính sách của Nhà nước
đến quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Yok Don
117
3.2.13 Những thách thức và đe dọa đối với công tác quản lý bảo tồn
Vườn quốc gia Yok Don
131
3.3 Giải pháp bảo tồn Đa dạng sinh học cho Vườn quốc gia
Trang 73.1 Phân bố diện tích theo 4 cấp độ cao của Vườn quốc gia Yok Don 523.2 Các hệ sinh thái của Vườn quốc gia Yok Don 543.3 Danh sách các loài thú quí hiếm tại Vườn quốc gia Yok Don 623.4 Danh sách các loài chim quí hiếm tại Vườn quốc gia Yok Don 823.5 Tổng hợp nguồn nhân lực của Vườn quốc gia Yok Don, 2005 1033.6 Ngân sách Nhà nước đầu tư cho Vườn quốc gia Yok Don trong giai
đoạn từ năm 1993 đến năm 2004
104
3.7 Khoán quản lý bảo vệ rừng của Vườn quốc gia Yok Don, năm 2005 1123.8 Tình hình khai thác gỗ của các lâm trường trong khu vực 1193.9 Diện tích đất canh tác bình quân / hộ theo nhóm kinh tế hộ 1243.10 Tình hình chăn nuôi tại buôn Drang Phok, năm 2004 1253.11 Tổng hợp các nguồn thu nhập của hộ gia đình tại buôn Drang Phok,
3.15 Phân tích các nguồn thu nhập từ củi và các loại lâm sản ngoài gỗ khác
theo nhóm kinh tế hộ gia đình
132
3.16 Mối liên hệ giữa thành phần kinh tế hộ gia đình với mức độ săn bắt
động vật hoang dã ở buôn Drang Phok
133
3.17 Mối liên hệ giữa thành phần dân tộc với mức độ săn bắt săn bắt động
3.18 Hiện trạng đất nông nghiệp của buôn Drang Phok, năm 2004 1363.19 Ma trận lựa chọn đánh giá các hoạt động và biện pháp can thiệp trong
quản lý vùng đệm
1433.20 Đề xuất qui hoạch lại ranh giới các phân khu chức năng của Vườn 144
Trang 8DANH SÁCH CÁC HÌNH
1.1 Diện tích rừng đặc dụng ở Việt Nam từ năm 1962 đến năm 2004 161.2 Vị trí khu vực nghiên cứu 302.1 Sơ đồ các tuyến điều tra ngoại nghiệp và vị trí đặt bẫy ảnh 442.2 Lập sa bàn có sự tham gia tại buôn Drang Phok 463.1 Phân bố diện tích theo 4 cấp độ cao của Vườn quốc gia Yok Don 533.2 Bản đồ phân bố các hệ sinh thái rừng của Vườn quốc gia Yok Don 593.3 Bản đồ các điểm ghi nhận thú tại Vườn quốc gia Yok Don 653.4 Bản đồ phân bố của một số loài thú quan trọng 663.5 Cu li nhỏ - Nycticebus pygmaeus Bonhote, 1907 673.6 Chà vá chân đen - Pygathrix nigripes (Milne-Edward, 1871) 69
3.7 Voọc bạc - Trachypithecus germaini (Milne-Edwards,1876) 70
3.9 Cầy giông sọc - Viverra megaspila Blyth, 1862 73
3.11 Bò rừng - Bos javanicus d'Alton, 1823 803.12 Bản đồ phân bố các loài chim quí hiếm tại Vườn quốc gia Yok Don 85
3.13 Sếu đầu đỏ - Grus antigone (Linnaeus, 1758) 883.14 Chân bơi - Heliopais personata (Gray, 1849) 89
3.15 Hạc cổ trắng - Ciconia episcopus (Boddaert, 1783) 923.16 Già đẫy nhỏ - Leptoptilos javanicus (Horsfield, 1821) 93
3.17 Chìa vôi Mê Kông - Motacilla samveasnae 94
3.18 Hệ thống báo cáo tuần tra bảo vệ rừng 101
3.20 Vùng đệm của Vườn quốc gia Yok Don, năm 1991 1073.21 Vùng đệm của Vườn quốc gia Yok Don, năm 2002 1083.22 Khoán quản lý bảo vệ rừng của Vườn quốc gia Yok Don, năm 2005 111
3.24 Cải tạo hồ tự nhiên thành hồ chứa nước 1163.25 Vị trí buôn Drang Phok trong Vườn quốc gia Yok Don 1213.26 Tình hình buôn bán và vận chuyển động vật hoang dã tại buôn Drang
Phok, năm 2004
127
3.27 Mối liên hệ giữa thành phần kinh tế hộ gia đình với mức độ săn bắt
3.28 Mối liên hệ giữa thành phần dân tộc với mức độ săn bắt động vật
3.29 Hiện trạng đất canh tác của buôn Drang Phok, năm 2004 1363.30 Bản đồ hiện trạng qui hoạch Vườn quốc gia Yok Don 1453.31 Bản đồ đề xuất thay đổi ranh giới các phân khu chức năng của Vườn
quốc gia Yok Don
146
Trang 9CÁC TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN
BTTN : Bảo tồn thiên nhiên
CBD : Công ước Đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity)
CI : Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (Conservation International)
CIFOR : Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (Center for International
Forestry Research) CITES : Công ước Quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy
cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora)
Programme) GIS : Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)
GPS : Thiết bị định vị toàn cầu (Global Positionning System)
HST : Hệ sinh thái
ICRAF : Trung tâm Nghiên cứu Nông lâm kết hợp Quốc tế (International
Centre for Research in Agroforestry) ICBP : Hội đồng Bảo tồn Chim Quốc tế (International Council for Bird
Preservation) ICDA : Phương thức Kết hợp Bảo tồn và Phát triển (Integrated Conservation
Development Approach) ICDP : Dự án Bảo tồn và Phát triển (Integrated Conservation Development
Projects) IUCN : Hiệp hội Bảo tồn Quốc tế (The World Conservation Union)
KBT : Khu bảo tồn
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
NGO : Tổ chức phi chính phủ (Non Government Organization)
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nxb : Nhà xuất bản
PRA : Đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal)
Trang 10ĐVHD : Động vật hoang dã
TFT : Quĩ rừng nhiệt đới (The Tropical Forest Trust)
TN -
KTXH : Tự nhiên và Kinh tế-xã hội
TNC : The Nature Conservancy
UNEP : Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc (United Nations
Environmental Programme) UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (United
Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) VQG : Vườn quốc gia
WB : Ngân hàng thế giới (World Bank)
WCMC : Trung tâm Giám sát Bảo tồn Thế giới thuộc UNEP (The UNEP World
Conservation Monitoring Centre) WCPA : Ủy ban Quốc tế về các Khu bảo vệ của IUCN (World Commission on
Protected Areas of IUCN) WCS : Hiệp hội Bảo tồn Đời sống Hoang dã (Wildlife Conservation Society) WRI : Viện Tài nguyên Thế giới (World Resources Institute)
WWF : Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for Nature)
Trang 110 ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang đứng trước tình trạng khủng hoảng về môi trường trên phạm vi toàn cầu [65]; ước tính có khoảng 150 loài sinh vật bị mất đi mỗi ngày do ảnh hưởng của các hoạt động của con người [93]; tình trạng này đang
có chiều hướng gia tăng [68] và các hoạt động của con người ngày càng trở thành mối đe dọa đến khả năng cung cấp của HST [100]
Sự tồn tại của con người phụ thuộc hoàn toàn vào tài nguyên ĐDSH và các chức năng tự nhiên của HST [112], do đó việc bảo tồn ĐDSH và duy trì các chức năng tự nhiên của HST là thực sự cần thiết
Tuy nhiên, các nguồn lực đầu tư cho công tác này hiện còn hạn chế [61], vì vậy việc tiến hành các nghiên cứu để xác định những ưu tiên cho công tác bảo tồn là thực sự cần thiết, nhằm góp phần phân bổ các nguồn lực đầu tư cho công tác này được hiệu quả và hợp lý nhất
Công tác bảo tồn ĐDSH và tìm kiếm các giải pháp thích hợp để áp dụng trong bảo tồn ĐDSH cũng là mối quan tâm đặc biệt của cộng đồng thế giới Điều này được thể hiện thông qua sự đồng tình của các quốc gia tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro (Bra-xin, 1992) và sau đó là Hội nghị Thượng đỉnh tại Johannesburg (Nam Phi, 2002, http: //www.earthsummit2002.org) [50]
Một trong những thách thức lớn đối với bảo tồn ĐDSH là sức ép của cộng đồng địa phương thông qua các hoạt động kinh tế - dân sinh liên quan tới quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Vì vậy, để duy trì sự tồn tại và phát triển của các VQG, KBT cần phải
có các giải pháp bảo tồn phù hợp có sự hỗ trợ và cộng tác tích cực của cộng đồng địa phương
Trang 12VQG Yok Don được xem là nơi có giá trị cao về ĐDSH không chỉ của Việt Nam mà còn cho thế giới với sự tồn tại của HST rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới (rừng Khộp) và nhiều loài động vật, thực vật quí hiếm đang
có nguy cơ bị tiêu diệt [11]
Sau hơn 10 năm thành lập, các giá trị ĐDSH ở đây vẫn đang đối mặt với các mối đe dọa như: săn bắt động vật rừng, xâm lấn canh tác nông nghiệp, lửa rừng [14]
Nhằm góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên ĐDSH của VQG Yok Don,
bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam nói chung và điều kiện đặc thù của VQG Yok Don nói riêng, chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Yok Don”
Về thực tiễn
• Cập nhật danh lục thú và chim tại VQG Yok Don,
• Phản ánh thực trạng quản lý bảo tồn ĐDSH của VQG Yok Don,
• Đề xuất các giải pháp tổng hợp trong quản lý, bảo tồn ĐDSH theo phương thức tiếp cận QLHST
Trang 133 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu khu hệ thú, khu hệ chim và các ảnh hưởng của cộng đồng địa phương đến quá trình quản lý, bảo tồn ĐDSH tại VQG Yok Don từ năm 1990 đến 2005
4 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 152 trang: gồm 31 bảng, 35 hình, 124 tài liệu tham khảo
và 9 phụ lục; được cấu trúc thành 4 phần chính như sau:
• Đặt vấn đề
• Chương 1: Tổng quan
• Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
• Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
• Kết luận - Khuyến nghị
Trang 14
Chương 1
1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Đa dạng sinh học
Có nhiều định nghĩa về Đa dạng sinh học, WWF (1989) đề xuất: “Đa dạng sinh học là sự phồn vinh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [46] Theo đó, ĐDSH được định nghĩa là sự đa dạng giữa các sinh vật từ tất cả các nguồn, vùng trời, vùng đất, vùng biển, các hệ sinh thái thủy vực nội địa và các phức hệ sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng trong mỗi loài, giữa các loài và các hệ sinh thái (IUCN, 1994) [8] Đây là định nghĩa về ĐDSH được nhiều quốc gia chính thức chấp nhận và được sử dụng trong Công ước ĐDSH
Cuối thế kỷ XX, khái niệm ĐDSH còn đề cập đến mối quan hệ tương
hỗ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội, gắn yếu tố con người (human)
với ĐDSH [124] Trong một định nghĩa về ĐDSH của WRI (2005) cho rằng
“…loài người phụ thuộc hoàn toàn vào quần xã sinh vật - sinh quyển,…ĐDSH là một giới hạn bao trùm sự giàu có về sinh vật tự nhiên, điều
đó củng cố cho sức khỏe và sự sống của con người…” [123]
Điều này cho thấy: ĐDSH bao gồm sự phong phú của thế giới sinh vật; thể hiện bằng tất cả các dạng, các mức độ và sự tổ hợp của chúng trong mối tương hỗ với môi trường tự nhiên và xã hội ĐDSH không chỉ đơn thuần là tổng số của các HST, các loài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau, với thế giới vô sinh và với con người và biến động của ĐDSH phụ thuộc vào các mối tương tác này [8,35,49,69] Mặc khác, sự phát triển của các hệ thống xã hội là không
Trang 15đồng đều và có những đặc thù riêng; do đó mức độ tác động đến ĐDSH ở mỗi nơi là khác nhau [72].
Cơ sở khoa học của bảo tồn ĐDSH là Sinh học Bảo tồn (Conservation Biology) Theo Soule (1985) [46], sinh học bảo tồn là một khoa học đa ngành
được xây dựng nhằm hạn chế các mối đe dọa đối với ĐDSH với hai mục tiêu:
• tìm hiểu những tác động tiêu cực do con người gây ra đối với nguồn gen các loài, các HST;
• xây dựng các phương thức tiếp cận để hạn chế sự mất đi của các loài
Theo Temple [46], sinh học bảo tồn là tổng hợp của nhiều môn khoa học kinh điển, nhằm cung cấp các nguyên tắc và phương thức tiếp cận cho các ứng dụng thực tiễn quản lý các nguồn tài nguyên Kinh nghiệm thu được từ thực tế được vận dụng để định hướng cho các môn khoa học kinh điển có liên quan Quan điểm của Temple còn cho thấy, nghiên cứu về quản lý bảo tồn ĐDSH đòi hỏi phải tiếp cận đa ngành bao gồm cả 2 lĩnh vực tự nhiên và xã hội mới có thể giải quyết một cách đầy đủ và có hệ thống về bảo tồn ĐDSH
1.1.2 Hệ sinh thái
Hệ sinh thái (Ecosystem) là một trong những thành phần tạo nên sinh
quyển - đó là một tổng thể hoàn chỉnh của các HST trên trái đất HST còn bao gồm các sinh cảnh - là nơi các loài động vật và thực vật cư trú, là một hệ thống chức năng bao gồm các thành phần vô cơ và hữu cơ
Trong số các đặc tính của HST, thì đặc tính ”thay đổi” được các nhà
quản lý đặc biệt quan tâm Vì HST luôn luôn biến động, nên việc nhận thức được về sự thay đổi có tính tất yếu là rất quan trọng đối với những người làm công tác quản lý HST Hai đặc tính quan trọng khác của HST là tính phục hồi
(restoration) và ĐDSH
Trang 16Khái niệm về ĐDSH còn được nhìn nhận ở ba mức độ: đa dạng HST,
đa dạng loài và đa dạng gen [45,46] Trong phương thức tiếp cận QLHST, ĐDSH có vai trò quan trọng vì:
• Tổng thể của một HST càng đa dạng trên một diện tích lớn, thì HST
đó càng có nhiều khả năng để tồn tại dưới áp lực xáo trộn đáng kể;
• Số loài đại diện trong một HST nào đó càng lớn, thì khả năng tồn tại của HST càng lớn
• Mức độ đa dạng loài càng lớn thì càng có nhiều cơ hội để cho quần
xã đó thích nghi với môi trường thay đổi trong quá trình diễn thế
• Một HST có mức ĐDSH cao thường có tính phục hồi cao hơn so với HST có mức ĐDSH thấp
• Là một thành phần của thế giới tự nhiên, con người luôn tác động hoặc biến đổi HST bằng nhiều cách khác nhau để tận dụng những sản phẩm và lợi ích mà HST mang lại [109]
1.1.3 Quản lý hệ sinh thái
Khái niệm Quản lý hệ sinh thái (Ecosystem management) được đề cập
trong Công ước ĐDSH gồm 12 nguyên tắc [55] Các nguyên tắc này được sử dụng nhằm xây dựng một chiến lược bảo tồn phối hợp các nguồn tài nguyên
và khuyến khích việc bảo tồn với sử dụng bền vững [109]
Mục tiêu của QLHST là tìm ra được cách để tổ chức việc sử dụng HST của con người, nhằm đạt được sự hài hoà giữa lợi ích thu được từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của các thành phần và quá trình của HST mà vẫn duy trì được khả năng của HST để cung cấp được những lợi ích đó ở mức
độ bền vững Nói cách khác, mục tiêu của QLHST là sử dụng mà không làm mất HST
Mục đích của QLHST là đảm bảo sản phẩm và dịch vụ của HST luôn duy trì ở mức bền vững Khái niệm ”phát triển bền vững” có giá trị đặc biệt
Trang 17quan trọng trong QLHST, vì khi chúng ta thực hiện các nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái chính là phục vụ và đảm bảo cho sự phát triển bền vững Để làm được điều này, đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức bảo tồn
và các cá nhân cần xem xét lại cách thức thực hiện của mình, bao gồm cả việc quản lý nội tại [66] và mối quan hệ với các bên liên quan [82]
1.1.4 Phương thức tiếp cận quản lý hệ sinh thái
Phương thức tiếp cận QLHST được chính thức thông qua tại Hội nghị các bên lần thứ 5 về Công ước ĐDSH tổ chức tại Nairobi (Kenya) năm 2000 (www.biodiversity.org/programmes/cross-cutting/ecosystem/documents.asp) Theo quan điểm của Công ước ĐDSH, phương thức tiếp cận QLHST được
định nghĩa là: “một chiến lược quản lý đất, nước và nguồn tài nguyên sinh vật nhằm thúc đẩy việc bảo tồn và sử dụng những nguồn tài nguyên đó một cách bền vững, hợp lý” [109] Phương thức tiếp cận QLHST đặt con người và các
phương thức sử dụng nguồn tài nguyên là trọng tâm của khuôn khổ ra quyết định, gồm 4 điểm nổi bật như sau:
• Được xây dựng để cân đối ba mục tiêu của Công ước ĐDSH (Bảo tồn,
sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích một cách công bằng nguồn tài nguyên sinh vật),
• Đặt con người vào vị trí trung tâm của vấn đề quản lý ĐDSH,
• Mở rộng quản lý ĐDSH vượt ra ngoài khu vực bảo vệ và công nhận rằng làm như vậy là rất quan trọng đối với việc phổ biến các mục tiêu CBD, và
• Đáp ứng được các mối quan tâm của các ban, ngành ở phạm vi rộng nhất
Trang 181.2 Bảo tồn Đa dạng sinh học
1.2.1 Trên thế giới
a Xác lập thứ bậc ưu tiên trên phạm vi toàn cầu: Trên thực tế, các
nguồn lực giành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, vì vậy để phân bổ các nguồn lực một cách phù hợp và thiết thực, cần phải xác định được các ưu tiên, lập chiến lược và lập kế hoạch trong bảo tồn một cách hiệu quả Nhiều tổ chức phi Chính phủ (NGO) đã tham gia vào quá trình này nhằm xác định được các khu vực mà họ muốn hướng các nguồn đầu tư của mình vào đó Có nhiều phương thức tiếp cận khác nhau được sử dụng, có thể nhóm gộp thành
3 nhóm như sau:
• Dựa trên các sinh cảnh đại diện: được một số tổ chức bảo tồn như:
WWF, TNC và AWF áp dụng
• Dựa trên các tiêu chí về loài: như độ phong phú của loài (species
richness) và số lượng các loài đặc hữu (endemic species) được Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI - Conservation International) và Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế (BirdLife International) sử dụng
• Dựa trên các tiêu chí về các mối đe dọa: để xác định các mức đe dọa
tối thiểu hoặc các vùng biệt lập được CI và WCS sử dụng
Trong đó, việc tiếp cận thông qua các sinh cảnh đại diện tập trung vào các vùng sinh thái Vùng sinh thái được định nghĩa như một vùng đất rộng lớn bao gồm nhiều quần xã tự nhiên và các loài [106]
WWF đã xác định được 867 vùng sinh thái trên toàn cầu [106] Khái niệm này được TNC sử dụng như một phương thức tiếp cận chủ đạo cho các
hoạt động của mình, sau đó phát triển thành “Global 200” nhằm kết hợp các kiểu sinh cảnh đặc trưng nhất trên phạm vi toàn thế giới [106] “Global 200”
đã được WWF và AWF sử dụng trong chương trình của mình
Trang 19Phương thức tiếp cận về loài được CI sử dụng nhằm tập trung các
nguồn lực vào các khu vực có tính ĐDSH cao nhất, có mối đe dọa lớn nhất,
đồng thời đưa ra khái niệm các điểm nóng về ĐDSH [103, 104] và những vùng còn nguyên vẹn được xem là vùng có giá trị ĐDSH cao [70]
BirdLife cũng đưa ra khái niệm về các vùng chim đặc hữu (EBA:
Endemic Bird Area) để áp dụng cho những nơi có ít nhất hai loài phân bố hẹp (RRS: Ranger - restricted species), loài phân bố hẹp là loài có phạm vi phân
bố trên toàn cầu nhỏ hơn 50.000 km2 Bên cạnh đó BirdLife còn đưa ra khái niệm về các vùng chim quan trọng (IBA) [119], đó là những vùng có tầm quan trọng quốc tế về bảo tồn chim, được xác định dựa trên tiêu chí về loài như: sự hiện diện của các loài đe dọa, các loài phân bố hẹp, hoặc là nơi tụ tập của nhiều loài [107] Từ đó, CI, Bird Life và Plant Life đã phối hợp nghiên cứu và đưa ra khái niệm các vùng ĐDSH chỉ thị (KBAs) [79]
Sự khác biệt giữa các phương thức tiếp cận về loài, hoặc dựa vào sự phong phú của loài, các loài đe dọa, các loài đặc hữu,…phụ thuộc vào cách hiểu của từng người, do đó không thể hiện được phương thức tiếp cận nào là tối ưu nhất Vì vậy, cần thiết phải có một cách nhìn nhận tổng hợp về nhiều yếu tố để xác định một khu vực được xem là ưu tiên cho bảo tồn Năm 2005, Posingham và Wilson đã đề xuất nên kết hợp hai phương thức tiếp cận bảo tồn loài và sinh cảnh lại với nhau trong việc xác định các ưu tiên bảo tồn trên toàn cầu [110, 121]
WCS đã cố gắng thử nghiệm theo đề xuất ấy và đưa ra khái niệm mới là: vùng hoang dã còn sót lại [113] và đã xây dựng được một bản đồ ở cấp quần xã dựa trên cơ sở bản đồ các vùng sinh thái của WWF năm 2000, kết hợp giữa hai yếu tố ĐDSH và tác động của con người ở mức độ thấp nhất
CI cũng sử dụng cách tương tự [106] và kết hợp với các yếu tố: mật độ
dân số và các sự nguyên vẹn của sinh cảnh
Trang 20Cho dù sử dụng các tiếp cận nào đi nữa trong qui hoạch bảo tồn thì vẫn gặp nhiều sự trùng lặp, đặc biệt là những nơi có giá trị ĐDSH cao như rừng
ẩm nhiệt đới, rạn san hô [70] Do đó, đã diễn ra nhiều tranh luận khoa học về việc áp dụng phương thức tiếp cận nào là tối ưu nhất Tuy nhiên, cũng đồng thời tồn tại một vấn đề là: không có một tổ chức nào đứng ra thực hiện các chương trình trên phạm vi toàn cầu theo cách họ đã đề xuất, mà chỉ sử dụng kết quả phân tích của mình để lựa chọn đâu là nơi tốt nhất để tập trung các nỗ lực của mình Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiều phương thức tiếp cận để xác định nhiều khu vực ưu tiên phục vụ mục đích kêu gọi, huy động các nguồn lực đầu tư cho bảo tồn
Việc xác định các ưu tiên bảo tồn trên phạm vi toàn cầu đã góp phần
xác định được những khu vực nên tập trung các nguồn lực cho bảo tồn, tuy nhiên không giải thích làm thế nào để thực hiện thành công công tác bảo tồn tại những khu vực đó [86] Do vậy, các tổ chức quốc tế đã hợp tác lại và thành lập Diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm về bảo tồn trên toàn cầu (GCPLG) gồm các thành viên AWF, CI, TNC, WCS và WWF [111]
b Xác định các cảnh quan
Thuật ngữ “cảnh quan” (landscape) mang nhiều ý nghĩa khác nhau,
phục vụ cho các mục đích khác nhau Theo mục đích bảo tồn, thì cảnh quan
có thể hiểu như: một vùng đất rộng lớn bao gồm nhiều đặc trưng khác nhau và được xem như là kết quả của một quá trình biến đổi lâu dài (http://www.oed.com) Đến nay vẫn chưa có giải thích cụ thể nào về qui mô của cảnh quan, cũng như chưa có định nghĩa nào về việc xác định ranh giới của cảnh quan Thông thường, các nhà qui hoạch bảo tồn thường xác định ranh giới của cảnh quan dựa trên các yếu tố như: lưu vực, vùng núi, ngọn núi, phạm vi phân bố của một loài hoặc nhóm loài [114]
Cho dù chưa có định nghĩa rõ ràng về cảnh quan, nhưng việc xác định các cảnh quan trong ưu tiên bảo tồn đã giúp cho việc bảo vệ và duy trì các
Trang 21chức năng sinh thái của nó, đồng thời giúp cho việc xác định và thực thi các chiến lược về bảo tồn Theo cách này, WWF (2004) đã đưa ra khái niệm về
tầm nhìn ĐDSH nhằm xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn trong phạm vi
một vùng sinh thái WCS (2004) cũng đưa ra khái niệm về loài đại diện cho một vùng cảnh quan nhằm bảo vệ các giá trị ĐDSH chứa đựng trong vùng [112]
Burke (2000) lại cho rằng, con người cùng tồn tại với các loài bản địa trong môi trường sống tự nhiên của mình là mục tiêu của bảo tồn ĐDSH; do
đó nhiệm vụ của bảo tồn ĐDSH là đảm bảo các điều kiện cho việc đồng tồn
tại này (co - existence) [79] Quan điểm đồng tồn tại giữa loài, sinh cảnh và
con người cũng chỉ ra rằng cần có sự kết hợp với các yếu tố xã hội trong một vùng rộng lớn Cũng cần nhận biết rằng, HST không có giới hạn về mặt ranh giới hành chính [110]; vì vậy việc áp dụng phương thức tiếp cận này trong qui hoạch bảo tồn và thực hiện kế hoạch cho phép các nhà hoạch định kế hoạch
kết hợp một cách hài hòa (reconcile) giữa nhu cầu sử dụng tài nguyên của con
người và mục tiêu của bảo tồn ĐDSH nhằm hạn chế sự mất đi của một loài nào đó và đảm bảo các quá trình thay đổi tự nhiên của HST [90,91]
c Xác định các khu vực để triển khai các hoạt động bảo tồn: Bảo
tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các VQG là ý tưởng đầu tiên xuất hiện ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone ngày 1 tháng 3 năm 1872 [105] Đến năm 1993, toàn thế giới đã có đến 8.619 khu bảo tồn, chiếm diện tích 7.922.660 km2 [46] (bảng 1.1)
Trang 22Bảng 1.1 Số lượng và diện tích các khu bảo tồn trên thế giới (1993)
Vùng
Các KBT (Phân loại của IUCN I - V) (Phân loại của IUCN I - V) Các khu được quản lý
Số lượng
DT (km 2 )
% tổng
DT
Số lượng
DT (km 2 )
% tổng
DT
Châu Phi 704 1.388.930 4,6 1.562 746.360 2,5Châu Á 2.181 1.211.610 4,4 1.149 309.290 1,1Bắc và Trung
Nguồn: WRI/ UNEP/ UNDP, 1994
Bảng 1.2 Số lượng và diện tích các khu bảo tồn trên thế giới (2003)
Vùng Các khu bảo tồn (Phân loại của IUCN I - VI)
Châu Phi 8.590 4.366.008 Đông – Nam Phi: 17,17
Bắc Phi – Trung Đông: 9,92Tây – Trung Phi: 8,77
Nam Á: 6,87Đông Nam Á: 16,39Bắc và Trung
Nguồn: UNEP/ WCMC/ WCPA/ IUCN, 2003
Từ bảng 1.1, bảng 1.2 cho thấy: hệ thống khu bảo tồn trên toàn thế giới không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về diện tích ở tất cả các châu lục Điều này thể hiện sự quan tâm của các quốc gia trên phạm vi toàn cầu về bảo tồn ĐDSH, nhằm nỗ lực hạn chế sự tác động có hại đến các HST tự nhiên đặc thù, góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển bền vững
Trang 23Từ những năm 60 của thế kỷ XX, vấn đề bảo tồn đã được chú trọng
Mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế giới các VQG lần thứ nhất; vấn đề đào tạo chuyên nghiệp về quản lý động vật hoang dã cũng đã được quan tâm; các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau như hưởng lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã được triển khai Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, Hội nghị các VQG và KBT được tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến các KBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chính phủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng như cơ hội
để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn Càng về sau, hội nghị càng chú trong nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là việc thông qua hiệp ước Durban và kế hoạch hành động tại hội nghị lần thứ V Với các kết quả đưa ra thì vấn đề quyền lợi của người dân bản địa cũng như thừa nhận kiểu quản lý bảo tồn theo truyền thống, văn hóa cộng đồng được quan tâm song song với việc cải thiện chất lượng quản lý bảo tồn ở địa phương; chú trọng đến thế hệ trẻ trong điều hành quản lý, xây dựng hệ thống các khu bảo tồn liên kết, cải thiện công tác truyền thông và giáo dục nhằm đáp ứng bảo tồn ĐDSH và phát triển bền vững Thông qua các hội nghị thượng đỉnh toàn cầu, nhiều công ước có liên quan đến bảo tồn ĐDSH đã được thảo luận, tán thành và nhiều nước đã tham gia ký kết, trong đó quan trọng hơn hết là các Công ước CITES, Công ước Ramsar, Công ước ĐDSH [71]
Có thể nói rằng, trên thế giới đến nay mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm một cách toàn diện Công tác quản lý bảo tồn ĐDSH không chỉ tập trung bảo vệ tài nguyên, xây dựng
hệ thống các khu bảo tồn liên kết; mà còn chú trọng đến giáo dục đào tạo về quản lý và nâng cao hiệu quả trong điều hành cũng như nhận thức bảo tồn; chú ý đến khía cạnh xã hội nhân văn trong bảo tồn như phối hợp bảo tồn, bảo
Trang 24cùng là sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH, cũng như chia sẻ các lợi ích có được từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền, một cách bình đẳng và công bằng
d Một số phương thức tiếp cận được áp dụng trong quản lý bảo tồn đa dạng sinh học: Nhằm đảm bảo phát triển bền vững (kết hợp hài hoà
giữa bảo tồn và phát triển), nhiều ngành, nhiều tổ chức quốc tế liên quan đến
sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựng những phương
thức tiếp cận mới về quản lý tài nguyên thiên nhiên
Một số phương thức tiếp cận chính này là:
• Quản lý hệ sinh thái,
• Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng,
• Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên,
• Dự án bảo tồn và phát triển tổng hợp,
• Phát triển bền vững về mặt sinh thái [109]
Các phương thức tiếp cận nêu trên đều giống nhau ở chỗ là: nỗ lực tìm kiếm một giải pháp tối ưu để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà những quyền lợi này có thể là giữa bảo tồn và phát triển, giữa cộng đồng địa phương và một quốc gia, hoặc giữa các nhóm người có liên quan trong xã hội Điểm nổi bật trong các phương thức tiếp cận này là nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương cũng như những nhóm người trong xã hội có liên quan đến tài nguyên thiên nhiên (những người hưởng lợi, những người bị tác động) Các phương thức tiếp cận này đang được hình thành và phát triển nhằm khắc phục những hạn chế trong cách quản lý áp đặt từ trên xuống theo cách quan liên bao cấp và đẩy mạnh cách thức quản lý tài nguyên thiên nhiên từ cơ sở đi lên
Những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìn nhận vấn đề, điểm trung tâm của mối quan tâm và tính ưu tiên của các
Trang 25phương pháp cụ thể được ứng dụng Ví dụ: phương thức tiếp cận hệ sinh thái quan tâm trước tiên là tính toàn vẹn của HST và nhìn nhận con người là
một bộ phận của HST Vì vậy muốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của phát triển bền vững, tức là vừa nâng cao đời sống của người dân phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên thông qua các hoạt động mang tính bền vững, vừa có thể bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú
Còn cách quản lý dựa vào cộng đồng chọn vấn đề trọng tâm là cộng đồng,
vì thế phương thức tiếp cận là làm sao tận dụng được mọi thế mạnh của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, để có thể chia sẻ quyền lợi một cách công bằng mà trước tiên là cho cộng đồng địa phương được quan tâm trước tiên, nhưng tất nhiên đều phải gắn chặt với quyền lợi bảo tồn thiên nhiên để đảm bảo sự hài hoà giữa các quyền lợi Trong khi đó,
phương thức tiếp cận đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên có nhiều đặc
điểm giống với phương thức tiếp cận dựa vào cộng đồng, nhưng mang ý nghĩa rộng hơn, tức là quan tâm đến mọi đối tác, đến mọi nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tài nguyên, để đạt được mục đích là chia sẻ quyền lợi công bằng đồng thời không làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường
Từ các phương thức tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên nêu trên, đề tài này lựa chọn phương thức tiếp cận quản lý hệ sinh thái để nghiên cứu, vì phương thức tiếp cận này đã dựa trên cơ sở hệ sinh thái, là cơ sở quyết định cho sự sống trên trái đất, là nơi duy trì ĐDSH Hơn nữa phương thức tiếp cận này cũng đã tiếp thu được các nguyên tắc cơ bản của các phương thức tiếp cận quản lý tài nguyên khác và đã xây dựng được một cơ sở lý luận khá vững chắc Việc tìm hiểu và vận dụng phương thức tiếp cận QLHST vào thực tiễn ở các khu bảo tồn thiên nhiên không những có thể đóng góp thêm cơ sở lý luận trong sự nghiệp bảo vệ môi trường ở Việt Nam mà còn góp phần hoàn thiện
Trang 261.2.2 Ở Việt Nam
Theo đánh giá của WCMC (1992) [8], Việt Nam được xếp thứ 16 trong
số các nước có ĐDSH cao nhất, nhưng cũng trong tình trạng chung của toàn cầu là ĐDSH đã và đang bị đe dọa và có chiều hướng suy giảm Nguyên nhân của sự mất mát ĐDSH được xác định bao gồm hai nhóm chính là do thiên tai
và do hoạt động của con người, đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào môi truờng tự nhiên [116] Vì vậy, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý bảo tồn ĐDSH, trong đó phải kể đến 2 vấn đề quan trọng sau đây:
a Qui hoạch hệ thống rừng đặc dụng: Nhận thức được tầm quan trọng
của nguồn tài nguyên thiên nhiên, của sự suy thoái ĐDSH, Việt Nam đã có những hành động tích cực trong công tác bảo vệ ĐDSH từ những năm 1960 Quá trình hình thành hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam là một trong những biện pháp tích cực đã và đang góp phần quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn ĐDSH Từ bảng 1.3 và hình 1.1 cho thấy: từ khi thành lập khu rừng cấm Cúc Phương (năm 1962) với diện tích là 25.000 ha (khu bảo vệ đầu tiên và cũng là VQG đầu tiên của Việt Nam) đến năm 2004, diện tích rừng đặc dụng đã tăng lên 2.541.675 ha với tổng số 126 khu
0 500,000 1,000,000 1,500,000 2,000,000 2,500,000 3,000,000
Trang 273 KBTTN
7 KVH -
LS
Rừng đặc dụng gồm:
7 VQG
49 KBTTN
31 KVH
- LS -
MT
Rừng đặc dụng gồm:
10 VQG
56 KBTTN
25 KVH -
LS - MT
Rừng đặc dụng gồm:
12 VQG
72 KBTTN
18 KVH -
LS - MT
Rừng đặc dụng gồm:
27 VQG
57 KBTTN
37 KVH -
LS - MT
Rừng đặc dụng gồm:
28 VQG
48 KBTTN
50 KVH -
LS - MT
Nguồn: Tổng hợp theo số liệu của Phân hội các VQG và KBTTN, 2001; Bộ
NN&PTNT và Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam, 2004, Bộ Nông nghiệp
và PTNT,2005
Năm 1992, lần đầu tiên Việt Nam xuất bản Sách Đỏ và được tái bản có những điều chỉnh cập nhật vào năm 2000 Đồng thời nhiều văn bản luật và dưới luật liên quan khác cũng đã được ban hành và xây dựng Chương trình Nâng cao nhận thức môi trường năm 2001 [4]
Đến nay ở Việt Nam đã có Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, đã quy định việc bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên động, thực vật rừng, quy định cụ thể về quản lý hệ thống rừng đặc dụng [12]
Ngoài ra trong phong trào chung của toàn thế giới về bảo tồn và phát triển bền vững, Việt Nam cũng đã tham gia ký kết nhiều công ước quốc tế về môi trường có liên quan và đặc biệt là: “Công ước ĐDSH”(1993) và “Công ước CITES”(1994) Việc xây dựng Kế hoạch Hành động ĐDSH của Việt Nam, đã thể hiện quyết tâm trong bảo vệ ĐDSH của nước ta
Kết quả tổng hợp ở bảng 1.3 còn cho thấy, diện tích của các KBT,
Trang 281986, khi Chính phủ ra quyết định 194/CT của Chủ tịch HĐBT về việc quy định các khu rừng cấm, đồng thời Bộ Lâm nghiệp ban hành Quy chế quản lý
3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) theo quyết định số 1171/QĐ
Năm 2000, quy hoạch mới hệ thống rừng đặc dụng với nhiều thay đổi lớn như: đề xuất phân hạng mới, loại bỏ, chuyển hạng, xác nhập, đổi tên và thành lập mới một số khu Đến năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 192/2003/QĐ - TTg phê duyệt Chiến lược quản lý Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam đến năm 2010 [17], theo đó danh sách các khu rừng đặc dụng đã được Cục Kiểm lâm - Bộ NN và PTNT xây dựng
Có thể nhận định rằng về bảo tồn ĐDSH, Việt Nam đã định hướng một cách toàn diện, vấn đề còn lại là thực hiện cho đúng tiến trình kèm theo đó là những thay đổi, cải tiến về chính sách, thể chế trong quản lý và tất nhiên là để thực hiện tiến trình này rất cần sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều tổ chức, cơ quan trong và ngoài nước có liên quan Có thể minh chứng bằng lời kết trong một tài liệu về các khu bảo vệ ở Việt Nam, như sau: “Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể trong mục tiêu xây dựng các hệ thống các khu bảo vệ,
có đầy đủ đại diện về mặt ĐDSH và các HST tự nhiên của quốc gia Trong tương lai, các hệ thống này sẽ còn phát triển cả về mặt phạm vi địa lý và phân cấp quản lý Đặc biệt trong vài năm tới, chúng ta hy vọng sẽ có các hệ thống khu bảo vệ mới như các khu bảo tồn biển và các khu bảo vệ đất ngập nước Quá trình mở rộng này sẽ xảy ra cùng với các thay đổi về thể chế trong các ngành lâm nghiệp, thủy sản và môi trường…” [9]
Cùng với việc hình thành và phát triển hệ thống các khu bảo vệ, công tác bảo tồn chuyển vị cũng đã được quan tâm trong bảo tồn ĐDSH ở nước ta
Một số loại hình bảo tồn chuyển vị (ex-situ) đã triển khai và đạt được những
kết quả đáng kể như các vườn thực vật, vườn động vật - vườn thú, trạm cứu
hộ động vật, ngân hàng giống Công tác bảo tồn nguồn gen động thực vật, bao gồm nguồn gen thực vật rừng, cây nông nghiệp, nguồn gen vật nuôi và động
Trang 29vật hoang dã cũng đã được các Viện Lâm nghiệp, Viện Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi, các vườn thú tiến hành nghiên cứu [38]
Cách phân hạng KBT cũng đã tiếp cận dần theo phân hạng của thế giới, nhằm tăng cường sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển Chính phủ đã có những đầu tư thích đáng cho bảo tồn; song song với nỗ lực bảo tồn đã có tác động đến đời sống và sự phát triển nhiều mặt của người dân một số vùng lân cận thông qua du lịch sinh thái, các khu nghỉ dưỡng, phát triển vùng đệm,…
Tuy nhiên, trong việc quản lý ba loại rừng: rừng sản xuất, rừng phòng
hộ và rừng đặc dụng ở Việt Nam, thì rừng phòng hộ và rừng đặc dụng vẫn chưa được quản lý đúng mức; điều này đã ảnh hưởng không ít đến bảo tồn ĐDSH nói chung
Những tồn tại về ranh giới, khai thác trái phép, phát triển cơ sở hạ tầng,
mở rộng diện tích đất canh tác, phát triển chăn nuôi, cháy rừng,… cũng là những vấn đề bức xúc và ảnh hưởng nhiều đến bảo tồn
b Xây dựng và quản lý vùng đệm
Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, ở Việt Nam, mỗi khi xây dựng một khu bảo tồn, người dân ở quanh vùng buộc phải hy sinh quyền lợi riêng của mình, không được khai thác tài nguyên như trước vì lợi ích của quốc gia
và các thế hệ mai sau [17,25,34,38,40,42] Phần lớn các VQG và KBT đã và đang được xây dựng thường nằm giữa biển người và chịu sức ép hết sức nặng
nề từ phía ngoài Cộng đồng địa phương, những người sống trong, hay gần các khu bảo tồn đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên các vùng đó, cuộc sống của họ lệ thuộc phần lớn vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đây Tuy nhiên, công cuộc bảo tồn ngày nay thường bỏ qua những yêu cầu thiết yếu của họ và đồng thời cũng ít lưu ý đến các giá trị văn hoá, các phong tục tập quán, những hiểu biết của họ về thiên nhiên, về các loài mà họ rất quen thuộc, cách thức tổ chức bảo tồn thiên nhiên mà cộng
Trang 30Việt Nam đã cố gắng rất nhiều trong công việc xây dựng các KBTTN
và VQG Tuy nhiên, điều khó khăn gặp phải là xung quanh, hoặc trong khu vực trung tâm của các KBT và VQG đều có người dân sinh sống Các hoạt động của họ đã làm tổn hại đến mục tiêu của các khu bảo tồn, làm cho các khu bảo tồn bị giảm chất lượng một cách nhanh chóng [17,19,122]
Để giải quyết những mâu thuẫn giữa nhân dân địa phương và nhiệm vụ bảo tồn, cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu, đáp ứng được những nhu cầu trước mắt của nhân dân địa phương, nhưng đồng thời cũng đáp ứng được những yêu cầu của bảo tồn Việc qui hoạch, đầu tư, xây dựng và phát triển vùng đệm chính là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao cuộc sống cho các cộng đồng dân cư địa phương, tạo thêm công ăn việc làm cho cộng đồng, giảm bớt sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên
họ tích cực tham gia vào công tác bảo tồn
Đến nay ở nước ta vẫn chưa có sự thống nhất về vùng đệm, nhất là về nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý Trước năm 1990, vùng đệm được hiểu
là những khu vực nằm bên trong khu bảo tồn và nằm bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn (Quyết định 79 - CT ngày 31 tháng 3 năm 1986
về việc thành lập VQG Cát Bà, quyết định 194 - CT ngày 9 tháng 8 năm 1986
về việc thành lập 73 khu dự trữ thiên nhiên) Tuy nhiên, theo công văn số 1568/LN - KL của Bộ Lâm nghiệp ngày 13/9/1993, vùng đệm là một vùng “ nằm ở rìa khu bảo tồn, bao quanh toàn bộ các phần của khu bảo tồn" Đến năm 2006, Chính phủ đã ban hành Quy chế quản lý rừng theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006, trong đó cũng đề cập đến công tác qui hoạch và quản lý vùng đệm Tuy nhiên trên thực tế, vùng đệm không thuộc khu bảo tồn và không chịu sự quản lý của ban quản lý khu bảo tồn” [84, 85] Nhiều khu bảo tồn, VQG trong luận chứng kinh tế kỹ thuật đã có đề xuất việc thành lập vùng đệm, diện tích, ranh giới vùng đệm,…nhưng cũng có nhiều khu bảo tồn và VQG không có vùng đệm trong luận chứng KTKT như
Trang 31VQG Ba Bể [37] Xem xét các vùng đệm đã có hiện nay tại các VQG và KBT cho thấy: việc thành lập các vùng đệm đã không tuân theo một khuôn khổ thống nhất
Từ năm 1987, Chính phủ đã áp dụng biện pháp di chuyển một số dân ra khỏi khu bảo tồn và đã bắt đầu thực hiện ở VQG Cúc Phương Số dân chuyển
ra được định cư ngoài khu bảo tồn tạo thành một khu đệm và được cung cấp các điều kiện để làm ăn ổn định Chương trình này đã đạt được những kết quả bước đầu Một số KBT và VQG cũng đã triển khai các dự án như trên và đạt được những kết quả khả quan như: VQG Cát Tiên, VQG Ba Bể, VQG Bạch Mã,…
Như vậy, để có thể bảo tồn ĐDSH nói chung, và các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng: “cần phải dành ưu tiên cho các dự án hỗ trợ dân chúng các vùng đệm, áp dụng các thành tựu công nghệ tiên tiến, nâng cấp hạ tầng cơ sở, cải thiện đời sống xã hội, nhằm mục đích đảm bảo thu nhập ổn định cho nhân dân, nhờ đó ngăn chặn việc tiếp tục xâm lấn vào các khu bảo tồn” [14]
1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Yok Don
Sau hơn 10 năm thành lập, đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành tại VQG Yok Don, tập trung vào 3 lĩnh vực sau:
1.3.1 Nghiên cứu, điều tra Đa dạng sinh học
Từ năm 1989, Laurie, A., Hà Đình Đức và Phạm Trọng Ảnh đã tiến
hành điều tra loài Bò xám Bos sauveli ở khu vực phía tây tỉnh Đăk Lăk (trong
đó có khu vực Yok Don) do Quỹ bảo tồn Bò xám (Kouprey Conservation Trust) tài trợ Đây là nghiên cứu có báo cáo về điều tra ĐDSH đầu tiên được
tiến hành tại VQG Yok Don, đã mô tả chi tiết các lần bắt gặp các loài thú và chim lớn [36]
Đến năm 1990, Cox, R và Hà Đình Đức tiếp tục nghiên cứu này Sau
Trang 32chuyến khảo sát thực địa để nghiên cứu loài Bò xám tại Việt Nam và Lào Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu vẫn chưa khẳng định sự tồn tại của loài này tại khu vực Yok Don [74] Cũng trong năm 1990, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh và Hoàng Minh Khiên tiến hành nghiên cứu khu hệ thú rừng khộp Yok Don [33], đã ghi nhận được sự hiện diện của 62 loài thú,
196 loài chim, 40 loài bò sát và 13 loài lưỡng cư Trong nghiên cứu này, Đặng Huy Huỳnh và Trần Anh Tuân (1991) đã ước tính sơ bộ quần thể bò
rừng ở HST rừng khộp trong KBTTN Yok Don là: Bò rừng Bos javanicus:
1,3 cá thể / km2; Bò tót Bos gaurus: 0,79 cá thể / km2 [3]
Năm 1992, Lê Vũ Khôi và Đỗ Tước nghiên cứu về tình trạng của loài
Voi châu Á Elephas maximus và việc bảo tồn chúng tại Việt Nam đã khẳng
định sự phân bố của loài này tại VQG Yok Don [95] Năm 1993, Dawson, Đỗ Tước, Lê Vũ Khôi và Trịnh Việt Cường thực hiện điều tra Voi tại Việt Nam nhằm mục tiêu ước tính kích cỡ quần thể và xác định sự phân bố theo mùa của Voi tại các khu bảo vệ, trong đó có VQG Yok Don, đối chiếu số liệu về voi nhà để đưa ra các kiến nghị cho công tác bảo tồn Voi trong tương lai [20]
Năm 1995, Lê Vũ Khôi tiến hành nghiên cứu về tình trạng các loài móng guốc lớn và công tác bảo tồn chúng tại Việt Nam trong đó có Yok Don [67] Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung và Lê Xuân Cảnh tiếp tục khảo sát tài nguyên sinh học VQG Yok Don từ tháng 02 đến tháng 03 năm 1995 nhằm kiểm kê và đánh giá hiện trạng tài nguyên động thực vật, xác định phân bố hiện tại và chiều hướng tiếp diễn của các loài, đặc biệt là các loài quý hiếm,
đã đề xuất xây dựng một trại nuôi sinh sản để phát triển các loài quý hiếm đặc trưng của VQG, xây dựng trung tâm đào tạo Voi tại Buôn Đôn và đào tạo cho cán bộ VQG các kiến thức khoa học cơ bản vể bảo tồn ĐDSH Báo cáo này
đã khẳng định “các dấu hiệu Bò rừng rất phong phú” và ghi nhận thông qua
quan sát trực tiếp ba đàn Bò rừng, trong đó có một đàn hơn 30 cá thể [76]
Trang 33Năm 1997, Lê Xuân Cảnh, Phạm Trọng Ảnh, Duckworth, J W., Vũ Ngọc Thành và Lic Vuthy đã tiến hành điều tra và hoàn thành báo cáo về các loài thú lớn ở tỉnh Đăk Lăk Đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ về tình trạng của các loài thú lớn tại tỉnh Đăk Lăk Sau ba tháng điều tra tại tỉnh Đăk Lăk (từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1997), tập trung vào các loài thú lớn, đặc biệt là Bò xám, Voi châu Á, Hổ, Nai cà toong, Hươu đầm lầy, Mang lớn và
Bò sừng xoắn Báo cáo đã nêu chi tiết các ghi nhận về các loài thú và các loài chim bị đe dọa trong chuyến khảo sát tại ba địa điểm điều tra (gồm Ea Sô, một vùng trảng cỏ và rừng cây lá rụng ở phía đông bắc tỉnh Đăk Lăk, VQG Yok Don và huyện Ea Súp) Kết quả khảo sát cũng đã ghi nhận chứng cứ về
sự tồn tại của chín loài bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu, ba loài gần bị đe dọa và hai loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam; đồng thời khẳng định rằng có rất ít bằng chứng về sự di chuyển theo mùa của các quần thể Voi và các loài thú móng guốc giữa tỉnh Đăk Lăk và Campuchia Báo cáo cũng kết luận Bò xám hiện có lẽ không còn phân bố trong địa bàn tỉnh Đăk Lăk Trái ngược với các kết quả điều tra trước đây tại VQG Yok Don, không phát hiện bất cứ dấu hiệu nào về các loài thú ăn thịt lớn họ Mèo và có rất ít dấu hiệu Voi rừng được phát hiện tại VQG Yok Don Các quần thể Bò rừng và Bò tót ở VQG Yok Don được kết luận là đã suy giảm mạnh so với các thập kỷ trước đây Báo cáo này cũng xác định các mối đe dọa và đưa ra các kiến nghị bảo tồn, trong đó
có các kiến nghị về điều tra trong các giai đoạn tiếp theo [96] Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung và Lê Xuân Cảnh tiến hành nghiên cứu bảo tồn về cấu trúc ĐDSH và sinh thái của một số nhóm động thực vật của VQG Yok Don
và VQG Cát Bà và các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững [34]
Năm 1998, Brickle, N W., Nguyễn Cử, Hà Quý Quỳnh, Nguyễn Thái
Tự Cường và Hoàng Văn San đã nghiên cứu về tình trạng và phân bố của
Công Pavo muticus tại tỉnh Đăk Lăk [13] Đây là một báo cáo điều tra định
Trang 3402/02/1998 đến ngày 04/05/1008, xác định được hiện trạng và phân bố của Công cũng như việc sử dụng các kiểu sinh cảnh khác nhau của loài này Phân tích về sinh cảnh cho thấy, Công được ghi nhận với số lượng nhiều nhất ở các vùng rừng khộp Số lượng Công tỷ lệ thuận với sự có mặt của các nguồn nước
tự nhiên trong vòng 2 km và tỷ lệ nghịch với sự hiện diện của các khu dân cư trong vòng 2 km Báo cáo kết luận rằng các khu vực rừng khộp không bị nhiễu loạn có thể tiếp cận nguồn nước đóng vai trò quan trọng đối với Công Kiểu sinh cảnh này cũng cực kỳ quan trọng đối với các loài thú lớn, trong đó
có các loài móng guốc, cũng như một số loài chim nước và các loài chim ăn thịt lớn đang bị đe dọa Báo cáo cũng chỉ ra rằng: việc bảo tồn Công và qua
đó bảo tồn các loài thú và chim lớn đang bị đe dọa tuyệt chủng đòi hỏi cần bảo vệ được những vùng rừng khô cây lá rụng không bị tác động và có các nguồn nước thường xuyên Báo cáo đã yêu cầu cần bảo vệ các sông suối có nước thường xuyên và đưa ra một số kiến nghị quan trọng về việc mở rộng VQG Yok Don Duckworth, J W và Hedges, S (1998) tiến hành nghiên cứu theo dõi loài Hổ, rà soát tình trạng Hổ, Voi châu Á, Bò tót và Bò rừng ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Vân Nam (Trung Quốc), cùng với các kiến nghị cho công tác bảo tồn trong tương lai Đây là báo cáo rà soát về tình trạng của các loài thú lớn ở vùng Đông Dương, đã nêu chi tiết tất cả các thông tin liên quan đến tình trạng tại Đông Dương của các loài Hổ, Voi châu Á, Bò tót và
Bò rừng trong khoảng từ năm 1988 đến 1997; đưa ra các kiến nghị về công tác bảo tồn ở trạng thái rừng đối với các loài; xác định các thông tin về tình trạng toàn bộ các loài tại Việt Nam đều thiếu cơ sở và có độ tin cậy thấp [22] Duckworth, J W., Anderson, G Q A., Desai, A A và Steinmetz, R Tiếp tục
nghiên cứu tình trạng của loài Chó rừng Canis aureus tại Đông Dương đã mô
tả chi tiết về hai lần quan sát trực tiếp loài Chó rừng tại VQG Yok Don [21] Cũng trong năm này, Hà Văn Hoạch điều tra xây dựng danh lục các loài bướm của VQG Yok Don [11]
Trang 35Năm 1999, Osborn, L., Vinton, M đã nghiên cứu và nêu chi tiết các ghi
nhận của loài Voi tại VQG Yok Don, khẳng định quần thể Voi của VQG Yok
Don đã bị suy giảm mạnh [54]
Năm 2005, Nguyễn Nghĩa Thìn, Ngô Tiến Dũng [18] đã nghiên cứu
tính đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch của VQG Yok Don
Tóm lại, từ các kết quả nghiên cứu từ trước đến năm 2000 tại VQG
Yok Don cho thấy:
Về khu hệ thực vật: đã ghi nhận được 858 loài thuộc 478 chi và 129 họ
tại VQG Yok Don, thể hiện qua bảng 1.4:
Bảng 1.4 Khu hệ thực vật tại Vườn quốc gia Yok Don
Trong đó, có 23 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2000 (Cấp V: 8
loài, Cấp T: 3 loài, cấp R: 3 loài và cấp K có 9 loài) và 16 loài có tên trong
Danh lục Đỏ của IUCN 2006 (Cấp CR: 4 loài, cấp EN: 5 loài, cấp VU: 3 loài,
cấp LR có 2 loài và 2 loài được xếp vào cấp chưa biết thông tin chính
xác-DD) [18]
Về khu hệ thú: đã ghi nhận được 67 loài, trong đó có 27 loài có tên
trong Sách Đỏ Việt Nam 2000 (Cấp E: 14 loài, cấp R: 1 loài, cấp V: 12 loài)
và 34 loài có tên trong Danh lục Đỏ của IUCN 2000 (Cấp CR: 1 loài, cấp EN:
7 loài, cấp VU: 12 loài, cấp LR: 11 loài và cấp DD: 3 loài) Các loài quan
trọng đối với công tác bảo tồn đã được xác định gồm 5 loài: Voi Elephas
maximus Linnaeus, 1758, Hổ Panthera tigris (Linnaeus, 1758), Bò tót Bos
Trang 36gaurus Smith, 1827, Bò rừng Bos javanicus d'Alton, 1823 và Nai cà tông Cervus eldii M’Clelland,1842 [11]
Về khu hệ chim: đã ghi nhận được 247 loài, trong đó 15 loài có tên
trong Sách Đỏ của Việt Nam 2000 (Cấp R: 6 loài, cấp V: 1 loài và cấp T: 8 loài) và 11 loài có tên trong Danh lục Đỏ của IUCN 2000 (Cấp CR: 1 loài, cấp EN: 1 loài, cấp VU: 2 loài và cấp NT: 7 loài) Các loài quan trọng được
xác định gồm 5 loài: Gà tiền mặt đỏ Polyplectron germaini, Elliot, 1866, Công Pavo muticus, Linnaeus, 1766, Diều cá đầu xám Ichthyophaga ichthyaetus (Horsfield, 1821), Cắt nhỏ bụng trắng Microhierax melanoleucos (Blyth, 1843), Già đẫy nhỏ Leptoptilos javanicus (Horsfield, 1821) [11]
Về khu hệ Bò sát và lưỡng cư: cũng đã ghi nhận được 48 loài bò sát
thuộc 17 họ, 4 bộ và 16 loài lưỡng cư thuộc 4 họ, 1 bộ Trong đó, 16 loài
trong số 54 loài có ghi trong Sách đỏ Việt Nam 2000 [11]
1.3.2 Nghiên cứu nguyên nhân suy giảm Đa dạng sinh học
Năm 1997, Phạm Bình Quyền và Trương Quang Học đã tiến hành nghiên cứu các nguyên nhân sâu xa về mặt kinh tế xã hội dẫn đến tổn thất ĐDSH tại hai vùng sinh thái đặc trưng của Việt Nam: Nghiên cứu chuyên đề được thực hiện tại VQG Ba Bể và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Na Hang ở vùng núi phía Bắc và VQG Yok Don ở vùng Tây Nguyên [122]
Đến năm 1998, Huỳnh Thu Ba nghiên cứu về sự di dân và sử dụng tài nguyên: Một dự án nghiên cứu về biến động dân số và sử dụng tài nguyên ở vùng đệm của VQG Yok Don và các khu vực xung quanh, tỉnh Đăk Lăk đã cân nhắc đến các tác động do sự di dân và tăng cường sử dụng tài nguyên ở vùng đệm VQG Yok Don [1]
Năm 2003, tác giả bắt đầu nghiên cứu về nguyên nhân trực tiếp gây suy thoái ĐDSH của VQG Yok Don [56] và kết quả nghiên cứu được sử dụng trong luận án này
Trang 371.3.3 Nghiên cứu giải pháp bảo tồn Đa dạng sinh học
Từ năm 1989, MacKinnon, J., Laurie, Nghiêu, Đặng Huy Huỳnh, Lê
Vũ Khôi và Hà Đình Đức đã xây dựng bản dự thảo kế hoạch quản lý KBTTN Yok Don Đây là những công trình nghiên cứu đầu tiên được các tác giả quốc
tế và Việt Nam đưa ra kiến nghị chuyển hạng khu BTTN Yok Don lên VQG Yok Don, đồng thời đề xuất việc phân vùng quản lý núi Yok Don và sông Srêpôk là các khu lõi [101]
Năm 1990, kế hoạch trên được bổ sung chi tiết phù hợp với điều kiện của Việt Nam và được hoàn thiện thành Luận chứng Kinh tế Kỹ thuật của VQG Yok Don trên qui mô 58.200 ha [3] Đến năm 1999, Wege, D C., Long,
A J., Mai Kỳ Vinh, Vũ Văn Dũng và Eames, J C tiến hành nghiên cứu đề xuất mở rộng hệ thống khu bảo vệ của Việt Nam cho thế kỷ XXI, phân tích hệ thống hiện tại và kiến nghị việc mở rộng một cách phù hợp bao gồm kiến nghị
về việc mở rộng VQG Yok Don [57]
Năm 2001, Timmins, R J., Ou Rattanak đã nghiên cứu tầm quan trọng của khu tập trung động vật hoang dã Phnom Prich và các vùng lân cận với việc bảo tồn Hổ và các loài hoang dã khác Đây là một tài liệu tham khảo quan trọng trong khung cảnh quy hoạch ở mức độ tiếp cận hệ quản lý sinh thái để bảo tồn các vùng rừng khô cây lá rụng ở vùng hạ lưu sông Mê Kông [51]
Tháng 3 năm 2002, Chính phủ Việt Nam chính thức phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng VQG Yok Don mở rộng trên qui mô 115.545 ha [15]
Trong giai đoạn từ năm 1999 đến 2004, UNDP và GEF đã thực hiện dự
án “Xây dựng các khu bảo vệ dựa theo quan điểm sinh thái cảnh quan tại VQG Yok Don, tập trung vào 4 chương trình: Qui hoạch bảo tồn, phát triển vùng đệm, du lịch sinh thái – giáo dục môi trường, và qui hoạch sử dụng các nguồn tài nguyên
Trang 38Tóm lại: các kết quả nghiên cứu nêu trên đã mô tả các giá trị ĐDSH của Vườn, tập trung vào các loài thú lớn và thực vật bậc cao có mạch, cũng như bước đầu xác định được các vấn đề xã hội có liên quan đến công tác quản
lý bảo tồn và hoạch định các chính sách bảo tồn dựa trên quan điểm bảo tồn các loài quan trọng, tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống về hiện trạng quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cho VQG Yok Don
Do đó luận án này sẽ tập trung nghiên cứu bổ sung 03 vấn đề chính sau đây:
• Cập nhật các giá trị ĐDSH của khu hệ thú và khu hệ chim tại VQG Yok Don,
• Xác định các khu vực ưu tiên cho công tác bảo tồn, phù hợp với điều kiện tại Yok Don,
• Vận dụng phương thức tiếp cận quản lý hệ sinh thái để đánh giá hiện trạng các giải pháp bảo tồn đã được áp dụng và đề xuất các giải pháp tổng thể nhằm bảo tồn ĐDSH cho VQG Yok Don
1.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
1.4.1 Về điều kiện tự nhiên
VQG Yok Don được thành lập theo Quyết định phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật số: 352/CT ngày 29/10/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) với diện tích tự nhiên là 58.200 ha và được đầu tư
mở rộng 115.545 ha theo quyết định 39/2002/QĐ - TTg ngày 18/3/2002 [11]
Vị trí địa lý
VQG Yok Don nằm gần trung tâm của bán đảo Đông dương, cách thành phố Hồ Chí Minh 500 km về phía Bắc và cách thành phố Buôn Ma Thuột (trung tâm tỉnh Đăk Lăk) 40 km về phía tây, thuộc vùng địa lý sinh học
Trang 39Nam Trường Sơn [30], thuộc tiểu vùng 10a - Nam Tây Nguyên [101] và nằm trong vùng sinh thái rừng khô Tây Nguyên [80], có toạ độ địa lý: từ 12o45’ -
13o10’ độ vĩ Bắc đến 107o29’30” - 107o48’30”độ kinh Đông
Phía Bắc: tiếp giáp với 2 xã Ea Bung và Cư M’Lan (huyện Ea Súp, tỉnh Đăk Lăk) Ranh giới dựa theo đường ô tô từ ngã ba Cư M’Lan qua đồn biên phòng số 2 đến biên giới Việt Nam - Campuchia
Phía Nam: tiếp giáp với 2 xã Ea Pô và Đăk Wil (huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông) và giao điểm giữa đường 6 B từ VQG với đường T15 chạy thẳng phía Tây đến biên giới Việt Nam - Campuchia
Phía Đông: dọc theo tỉnh lộ 1A từ ngã 3 Cư M’Lan đến Bản Đôn và sau
đó ngược sông Srêpôk đến ranh giới huyện Cư Jut
Phía Tây: là biên giới Việt Nam - Campuchia dài 100 km [11], tiếp giáp với tỉnh Mundulkiri (hình 1.2)
Trang 40Hình 1.2 Vị trí khu vực nghiên cứu