Những thành công và tồn tại trong việc giải quyết việc làm cho nông dân tái định cư khu kinh tế Nghi Sơn .... Chưa biết sử dụng số tiền đền bù ấy như thế nào cho phù hợp?...Vì vậy, vấn đ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiê ̣n và hoàn thành luâ ̣n văn này Tác giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn đã hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành bài viết này Đồng thời tác giả cũng gửi lời cảm ơn tới cán bộ lãnh đạo, toàn thể cán bộ các phòng Ban thuộc Uỷ ban nhân dân Huyện Tĩnh Gia Thanh Hoá, Ban Giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư và xin chân thành cảm ơn tất cả cán bộ thuộc Ban Quản lý khu kinh tế Nghi Sơn, huyê ̣n Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá đã cung cấp cho tác giả những thông tin, số liệu cần thiết để thực hiện nghiên cứu đề tài của mình Cuối cùng tác giả xin chân thành gửi lời cảm
ơn tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các bảng v
Đặt vấn đề 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về di dân và tái định cư 3
1.1.1 Di dân và tác động của di dân 3
1.1.2 Tái định cư và vai trò của tái định cư 11
1.2 Chính sách của Nhà nước về giải quyết việc làm cho những nông dân bị thu hồi đất 18
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về giải quyết việc làm cho người dân tái định cư 21
1.3.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hoá của thành phố Hồ Chí Minh 21
1.3.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho những nông dân bị thu hồi đất ở Thành phố Đà Nẵng 23
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Mục tiêu nghiên cứu: 26
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 26
2.3 Nội dung nghiên cứu: 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Tĩnh Gia 33
Trang 33.2 Giới thiệu về dự án Khu kinh tế Nghi Sơn 37
3.2.1 Lịch sử ra đời 37
3.2.2 Mục tiêu của dự án khu kinh tế Nghi Sơn 38
3.2.3 Quy mô của dự án khu kinh tế Nghi Sơn 39
3.2.4 Quy hoạch phát triển của dự án đến năm 2025 40
3.2.5 Một số dự án đã triển khai tại khu kinh tế Nghi Sơn 41
3.3 Thực trạng vấn đề thu hồi đất, di dời dân cư để giải phóng mặt bằng và tổ chức tái định cư khu kinh tế Nghi Sơn 43
3.3.1 Kết quả thu hồi đất tại khu kinh tế Nghi Sơn 43
3.3.2 Kết quả di dời dân cư trong quá trình giải phóng mặt bằng cho khu kinh tế Nghi Sơn 45
3.3.3 Kết quả thực hiện tái định cư 47
3.4 Tình hình thực hiện chính sách của địa phương về hỗ trợ giải phóng mặt bằng khu kinh tế Nghi Sơn 48
3.4.1 Chính sách của địa phương về hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hối đất 48
3.4.2 Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ và tái định cư tại khu kinh tế Nghi Sơn 51
3.5 Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho dân cư thuộc khu tái định cư ở khu kinh tế Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Thanh Hoá 55
3.5.1 Thống kê số lượng lao động thuộc diện tái định cư tại khu kinh tế Nghi Sơn 55
3.5.2 Thực trạng giải quyết việc làm cho dân tái định cư thuộc khu kinh tế Nghi Sơn 56
3.6 Những thành công và tồn tại trong việc giải quyết việc làm cho nông dân tái định cư khu kinh tế Nghi Sơn 64
3.6.1 Những kết quả đạt được 64
Trang 43.6.2 Những tồn tại 66 3.6.3 Nguyên nhân 67
3.7 Các đề xuất, giải pháp nhằm giải quyết việc làm những nông dân tái định cư tại khu kinh tế Nghi Sơn - Tĩnh Gia – Thanh Hóa 67
3.7.1 Các đề xuất định hướng giải quyết việc làm cho nhân dân tái định
cư 67 3.7.2 Các giải pháp giải quyết việc làm cho nhân dân tái định cư 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Cơ cấu đất đai của huyện Tĩnh Gia – Thanh Hoá 31
3.2 Quy mô dân số và lao động của huyện Tĩnh Gia 33 3.3 Tình hình phát triển các ngành kinh tế của huyện Tĩnh Gia 35
3.5 Quy hoạch phát triển dự án khu kinh tế Nghi Sơn đến năm 2025 41
3.6 Một số dự án đã triển khai tại khu kinh tế Nghi Sơn 41
3.7 Kết quả thu hồi đất tại khu kinh tế Nghi Sơn 43
3.8 Phân loại đất thu hồi tại khu kinh tế Nghi Sơn 45
3.9 Kết quả di dời dân cư tại khu kinh tế Nghi Sơn 46 3.10 Kết quả thực hiện tái định cư tại khu kinh tế Nghi Sơn 47
3.11 Tình hình thực hiện hỗ trợ tái định cư của dự án đã thực hiện 52
3.13 Tình hình việc làm và thu nhập của các hộ gia đình 57
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới Và, thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp và đô thị Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh
tế - xã hội cần được giải quyết kịp thời và thỏa đáng để hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân
Thực hiện xu thế phát triển chung của cả nước, tỉnh Thanh Hoá đã và đang diễn ra quá trình đô thị hoá mạnh mẽ Trên khắp vùng miền của tỉnh nhiều khu đô thị, khu công nghiệp mới với quy mô khác nhau được hình thành và đi vào hoạt động Là một tỉnh đất rộng, người đông đứng thứ 2 cả nước, Thanh Hóa cần phát huy nội lực của mình để chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh, mạnh hơn nữa Do vậy, phát triển công nghiệp, đô thị là một việc làm đúng đắn, phù hợp mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra
Tĩnh Gia là một huyện miền biển, có vị trí thuận lợi, điều kiện tự nhiên phong phú đa dạng chứa đựng những tiềm năng lớn Chính vì vậy, Đảng và Nhà Nước ta đã chọn Tĩnh Gia là huyện để phát triển khu công nghiệp Nghi Sơn với dự án hàng nghìn tỷ đồng Để thực hiện chủ trương phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho quá trình công nghiệp hoá ở địa phương, đã lấy đi phần lớn đất canh tác của nông dân tại đây Mất đất, với khoản tiền lớn trong tay, người nông dân chưa biết làm thế nào để ổn định cuộc sống, khi trước đây cuộc sống của họ chủ yếu dựa và nông nghiệp Họ chưa biết làm gì để sống? Chưa biết sử dụng số tiền đền bù ấy như thế nào cho phù hợp? Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất đã trở thành một vấn đề bức xúc, đòi hỏi sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cũng như quần chúng nhân dân để có thể đảm bảo được đời sống của người dân trên địa bàn huyện Tĩnh Gia nói chung và khu kinh tế Nghi Sơn nói riêng
Trang 7Để đánh giá được tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới đời sống, việc làm của những người nông dân bị thu hồi đất và qua đó đề
ra những giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn khu
kinh tế Nghi Sơn, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho những nông dân tái định cư thuộc khu kinh tế Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá”
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về di dân và tái định cư
1.1.1 Di dân và tác động của di dân
1.1.1.1 Khái niệm di dân
Biến động dân số bao gồm hai cấu thành cơ bản là tăng tự nhiên và tăng cơ học Tăng tự nhiên của dân số gắn liền với quá trình sinh học đó là: Sinh ra, tồn tại, và mất đi của con người theo thời gian Quá trình nay thông qua các hiện tượng sinh và chết Biến động dân cư còn do tác động cơ học của quá trình di dân Trong mọi quốc gia, những luồng di cư tạo nên sự phân bố lại dân cư, đồng thời làm tăng mật độ dân cư giữa các vùng miền địa lý Di dân về bản chất không phải là hiện tượng sinh học như sinh, chết Di dân có thể diễn ra nhiều lần, lặp đi, lặp lai của trong cuộc đời của một cá nhân trong khi sinh đẻ và tử vong chỉ diễn ra một lần
Di dân (hay còn gọi là sự chuyển cư) là một trong những loại di chuyển
về mặt không gian của dân cư Do vậy phạm trù “di dân” và “tính cơ động của dân số” khác nhau
Về di dân có hai nhóm định nghĩa chủ yếu: Di dân theo nghĩa rộng và
di dân theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, di dân được hiểu đồng nhất với khái niệm “sự vận
động của dân cư” – nghĩa là bất cứ hay toàn bộ sự di chuyển nào của con người trong không gian
Theo EF.Baranov và Beer thì: “Di dân hiểu theo nghĩa rộng là bất kỳ một sự di chuyển của con người giữa các lãnh thổ có gắn liền với sự thay đổi
vị trí, dạng hoạt động lao động và ngành có sử dụng lao động” [7, tr 8]
I.M.Kozurov cho rằng:
“Di dân gắn liền với sự thay đổi nơi làm việc trong phạm vi một vùng dân cư nhất định hay sang tới các vùng khác” [7, tr 8]
Trang 9Tác giả V.I.Xtapoverop (1975) định nghĩa: “Di dân được hiểu là một sự thay đổi vị trí con người về mặt địa lý do có sự thay đổi thường xuyên hoặc tạm thời của họ,
từ một cộng đồng kinh tế xã hội này sang cộng đồng kinh tế xã hội khác hoặc
có sự thay đổi vị trí không gian của toàn bộ cộng đồng nói chung” [7, tr 9]
Nhìn chung, các tác giả nói trên coi di dân là sự chuyển động trong không gian của con người gắn với mục đích di chuyển nên khó phân biệt được đặc thù của di dân trong tổng thể di chuyển giữa các vùng lãnh thổ Do vậy, định nghĩa di dân theo nghĩa rộng có thể qui tụ sự xáo trộn của con người
có liên quan đến “sự chuyển động cơ học” của dân cư Cách hiểu đó không tính hết đến khoảng cách, thời gian, mục đích di chuyển và phạm vi lãnh thổ
và nơi định cư cụ thể
Theo nghĩa hẹp, người ta quan niệm “Di dân là sự chuyển dịch của
con người gắn liền với sự thay đổi chỗ ở thường xuyên, cố định của họ, thay đổi vị trí môi trường từ nơi đi tới nơi đến trong khoảng thời gian nhất định nào đó” [7, tr 9]
Tuỳ thuộc vào mức độ thời gian và tính liên tục mà di dân giữa các vùng có các hình thức trở lại (1) và không trở lại (2) Hình thức 1 thường gồm
di dân con lắc và di dân theo mùa Hình thức 2 là di chuyển nơi ở hay thay đổi nơi sinh sống của họ
Năm 1958, Liên Hiệp Quốc định nghĩa di dân như sau: “Di dân là một hình thức di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lý hành chính này và một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác định” [7, tr 10]
Như vậy, khái niệm về di dân theo nghĩa hẹp như định nghĩa của Liên Hiệp Quốc đã loại ra được những người sống lang thang, dân du mục, di dân theo mùa và di dân theo kiểu con lắc (đi về hằng ngày) Trong điều tra dân số
ở các nước cũng như ở nước ta, di dân được xác định là người thay đổi chỗ ở thường xuyên từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành chính khác Nhìn
Trang 10chung, ở đa số các nước người dời cư ra khỏi giới hạn hành chính của một thành phố, tỉnh, huyện (quận) được coi là di dân
Tại những nước đang phát triển, các đô thị lớn luôn luôn là điểm thu hút các luồng di chuyển Ngược lại, ở các nước phát triển người dân từ nông thôn có xu hướng di chuyển đến các đô thị nhỏ vệ tinh xung quanh những khu
đô thị lớn Di dân và quá trình tập trung đô thị ở địa bàn nơi đến luôn đặt ra những thách thức mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trường của các vùng miền đất nước
Về chính sách, di dân và đô thị hoá đã trở thành một trong những mối quan tâm chính của hầu hết các quốc gia Được thể hiện trong nội dung Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairô năm 1994
Mặc dù có rất nhiều khái niệm về di dân nhưng có thể tóm tắt một số điểm chung sau:
- Người di dân di chuyển ra khỏi một địa điểm nào đó và đến một nơi khác sinh sống Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính
- Người di chuyển bao giờ cũng có mục đích, họ đến một nơi nào đó và định cư tại nơi đó trong một khoảng thời để thực hiện mục đích của mình Nơi xuất phát là đầu đi, nơi ở là đầu đến
- Khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí xác định di dân Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và loại hình di dân mà thời gian
có thể là: Một năm, nhiều năm…
1.1.1.2 Phân loại di dân
Có rất nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau và tuỳ từng mục đích nghiên cứu
- Theo khoảng cách di chuyển:
Đây là cách phân loại di dân quan trọng thông qua sự phân biệt đặc điểm nơi đến và nơi đi:
Trang 11- Di dân từ nông thôn - đô thị
- Di dân nông thôn - nông thôn
- Di dân đô thị - nông thôn
- Di dân đô thị - đô thị
- Theo độ dài thời gian cư trú:
+ Di chuyển ổn định: Bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên và nơi làm việc, với mục đích định cư sinh sống lâu dài tại nơi đến Phần lớn người di cư là do điều động công tác, người tìm cơ hội làm việc mới
và thoát ly gia đình… Những đối tượng này thường không quay trở về sống tại quê hương cũ
+ Di chuyển tạm thời: Sự vắng mặt tại nơi ở gốc là không lâu, khả năng quay trở về là chắc chắn Loại hình này bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo thời vụ, đi công tác dài ngày, hoặc như trường hợp ra nước ngoài học tập rồi quay trở về nước
+ Ngoài ra còn có các loại hình di dân mùa vụ, di chuyển con lắc là dòng di chuyển của cư dân nông thôn vào thành phố trong thời kỳ nông nhàn, hoặc trong điều kiện thiếu việc làm thường xuyên Hình thái này có xu hướng ngày càng tăng trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở các nước đang phát triển
- Theo đặc trưng di dân:
+ Di dân có tổ chức: Là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo
kế hoạch và các chương trình mục tiêu nhất định do Nhà Nước, chính quyền các cấp vạch ra và tổ chức, chỉ đạo thực hiện, với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội Về nguyên tắc, người dân di chuyển có tổ chức được Nhà Nước và chính quyền địa phương nơi nhập cư giúp đỡ Di dân có tổ chức có thể giảm bớt khó khăn cho người nhập cư, tăng nguồn lao động địa phương,
có thể tránh được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái
Trang 12+ Di dân tự phát: Di dân không có tổ chức hay còn gọi là di dân tự phát, đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội ở Việt Nam Hình thái di dân này mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có hoặc không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của Nhà Nước và các cấp chính quyền Di dân tự phát phản ánh tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân, hộ gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm
1.1.1.3 Các lý thuyết di dân
Nghiên cứu di dân mới chỉ bắt đầu dưới thời kỳ phát triển Tư bản chủ nghĩa Phương Tây với sự hợp tác của nhiều ngành khoa học khác nhau (địa lý nhân văn, kinh tế, lịch sử, thống kê, toán học…) Mặc dù các lý thuyết này được vận dụng cho các luồng di dân khác nhau (nông thôn - thành thị, nông thôn - nông thôn, di dân trong nước, di dân quốc tế…), song, hầu hết các lý thuyết về di dân đều tập trung trả lời câu hỏi: Tại sao người dân di chuyển? Các nhân tố nào quyết định di chuyên? Có sự khác biệt giữa người di chuyển
và không di chuyển, mối quan hệ giữa các cộng đồng dân cư?
* Lý thuyết Micheal P.Todaro
Năm 1971 Todaro đã phát triển lý thuyết kinh tế về di dân, giải thích sự chênh lệch về tiền lương và cơ hội việc làm giữa hai khu vực nông thôn và đô thị Mô hình của ông dựa vào những giả thuyết sau:
- Thứ nhất, giả thiết rằng di dân chủ yếu là một hiện tượng kinh tế mà
đối với cá nhân người di cư có thể là một quyết định hoàn toàn hợp lý cho dù
có tình trạng thất nghiệp ở thành thị
- Thứ hai, quyết định di cư phụ thuộc vào chênh lệch thu nhập “dự
kiến” sẽ có được mà không phải là thu nhập thực tế giữa nông thôn và thành thị
Chênh lệch thu nhập “dự kiến” được xác định bởi sự tác động qua lại của 2 yếu tố Đó là: Chênh lệch về lương thực tế giữa nông thôn - thành thị và
Trang 13xác suất thành công trong tìm việc làm ở thành thị Những lao động trong hiện tại và trong tương lai sẽ di cư nếu thu nhập “dự kiến” có được trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị cao hơn thu nhập hiện tại có ở nông thôn [7, tr 23]
* Lý thuyết của Ravenstein
Đây là lý thuyết mở đầu cho việc xây dựng các thuyết xã hội học về di dân, được G.Ravenstein (1885) phát triển và thể hiện nó dưới dạng các quy luật di dân có liên quan đến quy mô dân số, mật độ, khoảng cách di dân Điểm mạnh của thuyết này mang tính khái quát hoá những quy luật di dân Cụ thể:
- Phần lớn các cuộc di dân diễn ra với khoảng cách ngắn
- Quy mô di dân tỷ lệ thuận với dân số gốc nơi người di dân ra đi
- Đối với mỗi dòng di dân đều tồn tại những dòng di chuyển ngược lại
để bù đắp
- Trong một quốc gia những người di dân gốc thành phố, thị xã thường
ít di chuyển hơn so với những người ở các vùng nông thôn
- Sự di chuyển từ vùng sâu, vùng xa vào các thành phố lớn diễn ra theo các giai đoạn
- Động lực chính của di dân là kinh tế
- Phần lớn nữ giới di dân có khoảng cách ngắn hơn nam giới [7, tr 25]
* Lý thuyết đô thị hoá:
Lý thuyết này ra đời nhằm nhấn mạnh mối quan hệ giữa đô thị hoá và thu nhập bình quân Lý thuyết này cho rằng những người dân nông thôn quyết định ra đi vì họ bị hấp dẫn bởi việc làm và đồng lương cao ở thành phố Họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro hay thất nghiệp ngay tại thị trường lao động ở thành phố trong thời gian chờ cơ hội thu nhập và việc làm với mức lương cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn [7, tr 26]
* Lý thuyết lực “hút- đẩy”
Trang 14Everetts Lee (1966) đã xây dựng lý thuyết này trên cơ sở tóm tắt các quy luật di dân của Ravenstein và phân loại các nhóm ảnh hướng đến quá trình di chuyển Ông thừa nhận rằng động lực của di dân bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội ở những cấp độ khác nhau Song theo ông có ba nhóm yếu tố cơ bản cần xem xét khi phân tích quyết định di dân
Đó là những nhân tố cơ bản liên quan đến nơi đi, nơi đến, các trở lực trung gian ngăn cản sự di dân giữa nơi đi và nơi đến mà người di dân phải vượt qua
- Các lực hút tại các vùng có dân di chuyển đến:
Đất đai mầu mỡ, tài nguyên phong phú, khí hậu ôn hoà, môi trường sống thuận lợi hơn
Cơ hội sống thuận tiện, dễ kiếm việc làm, thu nhập cao, điều kiện sinh hoạt ổn định, có triển vọng cải thiện đời sống hơn
Môi trường văn hoá xã hội tốt hơn nơi cũ
- Các lực đẩy tại vùng dân chuyển đi:
Điều kiện sống quá khó khăn, thu nhập thấp, khó kiếm việc làm Do thiên tai, hạn hán, bệnh dịch…
Đất canh tác ít, bạc màu, không có vốn và kỹ thuật để chuyển đổi ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống
Mong muốn tìm đến vùng đất mới có khả năng kiếm việc làm, tăng thu nhập, học hành của con cái, mong muốn cải thiện cuộc sống cho thế hệ tương lai
Do nơi ở cũ bị giải toả, di dời nhằm mục đích lấy lại mặt bằng xây dựng đường xá, các công trình công cộng, các dự án phát triển kinh tế
Dưới tác động của các chương trình, chính sách di dân chuyển điều lao động và dân cư với sự hỗ trợ, chỉ đạo của Nhà nước như chương trình kinh tế mới, định canh định cư, di dân ra biên giới, hải đảo
Trang 15Ngoài ra, cần kể đến một số nguyên nhân mang bản chất xã hội nhưng tồn tại ở cấp cá nhân có ảnh hưởng đến nhu cầu di dân Đây là những yếu tố phi kinh tế có đặc thù riêng của người di chuyển như:
Nhu cầu rời khỏi nơi cũ để thoát khỏi những kỷ niệm cũ và bị những
sự kiện nặng nề về tâm lý đã xảy ra trong cuộc đời
Bị mặc cảm, định kiến nên không muốn ở lại cộng đồng nơi cư trú
Mong muốn đến một nơi ở mới nhằm thay đổi môi trường xã hội và xây dựng các mối quan hệ xã hội tốt đẹp hơn [7, tr 26]
1.1.1.4 Vai trò của di dân trong vấn đề giải quyết việc làm
Đứng trên góc độ vĩ mô có thể thấy: Di dân góp phần phân bố lại lao động để khai thác tốt hơn các tiềm năng của cả đầu đến và đầu đi: đất đai, rừng, mặt nước ven biển, các cơ hội kinh tế… Thúc đẩy phát triển kinh tế của
đất nước, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các vùng, các cộng đồng dân cư, làm
thay đổi đời sống kinh tế, xã hội tại nơi đến và nơi đi
Trang 16Sơ đồ1.1: Vai trò của di dân
1.1.2 Tái định cư và vai trò của tái định cư
1.1.2.1 Khái niệm
Tái định cư: Là một quá trình đền bù, tái bố trí và khôi phục cho những người bị ảnh hưởng của dự án khi di chuyển cơ học từ một nơi cư trú này (nơi xuất cư) đến nơi cư trú khác (nơi nhập cư)
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần của người dân tại đó Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Vai trò của di dân
Nguồn lao
động
Tăng nguồn lao động
Giảm áp lực giải quyết việc làm
Xã hội
Thúc đẩy sự giao lưu, hoà nhập
và phát triển văn hoá giữa các vùng, các cộng đồng dân cư
Trang 17Hiện nay ở nước ta, khi Nhà Nước tiến hành thu hồi đất để sử dụng mục đích phát triển kinh tế - xã hội mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở
- Bồi thường bằng giao đất ở mới
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
1.1.2.2 Vai trò của tái định cư
Tái định cư là một bộ phận không thể tách dời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng Các dự án tái định cư cũng được coi là các dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển
khác Bởi vì, tái định cư là cách thức để ổn định đời sống cho nhân dân
Tái định cư nhằm mục đích ổn định đời sống của nhân dân có đất bị thu hồi, thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị xã hội Việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế của đất nước và quản
lý quỹ đất thu hồi; chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế và những trường hợp thu hồi đất
mà không bồi thường hoặc chỉ xử lý tiền sử dụng đất còn lại và giá trị tài sản trên đất… là một việc làm cần thiết để phát triển kinh tế, ổn định xã hội
1.1.2.3 Đặc điểm tái định cư ảnh hưởng đến việc làm của dân tái định cư
Tái định cư được xem xét như là các hệ thống xã hội với các thành phần cấu tạo như: kinh tế, giáo dục và đào tạo, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh hoạt khác, việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội Tái định cư là việc di dời một cộng đồng dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác Theo lý thuyết hệ thống, chỉ một sự thay đổi về chỗ ở này cũng có thể dẫn đến những thay đổi ở các thành phần khác như: kinh tế, giáo dục và đào tạo, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh hoạt khác, việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội, Và như thế trạng thái cân bằng của cộng đồng dân
Trang 18tái định cư đã bị ảnh hưởng Sự mất cân bằng này có thể hứa hẹn một sự sụp
đổ của hệ thống cũ và thiết lập được một hệ thống mới, một cộng đồng dân
cư mới có đời sống tốt hơn nếu có chính sách tác động phù hợp và hiệu quả
Ngân hàng Thế Giới (World Bank, 2004), Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB, 1995) cảnh báo tái định cư có thể dẫn đến những nguy cơ như: người dân phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo khi những điều kiện sản xuất
và những nguồn tạo thu nhập của họ mất đi, họ có thể bị di dời đến những nơi không có việc làm hay các tài nguyên kiếm sống không có nhiều khiến cho họ phải khai thác đến mức kiệt quệ các tài nguyên môi trường để sinh tồn, gây hại cho môi trường; các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị phá vỡ, các mối quan hệ họ hàng cũng bị ảnh hưởng; các yếu tố truyền thống, văn hoá có thể bị mất đi, cư dân tại chỗ các khu vực tái định cư không thân thiện hay không có những nét tương đồng về văn hoá Đây là những tổn thất vô hình mà người dân tái định cư phải gánh chịu bên cạnh những mất mát về nhà cửa, đất đai
1.1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm cho người tái định cư
- Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Đất đai cùng tài nguyên sinh vật trên đất vừa là đối tượng, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt để con người tác động vào nó tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu phát triển của xã hội Tuy nhiên diện tích đất đai, tài nguyên là có hạn, bị thu hẹp do nhiều nguyên nhân: Tăng dân số, phát triển các ngành phi nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng… Vì thế, nó cũng ảnh hưởng đến tạo việc làm trong xã hội Tài nguyên đất, tài nguyên thiên nhiên giàu có thì sẽ tạo được nhiều ngành kinh tế, đồng nghĩa với việc tạo thêm việc làm cho người lao động và ngược lại
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm các hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện lực, thông tin liên lạc… là các yếu tố gián tiếp tạo ra việc làm và nâng cao hiệu quả việc làm Thực tế cho thấy các khu công nghiệp, đô thị thường được
Trang 19xây dựng ở nơi có đường giao thông thuận lợi, hệ thống điện, thông tin liên lạc đầy đủ… Vì vậy, việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các cộng đồng dân tái định cư sẽ tạo ra khả năng thu hút nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp tạo môi trường phát triển việc làm cho từng cộng đồng
- Dân số - nguồn lao động
Dân số và việc làm vừa có mối quan hệ tương hỗ, vừa hạn chế lẫn nhau Quy mô dân số lớn, dân số tăng nhanh tất yếu làm tăng nguồn lao động
và đồng nghĩa với tăng sức ép về giải quyết việc làm Mặt khác nguồn lực lao động là nguồn lực rất cơ bản để phát triển kinh tế Khi kinh tế phát triển thì khả năng tạo việc làm trong xã hội càng nhiều Giải quyết mối quan hệ giữa dân số và việc làm là một vấn đề nan giải của mỗi quốc gia Với mọi quốc gia nhất là các quốc gia kém phát triển hoặc đang phát triển thường có tỷ lệ tăng dân số cao Vì vây, Chính phủ các nước cần có chính sách điều chỉnh sao cho phù giữa tỷ lệ tăng dân số và số việc làm được tạo ra hằng năm Bên cạnh kiểm soát tốc độ tăng dân số là nâng cao chất lượng nguồn lao động, một yếu
tố tác động trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm trong xã hội
- Chính sách lao động và việc làm trong xã hội
Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội Chính sách việc làm là nhân tố chủ yếu quan trọng đối với toàn bộ quá trình phát triển việc làm trong xã hội Chính sách việc làm thuộc chính sách xã hội nhằm giải quyết một vấn đề xã hội cấp bách trước mắt và cơ bản lâu dài ở mỗi quốc gia, đặc biệt là ở khu vực nông thôn (nơi đang tồn tại tỷ lệ chưa có việc làm và thiếu việc làm khá cao)
1.1.2.5 Vấn đề giải quyết việc làm cho dân tái định cư
Thực tế sau khi tái định cư ở địa phương mới, đa số người lao động của
hộ sau tái định cư gặp nhiều khó khăn trong việc làm và tìm việc làm mới ổn định, theo khảo sát thực tế có nhiều nguyên nhân cụ thể:
Trang 20Người dân sau khi tái định cư chủ yếu là người nghèo, lao động nông nghiệp là chủ yếu, có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn thấp Một số, việc làm đơn giản không ổn định, nghề nghiệp của họ đa số là công việc lao động phổ thông, cá thể hoặc nhóm sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ như: công nhân ngành tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, cắt tóc, uốn tóc, chạy xe vận chuyển, bán hàng rong, bốc xếp, cửu vạn, xe ôm… nên việc định cư ở một chung cư cao tầng và các khu dân cư mới hầu hết các cơ hội việc làm không nhiều, khó thay đổi việc làm mới, khó tìm lại công việc như trước đó ở nơi định cư mới, dù công việc trước đó đơn giản nhưng đã nuôi sống họ Từ đó đã ảnh hưởng đến việc làm, có nhiều người dân sau khi di dời vẫn quay về chỗ
cũ để làm ăn, tốn nhiều chi phí đi lại, và các chi phí khác, kể cả những hộ có người lao động đã là công nhân viên chức ở các công ty với việc làm, thu nhập ổn định khi di chuyển chổ ở mới, cũng bị ảnh hưởng giảm sút thu nhập Điều đáng quan tâm nhất là người dân cho rằng việc làm của họ sau khi tái định cư gặp nhiều tình trạng khó khăn nhiều hơn, nhiều người đã lâm vào cảnh thất nghiệp, nhiều hộ dân phải bán nhà tái định cư để đến các khu vực có nhiều cơ hội tìm được việc làm hơn để sinh sống
Về việc làm, tỷ lệ người thay đổi việc làm khá thấp, chỉ chiếm 12,7% trong tổng số người đang làm việc hiện nay Tuy nhiên, những con số thể hiện
sự “ít thay đổi” này không phải là những con số khả quan Việc đa số người dân không thay đổi việc làm không phải là một tín hiệu tốt, thể hiện khả năng
tự ổn định cuộc sống của người dân sau tái định cư Thực tế cho thấy, do người dân tái định cư thường không được bố trí tái định cư tại những nơi có nhiều nhu cầu việc làm hay có thị trường buôn bán thuận lợi nên đa số họ phải quay lại nơi ở cũ để làm việc và buôn bán Chính sự “không thể thay đổi” ấy khiến họ phải chịu đựng những khó khăn, chịu đựng những tổn thất để giữ được công việc làm cũ nhằm tạo ra thu nhập cho gia đình Và việc người
Trang 21dân không tìm được việc làm ở nơi ở mới cũng thể hiện sự khó khăn trong việc hoà nhập vào cộng đồng dân cư mới của người dân tái định cư
Về thu nhập, đa số hộ có thu nhập thấp hơn lúc trước khi tái định cư, đồng thời chi phí cho cuộc sống của hầu hết các hộ dân đều tăng lên Sự giảm sút về thu nhập cho thấy những khó khăn mà người dân phải chịu trong công việc làm ăn Tuy người dân không thay đổi việc làm nhưng thu nhập họ kiếm được từ công việc làm ăn đã bị giảm sút do những khó khăn vì phải di chuyển chỗ ở, hoặc những phí tổn do phải đi làm xa, và thậm chí có những phí tổn mà người dân không nhận thức hết được Những khó khăn này trong thu nhập của người dân nên được coi là một trong những chỉ báo về sự không ổn định của người dân sau tái định cư để có những chính sách hỗ trợ tích cực hơn cho họ
Về việc học nghề, đa số người dân tái định cư không học nghề và không có nguyện vọng học nghề Họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc có được một trình độ chuyên môn nhất định để có thể có được nghề nghiệp ổn định tại nơi ở mới, không tha thiết với việc học hay tìm một nghề mới (có thể họ thiếu sự hướng dẫn) và họ chỉ quan tâm đến công việc cũ họ đang làm Bên cạnh đó, những nơi bố trí tái định cư cho người dân thường không phải là những nơi có nhiều nhà máy, xí nghiệp hay cơ sở sản xuất, nên môi trường ở mới này không khuyến khích và thúc đẩy người dân có nguyện vọng học nghề Đa số dân tái định cư là dân nghèo nên nhu cầu cuộc sống quá bức bách khiến họ phải tham gia ngay vào thị trường lao động mà không có thời gian học nghề Đồng thời kinh phí hỗ trợ việc học nghề cho người dân tái định cư hiện nay còn thấp khiến cho người dân khó có thể trang trải trong suốt thời gian học nghề Mặt khác, chất lượng của các trường dạy nghề tại địa phương hiện nay cũng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn nên chưa tạo được niềm tin nơi người dân
Về việc thực hiện các giải pháp Chính sách hỗ trợ việc làm thì cũng có nhiều hạn chế, chưa đạt kết quả tốt, vì:
Trang 22+ Các cơ quan chức năng ở địa phương trước, sau tái định cư và các Trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm chưa thực hiện được việc tư vấn nghề nghiệp – việc làm cho người dân Thông tin hướng nghiệp, thị trường lao động không được chuyển tải đầy đủ, người dân không biết định hướng nghề nghiệp, học nghề, chuyển đổi nghề nghiệp nào là phù hợp nơi ở mới, phù hợp với năng lực sở trường
+ Chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề không phù hợp với việc làm và không thể đáp ứng đầy đủ các ngành nghề đa dạng của thị trường lao động nơi ở mới , đồng thời do trình độ hạn chế người dân khó tiếp cận học nghề ở các trường chính quy mà thường học nghề trong các cơ sở sản xuất, dịch vụ nên khó vào làm việc trong các doanh nghiệp ở các khu công nghiệp, các ngành công nghiệp, các ngành kinh tế, dịch vụ cần lao động lành nghề, cần kỹ năng làm việc, tác phong công nghiệp
+ Chính sách hỗ trợ học nghề cho người dân tái định cư không đủ trang trải trong thời gian học nghề
Các vấn đề trên cho thấy các chương trình tái định cư có làm được việc chăm lo về nhà ở, chính sách đền bù di dời, thủ tục hành chính di dời và các vấn đề văn hóa – việc làm – xã hội chưa được thực hiện tốt, có hiệu quả như chủ trương chính sách mong muốn
Để chăm lo cho người dân sau tái định cư về nghề nghiệp – việc làm phải thực hiện tốt việc hỗ trợ văn hóa, hướng nghiệp đào tạo và giải quyết việc làm, chuyển đổi việc làm, tạo việc làm Đây cũng là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm đối với việc tái định cư cho các hộ dân khi Nhà Nước thực hiện thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội
Trang 231.2 Chính sách của Nhà nước về giải quyết việc làm cho những nông dân
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà Nước thu hồi đất
- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 2/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà Nước thu hồi đất
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung các loại giá đất
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ tài chính về việc hướng dẫn thực hiện nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung các loại giá đất
- Nghị định số 123/2007/NĐ-Cp ngày 27/07/2007 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004
về phương pháp xác định giá đất và khung các loại giá đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ về Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thu hồi đất thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 25/5/2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của
Trang 24Chính phủ về quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thu hồi đất thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
…
Với nội dung cơ bản của các Quyết định, Thông tư ban hành việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà Nước thu hồi đất là:
- Hỗ trợ di chuyển
Hộ gia đình khi Nhà Nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trong phạm
vi tỉnh, thành phố được hỗ trợ mỗi hộ cao nhất 3.000.000 đồng; di chuyển sang tỉnh khác được hỗ trợ cao nhất 5.000.000 đồng; mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Tổ chức có đủ điều kiện được bồi thường thiệt hại đất và tài sản khi bị thu hồi mà phải di chuyển cơ sở, được hỗ trợ toàn bộ chi phí thực tế về di chuyển, tháo dỡ và lắp đặt
Người bị thu hồi đất ở, không còn chỗ ở khác; trong thời gian chờ tạo lập lại chỗ ở mới (bố trí tái định cư), được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở; thời gian và mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với thực tế tại địa phương
- Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà Nước thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao, được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 3 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 6 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 12 tháng Mức hỗ trợ bằng tiền cho 01 nhân khẩu/01tháng tương đương 30 kg gạo tính theo thời giá trung bình tại địa phương
Trang 25Khi Nhà Nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh, mà bị ngừng sản xuất kinh doanh, thì được hỗ trợ cao nhất bằng 30% 1 năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 3 năm liền
kề trước đó được cơ quan thuế xác nhận; mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cho phù hợp với thực tế ở địa phương
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong độ tuổi lao động; mức hỗ trợ và số lao động cụ thể được hỗ trợ do
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cho phù hợp với thực tế ở địa phương
Việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện chủ yếu bằng hình thức cho đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề
- Hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nước
Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu Nhà Nước khi Nhà Nước thu hồi đất phải phá dỡ nhà ở, phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển bằng mức quy định tại khoản 1 điều 27 của Nghị định này
Căn cứ vào thực tế ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân
- Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn
Trường hợp đất thu hồi thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì được hỗ trợ; mức hỗ trợ cao nhất có thể bằng mức bồi thường; mức hỗ trợ
cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; tiền hỗ trợ được nộp vào Ngân sách Nhà Nước và được đưa vào dự toán Ngân sách hàng năm của xã, phường, thị trấn; tiền hỗ trợ chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng, sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn
- Hỗ trợ khác
Ngoài việc hỗ trợ theo quy định căn cứ vào tình hình thực tế tại địa
Trang 26phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác
để bảo đảm ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất; trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định [1, tr 30 - 47]
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về giải quyết việc làm cho người dân tái định cư
1.3.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hoá của thành phố Hồ Chí Minh
So với cả nước, thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hoá diễn ra rất cao Mỗi năm, có hàng ngàn hécta đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích
sử dụng Năm 2003, có khoảng 1000ha đất canh tác chuyển thành đất nông nghiệp, 551ha được chuyển sang làm đất đô thị, hơn 2.000ha được chuyển sang cho mục đích sử dụng khác Vì vậy, một vấn đề cần phải giải quyết việc làm cho những lao động nông nghiệp bị thu hồi đất mà ở đây là lao động ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, với số lượng khá lớn 1,13 triệu người (theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh năm 2003) mà đại đa số chỉ có trình độ văn hoá hết cấp I và cấp II
Để từng bước tạo việc làm cải thiện thu nhập cho những bộ phận này Các cấp chính quyền thành phố đã thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường quản lý người lao động ở khu vực ngoại thành và
xác định nhu cầu nghề nghiệp, việc làm Hằng năm, thành phố đều tổ chức điều tra về lao động, việc làm ở khu vực ngoại thành Trên cơ sở đó nắm bắt được số lượng lao động chưa có việc làm và có nhu cầu tìm kiếm Việc đánh giá về sự chuyển dịch lao động, trình độ nghề nghiệp, chuyên môn kỹ thuật, nhu cầu khả năng học nghề tạo cơ sở cho việc thực hiện các chương trình việc làm và phối hợp có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh và thành phố
Hai là, trong quá trình đô thị hoá, thành phố chủ trương thực hiện các
giải pháp sau nhằm tạo việc làm cho người lao động:
Trang 27- Tổ chức đào tạo nghề gắn với bố trí việc làm theo các ngành nghề mới phát triển ở nông thôn, các khu công nghiệp mới Thành phố đã đầu tư xây dựng mới thêm nhiều cơ sở dạy nghề, và nâng cấp các trường dạy nghề dài hạn giúp người lao động có cơ hội nâng cao tay nghề, tiếp xúc nhiều hơn với các công việc mới Các cơ ở dạy nghề ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
có khả năng đào tạo lao động tại chỗ với số lượng 20.000 học viên trên một năm và hàng năm có thể thu hút 6.000 đến 8.000 lao động ở khu vực nông thôn vào các nghề: Sửa chữa ô tô, xe máy, lái xe, may công nghiệp, may gia dụng hầu hết các huyện ngoại thành đã hình thành và phát triển các văn phòng, trung tâm giới thiệu việc làm Mỗi năm các cơ sở này có thể giới thiệu việc làm cho khoảng 30.000 lao động trong đó có hơn 10.000 lao động ở khu vực nông thôn
- Gắn đào tạo nghề ở khu vực ngoại thành với chương trình xuất khẩu lao động
Ba là, gần đây Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh vừa ra quyết
định thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố (gọi tắt là quỹ hỗ trợ) Trong đó, người học nghề (ngắn hạn, trung hạn hoặc trung học chuyên nghiệp) được hỗ trợ toàn bộ học phí (từ 250.000đ/người/tháng cho khoá ngắn hạn đến 3.000.000đ/ người/khoá đối với khoá trung hạn) và được cấp thêm sinh hoạt phí 200.000đ/người/tháng thời gian học Lao động được vay vốn làm ăn (không quá 10 triệu đồng/người và không quá 30 triệu đồng/hộ) Người vay vốn đi xuất khẩu lao động được vay tối đa 50 triệu đồng/hộ, thời gian vay tối đa 36 tháng với lãi suất 2%/năm Các đối tượng được hỗ trợ đã có trong danh sách bị thu hồi đất Nếu họ có nhu cầu vay vốn phải có kế hoạch
cụ thể hoặc phải lập dự án để địa phương thẩm định, đòi hỏi đội ngũ quản lý phải có kinh nghiệm Nguồn vốn có được do Ngân sách thành phố cấp một phần kinh phí ban đầu và khoản đóng góp của chủ đầu tư sử dụng đất thu hồi
Trang 28của người dân, được tính 5% tổng chi phí bồi thường hỗ trợ cho dự án (đối với dự án chưa triển khai) và 3% tổng chi phí bồi thường hỗ trợ của dự án (đối với dự án đang bồi thường) Trong trường hợp quỹ không đáp ứng được nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm, quỹ có thể huy động từ các nguồn tín
dụng khác và được Ngân sách Nhà nước cấp bù lãi suất [6, tr 5- 8]
1.3.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho những nông dân bị thu hồi đất ở Thành phố Đà Nẵng
Trong những năm qua, cùng với quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá được đẩy mạnh, số lượng lao động dôi dư do mất đất sản xuất của thành phố Đà Nẵng đã giao 1.764ha đất cho Ban quản lý dự án Trong đó, 4.772 hộ phải di dời, 9.494 người không có việc làm, 2.740 người có nhu cầu học nghề Hội đồng nhân dân thành phố đã có cách làm riêng để giúp những nông dân này chuyển sang nghề mới Thông qua quyết định số 65/2005/QĐ-UB ngày 24/05/2005, Uỷ ban nhân dân thành phố đã ban hành đề án “hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề giải quyết việc làm ổn định đời sống đối với đối tượng bị thu hồi đất sản xuất, di dời giải toả trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” Nhằm từng bước ổn định trở lại cuộc sống người dân và các vùng bị di dời, giải toả như: chuyển đổi ngành nghề 100% cho đối tượng không còn đất sản xuất với số lượng 2.000 đến 3.000 lao động trên một năm Đào tạo nghề miễn phí cho 4.000 đến 5.000 học sinh/năm, giải quyết khoảng 2.500 hộ dân mất đất sản xuất cho nhu cầu chuyển đổi ngành nghề bằng nguồn quỹ quốc gia, giải quyết việc làm Sau đây là một số giải pháp cụ thể cụ sau:
Một là, chuyển giao khoa học kỹ thuật gắn với mô hình: tức là mọi hình
thức nhằm chuyển giao khoa học công nghệ đều có mô hình thực tế để hội viên tham quan trao đổi kinh nghiệm Kết quả là phần lớn hội viên sau khi tham gia những khoá tập huấn đủ tự tin để tổ chức sản xuất kinh doanh Tại những địa bàn trong diện quy hoạch, di dời giải toả như quận Cẩm Lệ, Hải Châu, Hoà Vang hội đã chủ động với trung tâm khuyến ngư - nông lâm mở
Trang 29các lớp hướng dẫn trồng hoa, cây cảnh, nấm, tre lấy măng, nuôi ếch, nuôi cá nước ngọt tìm được mô hình mới để hướng dẫn nông dân đã khó, nhưng khó hơn là phương pháp chuyển giao kỹ thuật phải dễ hiểu
Hai là, tạo vốn cho nông dân, do vậy mỗi hộ nông dân thuộc diện di
dời giải toả, bàn giao đất sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ chuyển đổi nghề 45.000đ/m2 Trong 6 tháng đầu năm 2006 hội nông dân thành phố Đà Nẵng
đã giúp 52 hộ lập 10 dự án vay vốn 120 với tổng số tiền là 916 triệu đồng Số vốn này mới giải quyết việc làm cho 99 lao động Quỹ hỗ trợ nông dân vận động thêm được 604 triệu đồng cho 459 hộ vay Trong đó, toàn thành phố còn khoảng 2.740 người có nhu cầu học nghề để chuyển đổi việc làm
Ba là, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đang hoạt động
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng khi tiếp nhận lao động vào đào tạo và bố trí việc làm tại doanh nghiệp, sau thời gian đào tạo, bố trí việc làm cho người lao động sau khi đào tạo theo hình thức hợp đồng lao động không xác định thời hạn, được thành phố hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề ngắn hạn với mức 200.000/tháng/người Mức hỗ trợ không quá 3 tháng cho 1 khoá hoc Nguồn kinh phí hỗ trợ sẽ được sử dụng chi cho các hoạt động như: thuê mướn chuyên gia, kỹ thuật viên hướng dẫn kỹ thuật; thuê giáo viên, trả lương cho công nhân lành nghề, hướng dẫn thực hành; hợp đồng với các cơ sở được phép hoạt động đào tạo nghề; hợp đồng đào tạo và chuyển giao công nghệ; chi mua sắm nguyên liệu, vật tư, công cụ nhỏ và các khoản chi khác phục vụ cho công tác đào tạo
Bốn là, những doanh nghiệp nằm trong chương trình hỗ trợ của thành
phố phải ưu tiên tiếp nhận lao động thuộc diện chính sách, thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, lao động trong diện thu hồi đất sản xuất, di dời giải toả, lao động thuộc hộ nghèo, miền núi, dân tộc người Trường hợp các đối tượng nêu trên không đủ số lượng theo yêu cầu thì doanh nghiệp mới tiếp nhận đối tượng khác Tất cả người lao động được tiếp nhận phải có hộ khẩu
Trang 30thường trú tại Đà Nẵng Chính sách hỗ trợ này không áp dụng đối với doanh nghiệp đã được ngân sách hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề miễn phí trong chương trình mục tiêu đào tạo nghề miễn phí của thành phố hàng năm
Năm là, đối tượng là con em nông dân bị mất đất sản xuất Học sinh sẽ
được miễm giảm học phí trong suốt 3 năm học ở 3 cấp bao gồm các trường công lập, bán công, dân lập và tư thục Riêng hệ thống trường dân lập, tư thục
để thuận tiện hơn trong việc miễn giảm học phí, đối tượng giảm cần có giấy xác nhận của địa phương [6, tr 4 – 8]
Trang 31Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
+ Đánh giá được hiện trạng công tác giải quyết việc làm cho những nông dân tái định cư khu kinh tế Nghi Sơn – Tĩnh Gia – Thanh Hoá
+ Đề xuất được một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác giải quyết việc làm cho nông dân tái định cư của khu kinh tế Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến nay
Trang 322.3 Nội dung nghiên cứu:
- Các chủ trương, chính sách của Nhà Nước về giải quyết việc làm cho
những người dân bị thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp và khu đô thị
- Hiện trạng công tác giải quyết việc làm cho nông dân tái định cư tại
khu kinh tế Nghi Sơn – Tĩnh Gia – Thanh Hoá
- Các giải pháp, đề xuất để nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho
nông dân tái định cư tại khu kinh tế Nghi Sơn – Tĩnh Gia – Thanh Hoá
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp khảo sát thực tiễn tại cơ sở nghiên cứu:
+ Khảo sát tại Ban Quản lý dự án khu kinh tế Nghi Sơn
+ Khảo sát tại khu tái định cư thuộc khu kinh tế Nghi Sơn
+ Khảo sát các hộ gia đình điển hình tại khu tái định cư thuộc khu kinh
tế Nghi Sơn bằng cách đặt ra các phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp…
- Phương pháp xử lý số liệu:
+ Sử dụng phương pháp thống kê kinh tế
+ Sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học và những người có kinh nghiệm về những vấn đề có liên quan
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Tĩnh Gia
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Tĩnh Gia là một huyện miền biển thuộc tỉnh Thanh Hoá Trung tâm thị trấn huyện lỵ cách Thành phố Thanh Hoá 45 km về phía nam Diện tích tự nhiên: 45.828,67 ha Dân số: 220.000 người, mật độ dân số 485,43 người/km2 Toàn huyện có 34 đơn vị hành chính gồm 33 xã, 1 thị trấn
Tĩnh Gia là huyện cực nam của tỉnh Thanh Hóa có toạ độ địa lý từ
19017’12” đến 19037’52” vĩ độ Bắc, từ 104037’51” đến 105055’52” khinh độ Đông; Có vị trí địa lý:
- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An;
- Phía Đông giáp biển;
- Phía Bắc giáp huyện Quảng Xương;
- Phía Tây giáp huyện Nông Cống và huyện Như Thanh
Huyện Tĩnh Gia ở vị trí thuận lợi có đường quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam chạy qua với chiều dài 40 km Ngoài ra, với hơn 42 km bờ biển, 3 cửa lạch lớn và cảng nước sâu
Vị trí đó đã tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội với các huyện trong tỉnh, các tỉnh bạn và quốc tế Khai thác các tiềm năng nội lực một cách hiệu quả, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế của tỉnh
3.1.1.2 Địa hình, khí hậu, thuỷ văn
- Về địa hình, địa chất:
Tổng quát địa hình toàn huyện nghiêng dần từ Đông Bắc xuống Đông Nam và được chia thành 3 tiểu vùng:
Trang 34+ Vùng bán sơn địa:
Gồm các xã phía Tây và Tây Nam của huyện, các xã này có địa hình cao Kinh tế bao gồm sản xuất Nông Lâm Ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Chăn nuôi đại gia súc có điều kiện phát triển
- Về khí hậu:
Tĩnh Gia là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa
rõ rệt Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.833mm Mùa đông hướng gió chính là Tây Bắc và Đông Bắc, mùa hè gió Đông và Đông Nam Mùa nóng ở đây bắt đầu từ cuối mùa xuân đến giữa mùa thu Mùa này nắng, mưa nhiều thường hay có lụt bão, hạn hán, gặp những ngày có gió Lào nhiệt độ lên tới 39-40°C Mùa lạnh bắt đầu từ giữa mùa thu đến hết mùa xuân năm sau; mùa này thường hay xuất hiện gió mùa đông bắc, lại mưa ít; đầu mùa thường hanh khô Lượng nước trung bình hàng năm khoảng 1730 - 1980 mm, mưa nhiều tập trung vào thời kỳ từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, còn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ dưới 15%
Tổng tích ôn trung bình hàng năm khoảng 86.000C, nhiệt độ trung bình
từ 23,3°C đến 23,6°C, mùa hè nhiệt độ có ngày cao tuyệt đối đến 40°C,
Trang 35nhưng mùa đông có ngày nhiệt độ xuống thấp tới 5 - 6°C Độ ẩm không khí tương đối cao trung bình hàng năm từ 80 - 85%
Hàng năm, huyện Tĩnh Gia có khoảng 1.700 giờ nắng, tháng nắng nhất
là tháng 7, tháng có ít nắng là tháng 2 và tháng 3 Là một huyện miền biển vì thế nó nằm vào tiểu vùng khí hậu đồng bằng ven biển, chính nhờ có gió biển
mà những ngày có gió Lào, thời gian không khí bị hun nóng chỉ xảy ra từ 10 giờ sáng đến muộn nhất là 12 giờ đêm
Huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa cũng như các tỉnh miền Trung Việt Nam thường hay chịu các trận bão từ Thái Bình Dương Theo chu kỳ từ 3 - 5 năm lại xuất hiện một lần từ cấp 9 đến cấp 10, cá biệt có năm cấp 11 đến cấp 12
- Thuỷ văn:
Trên địa bàn huyện có các con sông tự nhiên và hệ thống sông đào bao gồm: Sông Kênh Than, sông Ghép, sông Lạch Lạng… và các con suối nhỏ là nơi tiêu thoát và cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và đời sống của một bộ phận dân cư Về phân vùng thuỷ văn tỉnh Thanh Hoá, Tĩnh Gia nằm trong vùng thuỷ văn hưởng triều Chế độ triều không thuần nhất, hàng tháng vẫn có mấy ngày bán nhật triều, đỉnh triều dao động trung bình từ 0.6 m đến 1.5 m
3.1.1.3 Đất đai, tài nguyên
- Đất đai:
Theo số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của phòng Thống kê huyện Tĩnh Gia, quy mô và cơ cấu đất đai của huyện được thể hiện trong bảng 3.1
Trang 36Ba ̉ ng 3.1: Cơ cấu đất đai của huyện Tĩnh Gia
2.10 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 468,51 1,0223
Trang 37Qua bảng số liệu ta thấy rằng điện tích đất tự nhiên của huyện Tĩnh Gia
là 45.828,67 ha Trong đó, diện tích nông nghiệp là 26.883,05 ha chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 58,6599%) trong tổng số diện tích đất tự nhiên của huyện Tĩnh Gia Sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính, với diện tích đất trồng cây lúa nước 6.833,1ha (chiếm 14,91%) và diện tích đất rừng 15.161,44
ha (chiếm 33,083%), còn lại là dành cho các loại đất khác Tiếp đó là diện tích đất phi nông nghiệp 12.793,09ha (chiếm 27,9150%) tổng diện tích đất tự nhiên với đất sử dụng cho phát triển hạ tầng và sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (đất cho khu công nghiệp, đất cơ sở sản xuất kinh doanh…) chiếm tỷ
lệ đáng kể lần lượt là 9,4691% và 6,2857% Chiếm tỷ lệ 13,4251% diện tích đất tự nhiên là đất chưa được sử dụng
- Tài nguyên:
+ Tài nguyên nước: Gồm nguồn mặt nước và nguồn nước ngầm
Nguồn mặt nước chủ yếu được khai thác sử dụng từ các sông, ngòi, ao, hồ có trên địa bàn đặc biệt hệ thống thuỷ nông hồ Yên Mỹ Nguồn nước ngầm có độ sâu từ 0 – 100m và trên 100 m trở lên tương đối phong phú, đủ dùng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và đời sống dân cư
+ Tài nguyên rừng: Năm 2010 toàn huyện có 15.161,44 ha đất lâm
nghiệp, trong đó, đất trồng rừng phòng hộ 8.562,55 ha chủ yếu là rừng thứ sinh, rừng hỗn giao có trữ lượng không lớn, cây rừng phần lớn là gỗ tạp như: Thông, Muồng, Dẻ… và cây bản địa Động vật rừng chỉ có các loại thú nhỏ: Chồn, cáo, gà…Đối với rừng sản xuất có 6.598,89 ha với các loại cây chủ yếu là: Keo lá chàm, bạch đàn Nhìn chung, rừng Tĩnh Gia là rừng nghèo trữ lượng, động vật quý hiếm hầu như không còn Do vậy, cần phải trồng và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên rừng
+ Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện chưa phát hiện được loại
khoáng sản quan trọng, quý hiếm nào ngoài đá vôi, đất sét, cát, sỏi, titan… với trữ lượng và chất lượng hạn chế
Trang 38+ Tài nguyên biển: Tĩnh Gia có 42km bờ biển, 3 cửa lạch với tổng diện
tích vùng triều hàng ngàn ha thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy, hải sản Nồng độ muối trong nước biển khá cao, kết hợp với điều kiện thời tiết nắng
to, gió lớn là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển nghề làm muối Ngoài ra, huyện còn có nhiều bãi biển đẹp như Hải Hoà, Ninh Hải… là điều kiện cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghỉ mát
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Tĩnh Gia
(Nguồn phòng thống kê huyện Tĩnh Gia)
Qua số liệu bảng trên ta thấy rằng trong tổng dân số 214.119 người của huyện Tĩnh Gia thì tỷ lệ dân số nam và nữ tương đối cân bằng; Nam 106.447 người (chiếm 49,73% dân số), Nữ 107.672 người (chiếm 50,27% dân số) Dân số nông thôn 209.523 người (chiếm 97,85% trong tổng số dân); Dân số thành thị 4.596 người (chiếm 2,15%) Điều này chứng tỏ rằng tại huyện Tĩnh
Trang 39Gia thành phần nông thôn vẫn đang chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số đây cũng chính là đặc điểm chung về dân số Việt Nam
Và cũng qua bảng 3.2 này ta có thể tính được tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động trên tổng số dân của huyện là 59,83%; tỷ lệ lao động ngoài độ tuổi là 40,17% Trong đó, lao động đang làm việc chiếm 97,91%, thất nghiệp chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ là 2,09% điều này nói lên rằng công tác giải quyết việc làm tại huyện rất hiệu quả
3.1.2.2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, hệ thống giao thông được chú trọng phát triển Một số các trục giao thông liên xã được nâng cấp, cứng hoá Hệ thống thuỷ lợi hồ Yên Mỹ, bao gồm đập chính, kênh chính được nâng cấp, kiên cố hoá Hầu hết các hồ đập nhỏ được nâng cấp đảm bảo 75% diện tích canh tác chủ động nước tưới Hệ thống điện lưới được xây dựng đến 33/33 xã, thị trấn với 100% số hộ được dùng điện Hệ thống bưu chính - viễn thông phát triển nhanh, đã có 24/34 xã có trung tâm bưu điện - văn hoá xã, tỷ
lệ sử dụng điện thoại đạt 13,6 máy/100 dân
Cơ sở vật chất của các ngành y tế, giáo dục, văn hoá, truyền thanh, truyền hình được tăng cường đáng kể 100% số trạm xá được mái bằng hoá, ngói hoá, trung tâm y tế huyện được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới với tổng kinh phí hàng chục tỷ đồng
3.1.2.3 Đặc điểm phát triển các ngành kinh tế của huyện
Theo báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ quý III và 9 tháng đầu năm
2011 của Huyện uỷ huyện Tĩnh Gia Tình hình phát triển các ngành kinh tế của huyện được thể hiện tại bảng 3.3
Trang 40Ba ̉ ng 3.3: Tình hình phát triển các ngành kinh tế của huyện Tĩnh Gia
2 Tổng giá trị sản phẩm (theo giá hiện hành) Tỷ đồng 4.905,397
11 Tỷ lệ số dân sử dụng điện thoại Máy/100dân 13,60
12 Tổng số người trong độ tuổi lao động Người 123.947
13 Mật độ dân số trung bình Người/km2 485,43
(Nguồn Phòng Thống kê huyện Tĩnh Gia )
Với tiềm năng biển, đất rừng, trong những năm qua, kinh tế huyện Tĩnh Gia đã có bước phát triển vượt bậc tổng giá trị sản phẩm đạt 4.905,397 tỷ đồng, thu nhập đầu người đạt 22,05 triệu đồng/năm, mức lương thực bình quân đầu người đạt 1.023kg/năm Tăng trưởng kinh tế toàn huyện đạt 37,13% trong đó, ngành Nông, lâm thuỷ sản đạt 5,42%; Công nghiệp và xây dựng đạt