Thành tựu xoá đói giảm nghèo trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội; người nghèo đã bước đầu có nhận thức đúng để tự vươn lên, biết tậ
Trang 1-*** -
NGUYỄN ĐÌNH TÚ
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO VÀ
HƯỚNG TỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc nghiên cứu đã được cảm ơn và các thông tin chỉ dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tú
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận
văn Thạc sỹ Kinh tế nông nghiệp với đề tài Để hoàn thành luận văn này, tôi
đã nhận được sự giúp dỡ tận tình của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới tất cả tập thể và các cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu vừa qua
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS Trần Hữu Dào đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở
Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Thanh Hóa; UBND huyện Như Xuân, phòng Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thống kê huyện, phòng Lao động – Thương binh
và Xã hội huyện; Đảng ủy, UBND và cán bộ chuyên môn các xã đã cung cấp
tư liệu, tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn tới tất cả sự chia sẽ, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tú
Trang 4Chương 1: HỆ THỐNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO
1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững 03
1.2 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo trong và ngoài nước 22
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước 22
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương 25
1.3 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 27
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
Trang 52.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu thống kê 30
2.4.4 Phương pháp phân tích kinh tế 31
3.1 Khái quát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 40
3.2 Đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm
3.2.1 Thực trạng đói nghèo ở huyện 52
3.2.2 Hoạt động xóa đói giảm nghèo ở huyện trong những năm qua 59
3.2.3 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 66
3.3 Một số giải pháp giảm nghèo và hướng tới giảm nghèo bền
3.3.1 Định hướng giảm nghèo của huyện Như Xuân 73
3.3.2 Một số giải pháp giảm nghèo và hướng tới giảm nghèo bền vững 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
PTNT Phát triển nông thôn
ESCAP Ủy ban Kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc về
Châu Á và Thái Bình Dương GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HĐND Hội đồng nhân dân
ICOR Tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
VH-TT-DL Văn hóa – Thể thao – Du lịch
Trang 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1.1 Tổng hợp chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ 09 3.1 Diện tích đất phân theo loại đất và xã, thị trấn năm 2010 36 3.2 Tình hình sử dụng đất rừng giai đoạn 2006-2010 37
3.3 Tình hình Dân số trung bình phần theo xã, thị trấn giai đoạn
3.6 Máy móc các loại và phương tiện vận tải trong nông thôn –
3.7 Chỉ tiêu lâm nghiệp giai đoạn 2006-2010 45 3.8 Phân công lao động theo từng lĩnh vực giai đoạn 2006-2010 46 3.9 Tình hình giáo dục - đào tạo của huyện giai đoạn 2006-2010 48 3.10 Y tế, kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006-2010 50 3.11 Hoạt động văn hóa, phát thanh, truyền hình huyện Như Xuân 51 3.12 Tình hình nghèo đói của huyện Như Xuân giai đoạn 2006-2010 53 3.13 Đời sống của nhân dân huyện Như Xuân giai đoạn 2006-2010 54
3.14 Tổng hợp một số chỉ tiêu kinh tế xã hội huyện Như Xuân giai
3.15 Công trình đường giao thông hiện có trên địa bàn huyện 69 3.16 Nhu cầu vốn đầu tư phát triển sản xuất của huyện đến năm 2020 77 3.17 Các công trình tưới dự kiến đầu tư trong thời gian tới 84 3.18 Bố trí, xắp xếp ổn định dân cư huyện Như Xuân, đến năm 2015 86 3.19 Cơ cấu, giá trị sản xuất nông nghiệp, giai đoạn 2015-2020 93
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Đói nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc, từng địa phương Đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn là vấn đề chính trị,
xã hội và là một trong những nội dung cơ bản trong phát triển kinh tế bền vững ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia và trên toàn thế giới Giải quyết tình trạng đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội vừa cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách, nhằm bảo đảm phát triển kinh tế bền vững và tiến bộ, công bằng xã hội Trong xu thế toàn cầu hoá, sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng thì vấn đề giảm nghèo nhanh, giảm nghèo bền vững càng trở thành nhiệm vụ trọng tâm của cả cộng đồng thế giới
Ngay từ khi Việt Nam giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định
đói nghèo là một thứ “giặc” cũng như giặc dốt, thứ “giặc nội xâm” này nguy
hiểm không kém gì giặc ngoại xâm Chính vì thế, Hồ Chủ tịch đã phát động cuộc thi đua ái quốc, kêu gọi toàn dân ra sức tăng gia sản xuất Ngày nay, thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết
Thanh Hoá là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, kinh tế chưa phát triển, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hay xảy ra thiên tai, lũ lụt nên đời sống người dân gặp rất nhiều khó khăn Xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm luôn là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là chủ trương lớn, nhất quán của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội ở Thanh Hoá; nhằm
Trang 9cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách
về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân
cư Thành tựu xoá đói giảm nghèo trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội; người nghèo đã bước đầu có nhận thức đúng để tự vươn lên, biết tận dụng các cơ hội và sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với trung bình cả nước Sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất đai, khoáng sản còn lãng phí Ô nhiễm môi trường ở một số cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, bệnh viện, trang trại chăn nuôi, khu dân cư chậm được giải quyết
Như Xuân là huyện núi cao nằm về phía Tây Nam của tỉnh Thanh Hoá,
là một trong 7 huyện nghèo của tỉnh, thuộc 62 huyện nghèo của quốc gia; huyện có 11 xã đặc biệt khó khăn, do địa hình hiểm trở, chia cắt, địa bàn rộng, đồng bào sống phân tán Tỷ lệ hộ nghèo cao nên đối tượng cần hỗ trợ, đầu tư nhiều; nhu cầu lớn nhưng nguồn vốn hỗ trợ còn hạn chế nên mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững đạt thấp Là huyện có xuất phát điểm nền kinh tế thấp, kinh tế vẫn mang tính chất tự cung, tự cấp là chủ yếu, chưa có nhiều sản phẩm hàng hóa Kinh tế phát triển chưa vững chắc, đời sống của người dân cũng gặp nhiều khó khăn; năng suất chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm chưa cao Do vậy, cần phải có những giải pháp cụ thể giúp huyện giảm nhanh tỷ lệ nghèo, giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và thu nhập, nhất là đối với các
xã vùng cao, vùng dân tộc thiểu số Nhằm góp phần giải quyết vấn đề trên,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đề xuất một số giải pháp giảm nghèo
và hướng tới giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá”
Trang 10Chương 1
HỆ THỐNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO
VÀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.1 Nghèo
1.1.1.1 Khái niệm về nghèo
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”[12] Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục )
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; thiếu
cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân,
hộ gia đình và cộng đồng nên bên cạnh khái niệm nghèo đói, ở nước ta còn có một số khái niệm sau:
Trang 11Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần của nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đẩy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát
Hộ nghèo là hộ đói ăn không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất
Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/5/2002 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc ban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2001-2005 [7]; quy định xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên, chưa đủ từ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao gồm: đường giao thông; trường học; trạm y tế; nước sinh hoạt; điện sinh hoạt; chợ)
cụ thể là:
- Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch;
- Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt;
- Chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được cả năm;
- Số phòng học (theo qui định của Bộ Giáo dục- Đào tạo) chỉ đáp ứng được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bằng tranh, tre, nứa, lá;
- Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm;
- Chưa có chợ hoặc chợ tạm thời
Hiện tại chưa có quy định cụ thể về huyện nghèo, theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đến cuối năm 2006, cả nước có 61
Trang 12huyện (gồm 797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và dành nhiều nguồn lực để ưu tiên phát triển vùng này, nhưng mức độ chuyển biến còn chậm, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 3,5 lần bình quân cả nước
Vùng nghèo là một vùng liên tục gồm nhiều làng, xã, huyện mà tại đó chứa đựng nhiều yếu tố khó khăn, bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng, như: đất đai khô cằn, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, trình độ dân trí thấp, sản xuất tự cung tự cấp và có mức sống dân cư trong vùng thấp hơn so với mức sống chung của cả nước
1.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo
Đói nghèo do nguyên rất nhiều nguyên nhân gây ra, vì vậy cũng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo Trong đó phải kể đến một số yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến đói nghèo của huyện như sau:
a) Đói nghèo do hạn chế của chính người nghèo và gia đình họ
- Gia đình đông con ít lao động: Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ, đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của đói nghèo
- Thiếu vốn hoặc không có vốn để kinh doanh, chi tiêu không có kế hoạch
- Do trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định
- Do bệnh tật sức khoẻ yếu kém và bất bình đẳng giới: Vấn đề bệnh tật
và sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo làm họ rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo
- Người nghèo không có khả năng tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo
vệ quyền lợi hợp pháp
Trang 13- Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác: Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra với cá nhân, gia đình hay cộng đồng
b) Nguyên nhân do điều kiện tự nhiên
- Đất đai dùng cho thâm canh cây lúa, diện tích bình quân đầu người thấp
- Đất đai cằn cỗi, chưa chủ động hoàn toàn về nước
- Thời tiết khí hậu khắc nghiệt gây khó khăn cho sản xuất Bão lũ, hạn hán thường xuyên xảy ra
- Xa trung tâm kinh tế của tỉnh, giao thông đi lại khó khăn
c) Các yếu tố xã hội tác động
- Hậu quả của chiến tranh, khủng hoảng kinh tế
- Nguồn nhân lực hạn chế và nghèo nàn
1.1.1.3 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo
Để có căn cứ xác thực và đề xuất các phương án điều chỉnh chuẩn nghèo phù hợp với thực tiễn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đánh giá toàn diện việc thực hiện các chính sách giảm nghèo thời gian qua; rà soát, đề xuất điều chỉnh, bổ sung các chính sách giảm nghèo mới theo hướng tạo điều kiện để người nghèo phấn đấu, tự vươn lên, hạn chế tính thụ động, ỷ lại Nhà nước và cộng đồng; đồng thời cần tính toán, cân đối nguồn lực để thực hiện các cơ chế, chính sách khi chuẩn nghèo được ban hành
Trang 14- Giai đoạn 1993-1995:
+ Hộ đói ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo là dưới 8kg/người/tháng;
+ Hộ đói ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân đầu người quy
ra gạo là dưới 13kg/người/tháng;
+ Hộ nghèo ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo là dưới 15kg/người/tháng;
+ Hộ nghèo ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo là dưới 20kg/người/tháng
- Giai đoạn 1998-2000: Theo Thông báo số 1751/TB-BLĐTBXH ngày 20/5/1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định như sau: [5] + Hộ đói tính cho mọi khu vực có mức thu nhập dưới 13kg gạo tương ứng với 45.000đ/người/tháng;
+ Hộ nghèo khu vực nông thôn miền núi, hải đảo có mức thu nhập dưới 15kg gạo, tương ứng với 55.000đ/người/tháng;
+ Hộ nghèo khu vực nông thôn đồng bằng, trung du có mức thu nhập dưới 20kg gạo, tương ứng với 70.000đ/người/tháng;
+ Hộ nghèo khu vực thành thị có mức thu nhập dưới 25kg gạo, tương ứng với 90.000đ/người/tháng
- Giai đoạn 2001-2005: Theo Quyết định 1413/QĐ-BLĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì chuẩn hộ nghèo
Trang 15được điều chỉnh theo chuẩn mức thu nhập bình quân 1 đầu người trong hộ cho từng vùng như sau: [6]
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đ/tháng;
+ Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000đ/tháng;
+ Vùng thành thị: 150.000đ/tháng
- Giai đoạn 2006-2010: Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ, chuẩn nghèo giai đoạn này được nâng lên cho phù hợp với mức sống đã được nâng lên của nhân dân, số hộ nghèo theo tiêu chí cũ đã giảm đáng kể, đồng thời đưa ra chuẩn đói nghèo mới để gần với chuẩn đói nghèo của quốc tế [14]
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Với chuẩn nghèo này, cả nước còn khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi, biên giới, Tây Nguyên
- Giai đoạn 2011-2015: Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 như sau: [19]
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
Trang 16Bảng 1.1: Tổng hợp chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Kg/người/tháng 13 15
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Kg/người/tháng 13 20
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng 45.000 55.000
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng 45.000 70.000
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Đồng/người/tháng 80.000
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Đồng/người/tháng 100.000
1.1.1.4 Vấn đề nghèo đói và việc xoá đói giảm nghèo
a) Đói nghèo và việc giải quyết đói nghèo trên thế giới
Cho đến hôm nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người Thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô cùng khủng khiếp Điều đáng sợ hơn nữa là: Nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải
Trang 17quyết, nếu như những thảm họa do thiên tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng
sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó bề chạy chữa Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý lớn Trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu hiển nhiên về tiến bộ khoa học - công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói Hàng tỷ người, thực tế là một phần ba số dân thế giới vẫn khốn cùng và đói khát Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em Hằng ngày có gần 100 triệu trẻ
em không có cái ăn, trên 100 triệu trẻ em vô gia cư chỉ sống nhờ của bố thí hoặc sống dựa vào sự lao động quá sức, kể cả bằng các nghề đặc biệt là móc túi, mại dâm; trên 50 triệu trẻ em làm việc trong những ngành có hại; hàng trăm triệu trẻ em tuổi từ 6 - 11 không được cắp sách đến trường
Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo của dân cư đang là một vấn
đề nhức nhối rất cấp bách phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khăn trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo
b) Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc xóa đói giảm nghèo Đảng ta coi cơ sở phương pháp luận quan trọng và cơ bản nhất để phân tích vấn đề đói nghèo và xóa đói giảm nghèo là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, thực hiện công bằng xã hội Chủ nghĩa xã hội là quá trình kiến tạo hạnh phúc và cũng là quá trình đấu tranh vì sự công bằng, đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xã hội
Trong các văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề xóa đói giảm nghèo được nhiều lần đề cập tới Để bảo đảm và hướng tới công bằng xã hội, Đảng ta khẳng định “khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đôi với chăm lo xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần
Trang 18khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, các gia đình thuộc diện chính sách, làm cho mọi người, mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ai cũng có việc làm,
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và chữa bệnh, từng bước thực hiện điều Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước”
Trong quá trình thiết kế, chỉ đạo thi công việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở nắm bắt những mặt mạnh
và mặt yếu của cơ chế thị trường, Đảng ta đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo: “Để phát triển sức sản xuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm, bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi trọng xóa đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả”
Chú trọng đúng mức đến vấn đề đói nghèo trong xã hội, với nhãn quan chính trị nhạy bén và với trách nhiệm cao cả trước nhân dân, Đảng ta đã đưa
ra những chương trình rộng lớn để tập trung giải quyết là “Chương trình về xóa đói, giảm nghèo” Trên cơ sở đó, Nhà nước cũng đã có hàng chục chương trình cấp quốc gia và dự án đang được thực thi có nội dung gắn với xóa đói, giảm nghèo
c) Một số luận điểm về xóa đói giảm nghèo
Một là, xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là
nhiệm vụ trọng tâm trước mắt Tính lâu dài của xóa đói giảm nghèo là do:
Thứ nhất, xóa đói giảm nghèo là nội dung, và nhiệm vụ cần thực hiện để
bảo đảm công bằng xã hội Thực tiễn cho thấy, có những nguyên nhân nảy sinh nghèo đói không phải do môi trường xã hội, không do điều kiện kinh tế - địa lý, mà do hoàn cảnh và đặc điểm của từng cá nhân, từng hộ gia đình
Trang 19Những trường hợp này luôn có khả năng xuất hiện và việc xóa đói giảm nghèo mang tính thường trực
Thứ hai, chủ trương của Đảng ta phát triển kinh tế nhiều thành phần là
một định hướng chiến lược Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường luôn
có xu hướng phân hóa hai cực giàu nghèo Vì vậy, cùng với việc tăng cường
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thường xuyên và liên tục, lâu dài, thì nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo, nhất là giảm nghèo, cũng
là vấn đề liên tục và lâu dài mới giải quyết được
Thứ ba, dân giàu nước mạnh là mục tiêu cơ bản của chủ nghĩa xã hội
Thực hiện mục tiêu này là một quá trình phấn đấu gian khổ, lâu dài
Xóa đói giảm nghèo vừa có tính cơ bản và cần thực hiện liên tục, lâu dài, lại là một công việc cần kíp, trước mắt, bởi vì sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới luôn đặt ra nhiệm vụ: mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội
là một bước cải thiện đời sống của nhân dân; bởi vì đây không chỉ là việc thực hiện truyền thống, đạo lý của dân tộc “thương người như thể thương thân”,
mà còn là nhiệm vụ để bảo đảm ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Hai là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện giúp cho việc xóa đói giảm
nghèo, nhưng đây là hai nhiệm vụ có tính độc lập tương đối và không phải
là một
Ba là, xóa đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội không có
nghĩa là kìm hãm sự phát triển kinh tế, không có nghĩa là cào bằng
Kinh nghiệm của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đã cho thấy, nếu đặt công bằng xã hội lên trên hết và tách rời với phát triển kinh tế thì trước hết dẫn tới sự triệt tiêu các động lực phát triển Tuy nhiên, nếu đặt hiệu quả kinh tế là mục tiêu duy nhất thì sẽ làm tăng tình trạng phân hóa hai cực, làm tăng sự khốn khó đối với không ít quần chúng nhân
Trang 20dân Bởi vậy, trong khi thực hiện bài toán phát triển đất nước, làm sao phải tạo mọi điều kiện và tăng nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo thành công việc thường xuyên, liên tục
Bốn là, xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội Cần khẳng
định một cách mạnh mẽ rằng, xóa đói giảm nghèo không dừng lại ở việc thực hiện chính sách xã hội, không phải việc riêng của ngành lao động - xã hội hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giảm nghèo, tất cả mọi cán bộ đảng, chính quyền đều phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ và phải có sự tham gia của toàn thể cộng đồng
1.1.1.5 Nội dung cơ bản của Chương trình xóa đói giảm nghèo
a) Cải cách hành chính, cải cách tư pháp, thực hiện quản lý tốt kinh tế xã hội để đảm bảo lợi ích cho người nghèo
Mục tiêu tổng thể là phấn đấu xây dựng được một nền hành chính Nhà nước trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, có trách nhiệm ở tất cả các cấp, có khả năng xây dựng các chính sách và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của người dân, khuyến khích cơ hội cho người nghèo, người thiệt thòi giúp họ phát huy được tiềm năng của mình Để đạt được mục đích này phải tạo nên một hệ thống hành chính với cơ chế, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ, công chức về cơ bản có phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cải cách hành chính được thực hiện trên 4 lĩnh vực là: cải cách thể chế; cải cách bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công
b) Tạo môi trường xã hội để thực hiện công bằng xã hội, thực thi dân chủ cơ sở và trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Trang 21- Tạo điều kiện để mọi người tham gia đầy đủ vào quá trình phát triển,
có cơ hội bình đẳng cho mọi người dân Nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giới đều có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả phát triển Thực hiện dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc, đẩy lùi các tệ nạn xã hội Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho các tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng ở địa phương nhằm nâng cao khả năng và sự tham gia của người nghèo vào quá trình phát triển và cùng với người nghèo, tạo cơ hội cho họ tự thoát nghèo
- Tăng cường dân chủ cơ sở, các cuộc đối thoại giữa chính quyền địa phương và cộng đồng người nghèo Thúc đẩy sự tham gia của người dân, trong đó có người nghèo vào hoạch định chính sách và thực hiện chính sách được thể hiện rõ nét qua thực tiễn áp dụng Quy chế Dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn Tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra bảo đảm cho Quy chế Dân chủ thực hiện ở xã, phường, thị trấn Triển khai rộng khắp ở tất cả các thôn, làng,
ấp, bản, tổ dân phố trong cả nước, duy trì lâu dài việc thực hiện Quy chế Dân chủ và đưa Quy chế Dân chủ trở thành nề nếp làm việc thường xuyên ở cơ sở Phân định rõ chức năng và nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý điều hành, giám sát, thanh tra của cơ quan Nhà nước Thực thi có hiệu quả các quy chế
về thực hiện dân chủ ở cơ sở, ở cơ quan, doanh nghiệp nhà nước
- Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tăng cường trợ giúp pháp lý và khả năng tiếp cận pháp lý cho người nghèo Mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật
để người nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận với các dịch
vụ trợ giúp pháp luật
c) Phát triển mạng lưới an sinh xã hội trợ giúp cho các đối tượng yếu thế và người nghèo
Trang 22- Tập trung có trọng điểm để hỗ trợ người nghèo, dân tộc ít người, nhóm yếu thế khác trong xã hội Cải thiện chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch
vụ cơ bản và nguồn lực của người nghèo, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe ban đầu, giáo dục tiểu học, sức khỏe sinh sản, nước, vệ sinh dinh dưỡng, nhà ở, giúp đỡ họ tiếp cận với pháp luật không thu phí
- Tăng cường mạng lưới an sinh xã hội: Bổ sung một số chính sách trợ giúp của Nhà nước đối với các nhóm người yếu thế, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người dễ bị tổn thương để tạo cơ hội tự tạo việc làm hoặc đi làm thuê, có thu nhập đủ nuôi sống bản thân, tham gia vào các hoạt động cộng đồng, các hoạt động xã hội để hưởng lợi từ cải cách kinh tế Hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội nhằm mở rộng chế độ bảo hiểm xã hội áp dụng cho mọi đối tượng, kể cả những người làm việc tại khu vực kinh tế phi chính thức và bảo đảm tương quan hợp lý giữa mức đóng và mức hưởng
- Xây dựng các biện pháp để giúp đối tượng yếu thế cải thiện các điều kiện tham gia thị trường lao động Cải thiện tiếp cận thị trường lao động của người lao động nghèo, nhóm yếu thế trong thị trường lao động, đặc biệt đối với vấn đề đào tạo Giải quyết tốt vấn đề lao động dôi dư Dần dần từng bước
áp dụng bảo hiểm thất nghiệp Nâng cao số lượng và chất lượng việc làm, đặc biệt là việc làm trong khu vực ngoài nhà nước Hoàn thiện Bộ luật Lao động
để thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động Bảo đảm an toàn việc làm Chống sa thải tuỳ tiện, bảo đảm việc làm ổn định với mức thu nhập ngày càng tăng và điều kiện lao động, nhất là cho lao động nữ, ngày càng được cải thiện Giảm tai nạn lao động Bảo đảm công bằng nam nữ trong tuổi về hưu, tránh tình trạng sử dụng "về hưu sớm" làm công cụ để giải quyết lao động dôi dư trong các doanh nghiệp nhà nước cũng như các vấn đề khác của thị trường lao động
Trang 23- Xây dựng hệ thống giải pháp cứu trợ xã hội đột xuất hữu hiệu: Đối với người nghèo, người dễ bị tổn thương khi gặp rủi ro thiên tai, tai nạn và các tác động xã hội không thuận lợi, triển khai các giải pháp cứu trợ đột xuất gồm:
- Mở rộng sự tham gia và nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ trong việc phát triển mạng lưới an sinh xã hội Mặt trận
Tổ quốc các cấp chủ trì và phối hợp với chính quyền, các hội, đoàn thể quần chúng xây dựng các phương thức vận động các cơ quan, doanh nghiệp và toàn dân tham gia hoạt động từ thiệp giúp đỡ các đối tượng nghèo
Khuyến khích các hoạt động nhân đạo của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội tham gia phát triển mạng lưới an sinh
xã hội, trợ giúp có hiệu quả các đối tượng yếu thế, đặc biệt là người già cô đơn, không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi không nơi nuôi dưỡng, trẻ em bị nhiễm chất động hóa học, HIV
d) Xóa đói giảm nghèo
- Mục tiêu chính của 8 ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp và kinh tế nông thôn, y tế, giáo dục, đô thị, điện khí hóa, giao thông vận tải, lao động và bảo hiểm xã hội và các chương trình quốc gia
- Một số chương trình, dự án quan trọng cần triển khai ở các vùng khó khăn: Mở rộng diện tích tưới nước cho khoảng 8 nghìn ha và phát triển các hồ chứa nước kết hợp với phòng chống lũ ở các tỉnh miền Trung; Xóa bỏ các nhà dột nát, nhà tạm (làm bằng tranh, tre, nứa, lá đã bị xiêu vẹo, dột nát không đảm bảo an toàn khi có lũ bão) cho đồng bào dân tộc ít người, hộ sống trong các vùng ngập lũ sâu, đời sống quá khó khăn; Hỗ trợ đồng bào miền núi xây dựng ruộng bậc thang để góp phần giải quyết vấn đề du canh, du cư; phát triển cây ăn quả ôn đới và một số cây đặc sản thay thế cây thuốc phiện ở vùng cao
Trang 24- Các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến xóa đói giảm nghèo: Chương trình xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, Chương trình phát triển giáo dục, y
tế, văn hoá, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là các chương trình, dự án có tác động trực tiếp nhất đến xóa đói giảm nghèo Vốn đầu tư của các chương trình, dự án này được thực hiện bằng nhiều nguồn: vốn phân bổ trực tiếp của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương; vốn lồng ghép của các chương trình, dự án; vốn vay tín dụng; vốn huy động từ cộng đồng; trong đó vốn Ngân sách Nhà nước dự kiến chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư của chương trình, dự án
Ngoài ra, huy động cộng đồng và sự đóng góp của người hưởng lợi để triển khai các dự án đã được cộng đồng quốc tế và chính phủ các nước giúp
đỡ như: dự án đa dạng hóa nông nghiệp; dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; dự án giảm nghèo 6 tỉnh miền núi phía Bắc; dự án giảm nghèo 5 tỉnh miền Trung; dự án cơ sở nông thôn dựa vào cộng đồng; dự án bảo vệ rừng và phát triển nông thôn;
1.1.2 Giảm nghèo bền vững
1.1.2.1 Giảm nghèo bền vững là gì? Tại sao cần phải giảm nghèo bền vững?
Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư [20]
Giúp người nghèo thoát nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống là cách xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững Muốn
Trang 25xóa nghèo bền vững, Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận Chủ trương, chính sách đưa ra là đúng đắn, nhưng vấn đề hết sức quan trọng là việc tổ chức thực hiện sao cho hiệu quả Ðiều này đòi hỏi phải có sự vào cuộc mạnh
mẽ của các bộ, ngành chức năng và nhất là sự chủ động, sáng tạo của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở, nơi thụ hưởng chính sách Mặt khác, bản thân người nghèo, hộ nghèo cũng cần tích cực tham gia, coi đây là cơ hội để thoát nghèo, vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình, góp phần vào quá trình phát triển chung của đất nước Ðó chính là cái đích trong công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
Sở dĩ những năm qua, tỷ lệ người nghèo vẫn cao là do các chương trình, chính sách giảm nghèo của Việt Nam còn rời rạc và bị phân mảng Nguyên nhân là do thời gian qua cũng như hiện tại, Việt Nam đang triển khai quá nhiều chương trình giảm nghèo dẫn đến sự chồng chéo giữa các chính sách giảm nghèo Cụ thể, những chính sách giảm nghèo này với tính chất từng chính sách đơn lẻ là các hợp phần của những chương trình, mục tiêu đơn lẻ được quản lý bởi các bộ, ngành khác nhau Vì thế, các chương trình này sẽ tạo
ra một lượng lớn thời gian, tiền bạc cho chi phí giao dịch trong quá trình thực hiện Và đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả mục tiêu không đạt được như mong đợi Nguyên nhân chủ yếu là một số chương trình, chính sách giảm nghèo còn mang tính ngắn hạn, chưa đồng bộ, thiếu sự gắn kết chặt chẽ;
cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý Việc
Trang 26tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở một số nơi chưa sâu sát và một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực vươn lên thoát nghèo
Điểm tổi ưu cho người dân thoát nghèo và phát triển bền vững khi tồn tại 3 yếu tố mang tính bền vững đó là: môi trường bền vững, kinh tế bền vững
và xã hội bền vững
Giảm nghèo bền vững là một trong những mục tiêu của tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đồng thời cũng là một điều kiện tiền đề cho tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững
1.1.2.2 Những nhân tố tác động đến chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020
Trong thập niên 2011 - 2020, chính sách xóa đói, giảm nghèo ở nước ta chịu tác động của những nhân tố sau đây:
- Tăng trưởng kinh tế phiến diện: Vấn đề đói nghèo, về khách quan, là sản phẩm tất yếu của một mô hình kinh tế nhất định Khi một mô hình kinh tế
Trang 27đã cạn kiệt tiềm năng phát triển, thì dù có cố gắng của chính quyền cũng không thể giải quyết tốt vấn đề đói nghèo
Nước ta đã chuyển sang mô hình công nghiệp hóa từ nhiều năm nay Đó
là mô hình kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, dựa vào đầu tư nước ngoài để xuất khẩu nhằm tăng trưởng nhanh Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, mô hình ấy có vai trò nhất định ở giai đoạn khởi động nền kinh tế thị trường, nhưng nếu kéo dài thời gian thực hiện mô hình ấy chỉ lo tăng trưởng số lượng thì những vấn đề xã hội sẽ phát sinh và tăng lên, thể hiện ở vấn đề đói nghèo trở nên nghiêm trọng, phân hóa giàu nghèo mở rộng khoảng cách nhanh chóng, lối sống trong xã hội xuất hiện nhiều vấn nạn mới
- Môi trường bị tàn phá: Ở nước ta, mức độ tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng là một nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo Ở đây chỉ nêu lên mấy mặt chủ yếu:
Trước hết, tình trạng ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp Các khu
công nghiệp, các công ty đã làm hàng loạt sông ngòi, kênh rạch, nguồn nước ngầm bị ô nhiễm do không giải quyết vấn đề chất thải Kết quả là làm bệnh tật gia tăng đối với công nhân và dân cư trong vùng Những chi phí cho chữa trị bệnh tật khiến người lao động nghèo thêm
Thứ hai, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu không những đưa đến
mực nước biển dâng cao, xâm chiếm nhiều diện tích đất đai để sinh sống (Việt Nam là một trong năm nước chịu tác động trước tiên), mà còn gây ra những trận hạn hán, lũ lụt trầm trọng, xói mòn bờ biển, bờ sông, phèn hóa đất đai nông nghiệp Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam dự báo, nếu mực nước biển dâng thêm 1 mét thì khoảng 20% châu thổ và 10% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có thể bị nhấn chìm Những tai họa gần này sẽ làm tăng sự đói nghèo về mức độ và phạm vi
Trang 28Thứ ba, vấn đề môi trường tác động xấu đến phát triển kinh tế và đói
nghèo ở nước ta trở nên cấp bách khi con sông Mê Công rơi vào tình trạng lâm nguy Sông Mê Công dài 5.400 km chảy qua Trung Quốc, Mi-an-ma, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia và Việt Nam, cung cấp nước cho trồng trọt, cho vận chuyển hàng hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của 65 triệu người Riêng nhu cầu nguồn nước cho khu vực này tăng nhanh (từ 43.700m3 năm
2002 tăng lên 56.700m3vào cuối năm 2010)
- Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp: Đây là nhân tố tác động không nhỏ đến mức độ đói nghèo, nhưng thường bị
bỏ qua và chậm đổi mới Xét trên toàn cảnh, tác động của nhân tố tổ chức, quản lý của các cấp đến đói nghèo có mức độ khác nhau, ở những thời gian khác nhau, được thể hiện tập trung ở mấy mặt sau đây:
Thứ nhất, tính chất và mức độ “hành chính quan liêu” trong các cấp đã
ảnh hưởng đến giải quyết vấn đề đói nghèo, thực hiện những chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện ở các hoạt động + Cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi rất chậm trễ, làm diện đói nghèo kéo dài và lan rộng
+ Việc xác định diện hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc, dựa vào quan hệ thân quen đưa vào diện nghèo những hộ không nằm trong tiêu chí nghèo, thậm chí bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo được hưởng Những sai phạm này thường ở cấp chính quyền cơ sở và huyện
+ Chất lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực tiễn, nên “dễ thông qua nhưng khó thi hành” ở cấp vĩ mô Quy trình làm luật hiện nay chỉ coi trọng mặt chính sách, giải trình nội dung chính sách hay luật mà không đòi hỏi giải trình về mặt kỹ thuật tổ chức thực hiện, nhất là về mặt thanh tra, kiểm soát Vì vậy đã có những trường hợp bất khả thi, hoặc dễ
“lách luật” và lạm dụng Đây là hạn chế của cấp vĩ mô
Trang 29Thứ hai, tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các
dự án kinh tế - xã hội, do chất lượng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án, nên các dự án không có khả năng hoàn vốn, rủi ro cao, thời gian thực hiện kéo dài Hiện nay, chỉ số ICOR quá cao (# 8) tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tăng trưởng và đói nghèo
Tính chất hành chính quan liêu trong quản lý vĩ mô gây lãng phí ở tầm quốc gia còn do nôn nóng muốn làm tất cả, không có ưu tiên và bước đi phù hợp Cách làm nặng về số lượng (người ta nói do bệnh thành tích theo tư duy nhiệm kỳ) không chỉ gây lãng phí lớn, mà còn để lại nhiều vấn nạn cả về kinh
tế và xã hội
Thứ ba, tình trạng tham nhũng tác động không chỉ đến chất lượng và
hiệu quả phát triển, mà còn trực tiếp đến đời sống nhân dân Hiện tượng tham nhũng xuất hiện cả trong lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực y tế, thậm chí cả trong
dự án xóa đói, giảm nghèo, cùng với những tác động tiêu cực của các dự án xây dựng, nhất là các dự án sử dụng nhiều đất đai, làm cho vấn đề đói nghèo
và ổn định xã hội khó giải quyết Nguy cơ và hậu quả nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng là những người này đang trở thành lực lượng "nội xâm", coi thường luật pháp và vô trách nhiệm
1.2 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo trong và ngoài nước
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những quốc gia đạt được những thành tựu rất
ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, thường gọi là giải quyết nhu cầu “no” và “ấm” của người dân trong những năm cuối của thế kỷ XX và ngày nay gọi là “giảm nghèo và phát triển” Trung Quốc chủ yếu quan tâm giải quyết vấn đề nghèo ở vùng nông thôn mà các giải pháp chủ yếu là hỗ trợ phát triển cộng đồng ở các xã nghèo Việc hỗ trợ trực tiếp người nghèo, hộ
Trang 30nghèo cũng có song mức độ ít hơn nhiều so với ở nước ta Mặt khác, Trung Quốc rất coi trọng việc giảm nghèo và phát triển, hay nói cách khác là gắn rất chặt giảm nghèo với phát triển kinh tế Trung Quốc có 9 nhóm giải pháp giảm nghèo và phát triển cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục trọng điểm phát triển ngành trồng trọt, tập trung giúp
dân nghèo các chương trình phát triển cây đặc sản mà thị trường có nhu cầu; lấy tăng thu nhập cho dân làm trung tâm, dựa vào tiến bộ khoa học kỹ thuật,
ưu hoá giống cây nâng cao phẩm chất, tăng hiệu quả kinh tế
Thứ hai, tăng cường đẩy mạnh kinh doanh ngành hàng, căn cứ theo
phương hướng phát triển và nhu cầu của ngành hàng, đối với nông sản có ưu thế của địa phương mà thị trường có nhu cầu cần được quy hoạch tổ chức liên vùng, hình thành vùng sản xuất ngành hàng đặc sản chủ đạo Tích cực phát triển hình thái tổ chức sản xuất “xí nghiệp đầu tầu” gắn với nông hộ và ký hợp đồng nông nghiệp Cổ vũ các xí nghiệp chế biến nông sản lớn và vừa đến các vùng nghèo xây dựng vùng nguyên liệu, tạo điều kiện cung cấp dịch vụ trước, trong và sau sản xuất cho nông dân, hình thành nông, công, mậu nhất thể hoá trong vòng khép kín kinh doanh ngành hàng
Thứ ba, tăng cường vốn đầu tư và vốn vay cho giảm nghèo, đồng thời có
tổ chức chuyên quản; giúp đỡ tạo điều kiện cho các xí nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, lưu thông lao động lớn có khả năng làm tăng thu nhập cho dân nghèo; tăng cường cho vay vốn nhỏ phát triển sản xuất
Thứ tư, cải thiện điều kiện cơ bản cho cuộc sống và sản xuất của vùng
nghèo, lấy thôn xã làm đơn vị tăng cường xây dựng đồng ruộng, cơ sở hạ tầng, cải tạo môi trường và tăng cường dịch vụ công cộng
Thứ năm, nâng cao trình độ văn hoá, kỹ thuật và tố chất của dân nghèo Thứ sáu, cổ vũ mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia công cuộc giảm
nghèo, Chính phủ tạo môi trường chính sách, môi trường đầu tư thuận lợi
Trang 31Thứ bảy, chủ động động viên mọi nguồn lực xã hội giúp đỡ, tiếp tục
động viên vùng khá giúp vùng nghèo (miền đông giúp miền tây), đặc biệt là
sự hợp tác giữa các xí nghiệp để cùng phát triển
Thứ tám, tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế phục vụ cho giảm nghèo Thứ chín, tăng cường qui phạm hoá việc thực hiện chương trình giảm
nghèo và phát triển, triệt để thực hiện chế độ trách nhiệm, tỉnh chịu tổng trách nhiệm, huyện tổ chức thực hiện, công việc tới thôn, giảm nghèo tới hộ Tăng cường công tác xây dựng đội ngũ cán bộ vùng nghèo, xây dựng chính quyền dân chủ cơ sở, không ngừng nâng cao năng lực cán bộ và tổ chức cơ sở dẫn dắt dân thoát nghèo vươn lên dư dật
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Băng-la-đét
Băng-la-đét nổi lên như một điển hình về chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất cho người nghèo thông qua việc cho vay tín dụng đối với người nghèo Từ năm 1976, Ngân hàng Grameen Bank ra đời nhằm cung cấp tín dụng cho người nghèo dưới hình thức tín chấp, không có ràng buộc về tài sản thế chấp, cho vay các khoản nhỏ, khuyến khích trách nhiệm cộng đồng Grameen Bank có một cơ chế hoạt động rất đặc biệt, bất cứ người nông dân nào không có đất canh tác, thu nhập dưới 100 USD/năm đều được vay vốn không cần tài sản hay vật thế chấp Mức vay thấp nhất là 200USD (tương đương 5000 Cata - tiền của Băng-la-đét) Không chỉ cho vay vốn, ngân hàng này còn tìm hiểu rất kỹ đặc tính tâm lý, điều kiện sống và lao động của người nghèo nhằm khơi dậy những mặt tích cực của họ, hướng dẫn họ cách làm ăn, nhờ đó người nghèo tự vươn lên thoát nghèo bằng nhiều hình thức khác nhau Tính đến hết tháng 5/2007, tròn 30 năm tồn tại và phát triển với chủ trương trợ giúp người nghèo đói, số thành viên của Grameen Bank đã lên đến 7.166.944 người, trong đó phụ nữ: 6.935.639 người, chiếm gần 96,8% tổng số người được vay vốn Nhờ sự hoạt động có hiệu quả của hệ thống ngân hàng
Trang 32này mà người nghèo ở Băng-la-đét đã có chỗ dựa tin cậy, và đây được coi là
mô hình chủ chốt giúp người dân thoát nghèo ở quốc gia Nam Á này
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương
1.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai
Kinh nghiệm góp phần xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Đồng Nai: “Đưa những cái thiếu” về nông thôn, đến tận tay người nghèo Đồng Nai được xem
là một trong những địa phương thành công nhất trong việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo Bài học kinh nghiệm của tỉnh thì nhiều, nhưng việc
đưa ra và áp dụng thành công các chính sách "đem cái chữ đến cho người nghèo", "gắn chế biến nông sản với vùng nguyên liệu" và "đưa ngân hàng về
cơ sở" của Đồng Nai là những nét nổi bật
- Dạy chữ, dạy nghề cho người nghèo:
Trước khi triển khai thực hiện giải pháp nâng cao dân trí cho người nghèo, tỉnh đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng trường lớp ở nông thôn, các vùng khó khăn và tiến đến kiên cố hóa Có cái nền vững chắc như vậy cùng với phong trào xã hội hóa giáo dục của tỉnh diễn ra mạnh mẽ đã tác động đến ý thức của người dân, đặc biệt là nông dân trong việc chăm lo cho
sự nghiệp giáo dục và đào tạo Nhờ vậy, đến nay hầu hết các em tuổi từ 18 trở xuống đều có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở
Bên cạnh với công tác dạy chữ, tỉnh Đông Nai luôn quan tâm đến dạy nghề để giúp người dân có việc làm, thu nhập ổn định, thoát nghèo bền vững
Sở Lao động, thương binh và xã hội cùng ngành giáo dục - đào tạo đã tổ chức được nhiều trường, khóa, lớp đào tạo nghề ngay tại các doanh nghiệp, tại các
xã vùng sâu, vùng xa để người dân nghèo, trình độ văn hóa chưa cao được học những ngành nghề phù hợp Hiện nay, ngoài các trung tâm học tập cộng đồng có dạy nghề thì ở tất cả các huyện, thị xã trong tỉnh đều có nhiều trường, lớp dạy nghề trên các lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp Tỉnh cũng tiến
Trang 33hành nhiều chương trình tài trợ, hỗ trợ dạy nghề và giới thiệu việc làm cho con em đồng bào dân tộc, gia đình chính sách, bộ đội xuất ngũ Ước tính, bình quân mỗi năm có trên 1.000 học viên của tỉnh được đào tạo nghề miễn phí và giới thiệu việc làm có thu nhập ổn định
- Đưa ngân hàng, nhà máy về với nông thôn:
Chương trình cung ứng vốn cho người nghèo của Đồng Nai đã triển khai thực hiện từ năm 1994 Đặc biệt, năm 2003, ngân hàng chính sách xã hội
ra đời thì mạng lưới của nó không chỉ dừng lại ở tỉnh, huyện mà còn mở nhiều điểm giao dịch tại các xã để tiếp cận dân Một cách tiếp cận và mở rộng cho vay khác của ngân hàng chính sách hội là liên kết với các tổ chức đoàn thể, như: Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh để mở ra những kênh chuyển tải vốn đến người vay nhanh chóng, kịp thời Với cách làm này, Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh đã giải đáp được một phần bài toán “ngân hàng thừa tiền, nông dân thiếu vốn” Không những thế, việc "xã hội hóa" công tác ngân hàng và đặt nó dưới sự giám sát của cộng đồng thì phía đơn vị cho vay thu hồi vốn thuận lợi và người dân được vay vốn
đã sử dụng đúng mục đích, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện cuộc sống đáng kể Từ năm 2001 đến nay, có trên 49 ngàn lượt hộ được vay vốn xóa đói giảm nghèo với số tiền đến hàng trăm tỷ đồng
1.2.2.2 Kinh nghiệm của huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên – Huế trước đây được coi là vùng đất “khó” của tỉnh bởi địa bàn miền núi, xa xôi, cách trở Huyện có 12 xã - thị trấn thì có tới 7 xã đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 1.628/4.145 hộ, tỷ lệ hộ nghèo lên tới 35,4% vào năm 2001 Nhưng đến năm
2005, Nam Đông dường như đã mang một bộ mặt mới, những con đường trải
bê tông thẳng băng giúp huyện “gần” với thành phố Huế hơn; trường học, trạm y tế cũng được xây dựng mới khang trang, sạch đẹp Năm 2005, huyện chỉ còn hơn 10% hộ nghèo và đã chính thức xin rút khỏi Chương trình 135
Trang 34Sở dĩ có được thành tựu đó là do huyện đã tập trung mọi nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng, làm nền tảng phát triển kinh tế – xã hội Để có thêm nguồn vốn, ngoài hỗ trợ của Chương trình 135 và của tỉnh, Nam Đông đã thực hiện chính sách tiết kiệm, mỗi năm dôi ra 400 – 500 triệu đồng dùng xây dựng hạ tầng Đối với xã, huyện khuyến khích khai thác nguồn thu, nơi nào vượt kế hoạch được thưởng 0,5 – 1% Để có đủ giáo viên mầm non, ngoài chế
độ của Nhà nước, huyện còn hỗ trợ 15% tiền lương đóng bảo hiểm xã hội Đặc biệt, nhằm thay đổi cách nghĩ, cách làm của bà con, huyện coi trọng việc xây dựng hệ thống thuỷ lợi và các mô hình phát triển kinh tế vườn, cây công nghiệp, trồng rừng Tuy nhiên, một “bí quyết” quan trọng nhất giúp Nam Đông xóa đói giảm nghèo thành công chính là khơi dậy ý thức tự vươn lên của mỗi hộ nông dân bởi khi người dân không có khát vọng làm giàu, tinh thần quyết tâm học hỏi thì sự hỗ trợ, đầu tư bên ngoài cũng khó phát huy tác dụng
Có thể nói đây là một kinh nghiệm thực tế của địa phương mà chúng ta
có thể học tập để có giải pháp, chính sách phù hợp nâng cao năng lực của huyện nghèo, đề cao sự tham gia của người dân, phát huy sự tự lực, vươn lên thoát nghèo của họ
1.3 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghèo đói là một hiện tượng rất phổ biến trong phạm vi cả thế giới, cho nên vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận văn tốt nghiệp đã đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo, trong đó
có các công trình như:
Các công trình nghiên cứu về đói nghèo ở Việt Nam có:
- Huỳnh Thu Ba (2004), Giảm nghèo và rừng ở Việt Nam;
- Lâm Văn Bé (Hà Nội, 2008), Nghèo đói Việt Nam nhìn qua những con số;
Trang 35- Chính phủ Việt Nam (2002), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo;
- Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993);
- Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế (Nxb Lao động, 1997)
Về luận văn, luận án có các công trình sau:
- Luận án Tiến sĩ của TS Lê Văn Bình (2009), Quản lý Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải trung Bộ trong giai đoạn hiện nay;
- Luận án Tiến sĩ của TS Nguyễn Thị Hoa (2009), Hoàn thiện chính sách xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam đến 2015;
- Luận văn Thạc sĩ của Ths Phạm Thị Bảo Oanh (2010), Tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Đại
học Kinh tế quốc dân;
- Luận án tiến sĩ Kinh tế của Trần Thị Hằng (2001), Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc
Trang 36Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến nghèo đói; tình hình thực hiện xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2006-2010; đưa ra quan điểm, định hướng xóa đói giảm nghèo, hướng tới giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm
2011 đến 2020
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi về thời gian: Thu thập tài liệu về xóa đói, giảm nghèo tập trung chủ yếu ở giai đoạn 2006-2010
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận về đói nghèo và giảm nghèo bền vững
- Đánh giá thực trạng về công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
+ Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Như Xuân
Trang 37+ Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
+ Các nhân tố ảnh hưởng tới đói nghèo
- Đề xuất một số giải pháp hướng tới giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá
+ Quan điểm và mục tiêu giảm nghèo của tỉnh Thanh Hóa
+ Định hướng của huyện
+ Đề xuất một số giải pháp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Từ các sách, công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học về đẩy mạnh
sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn và xóa đói giảm nghèo
- Từ các Nghị quyết đại hội Đảng tỉnh Thanh Hóa, đại hội Đảng bộ huyện Như Xuân, các báo cáo tổng kết hàng năm của UBND huyện, báo cáo của các phòng LĐTBXH, Chi cục Thống kê, Ban Xóa đói giảm nghèo của huyện qua 5 năm từ 2006-2010, Quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và bố trí dân cư huyện Như Xuân, đến năm 2020
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu thống kê
Việc xây dựng hệ thống bảng biểu, hệ thống chỉ tiêu, tính toán số liệu được thực hiện trên chương trình phần mềm Excel làm cơ sở cho những kết luận phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 382.4.4 Phương pháp phân tích kinh tế
- Để phân tích thực trạng đói nghèo của huyện chúng tôi sử dụng các phương pháp: thống kê mô tả để mô tả thực trạng, thống kê so sánh để so sánh mức sống trung bình của các hộ nghèo với các loại hộ khác mức đầu tư cho sản xuất giữa các loại hộ và phân tích số bình quân để đánh giá khả năng thoát nghèo của các hộ trong tương lai
- Căn cứ vào thực trạng đói nghèo của huyện, quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và bố trí dân cư huyện Như Xuân, đến năm 2020 để đưa
ra những định hướng và giải pháp xóa đói giảm nghèo đến năm 2015 cho huyện Như Xuân
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Khái quát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Như Xuân là huyện miền núi phía Tây Nam của tỉnh, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thanh Hoá 60 km Có địa giới giáp với các huyện và các tỉnh:
- Phía Bắc giáp với huyện Thường Xuân;
- Phía Nam giáp với tỉnh Nghệ An;
- Phía Đông giáp với huyện Như Thanh;
- Phía Tây giáp với tỉnh Nghệ An
Trang 40Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 71.994,93 ha, chiếm 6,0% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, bằng 30,65 % so với diện tích đất tự nhiên vùng kinh
tế Tây Nam và chiếm 9% diện tích tự nhiên các huyện miền núi của tỉnh Huyện Như Xuân có 17 xã và 1 thị trấn, trong đó có 11 xã và 14 thôn ở xã vùng 2 thuộc Chương trình 135 của Chính phủ; Trung tâm kinh tế văn hoá xã hội của huyện là thị trấn Yên Cát là đô thị loại V
Xét về vị trí địa lý: Như Xuân có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế
tổng hợp nói chung và dịch vụ thương mại nói riêng Khu vực Nam Thanh - Bắc Nghệ là một trong những trọng điểm đầu tư phát triển trong tương lai Phía Bắc Nghệ An đã hình thành nhà máy xi măng Hoàng Mai, khu vực Nam Thanh Hoá đã hình thành Khu kinh tế Nghi Sơn với nhà máy xi măng và cảng Nghi Sơn đó là những yếu tố khởi đầu để hình thành “nhân phát triển”, tạo động lực trong phát triển vùng Trong thời gian tới, khi liên hiệp lọc hoá dầu được xây dựng, đô thị mới Nghi Sơn ra đời thì vùng Tây Nam sẽ trở thành một trong những trung tâm kinh tế sôi động của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ
3.1.1.2 Địa hình
Huyện Như Xuân có địa hình cao dần từ Đông sang Tây, được chia theo
4 cấp độ dốc (không kể sông suối, núi đá) như sau: Đất bằng (dốc < 8o) 10.556,36 ha, chiếm 15,71%; đất dốc ít (độ dốc từ 8-15o) 25.198,75 ha, chiếm 37,51%; đất dốc (độ dốc từ 15-25o) 18.872,8 ha, chiếm 28,09%; đất rất dốc (độ dốc >25o) 12.550,76 ha, chiếm 18,68% Địa hình của huyện được phân thành các vùng sau:
- Vùng địa hình đồi núi cao: Gồm có 6 xã với địa hình dốc, bị chia cắt bởi nhiều khe, suối không thuận lợi cho phát triển sản xuát nông nghiệp, có diện tích tự nhiên 25.939,08 ha, chiếm 36,03% diện tích tự nhiên toàn huyện Trong vùng gồm các xã: Thanh Xuân, Thanh Quân, Thanh Sơn, Thanh Lâm, Thanh Hoà, Thanh Phong; vùng có núi Bù Mùn, đỉnh cao 798,3m, tài nguyên