1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tiểu luận quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

41 438 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 57,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của Đảng trong quá trình đổi mới trong quá trình đổi mới

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU……… 3

B NỘI DUNG……… 5

1.Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất……… …… …….……….5

1.1 Một số khái niệm……… 5

1.1.1 Lực lượng sản xuất……… 5

1.1.2 Quan hệ sản xuất……….6

1.1.3 Trình độ của lực lượng sản xuất………8

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất…….9

1.2.1 Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất……….9

1.2.2 Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất……….10

2 Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của Đảng trong quá trình đổi mới… ……… 11

2.1 Đảng ban hành chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần…… 11

2.1.1 Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI với chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần………11

2.1.2 Đảng đã ban hành nhiều chủ trương để tao điều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển………14

2.2 Đảng đưa ra nhiều chủ trương để phát triển lực lượng sản xuất…… … 21

2.2.1 Đảng đã đề ra nhiều chủ trương để phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước……….21

Trang 2

2.2.2 Đảng đưa ra nhiều chủ trương để phát triển nguồn lực con người và bồi dưỡng nguồn nhân lực………26

2.2.3 Một số chủ trương của Đảng về phát triển khoa học-công nghệ…………31

C KẾT LUẬN……….36

D CHÚ THÍCH……… 38

E DANH MỤC THAM KHẢO……….40

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Xã hội loài người đã trải qua năm chế độ xã hội: xã hội nguyên thủy, xã hộichiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.Lịch sử phát triển loài người là sự đấu tranh thay thế lẫn nhau của các chế độ xã hội,

xã hội sau cao hơn xã hội trước Sự thay thế hình thái này tất yếu do quy luật kinh tếchi phối Nghiên cứu triết học, kinh tế chính trị học cũng như nhiều môn khoa họckinh tế khác nhau nhiều người đã có chung nhận xét: quy luật “ quan hệ sản xuấtphải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” là quy luật chi phốitoàn bộ hệ thống xã hội từ trước đến nay Với tư cách là phạm trù lý luận nhận thức,khái niệm “ quy luật” là sự phản ánh của tư duy khoa học, phản ánh liên hệ của các

sự vật và tính chỉnh thể của chúng Các quy luật tự nhiên, xã hội cũng như conngười đều mang tính khách quan Con người không thể tạo ra hoặc tự ý xóa bỏ quyluật mà chỉ có thể nhận thức và vận dụng nó trong thực tiễn Nước ta đang phát triểnnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa do đó quy luật: “ quan hệsản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất’’ tạo điều kiệncho chúng ta có nhận thức về sản xuất xã hội đồng thời giúp chúng ta mở mangđược nhiều lĩnh vực kinh tế Quy luật này là hết sức cần thiết nó không những làmchính sách chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta mà còn làm tiền đề cho

sự dự đoán xu thế phát triển kinh tế của thế giới để từ đó đề ra được những biệnpháp và quyết sách hợp lý

Trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta nói riêng và ở các nước khác nói chung sự phát triển kinh tế ở mỗi nước tuy khác nhau nhưng đều có một số điểm chung, dựa trên một số nguyên tắc cơ bản trong phát triển kinh tế ở mỗi nước là phát triển sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Mỗi đất nước đều có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và sự phân bố dân cư không giống nhau dẫn đến quan hệ sản xuất và trình độ lực lượng sản xuất mỗi vùng cũng khác nhau Do tính đặc thù trên nên khi quan hệ sản xuất ở một vùng, một trình độ phát

Trang 4

triển nào đó phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó sẽ kéo theo sự phát triển về kinh tế nhanh chóng Nhưng nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó sẽ có tác động tiêu cực đến

sự phát triển kinh tế Vì vậy quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có tác động lẫn nhau là hai mặt của quá trình phát triển kinh tế

Nghiên cứu về sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho chúng ta có được một nhận thức về sản xuất xã hội Đồngthời giúp chúng ta mở mang được nhiều lĩnh vực về kinh tế Thấy được vị trí cũng như ý nghĩa của nó Để nghiên cứu môn triết học em đã lựa chọn đề tài: “ Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam trong quá trình đổi mới”

Trang 5

và xã hội Hay nói cách khác lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa conngười với giới tự nhiên, bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất.

Tư liệu sản xuất gồm có : đối tượng lao động và tư liệu lao động Đối tượng

lao động là những cái mà con người tác động vào để cải tạo chúng thành các sảnphẩm phục vụ cho đời sống của mình như đất đai, tài nguyên, khoáng sản; hoặcnhững đối tượng đã trải qua quá trình lao động của con người, nhưng chưa thànhsản phẩm cuối cùng (nguyên vật liệu) Còn tư liệu lao động gồm: công cụ lao động

là những cái con người dùng để truyền sức lao động vào đối tượng lao động để biếnđổi chúng thành những sản phẩm lao động nhất định và những phương tiện vật liệukhác phục vụ quá trình sản xuất như nhà xưởng, bến bãi… Trong các yếu tố trên thìcông cụ lao động được coi là yếu tố quan trọng nhất, linh hoạt nhất của tư liệu sảnxuất

Người lao động : đây được coi là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của quá

trình sản xuất Bởi vì, suy đến cùng thì các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao độngcủa con người, đồng thời là giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụthuộc vào trình độ thực tế sử dụng và sáng tạo của người lao động Người lao độngdùng trí thông minh cùng với sự hiểu biết và kinh nghiệm lao động luôn luôn không

Trang 6

ngừng biến đổi công cụ lao động để đạt năng suất lao động cao nhất và ít hao tổnsức lực nhất Lê-nin nói: “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại làcông nhân, là người lao động”

Ở nước ta từ trước đến nay nền kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ yếu, nêntrình độ khoa học kỹ thuật còn kém phát triển Hiện thời đại chúng ta đang ở trongtình trạng kế thừa những lực lượng sản xuất, vừa nhỏ nhoi, vừa lạc hậu với trình độchung của thế giới, hơn nữa trong thời gian khá dài những lực lượng ấy bị kìm hãm,phát huy tác dụng kém Bởi vậy Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đặt ra nhiệm vụ làphải: “giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàngcủa đất nước, sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lựclượng sản xuất” Mặt khác chúng ta đang ở trong giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, đang chứng kiến những biến đổi cách mạng trongcông nghệ Chính điều này đòi hỏi chúng ta lựa chọn một mặt tận dụng cái hiện có,mặt khác nhanh chóng tiếp thu cái mới do thời đại tạo ra nhằm dùng chúng để pháthuy nguồn nhân lực bên trong

1.1.2 Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa con người với con người trong quátrình sản xuất ra của cải vật chất của xã hội Trong quá trình sản xuất con ngườiphải có những quan hệ, con người không thể tách khỏi cộng đồng Như vậy việcphải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật rồi.Nhìn tổng thể quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:

Quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản

xuất Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữuđối với tư liệu sản xuất biểu hiện thành chế độ sở hữu Trong hệ thống các quan hệsản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai tṛ quyết định đối với các quan

hệ xã hội khác Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua,lịch sử đã được chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệusản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Sở hữu công cộng là loại hình mà

Trang 7

trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng Do tư liệu sản xuất

là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất và trongđời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau Ngược lại, trongcác chế độ tư hữu do tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số người nên của cải xãhội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít người các quan hệ xã hội do vậybất bình đẳng

Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất tức là quan hệ giữa người

với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Trong hệ thống các quan

hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năngquyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đingược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnhhưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội

Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt chẽ với nhau cùng

mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làm cho chúngkhông ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợicho người lao động Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý,trong hệ thốngquan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là nhữngnhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế Quan

hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó

có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát triển của xã hội Nêú xét riêng trongphạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất sở hữu quyết định tính chấtcủa quản lý và phân phối Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất địnhquan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuấtkhác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chung không đối lập mà phục vụ đắclực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội mới

Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất thì vấn đề quan trọng mà Đại hộiĐảng lần thứ VI đã nhấn mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế độ sở hữu,chế độ quản lý và chế độ phân phối không nên coi trong một mặt nào cả Thực tếlịch sử đã cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một mục

Trang 8

đích kinh tế là nhằm đảm bảo cho lực lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát triểnthuận lợi và đời sống của con người cũng được cải thiện và xét riêng trong phạm vimột quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất của sở hữu cũng quyết định tính chấtcủa quản lý và phân phối Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội nhất địnhthì quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuấtkhác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng không đối lập mà còn phục vụđắc lực cho sử tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế – xã hội mới.

Trong lịch sử mỗi hình thái kinh tế - xã hội cùng với một quan hệ sản xuấtthống trị điển hình còn tồn tại những quan hệ phụ thuộc, lỗi thời như là tàn dư của

xã hội cũ Tất cả đều bắt nguồn từ phát triển không đều về lực lượng sản xuất khôngnhững giữa các nước khác nhau mà còn giữa các vùng khác nhau, các ngành khácnhau của một nước Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như Mácnhận xét : “Không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất củanhững quan hệ đó chưa được chín muồi …”(1) phải có một thời kỳ lịch sử tươngđối lâu dài mới có thể tạo ra được điều kiện vật chất trên

1.1.3.Trình độ của lực lượng sản xuất

Trình độ của lực lượng sản xuất: lực lượng sản xuất là yếu tố tác động quyếtđịnh đối với sự phát triển của phương thức sản xuất Trình độ của lực lượng sảnxuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tựnhiên của loài người trong giai đoạn đó Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuấtnói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiệnquá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình.Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở chỗ: trình độ công cụ lao động, trình độ quản

lý xã hội ứng dụng khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng củacon người và trình độ phân công lao động.Trên thực tế tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất không tách biệt nhau

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất

1.2.1 Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

Trang 9

Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất làkhuynh hướng chung của xã hội không ngừng biến đổi và phát triển Sự phát triển

đó bao giờ cũng bắt nguồn từ biến đổi và phát triển cuả lực lượng sản xuất trước hết

là công cụ lao động Như vậy chính lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất cáchmạng nhất của phương thức sản xuất có tác dụng quyết định đối với phương thứcsản xuất nên nó là quy trình sản xuất

Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hìnhthức do đó lực lượng sản xuất quy định quan hệ sản xuất Trình độ sản xuất ở trình

độ tính chất nào thì quan hệ sản xuất ở trình độ tính chất đó khi lực lượng sản xuấtphát triển thì quan hệ sản xuất phải biến đổi theo cho phà hợp với tính chất và trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất

Tính chất của lực lượng sản xuất thể hiện ở tính cá nhân và tính chất xã hộihóa Tính chất cá nhân phản ánh sản xuất còn ở trình độ thủ công thô sơ một người

có thể làm ra một sản phẩm Tích chất xã hội hóa phản ánh sản xuất ở trình độ caosản phẩm làm là kết quả hợp tác của nhiều người

Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện trước hết là sự phát triển củalực lượng lao động ở việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất ở kinh nghiệm và kỹnăng lao động của con người ở trình độ tổ chức quản lý phân công lao động trong

xã hội, trình độ lực lượng sản xuất càng cao thì sự phân công lao động càng tỉ mỉ.Tích chất và trình độ của lực lượng sản xuất là không tách rời nhau Khi lực lượngsản xuất phát triển đến một trình độ mới quan hệ sản xuất không phù hơn với lựclượng sản xuất nữa thì sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt dẫn đến việc xóa bỏ quan hệsản xuất cũ lỗi thời lạc hậu thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với tíchchất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để mở đường thúc đẩy lức lượngsan xuất phat triển

Như vậy sự phù hợp biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấtđược biểu hiện là phù hợp, phù hợp tạo nên sự phát triển không ngừng của lịch sử

xã hội loài người đưa xã hội loài người chuyển từ phương thức sản xuất khác mới

Trang 10

hơn tiến triển hơn từ phương thức sản xuất nguyên thuye lên phương thức sản cuấtphong kiến lên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và lên phương thức sản xuấtcộng sản chủ nghĩa

1.2.2 Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất quy định mục đích sản xuất, quy định tổ chưc quản lý Tácđộng trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia sản xuất lợi ích của người lao động,chủ đầu tư, của xã hội từ đó hình thành hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìmhãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất được thểhiện ở hai mặt:

Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất sẽthúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ đó là sự kết hợp đúng đắn giữa cácyếu tố cấu thành lực lượng sản xuất Giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuấtphải đem lại những phương thức liên kết phù hợp có hiệu quả cao

Khi quan hệ sản xuất không phù hợp tính chất và trình độ lực lượng sản xuất

sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất trở nên lỗithời lạc hậu so với sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển củalực lượng sản xuất nó trở thành cản trở lớn nhất đối với sản xuất , đối với sự pháttriển của toàn xã hội Khi quan hệ sản xuất “ đi trước” một cách tách rời hay “tiêntiến” giả tạo so với sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triểncủa lực lượng sản xuất

Như vậy để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuấtphải thông qua hoạt dộng của con người trong xã hội có đối kháng Giai cấp mâuthuẫn đó chỉ giải quyết triệt để bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chứ khôngphải bằng sự điều hòa điều chỉnh thích nghi

Trang 11

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất có vị trí vôcùng quan trọng Là quy luật phổ biến tác động trong toàn bọ tiến trình lịch sử nhânloại, là quy luật chi phối sự vận động và phát triển của nền sản xuất xã hội nó lànguồn gốc xâu xa của sự phát triển đưa xã hội từ hình thái kinh tế này sang hình tháikinh tế xã hội khác cao hợn Nó tồn tai trong mọi xã hội kể cả chế dộ xã hội chủnghĩa

2 SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

2.1 Đảng đã ban hành chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần

2.1.1 Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI với chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần

Từ năm 1975 sau khi giành được độc lập và thống nhất đất nước chúng ta đã

đi lên xã hội chủ nghĩa với một lực lượng sản xuất lớn và tiềm năng mọi mặt cònnon trẻ, đòi hỏi nước ta phải có một chế độ kinh tế phù hợp, và do đó nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần đã ra đời Nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng,trong thời gian qua do đề cao vai trò của quan hệ sản xuất do quan niệm không đúng

về mối quan hệ sản xuất, và quan hệ khác, do quên mất điều cơ bản là nước ta quá

độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa Đồng nhất chế độcông hưũ với chủ nghĩa xã hội lẫn lộn giữa hợp tác hoá và tập thể hoá Không thấy

rõ các bước có tính quy luật trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nên đã tiếnhành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân Và xét vềthực chất là theo đường lối “đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sảnxuất đi trước, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Thiết lập chế độ cônghữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể” Quan niệm cho rằng

có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển đã bị bác bỏ Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn vớinhững phân tích trên Trên con đường tìm tòi lối thoát của mình từ trong lòng nền

Trang 12

xã hội đã nảy sinh những hiện tượng trái với ý muốn chủ quan của chúng ta Cónhững hiện tượng tiêu cực nổi lên trong đời sống kinh tế như quản lý kém, tham ô,tham nhũng,…, Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuấtvới những hình thức kinh tế – xã hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan, cần thiếtcho lực lượng sản xuất mới nảy sinh và phát triển Khắc phục những mặt tiêu cựctrên là cần thiết, nhưng trên thực tế chúng ta chưa thực hiện tốt các nhiệm vụ mìnhphải làm Phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệsản xuất, từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế, thiết lậpquan hệ sản xuất mới và với những hình thức và bước đi phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao.

Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách mạng,cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản và buôn bán tự do rộng rãi, có lợicho sự phát triển sản xuất Cách đây không lâu các nhà báo của nước ngoài phỏngvấn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng “với một người có bằng cấp về quân sự nhưngkhông có bằng cấp về kinh tế Ông có thể đưa đất nước Việt Nam tiến lên không”trả lời phỏng vấn Tổng bí thư khẳng định rằng “Việt Nam chúng tôi khác với cácnước ở chỗ chúng tôi đào tạo một người lính thì người lính ấy phải có khả năng cầmsúng và làm kinh tế giỏi ”(2), và Ông còn khẳng định và không chấp nhận Việt Namtheo con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nướcViệt Nam mà vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở đòi hỏi các bên cùng cólợi, và như vậy cho phép phát triển nền kinh tế tư bản là sáng suốt

Ở nước ta trong thời kỳ từ Đại hội IV (năm 1976) đến trước Đại hội VI (năm1986) của Đảng, đã mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội và bệnh bảo thủ trìtrệ do vi phạm các quy luật khách quan, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chúng ta đã thoát ly khỏi điềukiện thực tiễn của một đất nước kinh tế kém phát triển, còn nghèo nàn lạc hậu

nhưng lại muốn tạo ra một quan hệ sản xuất tiên tiến đi trước để mở đường cho lực

lượng sản xuất phát triển Nhưng hậu quả thì ngược lại

Trang 13

Đúng như văn kiện Đại hội VI đã khẳng định: “Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ:lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu,

mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa sovới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”(3) Lúc đó chúng ta đã chủ quanmuốn tạo ra một quan hệ sản xuất vượt trước trình độ lực lượng sản xuất, làm chomâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt, đưa đấtnước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội Chúng ta đã có những biểu hiện nóngvội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóngbiến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh; mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp, kìm hãm sự phát triển của đất nước Chúng ta vừa chủ quannóng vội, vừa bảo thủ trì trệ, hai mặt đó cùng tồn tại và cản trở bước tiến của cáchmạng Sự nhận thức sai quy luật chứng tỏ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vậndụng quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; thành kiến không đúng nhữngquy luật của sản xuất hàng hóa; coi nhẹ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được Đảng ta đề

ra tại Đại hội VI Có thể nói, đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng,bởi lẽ phát triển kinh tế nhiều thành phần lúc này được coi là một tất yếu Thời kỳtrước đổi mới, nước ta đang tồn tại nhiều loại trình độ lực lượng sản xuất khác nhau

Để đáp ứng yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì đòi hỏi phải có nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế.Thời kì này nền kinh tế ở nước ta là nền kinh tế tập trung,bao cấp Kinh tế tập trung, bao cấp được đặc trưng bằng việc nhà nước quản lý nềnkinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chitiết áp đặt từ trên xuống dưới; các doanh nghiệp làm ăn lỗ thì nhà nươc bù, lãi thìnhà nước thu; các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về vật chất vàpháp lý dối với các quyết định của mình; quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ chỉ làhình thức quan hệ hiện vật là chủ yếu.nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ

"cấp phát -giao nộp"; bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung gian hoat đông

Trang 14

kém hiệu quả sinh ra quan liệu phong cách cửa quyền nhưng lai dược hưởng quyềnlợi cao hơn người lao động Chế độ bao cấp đã trở thành vật cản lớn trên conđường phát triển của nước ta kéo nước ta, kinh tế khủng hoảng, trì trệ Lúc này, mộttình thế đặt ra cho đất nước thời bấy giờ là "đổi mới hay là chết”? Đổi mới kinh tế

mà nội dung là phát triển kinh tế nhiều thành phần là sự lựa chọn tất yếu lúc này

Đại hội VI ( 12/1986) đưa ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước trong đóđổi mới kinh tế là trọng tâm Đảng chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhànước….) Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định không những khôi phụcthành phần kinh tế tư bản tư nhân mà còn phát triển chúng rộng rãi theo chính sáchcủa Đảng và Nhà nước Nhưng quan trọng là phải nhận thức được vai trò thànhphần kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ Để thực hiện vai trò này một mặt nóphải thông qua sự nêu gương về các mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả Thựchiện đầy đủ đối với nhà nước Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế

cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển Tuy nhiên với thành phần kinh

tế này cần phải có những biện pháp để cho quan hệ sản xuất thực hiên phù hợp vớitính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ Vì nhưthế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao động

Đại hội VI của Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc vàtriệt dể Đó là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và cũng thể hiện tinh thầntrách nhiệm cao của Đảng trước đất nước và dân tộc. Đường lối do Đại hội đề ra thểhiện sự phát triển tư duy lý luận, khả năng tổng kết và tổ chức thực tiễn của Đảng,

mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội

2.1.2 Đảng đã ban hành nhiều chủ trương để tạo điều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ về chủ nghĩa xã hội và con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 15

(tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện cóhiệu quả công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội đưa ra những quan niệmmới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm

về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ; về cơ cấu kinh tế, thừanhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để cơchế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinhdoanh Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hìnhthức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội;chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách

xã hội Đại hội VI được là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trongnhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một bước, đưa raquan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lênchủ nghĩa xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâudài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”

Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơnchủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủnghĩa xã hội của Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đilên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước” Trong cơ chế đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sảnxuất, kinh doanh, quan hệ bình đẳng,cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tựnguyện, thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọng lĩnhvực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh hiệu quả, Nhà nước quản

lý nền kinh tế định hướng dẫn dắt các thành phân kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi vàmôi trường trong sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, kiểm soát và quản lýcác hoạt động kinh tế, đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xãhội

Trang 16

Đối tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tưnhân Tiếp tục đường lối trên, tại Đại hội VIII(6/1996) đề ra nhiệm vụ đẩy mạnhcông cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng

Có thể nói đây là quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng có tầm quan trọng đặcbiệt, nó tạo điều kiện cho mọi cá nhân, đơn vị, tập thể khai thác phát huy mọi tiềmnăng, nội lực, tạo ra một tổng hợp lực thật sự cho việc phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa

Tại Đại hội X (năm 2006), Đảng ta xác định cơ cấu nền kinh tế nước ta gồmnăm thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tưbản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Điểm mới ở đây là đã gộp kinh tế

cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân thành thành phần kinh tế tư nhân, đồng thời khẳngđịnh đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân Văn kiện Đại hội X cũng khẳng địnhcác thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thành phần kinh tế bình đẳng với nhau Điềunày có tác dụng tích cực tạo sự yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh của tất cả cácdoanh nghiệp trong các thành phần kinh tế phi nhà nước Sự phát triển không đồngđều của lực lượng sản xuất, tính kế thừa trong phát triển, cũng như đặc điểm cụ thểcủa đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, v.v quy định sự tồn tại đadạng, đan xen của các hình thức sở hữu và tương ứng với đó là sự tồn tại của nềnkinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay Trong cơ cấu nền kinh tế đó, kinh tếnhà nước được Đảng xác định là thành phần đóng vai trò chủ đạo, các thành phần

Trang 17

kinh tế khác góp phần quan trọng trong việc huy động mọi tiềm năng, nguồn lựcvào sản xuất, kinh doanh, phát triển lực lượng sản xuất Trong nền kinh tế nhiềuthành phần ở nước ta hiện nay, có những thành phần kinh tế đã thể hiện tốt vai tròcủa mình, song cũng có những thành phần kinh tế còn bộc lộ những hạn chế, yếukém.

Về kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế này lấy sở hữu công cộng về tư liệusản xuất là cơ sở kinh tế Kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm các doanh nghiệpnhà nước, mà còn bao gồm các tài sản, công cụ kinh tế quan trọng thuộc sở hữu nhànước, v.v Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định rõ: “Kinh tế nhà nước giữ vai tròchủ đạo, v.v Vai trò đó được thể hiện cụ thể: Doanh nghiệp nhà nước giữ vị tríthen chốt ở những ngành, lĩnh vực kinh tế và địa bàn quan trọng của đất nước, cácdoanh nghiệp nhà nước đi đầu trong tiến bộ khoa học công nghệ; kinh tế nhà nước

là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để nhà nước thực hiện chức năng điềutiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế nhà nước

và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.Mặc dù có vai trò chủ đạo nhưng kinh tế nhà nước lại bộc lộ nhiều yếu kém: Vốnđầu tư của khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ lệ cao (trên dưới một nửa) trongtổng đầu tư xã hội nhưng tỷ lệ đóng góp vào GDP không cân xứng chỉ ở mức 37-39% và tạo công ăn việc làm cho khoảng 4,4% của tổng số lao động Suốt hàngchục năm khu vực kinh tế nội địa, mà có lẽ chủ yếu là khu vực kinh tế nhà nước,luôn nhập siêu ở mức cao, khu vực đầu tư nước ngoài lại xuất siêu, nói cách kháccác doanh nghiệp nhà nước đã tiêu dùng và đầu tư hơn mức nó tạo ra rất nhiều trongthời gian dài Sự kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước là một trong nhữngnguyên nhân chính gây bất ổn kinh tế vĩ mô, tăng lạm phát Đấy là những con sốthống kê biết nói về thành tích của khu vực kinh tế giữ vai trò “chủ đạo”

Thực trạng trên là đáng báo động, đòi hỏi cần phải xem xét lại vai trò củathành phần kinh tế nhà nước, từ đó có biện pháp cải tổ

Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được coi là một thành phần kinh tếcủa chủ nghĩa xã hội Thành phần kinh tế này tồn tại và phát triển dựa trên hình thức

Trang 18

sở hữu tập thể và sở hữu của các thành viên Sự phát triển theo định hướng xã hộichủ nghĩa ở nước ta đòi hỏi phát triển mạnh mẽ và vững chắc thành phần kinh tếnày, bởi như V.I.Lênin đã nhấn mạnh, đó là mô hình dễ tiếp thu nhất của nhữngngười nông dân để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Rút bài học kinh nghiệmsâu sắc từ phong trào tập thể hoá trước đổi mới và thực tế những năm đổi mới vừaqua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phát triển thành phần kinh tế này,chủ trương xây dựng các hợp tác xã kiểu mới phù hợp với trình độ của lực lượngsản xuất và nhu cầu của các chủ thể sản xuất Những năm qua, mặc dù được xácđịnh là cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nềnkinh tế quốc dân, song sự phát triển của kinh tế tập thể còn nhiều hạn chế: hoạtðộng chýa có hiệu quả, cõ sở vật chất - kỹ thuật còn lạc hậu, tỷ trọng GDP liên tụcgiảm Do vậy, để kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước thật sự trở thành nềntảng của nền kinh tế quốc dân, chúng ta cần có những biện pháp tích cực để kinh tếtập thể phát triển từng bước, vững chắc.

Kinh tế tư nhân bao gồm cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân Nhìn chung, sauhơn 20 năm đổi mới, kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ và đóng vai tròngày càng quan trọng trong nền kinh tế nước ta Trong những năm gần đây, kinh tếdân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, chiếm45,7% GDP (trong đó kinh tế hợp tác đóng góp 6,8%GDP) Như vậy, kinh tế tưnhân đạt 38,9% GDP, tương đương với tỷ trọng GDP của kinh tế nhà nước(5).Trong kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tưliệu sản xuất, có vai trò quan trọng trong nhiều ngành nghề ở cả thành thị và nôngthôn, có khả năng huy động vốn và lao động Đóng góp của kinh tế cá thể, tiểu chủtrong lĩnh vực nông nghiệp khá lớn, tỷ trọng GDP khá cao nhưng lại đang giảm liêntục Sự giảm sút này không đáng lo ngại, thậm chí là một dấu hiệu tích cực, phảnánh sự di chuyển khá mạnh mẽ của nó vào các bộ phận, các thành phần kinh tế cótrình độ cao hơn; thực chất, là sự thu hẹp cách thức sản xuất nhỏ lẻ để tiến lênnhững hình thức sản xuất tiến bộ hơn Đây là một xu thế tất yếu, do sự phát triểncủa nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra

Trang 19

một cách mạnh mẽ buộc những thành viên của kinh tế cá thể, tiểu chủ phải thay đổi,

di chuyển vào các bộ phận, các thành phần kinh tế khác để bảo đảm lợi ích, do đólàm tăng sức cạnh tranh và cơ hội để phát triển khoa học và công nghệ, nâng caonăng lực sản xuất

Đối với kinh tế tư bản tư nhân, đây là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức sởhữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Trong thời kỳ quá độ đi lên chủnghĩa xã hội, bộ phận kinh tế này đã đóng góp tích cực vào việc phát triển ực lượngsản xuất, huy động vốn, tạo việc làm cho người lao động, v.v Từ khi Luật Doanhnghiệp tư nhân và Luật Công ty ra đời (21/12/1990), các doanh nghiệp tư nhân đãthực sự đi vào hoạt động với đầy đủ tư cách pháp nhân, kinh tế tư bản tư nhân đã có

sự phát triển đáng kể, phát huy có hiệu quả khả năng huy động vốn và tạo việc làmmới cho người lao động; đóng góp của nó cũng ngày càng tăng Tuy nhiên, do mớihình thành, nên tỷ trọng cơ cấu GDP của nó chưa cao Đối với thành phần kinh tếnày, Đảng ta chủ trương khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghềsản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi

về chính sách, pháp lý để nó phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhànước, v.v

Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu hỗnhợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nướcdưới các hình thức hợp tác, liên doanh Trong quan niệm của V.I.Lênin, kinh tế tưbản nhà nước là hình thức kinh tế quá độ đặc biệt quan trọng và cần thiết để đi lênchủ nghĩa xã hội Tuy vậy, sự vận động hiện thực của thành phần kinh tế này ởnước ta đang còn tồn tại nhiều vấn đề Các cơ chế, chính sách, điều kiện ở Việt Namhiện nay chưa tạo ra sự thuận lợi cho thành phần kinh tế này phát triển Những nămđầu tiên khi chúng ta mới thực hiện đường lối mở cửa, có lẽ các doanh nghiệp nướcngoài hy vọng vào việc khai thác những tiềm năng của một thị trường còn rất mới

mẻ, nên họ đã đầu tư rất lớn vào Việt Nam, liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhànước với các doanh nghiệp nước ngoài diễn ra mạnh mẽ, vốn đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam ở mức cao Tuy nhiên, chỉ sau đó một thời gian, số vốn này giảm mạnh

Trang 20

Chính vì nguồn vốn đầu tư giảm nên tỷ trọng GDP của thành phần kinh tế này cũngliên tục giảm Đầu tư nước ngoài là bộ phận phát triển nhất của kinh tế tư bản nhànước ở nước ta, nếu đầu tư nước ngoài giảm sút thì tất yếu sẽ làm cho thành phầnkinh tế này kém phát triển, thậm chí là không phát triển Tuy nhiên, hiện nay chúng

ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Đảng và Nhà nước ta đang tìmmọi biện pháp tích cực và hiệu quả để cải thiện môi trường đầu tư và từ đo, kinh tế

tư bản tư nhân cũng có cơ hội phát triển

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế mới nảy sinhtrong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Năm 1987, khi Luật Đầu tưtrực tiếp nước ngoài được ban hành thì kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mới thực

sự có bước phát triển nhanh chóng Hiện nay, đã có hàng ngàn công ty nước ngoài

có dự án đầu tư ở Việt Nam Tính từ năm 1988 đến năm 2003, nước ta đã thu hútđược trên 40 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài và đã thực hiện được hơn 20 tỷUSD Năm 2005, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng15,9% GDP, năm 2007 khoảng 17% Từ khi chúng ta gia nhập WTO, nguồn vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam tăng đột biến, năm 2007 là hơn

20 tỷ USD (tăng khoảng 70% so với năm 2006), sáu tháng đầu năm năm 2008 là31,6 tỷ USD

Tuy nhiên, sự phát triển của thành phần kinh tế này đã và đang nảy sinh mộtvấn đề, đó là sự lệ thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài Giả định rằng, vì lý donào đó, chẳng hạn lạm phát, các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút một số lượnglớn nguồn vốn đầu tư thì tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam sẽ thế nào? Hoặc là tỷtrọng GDP của thành phần kinh tế này ngày càng lớn đến mức ngang bằng hoặcvượt kinh tế nhà nước thì liệu kinh tế nhà nước có thể duy trì được vai trò chủ đạocủa mình không? Nhà nước có thể kiểm soát được thành phần kinh tế này haykhông? Rõ ràng, sự phát triển của thành phần kinh tế này đem lại những lợi ích kinh

tế – xã hội rất lớn, đồng thời cũng tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đếnđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Một biện pháp cần đặt ra lúc này là chúng

ta phải phát triển mạnh mẽ kinh tế nhà nước để tạo nên sức mạnh thực sự của Nhà

Ngày đăng: 19/09/2017, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w