1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Trần Chiến

130 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Trần Chiến, người viết mong muốn được khám phá thế giới nghệ thuật trong những sáng tác của ông dưới sự soi chiếu của thi pháp học hiện đại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TRỊNH THỊ NHUNG

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN CHIẾN

CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VĂN HỌC

MÃ SỐ: 60220120

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS: Tôn Thảo Miên

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Tôn Thảo Miên – người đã tận tình

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện, từ việc định hướng, lựa chọn đề tài đến việc xây dựng đề cương và triển khai luận văn Cô đã có những góp ý cụ thể cho công trình, cung cấp tài liệu và luôn động viên để tôi hoàn thành nhiệm vụ

Tôi xin trân trọng cảm ơn nhà văn Trần Chiến – người đã cung cấp cho

tôi nhiều tư liệu về tác phẩm cũng như về quan điểm sáng tác để tôi có định hướng viết luận văn này Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện tốt cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm quý báu và dành thời gian để tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất

Học viên

Trịnh Thị Nhung

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Trần Chiến là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS

Tôn Thảo Miên Những kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố ở bất kì công trình nghiên cứu nào Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi

sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 6 tháng 7 năm 2017

Tác giả luận văn

Trịnh Thị Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Những đóng góp mới của đề tài 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN TRẦN CHIẾN 12

1.1 Khái niệm người kể chuyện 12

1.1.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất 15

1.1.2 Người kể chuyện ngôi thứ ba 16

1.2 Khái niệm điểm nhìn 18

1.2.1 Điểm nhìn bên trong 19

1.2.2 Điểm nhìn bên ngoài 19

1.2.3 Luân chuyển điểm nhìn 20

1 3 Truyện ngắn Trần Chiến 21

1.3.1 Vài nét về nhà văn Trần Chiến 21

1.3.2 Đa dạng điểm nhìn trong truyện ngắn Trần Chiến 26

1.3.2.1 Điểm nhìn khuất lấp 26

1.3.2.2 Điểm nhìn khách quan 30

Trang 5

CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT, CỐT TRUYỆN VÀ TÌNH HUỐNG TRONG

TRUYỆN NGẮN TRẦN CHIẾN 36

2.1 Nhân vật trong truyện ngắn Trần Chiến 36

2.1.1 Khái niệm nhân vật 36

2.1.2 Các kiểu nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Trần Chiến 39

2.1.2.1 Nhân vật giả cổ được trần tục hóa 39

2.1.2.2 Nhân vật trí thức, quan chức đồi bại 43

2.1.2.3 Nhân vật đa tình, đa cảm 48

2.2 Cốt truyện trong truyện ngắn Trần Chiến 52

2.2.1 Khái niệm cốt truyện 52

2.2.2 Các kiểu cốt truyện và nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn Trần Chiến 56

2.2.2.1 Cốt truyện giả cổ 56

2.2.2.2 Cốt truyện đời tư, thế sự 62

2.3 Tình huống trong truyện ngắn Trần Chiến 70

2.3.1 Khái niệm tình huống 70

2.3.2 Các kiểu tình huống và nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn Trần Chiến 72

2.3.2.1 Tình huống hành động 73

2.3.2.2 Tình huống tâm trạng 77

2.3.2.3 Tình huống nhận thức 82

CHƯƠNG 3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN CHIẾN 88

3.1 Ngôn ngữ trong truyện ngắn Trần Chiến 88

3.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 88

3.1.2 Ngôn ngữ đặc trưng trong truyện ngắn Trần Chiến 89

Trang 6

3.1.2.1 Ngôn ngữ cổ xưa 89

3.1.2.2 Ngôn ngữ đời thường 91

3.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Trần Chiến 96

3.2.1 Khái niệm giọng điệu 96

3.2.2 Giọng điệu chủ đạo trong truyện ngắn Trần Chiến 98

3.2.2.1 Giọng giễu nhại những diễn ngôn quen thuộc 98

3.2.2.2 Giọng mỉa mai, hài hước 101

3.2.2.3 Giọng trữ tình, triết lí 106

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự, nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự là để nhằm tìm ra một cách đọc Trong thế kỷ XX vừa qua, lí luận văn học đã thu được những thành tựu rực rỡ ở rất nhiều khía cạnh Đặc biệt, vấn đề lí thuyết tự sự ngày càng được quan tâm rộng rãi Lí thuyết tự sự cung cấp những khái niệm về cấu trúc văn bản tự sự Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã từng khẳng định lí thuyết tự sự sẽ cho ta thấy không chỉ là kĩ thuật trần thuật của các thể loại, các nhà văn, mà còn cho thấy cả truyền thống văn hoá ở đằng sau nó Vì vậy, nghiên cứu tự sự học ngày càng trở nên đặc biệt

quan trọng Với đề tài Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Trần Chiến, người

viết mong muốn được khám phá thế giới nghệ thuật trong những sáng tác của ông dưới sự soi chiếu của thi pháp học hiện đại (thông qua các góc độ của tự

sự học đó là: Người kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, cốt truyện, tình huống, ngôn ngữ và giọng điệu), hi vọng góp một tiếng nói riêng vào việc nghiên cứu

1.2 Truyện ngắn Việt Nam đương đại có nhiều cách tân mới mẻ Ngôn ngữ trần thuật đã có sự thu hẹp dần khoảng cách giữa truyện kể và những chuyện của hiện thực, ngôn ngữ trần thuật gần với đời sống hơn bao giờ hết Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn không còn là lời nói quyền uy, cao đạo Truyện Việt Nam đương đại không còn mang tính chất đơn bè như các thời kì trước Trong phát ngôn của người trần thuật cùng lúc có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật hôm nay xuất phát từ việc tổ chức đồng thời những tiếng nói khác nhau Sự xen lẫn của lời thoại nhân vật vào lời kể và đặc biệt là hình thức lời

Trang 8

nửa trực tiếp đã góp phần làm mới nghệ thuật kể chuyện, cho thấy ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của các cây bút truyện ngắn đương đại Trong những

nỗ lực cách tân, việc đổi mới ngôn ngữ trần thuật là một thành công không thể phủ nhận của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 Với cách vận dụng linh hoạt ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ vùng miền và nhất là với cách tổ chức đồng thời nhiều tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm, dẫn dắt mạch truyện Khảo sát các phát ngôn trong văn bản truyện kể, độc giả có thể phần nào hình dung được diện mạo của người trần thuật Hơn thế, thông qua ngôn ngữ trần thuật người đọc còn có thể nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn hôm nay

1.3 Trần Chiến là một nhà văn tài năng Ông là con trai của nhà sử học nổi tiếng Trần Huy Liệu Trần Chiến là người con duy nhất trong gia đình theo nghiệp văn chương Ông ngoại là học giả lừng lẫy Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc - người chuyên soạn sách khảo cứu văn hóa dân tộc, dân gian như các

cuốn: Tục ngữ Phong giao, Nam thi hợp tuyển, Truyện cổ nước Nam và nổi tiếng nhất là Cổ học tinh hoa ( viết chung) Trần Chiến sáng tác nhiều thể

loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn Ông xuất hiện muộn và lặng lẽ trên văn đàn Nhưng với một giọng văn riêng, ông đã thu hút được độc giả và liên tiếp giành được nhiều giải thưởng văn học Sáu cuốn đã xuất bản thì bốn cuốn được vinh danh

1.4 Mặc dù có nhiều giải thưởng văn học nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Trần Chiến Vì những lí do đó,

chúng tôi chọn Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Trần Chiến làm đề tài luận

văn thạc sĩ Thực hiện đề tài này, một mặt chúng tôi muốn tìm hiểu các phương diện của nghệ thuật tự sự trong các truyện ngắn của ông, mặt khác muốn khẳng định những đóng góp của Trần Chiến vào đời sống văn học Việt Nam đương đại

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Ngoài viết báo, viết kịch, Trần Chiến chủ yếu thành công ở mảng

văn xuôi Tập truyện ngắn Con bụi và tập tiểu thuyết Đèn vàng của ông đã hai

lần giành giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật và Hội Nhà văn Hà Nội Nhà văn Trần Chiến sinh trưởng trong một gia đình có bề dày văn hóa như vậy, thì cái "gien" văn chương di truyền không thể là chuyện "ngẫu nhiên"

"Có lẽ cha tôi để lại cho tôi cái tính bướng bỉnh, cứng đầu nhiều hơn là những cái khác" (Trần Chiến) Năm 1969, cụ Trần Huy Liệu mất, để lại trong đống

di cảo gồm 26 cuốn nhật ký ghi chép về những sự kiện và con người lịch sử chủ yếu trong 50 năm đầu của thế kỷ XX ở Việt Nam Với cái nhìn uyên bác

và nghiêm túc của một nhà sử học có nhãn quan riêng, di cảo của cụ Trần Huy Liệu là cả một kho sử liệu quý giá Những ngày đầu cách mạng 1945, Trần Huy Liệu là Phó Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc giải phóng (sau thành Chính phủ lâm thời) Sau này, ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học, ông mất năm 1969 Ở Trần Chiến có sự hun đúc dồi dào cả vốn sống thực tế những năm tháng tuổi thơ ở Hà Nội, rồi đi bộ đội và cả sự bộn bề, tinh tường trong những năm viết báo Vốn kiến thức sách vở từ kho tư liệu sử học ngổn ngang của người cha, sự tiếp thu kiến thức văn học ở trường Đại học Tổng hợp khiến tác phẩm của ông ngồn ngộn chất sống Tính điềm đạm, ít nói, mà sâu sắc, giàu lòng tự trọng và liêm khiết, Trần Chiến – một trí thức trong sạch và thành thực Tính cách ngang tàng, bất cần, trọng danh dự bên trong được che dấu bởi vẻ ngoài ít nói, nói chậm và lặng lẽ, không bon chen và chạy đua với thời cuộc Tác phẩm của ông cũng thành thực như chính tâm hồn ông Ông viết văn không bị thúc ép bởi lợi ích hay thu nhập Ông viết để thỏa cái đam

mê và trách nhiệm với thời cuộc

Trang 10

2.2 Có một số bài báo giới thiệu chung về các tác phẩm và cuộc đời của Trần Chiến Các nhà báo đã phản ánh nỗi băn khoăn của Trần Chiến về vấn đề Hà Nội và người nhập cư Tràng An - chốn đô hội của chúng ta, chả phải ai cũng thanh lịch, và chả phải đâu đâu cũng là đô hội Là bởi vì cái tính chất quần cư của thành phố Đấy là cái nơi ai cũng đến được, đến thì ở lại được Nhiều người về hưu đến Hà Nội Trẻ đánh giày, mỗi kỳ tết lễ "bỏ" lên

xe, “cắp” quần áo trở về quê, ít lâu lại xuất hiện ở phố Cuộc sống xa nhà đầy bất trắc, tai nạn, bệnh tật, hiểm nguy rình rập, chừng như vẫn cứ hấp dẫn đối với những chú "Gavơrốt đến từ Thanh Hóa" Cố giáo sư Trần Quốc Vượng, khi đưa ra cái "lôgô" nổi tiếng "Hội tụ - Kết tinh - Lan tỏa", cũng đồng thời xác định cái tính chất quần cư của thành phố Thủ đô đang phải có cỡ hai ba triệu người ngoại tỉnh đổ về, cơ cấu dân cư đã bị phá vỡ, kèm theo đó là sự mất ổn định các giá trị, nền nếp Hai quá trình thành thị hoá nông thôn, nông thôn hoá thành thị cứ tồn tại song song, "tranh đấu" với nhau Một người trở nên "thanh lịch" thì lại thêm hai, ba người về nhà không đóng cửa, ăn nói, mở

đài cứ oang oang A đây rồi Hà Nội 7 món tập hợp những bài viết, mà ở đó thủ đô hiện lên có khi đáng thương, khi vô hồn, lúc nhốn nháo, đông đúc Nhưng ẩn dưới từng câu chữ luôn là một trái tim thiết tha yêu Hà Nội Trần Chiến viết: "Thành phố của chúng ta đa sắc thật Những mảng màu Những tập người Những thời khắc Hệt như cái kính vạn hoa, chỉ nghiêng đi một tí

đã thấy khác" Nhưng cái khác của Hà Nội ấy, không phải ai cũng nhận ra được Trước nay, tính cách của người Hà Nội vẫn được biết đến với sự thanh lịch Trần Chiến viết về sự tinh tế của người Tràng An: "Dù từng cá nhân có thể quá khép nép hay quá hài hước, lối tỏ ra của họ có chừng mực, không vồ vập mà ý nhị [ ] Dù rủng rỉnh hay nghèo kiết, họ khá khó tính trong thưởng thức văn học nghệ thuật, ăn uống, mặc, chơi [ ] Họ ăn kỹ, bát phở phải có lá mùi, miếng cá đi kèm thì là, rất trọng gia vị, không thích bún riêu thả trứng đèo cả thịt bò với nem tai kẻo mà mất vị tanh đi "

Trang 11

Không chỉ viết về những nét đẹp, Trần Chiến còn chỉ ra điểm chưa hay trong tính cách người Hà Nội Ông dẫn chứng, trước những đợt di dân từ nông thôn ào ạt sau năm 1954, bản năng sinh tồn của người tiểu tư sản không mạnh Thời cải tạo đất, họ thu mình vào nhà trong, lên gác, để lại mặt phố Hàng Ngang, Hàng Đào cho dân mới Tác giả đánh giá: "Cũng bởi sức đấu tranh kém, ngại va chạm, ít tham vọng, họ thường chọn những chuyên môn như bác sĩ, kỹ thuật, văn nghệ, dạy học (nhiều khi không chọn mà do lý lịch sắp xếp) Nhưng cũng phải nói là người Hà Nội gốc không có tính cộng đồng mạnh như người Nghệ An, Hà Tĩnh Có cái gì đó dè dặt trong thái độ sống của họ - dù chưa đến nỗi yếm thế Họ thích làm việc, có ý tưởng, chính kiến nhưng thiếu hẳn tham vọng, sự chịu đựng lì lợm các sức ép hay xét nét, họ cũng thiếu tính kỷ luật, sự đoàn kết

Một số bài báo bàn về chất sử trong các tác phẩm của Trần Chiến Sắc sảo trong quan sát và sự chiêm nghiệm, nhà văn Trần Chiến cho biết trong nhiều cuốn sách có yếu tố lịch sử của mình, ông lấy tư liệu từ sự va đập văn

hóa, nhào cuộn trong con người từ bé Điển hình như Cậu ấm, tác phẩm được

coi là dựng lại nhiều giai đoạn biến đổi của Hà Nội Trần Chiến cho biết, ông lấy tư liệu từ những khảo cứu của nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, những kiến thức, câu chuyện do cha ông kể lại Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên đưa ra đánh giá về các tác phẩm văn học có yếu tố lịch sử: “Có những tác phẩm văn học viết về nhân vật hư cấu mà dựng lại được cả giai

đoạn lịch sử như Cậu ấm của Trần Chiến, lại có những tác phẩm lấy người có thật trong lịch sử như Me Tư Hồng làm nhân vật cho tiểu thuyết Trước đây

chúng ta chỉ nương theo lịch sử Vì vậy các nhà tiểu thuyết lịch sử hãy mạnh dạn hơn, đừng sợ lịch sử quá” Chung quan điểm với Phạm Xuân Nguyên, nhà phê bình Trần Ngọc Vượng cũng cho rằng, các tác giả cần vượt qua sự lệ thuộc vào lịch sử để viết: “Chúng ta vẫn viết về lịch sử để giải quyết ý nghĩ

Trang 12

của thời hiện đại, nhưng chúng ta còn có thể viết tiểu thuyết lịch sử để giải trí nữa Tôi nghĩ, là nhà tiểu thuyết thì phải giải phóng mình khỏi lịch sử để viết

ra những lịch sử khác” Trần Chiến khi trả lời phỏng vấn có nói: “Khi đã chọn một nhân vật, ai cũng đã có chủ quan vào rồi Tôi cũng thấy những “này nọ” của bố chứ, nhưng thời mình với thời cha khác hẳn, nhìn cái gì cũng không thể bỏ qua hoàn cảnh lịch sử Gia đình tôi có “cấu trúc” “con anh con em con chúng ta” Mẹ tôi là vợ hai, tôi không ở với bố, liên hệ tình cảm không như các anh chị bên mẹ già Tôi nhớ những đêm ngủ với bố chỉ là trong các đợt công tác của ông Đây là xuất phát từ tâm thế ngắm nghía bố mình không như một con người bình thường Nghĩa là tôi có độ lùi nhất định để ít nhiều không duy cảm” Trần Chiến tâm sự: “Tôi không ở với bố, ông làm sử thế nào nghe qua người khác thôi Nhưng quả thật tôi tò mò về quá khứ, phía sau những gì hằng được viết, nói, dạy dỗ Chẳng hạn Huyền Chân Công Chúa, sau khi

“đem về” hai châu Ô, Lý cho nhà Trần, đã gặp chuyện gì mà đi tu ở chùa Hổ Sơn, Nam Định, rồi cho đến ngày nay có khuyết điểm gì mà bị Hà Nội xóa tên phố đi? Có lẽ sự tò mò, cắc cớ của người viết văn, quan tâm đến số phận nhân vật, chứ phải nắm chắc sự kiện cùng ý nghĩa của nó như nhà sử học thì chịu rồi.”

Một số bài báo khai thác các khía cạnh nhỏ về cuộc đời và tác phẩm

của ông như: Nhà văn Trần Chiến - ưa ẩn mình nơi đám đông của Việt

Quỳnh: “Dáng người cao gầy mỏng mảnh, khuôn mặt thường chất chứa vẻ u hoài dù nụ cười hiền hòa thường trực trên môi ông Mái tóc bạc cắt ngắn vẫn còn vương vài sợi lòa xòa trên trán, dường như không liên quan gì tới ánh mắt hồn nhiên và làn da sáng ánh chút xanh xao của một anh chàng trong đầu đầy chất chữ nghĩa của những năm ba mươi của thế kỉ trước” [54] Nhà văn Trần Chiến ngoài đời cũng như những trang văn ông viết mang vẻ đẹp dịu dàng,

tinh tế và cũng vô cùng giản dị, thân thuộc dễ gần Trong bài báo Nhà văn

Trang 13

Trần Chiến ít nhiều tự tại, Cẩm Thúy đã nhận định về Trần Chiến: “Nho nhã,

trí thức, hầu như không thấy “chém gió” bao giờ Nói chuyện thì chậm đến phát sốt ruột Viết văn bởi thế với Trần Chiến cũng là một sự chậm rãi Hồi còn làm báo, anh nhiều năm mới ra một cuốn sách, nhưng mỗi lần có tác phẩm mới là một lần gây thích thú với người đọc” [52] Theo Nguyệt Cầm:

“Hình như Trần Chiến nhà báo là cái anh đứng khuất sau Trần Chiến nhà văn một chút Những vốn liếng làm báo chỉ chờ có dịp là tuôn vào các trang viết văn học, cho dù nhà văn Trần Chiến cũng không viết nhiều nhặn gì mấy Đi lính nhưng là “lính kiểng”, không qua thực tế chiến trường nên vốn liếng làm lính chẳng vào được sáng tác văn học là bao Có lẽ chỉ khi làm báo, anh mới

có lưng vốn để viết truyện nhưng cũng viết rất chậm, lúc mới viết có khi cả năm mới được một truyện ngắn giắt lưng Trần Chiến phân bua là do đi học bị cái lý luận ám ảnh khiến anh không viết được hồn nhiên!” [49]

2.3 Một số bài báo đánh giá về truyện ngắn Trần Chiến Theo Nguyệt Cầm,

những truyện ngắn được viết chậm rì sau được tập hợp lại in thành tập Con bụi (NXB Tác phẩm Mới-1990) Đó là những câu chuyện chậm rãi, sâu lắng,

ngẫm ngợi từng câu chữ, có thể là những câu văn đẹp, gợi nhiều xúc cảm

Không lạ khi Con bụi đoạt giải của Hội Nhà văn Hà Nội năm đó Mãi đến năm 1997, nhà văn Trần Chiến mới “tái xuất giang hồ” với tập truyện Đường đua (NXB Văn hóa Thông tin), trong đó có lẽ truyện hay nhất đã được tác giả

rút thành tựa cả tập Câu chuyện hấp dẫn diễn ra trên một đường đua dài qua nhiều chặng của các cua rơ xe đạp với nhiều việc và người đan xen, mà tác giả là người trong cuộc khi theo suốt đường đua ấy Tập truyện đoạt giải ba của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu -

phó tổng thư kí Hội khoa học lịch sử Việt Nam đã nhận xét về tập Gót Thị Mầu đầu Châu Long của ông: “Đọc truyện mà như đang ngắm nhìn những

bức chân dung truyền thần của người nghệ sĩ tài hoa nơi góc phố, những

Trang 14

gương mặt sống động đấy mà cũng vẫn hư hư thực thực, phần thực thì rất thật

mà phần hư thì cũng rất liêu trai” [16; tr.6] Truyện ngắn của ông phong phú ở

đề tài và cảm hứng nghệ thuật Ông viết về vùng quê Bắc Bộ xa xưa đậm chất dân gian đến đất Hà Nội phồn hoa, phồn tạp Từ vùng núi Tây Bắc đến vùng bán sơn địa Bất Bạt - Sơn Tây Từ miền Tây Nguyên hoang vu đến miền biển đảo xa xôi của Tổ quốc Những trang văn của ông mang đậm hơi thở cuộc sống, đôi khi chi tiết và tỉ mỉ, xác thực bởi tư duy của một nhà báo Trong tác phẩm của nhà văn Trần Chiến có tính cách của Nho sĩ Bắc Hà hòa quyện với chất dân gian mộc mạc Ở đó có những góc nhìn sắc sảo, mới mẻ về các giá trị truyền thống Các yếu tố sử học được phục dựng sinh động tràn đầy sức sống Phong phú về nội dung và cảm hứng nhưng những tác phẩm của ông ít đến được với giới nghiên cứu và phê bình đương đại Đó là một thiệt thòi đối với một cây bút say mê và tận tụy với nghề viết

Nhìn chung, các bài báo viết về Trần Chiến chủ yếu ở dạng phỏng vấn, phác họa những nét tính cách của Trần Chiến và giới thiệu tên các tác phẩm nổi tiếng của ông Các nhà báo khái quát về các đề tài chủ yếu, về lối viết văn, viết báo của Trần Chiến Có một luận văn thạc sĩ gần đây của Vũ Văn Cương

bàn về Phong cách tiểu thuyết Trần Chiến

Luận văn hi vọng sẽ có một cái nhìn sâu sắc nhiều chiều về truyện ngắn Trần Chiến từ góc độ nghệ thuật tự sự Mảng truyện ngắn của ông phong phú

và để lại nhiều dấu ấn lạ trong Gót Thị Màu, đầu Châu Long – truyện ngắn giả cổ với tính chất giải thiêng rõ nét Các tập truyện Con bụi, Đường đua, Hoa nước hay Ốc gió cũng để lại nhiều nét khác biệt về nghệ thuật xây dựng

nhân vật, điểm nhìn, tình huống, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật Chưa có một công trình khoa học đầy đủ cho mảng truyện ngắn nhiều màu vẻ của Trần Chiến Luận văn hi vọng dùng tư duy nghiên cứu mới về nghệ thuật tự sự để soi sáng các tập truyện của ông

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trước hết, luận văn tìm hiểu những vấn đề lý thuyết chung về nghệ thuật tự sự: người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu Trên cơ sử những lý thuyết chung, luận văn đi sâu khảo sát các truyện ngắn của Trần Chiến để thấy được cái hay, sự độc đáo, phong phú trong cách kể Qua đó, chúng ta ghi nhận và trân trọng thành tựu của nhà văn mới trong dòng chung của văn học đương đại Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi soi chiếu các truyện ngắn của Trần Chiến dưới góc nhìn tự

sự học để thấy đóng góp của ông về nội dung và nghệ thuật Nét khác biệt trong cách trần thuật, xây dựng nhân vật, cốt truyện, tình huống, ngôn ngữ và giọng điệu

Phân tích những biểu hiện của nghệ thuật tự sự trong các tập truyện của

Trần Chiến: Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự trong truyện ngắn của Trần Chiến; Nhân vật, cốt truyện và tình huống trong truyện ngắn của Trần Chiến;Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Trần Chiến

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Trần Chiến

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lí luận về tự sự học trong và ngoài nước

Trọng tâm khảo sát 53 truyện ngắn của Trần Chiến trong các tập: Con bụi, Đường đua, Hoa nước, Gót Thị Màu đầu Châu Long, Ốc gió

Trang 16

Ngoài ra khảo sát thêm các tiểu thuyết: Bốn chín chưa qua, Đèn vàng, Cậu ấm Các tác phẩm viết về chân dung: Đường về nghiệp sử; Cõi người chân dung Trần Huy Liệu Các tản văn: A đây rồi Hà Nội 7 món; Chữ văn chữ báo

Đối chiếu các truyện ngắn của Trần Chiến với các truyện ngắn trung đại, hiện đại cùng phạm vi, đề tài phản ánh

5 Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn đem lại cái nhìn toàn diện và sâu sắc về nghệ thuật tự sự trong toàn bộ truyện ngắn của Trần Chiến Sự kết hợp hài hòa, sáng tạo các yếu tố truyền thống và hiện đại Ghi nhận những thành công của một cây bút mới trong thế giới muôn màu của văn xuôi đương đại Việt Nam Trần Chiến không phải là cây bút tiên phong trong việc cách tân văn học hiện đại nhưng tác phẩm của ông có nhiều yếu tố mới mẻ và sáng tạo trong việc phản ánh đời

sống

Thực tiễn đời sống văn học nước nhà và chủ trương của Bộ giáo dục trong những năm gần đây đã cho thấy: Chúng ta đang từng bước tăng cường đưa văn học Việt Nam thời kì đổi mới vào chương trình giảng dạy và học tập

ở các trường Đại học, Cao đẳng và phổ thông Vì thế, với những nội dung được triển khai trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi hi vọng sẽ có ý nghĩa nhất định cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học thời kì đổi mới trong nhà trường

6 Phương pháp nghiên cứu

Có nhiều phương pháp để tiến hành nghiên cứu nhưng thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:

Trang 17

Phương pháp hệ thống: Đặt các truyện ngắn Trần Chiến trong hệ thống các tác phẩm văn học trung đại, hiện đại Việt Nam

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp đặc điểm về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Trần Chiến

Phương pháp đối chiếu, so sánh: Nhằm làm rõ những nét đặc trưng khác biệt của truyện ngắn và tiểu thuyết của ông Giữa truyện ngắn của Trần Chiến với các tác giả đương đại

Phương pháp phân loại, thống kê: Khảo sát toàn bộ các truyện ngắn và thống kê phân loại theo phạm vi đề tài, chủ đề, phương thức trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu,…

Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thao tác chứng minh, bình giảng…Các phương pháp nghiên cứu này không tách rời nhau mà hài hòa với nhau, bổ sung cho nhau

Trang 18

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN

TRẦN CHIẾN

1.1 Khái niệm người kể chuyện

Trong một số công trình Tự sự học (Narratology), thuật ngữ “tự sự” (Narration) được dịch là “trần thuật” Theo đó nhiều người đã gọi “tác phẩm

tự sự” là “tác phẩm trần thuật” Cả hai thuật ngữ này đều chỉ cùng một nội dung: tác phẩm có cốt truyện, có người kể chuyện Chúng ta cần xác định rõ hơn về vấn đề này Cụ thể, “tự sự” là phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học Còn “trần thuật” là hành động diễn ngôn tự sự được thực hiện bởi một (hoặc nhiều) người kể chuyện giữ vai trò trung gian giữa người sáng tác với những chuyện được kể trong tác phẩm

Vấn đề người kể chuyện là khía cạnh quan trọng của thi pháp văn xuôi hiện đại Có nhiều khuynh hướng tiếp cận khác nhau của các nhà lí luận, phê bình: Các nhà hình thức Nga và nhóm các nhà nghiên cứu Bắc Âu viết bằng tiếng Đức, đặc biệt là phương pháp hình thức kết hợp với mĩ học tiếp nhận của các nhà nghiên cứu thế hệ sau như P.Lubbock, Iu.Lotman, Tz.Todorov, G.Gentte đã đưa ra quan điểm rõ ràng về người kể chuyện Tz.Todorow khẳng định: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng Không thể trần thuật thiếu người kể chuyện Người trần thuật không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình các nhân vật và người kể chuyện, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt” [43, tr.75]

Trang 19

Vấn đề người kể chuyện được đặt ra trong mối quan hệ với người đọc giả định, với vấn đề điểm nhìn, các loại hình, cấp độ và tình huống trần thuật Người kể chuyện không bao giờ là tác giả Mối quan hệ mật thiết giữa người

kể chuyện và tác giả xem như bị cắt đứt “Người kể chuyện và những nhân vật của anh ta bản chất là những thực thể trên mặt giấy” [3, tr.41-412]

“Người kể chuyện không thể được gọi tên, nếu anh ta có tên thì sau cái tên đó không có ai cả” [43, tr.41] Thái độ của người kể chuyện đối với thế giới câu chuyện được kể lại có phần nào trùng với quan điểm của tác giả nhưng không bao giờ đồng nhất Quan điểm của tác giả bao giờ cũng rộng hơn Người kể chuyện mang trong mình cả một phần nội dung khách quan của thế giới được phản ánh vào tác phẩm

Tóm lại, người kể chuyện chính là chủ thể trần thuật trong sáng tác tự sự, một loại nhân vật được nhà văn xây dựng trong tác phẩm nhằm thực hiện chức năng kể chuyện Tác phẩm tự sự không thể thiếu nhân vật này “Người

kể chuyện có mặt dưới bất cứ hình thức nào, đều là thành tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm tự sự” [24, tr.109]

Bên cạnh thuật ngữ người kể chuyện còn có thuật ngữ người trần thuật

Hai thuật ngữ này đến nay chưa có sự thống nhất Các tác giả cuốn Từ điển

thuật ngữ văn học có sự phân biệt rạch ròi hai khái niệm người kể chuyện và

người trần thuật Người trần thuật được giải thích là “một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành”

“Người kể chuyện khác với người trần thuật bởi đó là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm” [47, tr.221] G.N.Pospelov

có viết: “Những người trần thuật cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái “tôi” nào đó Những người trần thuật được nhân vật hóa như vậy, kể câu chuyện ngôi thứ nhất của chính mình có thể gọi một

Trang 20

cách tự nhiên là người kể chuyện” [33, tr.66-67] Gs Trần Đình Sử xem người

kể chuyện và người trần thuật trong tác phẩm là một Hai khái niệm để giải thích một đối tượng, nói về một đối tượng có vai trò, đặc điểm giống nhau

Có khác chăng chỉ là hình thức xuất hiện của đối tượng trong tác phẩm lộ diện hay không lộ diện “Người kể chuyện hàm ẩn là để chỉ người trần thuật không lộ diện, người trần thuật theo ngôi thứ ba Ưu điểm của lối trần thuật này cho phép người kể có thể kể tất cả những gì có ở trên đời, kể cả những bí mật trong tâm hồn kẻ khác, những thế giới xa lạ, chưa có dấu chân con người hoặc những miền mà về nguyên tắc con người không thể biết Đây là ngôi kể

tự do nhất” [34, tr.103]

Từ tương quan về dung lượng hiểu biết của người kể chuyện và nhân vật, các nhà nghiên cứu đã chia thành ba hình thức người kể chuyện: Người kể chuyện lớn hơn nhân vật, người kể chuyện bằng nhân vật và người kể chuyện

bé hơn nhân vật Theo Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học có hai

kiểu người trần thuật phổ biến là: “Hình thức thứ nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa mà đằng sau là tác giả Nhưng người trần thuật cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái tôi nào đó” [31, tr.89] Đặc biệt trong công trình nghiên cứu này,

tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa người kể chuyện với nhân vật và với tác giả

Nguyễn Thái Hòa trong chuyên luận Những vấn đề thi pháp của truyện

đã đề cập vấn đề người kể chuyện là nhân tố tạo nên lăng kính đối thoại trong truyện Ở đây là đối thoại hai chiều giữa người kể hàm ẩn và người nghe hàm

ẩn Ông cho rằng người đọc hàm ẩn hay còn gọi là cái bóng độc giả chính là người kể tự thân Tức là người đọc truyện đầu tiên không ai khác chính là người kể chuyện Cuộc đối thoại giữa người kể hàm ẩn và người nghe hàm ẩn góp phần hoàn thiện câu chuyện

Trang 21

Như vậy vấn đề lý thuyết người kể chuyện đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Điểm chung của các ý kiến đều khẳng định vai trò không thể thiếu của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, khẳng định người

kể chuyện là người đứng ra để kể lại câu chuyện, người môi giới giữa tác phẩm với bạn đọc và là người thay mặt tác giả phát biểu những tư tưởng, quan điểm về con người, cuộc sống Người kể chuyện là một trong những yếu

tố quan trọng để phân biệt tác phẩm tự sự với tác phẩm trữ tình và kịch

1.1.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất

Trong những chuyện kể mà người kể chuyện xuất hiện trực tiếp thì phối cảnh và nói năng (Người kể chuyện và người tiêu điểm hóa) thuộc về cùng một cá nhân Khi đó người kể chuyện vừa mang tiêu điểm, vừa là chủ thể của ngôn từ được sử dụng Người kể chuyện=người tiêu điểm hóa= “tôi”

Khi người kể chuyện là một tác nhân thì anh ta đồng thời là người tiêu điểm hóa, chỉ đóng vai trò dẫn chuyện, cái nhân vật xưng “tôi” này không mang tiêu điểm, tức là “tôi” không phải chủ thể cảm nhận, quan sát, anh ta chỉ

có nhiệm vụ của một người tiêu điểm hóa “giấu mặt” Người tiêu điểm hóa giấu mặt này khác với người kể chuyện xưng “tôi”

Hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất chiếm số lượng ít ỏi, chỉ có

4/53 truyện ngắn của Trần Chiến Đó là các truyện ngắn: Gã thất tình lang thang; Đào sâu chôn chặt; Thị Màu; Mùi chị Tác giả có lí do chính đáng để tìm đến hình thức trần thuật này Trong truyện ngắn Gã thất tình lang thang,

nhân vật xưng “tôi” tên Hùng là một chàng trai trẻ làm nghề xây dựng đứng

ra kể về mối tình si của mình Nhà văn để nhân vật tự bộc lộ những quan niệm và suy nghĩ về tình yêu qua năm tháng Ban đầu là cái nhìn tình yêu đơn giản của một gã trẻ vô tư, đa tình Giai đoạn sau là quan niệm tình yêu sâu

Trang 22

sắc, vị tha Nhân vật hồn nhiên nói về những suy nghĩ của mình, về các cô gái

và về người mình yêu Trong truyện Đào sâu chôn chặt, nhân vật xưng “tôi”

là nhà thơ Nguyễn Văn Mộc đã chết, đứng ra kể về mình, về những người xung quanh trong đám tang Từ khi ông bị đưa vào nhà lạnh năm ngày để chờ

vị chức trách Lương Tùng đi công tác nước ngoài về mới tổ chức truy điệu Nhân vật “tôi” hồi tưởng về quá khứ của mình, về cái chết bất ngờ sau cuộc rượu, bị đứt mạch máu não Cách trần thuật tỉ mỉ, thản nhiên và thành thật của

“tôi” về cái chết của mình mang tính giễu nhại đối với người sống Truyện

ngắn Mùi chị, nhân vật xưng “tôi” là người em trai kể về chị mình Gia đình

từ bản chuyển sang vùng đất mới nhường chỗ cho công trình thủy điện Cuộc sống ngày càng khốn khó vì tài nguyên cạn kiệt, không có đất làm ăn Người chị xinh đẹp như bông hoa rừng rời bản lên thành phố và trở về với căn bệnh của gái làng chơi Đó là những bi kịch đau đớn mà chỉ những người trong cuộc mới thấu hết

Truyện ngắn Thị Màu có sự đan xen hai ngôi kể, ngôi kể thứ ba và ngôi

kể thứ nhất - Thị Màu xưng “ta” Sau khi tác giả giới thiệu về nguồn gốc xuất thân của Thị ở phần đầu, phần sau tác giả để nhân vật tự kể về mình Lời kể của Thị Màu song hành cùng lời đọc bài văn tế về mình trong lễ hội ở làng Qua đó, tác giả phơi bày rõ sự giả dối của những lời tụng ca quá khứ Đó là sự giải thiêng đầy thành thực và tỉ mỉ của chính người trong cuộc Nhân vật người trần thuật xưng “ta” đang phô bày tất cả, đang thú tội với dân làng về quá khứ được tô vẽ của mình

1.1.2 Người kể chuyện ngôi thứ ba

Người kể chuyện ngôi thứ ba tồn tại ở hai hình thức sau:

Trường hợp thứ nhất: Người kể chuyện ẩn tựa điểm nhìn của nhân vật

để kể - người kể chuyện hàm ẩn Anh ta đã hòa vào nhân vật đến mức ta khó

Trang 23

phân biệt được giọng kể của anh ta và giọng kể của nhân vật và thấy giọng của nhân vật nổi trội hơn Thực chất người kể chuyện hàm ẩn này đã mượn giọng nhân vật để kể Có như vậy anh ta mới dễ thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật

Người mang tiêu điểm (người phản ánh) và người kể chuyện là hai vấn

đề khác nhau Cái thứ nhất là chủ thể của hành vi được kể lại (là chủ ngữ của câu), cái thứ hai là chủ thể của lời nói (có thể vắng mặt hay có mặt trong lời nói) Trong truyện kể còn có nhiều người mang tiêu điểm, tức điểm nhìn được

di động từ nhân vật này tới nhân vật khác

Trường hợp thứ hai: Người kể chuyện ngôi thứ ba là người kể chuyện đồng thời là người tiêu điểm hóa Người kể chuyện không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm Người kể chuyện ở vị trí quan sát bên ngoài thế giới nhân vật Người kể không kể theo điểm nhìn của nhân vật nào mà kể theo điểm nhìn của chính mình - người kể hàm ẩn Người quan sát trong trường hợp này là người hàm ẩn - bên ngoài thế giới hiện thực ở trong chuyện Người quan sát ở đây đồng thời cũng kể những gì mình quan sát và cảm nhận được Giọng khách quan của người đứng ngoài không mang giọng chủ quan của nhân vật

và kể theo điểm nhìn của chính mình

Như vậy, truyện kể ngôi thứ ba có hai dạng: Người kể hàm ẩn theo điểm nhìn nhân vật Người kể hàm ẩn theo điểm nhìn của chính mình

Trần thuật ngôi thứ ba chiếm đa số trong các sáng tác của Trần Chiến

Có 46/53 truyện ngắn theo lối kể này Trong số đó chủ yếu người trần thuật tựa vào điểm nhìn của nhân vật để kể Nhân vật được nói thay cho người trần thuật chủ yếu là những nhân vật chính, tham gia từ đầu đến cuối câu chuyện

và liên quan đến nhiều nhân vật khác Truyện ngắn Chạy trời, ngôi kể thứ ba

qua nhân vật chính là Minh – một cô gái bị người tình phụ bạc Sau đó là tình

huống cô gặp được vị “chân tu” và thức tỉnh ra nhiều lẽ của cuộc đời Đóng

Trang 24

thế, ngôi kể thứ ba khách quan kể về Nguyễn Cao Nhượng một kẻ không có trình độ văn hóa bằng thủ đoạn vươn lên những chức vị đáng nể Hạ cánh

ngôi thứ ba kể qua nhân vật chính là ông Bột, một viên chức mẫn cán về hưu

Ốc gió kể qua nhân vật chính là Phấn - một lính đảo vương vấn mối tình với

Ngọc – một gái mại dâm

Theo lý thuyết tự sự, chủ thể trần thuật ngôi thứ ba theo điểm nhìn tập trung bên trong là hình thức tự sự mà người kể chuyện lấy thế giới nội tâm của nhân vật làm chỗ đứng để kể chuyện Người kể chuyện nhìn các sự vật, hiện tượng bằng con mắt của nhân vật, suy nghĩ, đánh giá của nhân vật Dòng suy nghĩ, ý thức của nhân vật trở thành nguồn mạch xuyên suốt, dẫn dắt câu chuyện Trong truyện kể ngôi thứ ba theo điểm nhìn bên trong, do có sự hạn chế của người kể chuyện ở một phạm vi ý thức chủ quan nào đó nên người đọc sẽ cảm nhận khá rõ sự can thiệp của người kể chuyện Do vậy, trong tác phẩm cũng thường xuyên xuất hiện hiện tượng lời người kể, xen lẫn lời nội tâm của nhân vật, hay ta còn gọi là độc thoại nội tâm Câu chuyện có thể được

kể từ điểm nhìn của nhân vật, cũng có thể được kể bằng sự kết hợp giữa hai điểm nhìn của nhân vật và người kể chuyện Người kể chuyện với nhân vật mang điểm nhìn không phải là một, nhưng khoảng cách giữa chúng lại rất gần, dường như có những lúc lại trở thành thể thống nhất Hai điểm nhìn đó

bổ sung cho nhau, phối hợp lẫn nhau để làm nổi bật tình ý của truyện

1.2 Khái niệm điểm nhìn

Điểm nhìn là vị trí, điểm quan sát của người kể chọn để nhìn hiện thực và

kể lại câu chuyện của mình (chứng kiến hoặc chiêm nghiệm ) cho người đọc Khi tiếp xúc với tác phẩm, người đọc sẽ được dẫn dắt từ một hoặc nhiều điểm nhìn nhất định

Trang 25

1.2.1 Điểm nhìn bên trong

Điểm nhìn bên trong xuất hiện khi người kể thâm nhập vào đời sống nội tâm nhân vật, phân tích mổ xẻ hoặc để nhân vật tự bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình Vì thế điểm nhìn bên trong thường mang tính chủ quan hoặc dễ gây cho người đọc cảm giác về tính chủ quan của người kể Cả người kể ở ngôi thứ nhất (tôi) và người kể ở ngôi thứ ba (giấu mặt) đều có thể thực hiện điểm nhìn bên trong Tuy nhiên cách hiểu này cũng chỉ mang tính tương đối

vì điểm nhìn của lối viết dòng ý thức là điểm nhìn bên trong nhưng lại khách quan chẳng thua kém gì điểm nhìn bên ngoài Kể chuyện ngôi thứ ba – nhìn hiện thực từ bên ngoài lại có cách kể chủ quan Người trần thuật nhìn thấy đối tượng qua lăng kính của một tâm trạng cụ thể, qua đó dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn nhân vật

Trường nhìn nhân vật: Người trần thuật nhìn sự vật, hiện tượng theo quan điểm của một nhân vật trong tác phẩm Trần thuật theo điểm nhìn nhân vật mang đậm sắc thái tâm lý, chất trữ tình hoặc châm biếm do sự chi phối trực tiếp bởi địa vị, hiểu biết, lập trường của nhân vật Nhìn “từ bên trong” (gắn với điểm nhìn bên trong) khi người kể chuyện là nhân vật Người kể chuyện hạn chế điểm nhìn tự sự của mình vào điểm nhìn của nhân vật Người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong thường có hai dạng cơ bản:

Dạng thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi”, tự thú nhận, bộc bạch về mình, kể về những tâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải

Dạng thứ hai, người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba từ bên ngoài nhưng lại tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể Do vậy mà khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật bị thu hẹp

1.2.2 Điểm nhìn bên ngoài

Điểm nhìn bên ngoài là vị trí quan sát khách quan hoặc có vẻ khách quan của người kể Ở vị trí này người kể thường đứng ở ngôi thứ ba, không can

Trang 26

thiệp vào hiện thực Cuộc sống diễn ra như thế nào thì cố kể như thế ấy Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ vị trí bên ngoài có khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật

Trường nhìn tác giả: Người trần thuật đứng ngoài câu chuyện để quan sát đối tượng Kiểu trần thuật này mang tính khách quan tối đa cho lời trần thuật Nhìn “từ bên ngoài” (gắn với điểm nhìn bên ngoài): Người kể chuyện theo điểm nhìn bên ngoài hoàn toàn xa lạ với thế giới mà anh ta kể, anh ta chỉ

có thể kể về những hành động, lời nói thể hiện ra bên ngoài nhân vật chứ không có khả năng am hiểu nội tâm của họ

Sự phân biệt trên đây hoàn toàn mang tính tương đối vì hầu như không có tác phẩm nào chỉ sử dụng một điểm nhìn mà các điểm nhìn được di động, sử dụng linh hoạt, phối hợp với nhau phục vụ cho ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ

1.2.3 Luân chuyển điểm nhìn

Để tăng tính khách quan cho câu chuyện của mình, nhiều nhà văn sử dụng biện pháp gửi điểm nhìn sang các nhân vật, tạo nên hiện tượng đa dạng hóa điểm nhìn (hoặc tự sự nhiều điểm nhìn) trong tác phẩm Tự sự nhiều điểm nhìn là cách kể có thể kết hợp cả điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài

Đa điểm nhìn tự sự xuất phát từ nguyên tắc phi trung tâm hóa trần thuật Nền tảng triết học của nó chính là sự đả phá các đại tự sự, tạo nên tính dân chủ, đa trị trong nghệ thuật kể chuyện Mục đích của nó là khách quan hóa trần thuật

và có thể nắm bắt được bản chất tồn tại của con người Lối trần thuật này đem lại hiệu quả lớn lao trong việc tiếp nhận Ứng với mỗi điểm nhìn, người đọc

có thể đối thoại để tìm ra nội dung và ý nghĩa của câu chuyện Hơn nữa, khi

có nhiều người kể chuyện, các điểm nhìn đó tự chúng đối thoại, tương tác nhau để làm nổi rõ hình tượng Nghệ thuật sử dụng nhiều điểm nhìn trong phản ánh hiện thực là cách đề cao tinh thần dân chủ trong tự sự Cùng một

Trang 27

vấn đề đưa ra nhưng tác giả luôn có ý thức soi chiếu ở nhiều góc độ khác

giá vấn đề Mỗi nhân vật thể hiện một quan niệm khác nhau Điểm nhìn đa diện tạo nên tính đa thanh trong ngôn ngữ Mỗi người có một giá trị sống, một cương vị và quan niệm riêng Không thể áp đặt quan niệm của người này lên người khác Cuộc sống vốn đa sự và phức tạp Tính chất phi trung tâm của chủ thể trần thuật gắn bó với tính đa cực của điểm nhìn trần thuật “Nếu trần thuật từ nhiều điểm nhìn và sự dịch chuyển điểm nhìn chỉ có thể tạo ra những góc nhìn, tầm nhìn, cách đánh giá khác nhau thì việc chủ ý phi trung tâm hóa,

đa tâm hóa chủ thể trần thuật và đưa chúng lên cùng một mặt sân giá trị bình đẳng lại là một dấu hiệu đặc thù của tư duy hậu hiện đại” [46; tr.106] Ta bắt

gặp những dấu hiệu trên trong một số truyện ngắn của Trần Chiến như Thị Màu, Ngủ kêu, Đào sâu chôn chặt

1.3 Truyện ngắn Trần Chiến

1.3.1 Vài nét về nhà Trần Chiến

Trần Chiến tên thật là Trần Trường Chiến Bút danh viết báo là Hoàng Định Ông sinh năm 1951 tại Vĩnh Phúc, quê gốc ở Vụ Bản - Nam Định Hộ khẩu số 53 Lãn Ông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Hiện ông đang sống tại 20, ngách 44/1 Đỗ Quang quận Cầu Giấy

Năm 1968, sau khi tốt nghiệp phổ thông, ông tham gia nhập ngũ Năm

1974, quân đội cử ông đi học lớp văn, khoa Ngữ Văn đại học Tổng Hợp Hà Nội Năm 1978 ông về nhà xuất bản Quân đội làm biên tập viên phòng sách Văn nghệ

Năm 1981, ông chuyển ngành về báo Hà Nội mới làm phóng viên, sau là

trưởng ban văn hóa xã hội Trần Chiến là cây viết báo già dặn và sắc sảo, tham gia cộng tác với nhiều tờ báo Ông nghỉ hưu năm 2011

Trang 28

Ba mươi năm làm báo “chính thống” ở Trần Chiến có hai đặc điểm tương phản: Một mặt ông được đi nhiều, tiếp xúc rộng Mặt khác ông không thể đưa hết những suy nghĩ, ấn tượng của mình lên mặt báo Đây cũng là một nguyên cớ để Trần Chiến đến với văn chương Ông viết văn để xả cho đã đầy những bức xúc về thời cuộc mà khi còn làm báo không thể viết hết Ông viết muộn, nhưng sung mãn vì kiến thức sách vở được thừa hưởng từ gia đình gia giáo, từ trường đại học tổng hợp cùng vốn sống thực tế phong phú từ những năm quân ngũ và làm báo

Tác phẩm

Con bụi, tập truyện ngắn nxb Tác phẩm mới 1990, giải nhì trong 5 năm

(1986 -1990) Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội 1992

Hà Nội phố và chợ, tập tản văn nxb Hà Nội 1994

Đường đua, tập truyện ngắn nxb Văn hóa thông tin 1997, giải C Liên hiệp

các hội văn học nghệ thuật Việt Nam 1997

Bốn chín chưa qua, tiểu thuyết nxb Hội Nhà văn 2000, giải B Liên hiệp

Văn học nghệ thuật Việt Nam 2001

Đường về nghiệp sử, thể loại chân dung trong tủ sách danh nhân của nxb

Kim Đồng 2001

Đèn vàng, tiểu thuyết nxb Phụ nữ 2002, giải Văn xuôi Hội nhà văn Hà

Nội 2003

Chữ văn chữ báo, tản văn nxb Văn học 2007

Cõi người, chân dung Trần Huy Liệu, nxb Kim Đồng 2009, tái bản lần 1

nxb Kim Đồng 2009, tái bản lần 2 có bổ sung nxb Trẻ 2007

Trang 29

Bốn chín chưa qua, tiểu thuyết nxb Hội Nhà văn 2000, giải B Liên hiệp

Văn học nghệ thuật Việt Nam 2001

Hoa nước, tập truyện ngắn nxb Phụ nữ 2010

Gót Thị Màu đầu Châu Long, tập truyện “giả cổ” nxb Trẻ 2014

Cậu ấm, tiểu thuyết nxb Trẻ 2015, giải tác phẩm “Bùi Xuân Phái – vì tình yêu Hà Nội” của báo Thể thao và Văn hóa 2015 (Chung với A đây rồi Hà Nội

7 món)

A đây rồi Hà Nội 7 món, tập tản văn nxb Hội Nhà văn – Quảng văn 2015 Trần Chiến – truyện ngắn, sách nhà nước đặt hàng của nxb Hội Nhà văn 2015

Ốc gió, tập truyện ngắn nxb Trẻ 2016

Những mốc quan trọng trong đời văn

Năm 1981, khi ra khỏi quân đội, ông đi làm báo, có được tự do trong suy nghĩ và lựa chọn, không bị nhiều khuôn khổ ràng buộc Làm báo cho phép ông tích tụ vốn sống, trải nghiệm ở nhiều môi trường Trần Chiến dần dần thoát khỏi lý luận nhưng tỉnh táo, thực tế và kém lãng mạn hơn

Năm 1992, giải thưởng của Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội cho tập

truyện đầu tay Con bụi đã tiếp thêm sự tự tin cho ông trong hành trình sáng

tạo nghệ thuật

Năm 2011, ông về hưu, các suy nghĩ độc lập, không bận bịu với công việc viết báo Thời gian và vốn sống cũng không còn là vấn đề lớn đối với ông Hà Nội là một đề tài lớn, khiến ông trăn trở nhiều

Trang 30

Năm 2014, tập truyện Gót Thị Mầu đầu Châu Long đã mở đầu cho mối

quan hệ tốt với Nhà xuất bản Trẻ - nơi ông cảm thấy được trân trọng, không

bị “ban ơn” như nhiều nhà xuất bản ngoài Bắc

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự nghiệp

Thủa nhỏ, ông được vây bọc trong kho sách phong phú của gia đình Ông ngoại là học giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc – người chuyên sưu tầm và biên soạn các tác phẩm văn học dân gian Cha ông là Trần Huy Liệu – lúc đó là viện trưởng viện sử học Dù không được ở cùng ông ngoại và cha nhưng ít nhiều Trần Chiến cũng chịu ảnh hưởng truyền thống giáo dục của gia đình Thời gian đi bộ đội, ông được thay đổi không gian sống, bên những người bạn từ mọi miền, cảm nhận sự lãng mạn của cuộc sống và bắt đầu làm thơ Khi học đại học Tổng hợp khoa văn, ông bắt đầu có những hiểu biết ban đầu về kết cấu của một tác phẩm Ông quan niệm tác phẩm, tác giả có thể bị quên nhưng người đọc nhớ nhân vật là thành công rồi Ông thích đọc các tác phẩm cổ điển của Nga, Pháp, Trung Hoa qua bản tiếng Việt

Sau năm 1975, sách miền Nam tràn ra làm thay đổi nhiều quan niệm trong ông Ông không có ngoại ngữ nên ảnh hưởng thế giới chỉ là gián tiếp Ông cũng không quan tâm nhiều tới những xu hướng viết truyện hiện đại của các học giả phương Tây Ông viết theo cảm quan của chính mình: “Dù vẫn tìm cách làm mới mình nhưng vẫn thấy trước nhất mình phải là mình, còn muốn hiện đại, trẻ hóa thì không thể bằng lớp mới” ( Trần Chiến) Trần Chiến say mê các tác phẩm của Sê-khốp, Tôn-xtôi của Nga; Lý Nhuệ của Trung Quốc Trong nước ông thích đọc văn của Thạch Lam, Nguyễn Xuân Khánh, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Mộng Giác nhưng ít ảnh hưởng Đời làm báo cho phép ông nhúng sâu vào hiện thực nên văn trọng chi tiết, thích

Trang 31

những câu thoại “tươi nảy” Cũng có thể vì vậy mà khó viết lối suy tưởng, mang nặng chủ quan đang thịnh hành, tuy thích câu “Chữ đẻ ra chữ” của Nguyễn Huy Thiệp Ông coi trọng quá trình phát triển tâm lý nhân vật, ưa các hành động bên trong Đây là nguyên nhân của một giai đoạn ông toàn viết

“truyện ngắn dài” chừng 6000 – 7000 chữ, chủ yếu trong tập Hoa nước Sau

thấy khó đăng báo và không mang đặc trưng truyện ngắn nên ông viết ngắn lại Khi ông mang cái thích trên vào trong tiểu thuyết thấy có đất Nhưng hành động tâm lý nhiều, cách hành văn không phổ thông nên sách bán chậm

Đối với nông dân, nông thôn, ông không chỉ nhìn thấy “truyền thống nghìn năm” mà thấy cả mặt xấu trong tiến trình phát triển hôm nay Đó là lối sống hẹp hòi, khép kín, không dám hoặc không muốn làm một cá thể độc lập

tự do, tính lọc lõi vặt, sĩ diện Với mảnh đất Hà Nội, ông luôn trân trọng và giữ gìn Ông bài xích những người ngoại tỉnh nhập cư đang khai thác tàn nhẫn

mảnh đất này vì lợi ích của riêng họ Giải thưởng Bùi Xuân Phái – vì tình yêu

Hà Nội như một ghi nhận những đóng góp của ông cho mảnh đất nghìn năm

“Trần Chiến ít nhiều tự tại” Ông không lao vào chính trường văn chương

đương đại để tranh biện hay để vang danh Ở ông có nét nho nhã, hào hoa thanh lịch, sự đằm lắng, sống trọng tình nghĩa Bên trong vẻ ngoài của con người tưởng như nhút nhát ấy là cách nhìn đời sắc sảo, lọc lõi, là bản lĩnh đấu tranh ngấm ngầm đầy thách thức Cho đến hôm nay, ông vẫn cặm cụi với những trang viết của mình trong một con phố tĩnh lặng của thủ đô, mặc kệ

Trang 32

những xô bồ, bon chen ngoài đường phố Ông viết văn không phải để vang danh hay kiếm tiền Viết văn để thỏa chí đam mê và nói cho hết những bức xúc với cuộc sống này, dù cho độc giả có biết đến mình hay không

1.3.2 Đa dạng điểm nhìn trong truyện ngắn Trần Chiến

Trần Chiến không chỉ trần thuật với điểm nhìn của một hoặc hai nhân vật,

mà luôn chuyển điểm nhìn qua nhiều ngôi Nhà văn đã biết kết hợp giữa cái nhìn bên ngoài với bên trong, từ xa đến gần, từ rộng đến hẹp… để tạo nên bức tranh tự sự phong phú, đa dạng Ở các tập truyện ngắn, điểm nhìn trần thuật không cố định ở một nhân vật mà luôn thay đổi từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ

ba, đôi khi xen kẽ lẫn điểm nhìn của nhân vật và tác giả Trong một số truyện, ranh giới các điểm nhìn dường như bị xóa mờ, khó phân biệt đâu là lời kể của

ai Lời kể trực tiếp đan xen lời gián tiếp thông qua những câu, những chuyện nhà văn để trong dấu ngoặc kép, xóa nhòa ranh giới giữa các vai kể khiến chúng nhập vào nhau với dòng cảm xúc nội tâm nhân vật

1.3.2.1 Điểm nhìn khuất lấp

Trần Chiến thường có cái nhìn tinh quái, bằng thấu kính chiếu yêu của mình soi tỏ mọi ngóc ngách câu chuyện Những góc nhìn sự việc từ đằng sau, bên dưới, bên trong tầm thường nhiều khi thấy bẩn thỉu Các nhà văn thường

ái ngại hoặc né tránh các chi tiết này Truyện ngắn của ông khám phá những vấn đề ấy để phản ánh đúng thực tế đời sống như nó vốn có Văn chương của ông nhiều khi trung thực đến tàn nhẫn và đau đớn Cái nhìn khuất lấp còn cho thấy sự dí dỏm, hài hước pha chút ngậm ngùi, cay đắng về cõi người

Trong truyện Thị Mầu tác giả miêu tả tỉ mỉ các chi tiết về đời thực Cảnh

lễ hội ở làng Bùng Thượng - một vùng quê nghèo: “Những cánh đồng lô nhô gốc rạ bị dày xéo bẩn thỉu Đám trẻ con được dịp nô thỏa sức, lúc tụ ùn ùn, lúc tản mát lưa thưa Có đứa dẫm cứt trâu thối hoăng, chùi qua loa vào chân

rạ rồi lại lăn vào cuộc chơi” [16, tr.67] Ông chú trọng tới cái nhìn khuất lấp

Trang 33

khi khắc họa nhân vật Thị Màu kể về tình huống gặp vua:“Vị quan bảo xuống ao khỏa chân lấm, có con đỉa bám vào bắp chân Đương chổng mông lên đắp nước bọt vào miệng nó thì có tiếng thét Không được quay lại! Quỳ xuống! Ta luống cuống ngâm nửa người xuống làn nước ao đầm, nghe nhồn nhộn vài con nữa ở đùi và ở bụng” [16, tr.75] Khi Thị Màu bị triệu vào hầu màn, trước khi gặp vua: “phải ngâm nước thơm cho bớt mùi nông phu đi Vì thế mà ta muốn đi tiểu đến chết mà chẳng dám Nhưng tránh sao được một vài giọt nhểu ra” [16, tr.76] Thực tế cuộc gặp gỡ giữa Thị Màu và vua được nhân vật kể lại: “Mình rồng phủ lên ta nhưng không đi vào mà chỉ hít hà đám tóc rối Lủng lẳng giữa hai chân ngài là đám bèo nhèo, mềm oặt Được một khắc ngài nhỏm dậy mặc lại long thể” [16, tr.77] Cảnh Thị Màu giả trai đi lính ngủ cùng đám lính trẻ: “chỉ tội nằm chung với mấy chú trống choai ngửi

mồ hôi và rắm rít Vui lắm khi nghe câu da mịn nhỉ, đằng ấy là gái đố thoát khỏi tay tớ” Ta lui lại kịp khi bàn tay vô tư kia định thộp vào ngực Cậu bé

ấy ỉa đống cứt đến là lực lưỡng, hay hát những câu bông lơn như Đức Trường” [16, tr.87] Kết thúc tác phẩm, hết phần lễ đến phần hội, tác giả miêu

tả đầy tinh nghịch, ngộ nghĩnh cảnh vui chơi của đám trai làng “Hội dâng lên rùng rùng những trống chèo, lênh khênh đám cà kheo Cộ muốn trả thù Kễnh, tranh thủ lúc nó rướn lên xem tụt quần xuống đầu gối lộ con chim đã mọc năm xu thuốc lào” [16, tr.93] Trần Chiến luôn có cách nhìn tỉ mỉ, tinh quái

pha chút hóm hỉnh Người đọc thấy ở đó chất trào phúng hồn nhiên, thô mộc

giống như Truyện Trạng Quỳnh, truyện cười dân gian: Tục, bậy mà nhiều ý vị

sâu sắc Sự đan xen giữa điểm nhìn của người trần thuật và điểm nhìn của nhân vật tạo ra nhiều góc quét khác nhau, làm cho đối tượng được miêu tả trở nên đa chiều Có lúc tác phẩm được trần thuật bằng điểm nhìn khách quan bên ngoài, có khi lại là điểm nhìn chủ quan bên trong Người trần thuật sẽ thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, ấn tượng của nhân vật, nhìn thế giới và

Trang 34

cảm nhận bằng chính cảm quan của nhân vật Giữa người trần thuật và nhân vật lịch sử có sự gần gũi, hòa đồng Chủ đề và tư tưởng tác phẩm do đó khó nắm bắt và gợi nhiều liên tưởng, đòi hỏi tư duy chủ động và linh hoạt của người đọc

Đối tượng văn chương nghệ thuật thường hướng đến là cái đẹp Nhưng cái trần tục, bẩn thỉu, xấu xa trong cuộc sống vẫn hiện diện Nhà văn đã có ý thức khai thác tường tận mọi chiều của cuộc sống Bức tranh quê Việt hiện nguyên trạng với những góc khuất đầy uế tạp, tồi tàn và heo hút Nhà văn cảm

nhận cả mùi vị và sự bẩn thỉu của vùng quê nghèo nàn Trong truyện Sư đồ, tác giả khắc họa chân thực sự nhếch nhác của bãi chợ ven sông: “Bãi chợ ven sông trở thành đống bùn nhão, nước từ mái lều qua chõng sạp tuôn tồ tồ xuống cứt trâu, mảy ngô, bãi nôn thành xú khí nồng khẳn Một con chó ghẻ lang thang rúc mõm vào mủng mẹt ướt át Một chú gà chiếp chiếp tìm đàn, tình cảnh đáng thương làm kinh động cả những pho tượng đứng đầu chợ”

[16, tr.101] Thêm vào đó là cuộc sống nghèo nàn, buồn tẻ nơi vùng núi cao:

“Sao mà quạnh quẽ, mạt rệp Trẻ bụng ỏng cởi truồng trong đông giá Những lát sắn mốc đen chỏng chơ trên nong Nồi niêu trống toác, hạt cơm cõng cả nuộc rau rừng, làm gì mà mặt người chả bủng beo” [16, Tr.106] Trần Chiến

mang tư duy của người đi tìm kiếm sự thực dù đó là cái xấu, cái bẩn, sự nhếch nhác Những góc chết đó của cuộc sống nhiều khi bị các nhà văn khác che dấu và né tránh Điểm nhìn khuất lấp trong truyện ngắn Trần Chiến đã phô bày mọi vẻ của cuộc sống thực tế đầy nghiệt ngã và cay cực

Truyện Khắc nhập khắc xuất, nhà văn miêu tả sự thay đổi của nhân vật

Đại Bùm khi phép thiêng hết linh nghiệm Tác giả đã thâm nhập vào nhân vật

để cảm nhận được mọi giác quan, mùi vị, trạng thái: “Đại Bùm đang ẩm ương như đống khoai để gầm giường quá lâu, sâu hà loang lổ Ươn mình, lúc nào cũng nhạt miệng như đàn bà ốm lửng, trong xương có đống giòi ngọ nguậy

Trang 35

Tệ nhất là khi hít thở thì mùi tanh lộn ở đình Bùm lại sực vào, thành thử sống giữa đống nôn, lúc nào cũng lầy nhầy, ngọ nguậy, thần trí ngẩn ngơ” [16, tr.126]

Truyện Đò rách tả khung cảnh căn nhà nghèo nàn của cu Dâng ở vùng bán sơn địa: “Nắng xiên khoai chênh chếch dòm vào căn nhà còm cõi của cu Dâng Mái tranh dột nát, vách thủng to, con trâu chui lọt Mùi ẩm mốc xông khắp ba gian nhà tiều tụy Căn bếp dường như đã lâu không ấm lửa, chỏng chơ những nồi niêu rếch rác Cái nắng ngột ngạt vô ý bò lên bàn thờ trống toang rồi lười biếng nghỉ dưới chiếc giường tre ọp ẹp Vàng mơ trong mắt người ốm” [12, tr.29] Nghèo đói, ốm đau, đông con, không nghề nghiệp, gia

đình sa sút, đó là chuyện mà thời nào cũng có Góc nhìn chiếu từ ngoài vào trong căn nhà, từ bàn thờ đến gian bếp với mọi ngóc ngách để lột tả hết cái hoang lạnh, xơ xác của cảnh nghèo

Những nhà văn chân chính luôn có khát vọng đi tìm kiếm sự thực dù nó tàn nhẫn Vũ Trọng Phụng từ những năm 1930 đã có sự tranh đấu với khuynh hướng lãng mạn: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và các nhà

văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời” (Báo tương lai

số 9, ngày 25 - 3 - 1937) Quan niệm nghệ thuật của Nam Cao trong truyện

ngắn Trăng sáng: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là

ánh trăng lừa dối Nghệ thuật chỉ có thể là những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” Tiệm cận hiện thực tàn nhẫn và nghiêm ngặt thể hiện cái nhìn sâu sắc và chân thực của Trần Chiến Không tô hồng hiện thực, ông

có ý thức tìm kiếm và phản ánh cuộc sống với những mặt sau bẩn thỉu và khổ đau Cái nhìn tò mò, tỉ mỉ soi xét cùng với tư duy khách quan của nhà báo khiến điểm nhìn trong tác phẩm của Trần Chiến sâu sắc, để lại nhiều dư ba trong lòng người đọc

Trang 36

1.3.2.2 Điểm nhìn khách quan

Lối kể chuyện khách quan tái hiện trực tiếp thế giới hình tượng trong tác phẩm thông qua việc miêu tả các hoạt động bên ngoài của nhân vật Trong tác phẩm không hề xuất hiện những chi tiết miêu tả nội tâm của nhân vật Người

kể chuyện tỏ ra biết ít hơn bất cứ nhân vật nào trong truyện Và cũng không can thiệp vào suy nghĩ của nhân vật, không đưa ra những phán đoán, suy xét chủ quan Sự khách quan của chủ thể trần thuật gần như là tuyệt đối Anh ta luôn giữ một khoảng cách nhất định đối với câu chuyện, nhiệm vụ của anh ta

là đưa vào chuyện của mình những chi tiết, tình huống, xây dựng một thế giới nhân vật hoạt động để người đọc tự khám phá ra tất cả chiều sâu của truyện

kể Chủ thể trần thuật đã luôn tạo ra những khoảng cách nhất định đối với nhân vật khi thuật kể Chủ thể trần thuật để người đọc nhận ra tính cách, suy nghĩ, việc làm của nhân vật thông qua sự biểu hiện của chính bản thân nhân vật Tính hướng ngoại của chủ thể trần thuật vô nhân xưng đã tạo ra cho câu chuyện một khoảng cách nhất định giữa chủ thể trần thuật và nhân vật Vì thế người đọc phải tự khám phá cái bề chìm của “tảng băng trôi” mà truyện kể đem lại Chính dạng thức trần thuật này đã qui định ngôn ngữ và giọng kể lạnh lùng đã trở thành một đặc điểm nổi bật khiến nhiều nhà nghiên cứu chú

ý Người trần thuật luôn giữ cái nhìn bình thản trước mọi sự việc Tác giả khách quan, dân chủ khi nhìn nhận sự việc và phán xét con người Không áp đặt cái nhìn và suy nghĩ của mình cho độc giả Người đọc tự cảm nhận và phán xét Ngôi thứ ba kể về các nhân vật khách quan, bao quát mọi diễn biến, hành động, lời nói, cử chỉ của nhân vật

Trong tác phẩm Huệ và Phong, khi miêu tả cảnh chơi đùa nghịch ngợm

của hai đứa trẻ, tác giả đã miêu tả khách quan hành động, trạng thái của các nhân vật:

Trang 37

“Huệ bò lên giường, líu ríu định nói nhưng Phong đã nhảy phóc lên lưng như một kị binh chính cống Huệ khuỵu tay phải xuống, đau đến tái người Cô

bé nằm lăn ra co quắp Chàng kị mã bị đổ từ trên mình ngựa xuống thoắt đứng ngay dậy, hô lớn:

- Huệ! Ngựa! Dậy làm nhiệm vụ mau

Huệ đau rúm người, nhăn nhó kêu:

- Anh làm em đau rồi đây này Tay không co lại được nữa

Chị Xương, mẹ Phong hốt hoảng chạy vào Huệ nằm co quắp, cánh tay phải dướn mãi lên một cách kỳ dị, mặt trắng bệch như một tờ giấy Cô bé có

lẽ bị sai khớp, không rên được tiếng nào nữa, chỉ ngáp ngáp như con cá nằm trên thớt Chị vội vã bế xuống nhà, gọi xe xích lô đi bệnh viện” [11, Tr.103] Cùng một vấn đề đưa ra nhưng tác giả luôn có ý thức soi chiếu ở nhiều

trong việc đánh giá vấn đề Mỗi nhân vật thể hiện một quan niệm khác nhau Điểm nhìn đa diện tạo nên tính đa thanh trong ngôn ngữ Mỗi người có một giá trị sống, một cương vị và quan niệm riêng Không thể áp đặt quan niệm của người này lên người khác Cuộc sống vốn đa sự và phức tạp Trong

truyện ngắn Ngủ kêu, nhân vật nhà giáo Nghị chuyển về sống ở một nơi thôn

ổ bên rìa thành phố Mọi thứ tưởng như dễ chịu, thanh thản và trong lành với anh Nhưng điều anh khó chịu nhất là tiếng nhạc rất to của người hàng xóm vào năm giờ rưỡi Nó đánh thức mọi giấc mơ, mọi mộng đẹp Sáng nào cũng

chỉ một ca khúc: “đi lên, đứng lên, xung phong lên nào ” Quan niệm của anh thanh niên bật nhạc: “Tưởng tượng mình đang đi, ở hàng đầu, chân dậm, mặt

ngẩng lên, rất thích” Ông Kích – người hàng xóm đi phun thuốc sâu từ sớm

cho rằng: “Nghe vui chứ sao Tôi già rồi mà chả khó ngủ gì sất Lũ trẻ, thằng

lên sáu, con lên mười cũng chả ảnh hưởng gì cả Lắm hôm không thấy nhạc

Trang 38

lên phường nhưng nếp làng, lệ xóm vẫn còn nguyên Đến vấn đề loa phát thanh của xã sáng nào cũng bật từ sớm, tác giả đã khách quan hóa để nói về quan niệm của các nhân vật

Quan niệm của Nghị: “Thời đại thông tin, nhà nào cũng loa đài, tivi cát

xét nghe nhìn cả rồi, tôi nghĩ phần giải trí cũng như nghe tuyên truyền các chủ trương chính sách lớn đã đủ, cần tôn trọng đời sống cá nhân chứ Mỗi cá nhân tôn trọng pháp luật ở ngoài đời, về làng xóm sống theo hương ước, thế

là văn hóa mới rồi Còn phần riêng phải được tôn trọng Có độc lập, theo đúng kiểu sống của mình con người mới bộc lộ hết tiềm năng để tư duy mà sáng tạo, làm ra những giá trị tốt cho xã hội Pháp luật cũng bắt đầu bảo vệ

sự riêng tư, không xâm hại lẫn nhau” Như vậy thầy giáo Nghị coi trọng tính

riêng tư và đời sống cá nhân của mỗi người để hướng tới sự sáng tạo

Ông Nền, tổ trưởng có cái nhìn trung hòa, nước đôi: “Thầy vừa nói đến

pháp luật, thì nhất định ta phải tôn trọng rồi Nhưng làng cũng có những ngõ ngách hủm hẻm khác nhau nữa Vấn đề là phải phối kết hợp với nhau thế nào cho hợp cả tình lẫn lí” Cách trả lời khôn khéo không phạm đến ai của người

lãnh đạo - cân nhắc những ưu điểm và hạn chế của vấn đề Cái nhìn trái chiều

của các nhân vật đám đông khác:“Ờ nhỉ Tôi thấy vui tai Mà không nghe

cũng được”; “Nhạc sến ủy mị, rất có hại cho thanh niên”; “Quả thật là cái loa tồi Chọ chọe, lại vang đi vang lại cứ như chửi nhau”

Ông văn hóa thông tin đứng trên cương vị của người làm công tác

tuyên truyền lên tiếng về những tác dụng của việc gọi loa buổi sớm:“Địch

đang phá ta kinh lắm, kể cả phản tuyên truyền Nên tuyên truyền là một nhiệm

vụ lớn, cần phải làm mọi lúc, mọi nơi cho mọi lứa tuổi mọi tầng lớp quán triệt Tiếng loa còn là công cụ nhắc nhở đóng thủy lợi phí, đi nghĩa vụ quân

sự, làm công ích, nói rõ ý nghĩa những ngày kỉ niệm Ngành còn đang muốn kiện toàn, phát triển thêm hệ thống loa phát thanh Không làm, hay phát lúc

Trang 39

mọi người đã ra đồng, đi tứ tán cả, tôi e có nhiều việc không nhắc được” [15,

tr.120]

Chị y tế nhanh nhẩu nói về vai trò của phát thanh đối với công việc của

mình: “Không có loa kêu làm sao tôi mời được ngần này bà mẹ cho con ra

trạm tiêm chủng ngừa sáu bệnh uốn ván bại liệt ho lao bạch hầu sởi thủy đậu”

Ông cựu chiến binh bồi hồi giở lại truyền thống: “Đúng là khi nghe hành

khúc tôi chỉ muốn xông lên Tiếng hát át tiếng bom kia mà Vui cùng vui, buồn cùng buồn kia mà Thế mới tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù”

Ông địa chính bảo: “Việc cấp sổ đỏ cần công khai, không qua loa thì lại

mang tiếng là dấm dứ tắc lẻm Riêng đoàn thanh niên không phát gì Ngại thầy chăng?” [15, Tr.121]

Lãnh đạo treo đấy Hậu xét, vì nó chẳng chết ai Vào một ngày đẹp trời,

lãnh đạo xã đến tận nhà thầy giáo giải thích: “Hình như thầy giáo sống ở nước

ngoài nhiều nên đề cao những đòi hỏi cá nhân Ở ta nó khác, cộng đồng làm nên sức mạnh kì diệu để vượt qua giặc giã thiên tai” [15, tr.121] Thùy - vợ

Nghị thì cương quyết không để chồng đi họp tổ dân phố nữa Cùng một vấn

đề có hàng chục cách nhìn nhận, đánh giá và phản ứng khác nhau Ở những cương vị và trách nhiệm khác nhau, người lên tiếng kẻ lặng im Ai cũng có cái lí của mình Người kể chuyện đã linh hoạt trong cách tiếp cận sự kiện Cái nhìn đa diện, đa sắc tạo nên tính khách quan, trung thực, dân chủ thẳng thắn trong cách kể Tư duy tranh biện, khách quan của nhà báo phần nào chi phối đến điểm nhìn trần thuật trong các truyện ngắn của Trần Chiến

Trong tác phẩm Một tình huống sư phạm, nhân vật Minh – cô giáo trẻ băn khoăn trước một bài văn lạ của học sinh Tả một giờ ra chơi: “Các anh

lớp trên đánh quả cầu lông rơi “bụp” vào má bà bánh rán ngồi góc sân Các chị lớp bảy nhảy dây làm bụi ầm ĩ Sách vở đem ra làm cột gôn Chúng em thắng bọn 6D 39-23, bắt chúng nó chui qua háng em chỉ thích giờ ra chơi

Trang 40

kéo dài một tiếng đồng hồ” [11, tr.79] Trước tình huống sư phạm ấy, cô giáo

trẻ mới ra trường cảm thấy choáng váng, ngồi thừ người ra Bài văn cuốn hút ghê gớm nhưng chẳng đúng khuôn khổ tẹo nào

Cô tổ trưởng đánh giá bài viết là tiêu cực: “Phải uốn ngay Thích giờ ra

chơi một tiếng đồng hồ là ham chơi, chán học rồi còn gì Đứa nào cũng thế thì ra loạn trường à? Nặn nghiêm túc thì sau này ra đời nó sẽ ngay ngắn, bằng không uốn nắn thì ra đời nó sẽ hỏng ngay, hỏng hết” [11, tr.81-82]

Người yêu của cô Minh thì đánh giá: “Anh thấy thán phục cái kết ấy Thật

là một ý nghĩ xuất sắc Trẻ con đứa nào chả thích chơi và cần chơi Những đứa khác nói dối và em bắt chúng nó nói dối Những đứa nói thực mà bị cô cho điểm kém sẽ đi tới đâu” [11, tr.86-87]

Quan điểm của mẹ Quốc Linh: “Tôi biết tính cháu, chắc có những cô giáo

không thể chịu nổi, nó cứ thế nào nói thế ấy Tính bố cháu đấy Bằng linh cảm người mẹ, tôi thấy cháu sẽ khổ trong một khoảng thời gian nào đấy, nhưng sau sẽ được người ta quý trọng Chẳng lẽ nói ra ý nghĩ thật lại không tốt ư? Chẳng nhẽ trong giáo dục lại không cần thế ư?” [11, tr.95] Như vậy, ở

cương vị nhà giáo có cái nhìn nghiêm khắc với học trò, với người ngoài cuộc đầy vô tư, khách quan, với phụ huynh đầy lòng trắc ẩn và đau đớn Ở những cương vị và trách nhiệm khác nhau, người ta có cách cư xử trái chiều Nhà văn giữ cái nhìn dân chủ khi phán xét đồng loại Người trần thuật không đưa

ra quan điểm - giữ cái nhìn khách quan, bình thản trước mọi việc

Trong lĩnh vực giáo dục, nhà văn luôn chú trọng đến sự sáng tạo và trung

thực của cả thầy và trò Trong truyện ngắn Ngủ kêu, nhà giáo Nghị cũng gặp

phải sự ngăn cản của lãnh đạo và đồng nghiệp khi giảng dạy theo phương pháp mới, phát huy tính tích cực của học sinh bằng thảo luận Nghị luôn đưa

ra những ý kiến trái chiều và mới mẻ, khơi dậy năng lực tư duy của người học Người trần thuật giữ cái nhìn khách quan khi phán xét các nhân vật

Ngày đăng: 19/09/2017, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm