Xuất phát từ yêu cầu thực tế nói trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xây dựng cơ sở khoa học cho việc điều tra thể tích thân cây từ kích thước gốc chặt của một số loài cây ở rừ
Trang 1LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc L©m nghiÖp
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS VŨ TIẾN HINH
Hµ néi - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với mục tiêu góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn về vấn đề xác định thể tích gỗ thân cây từ kích thước gốc chặt của một số loài cây khai thác phổ biến ở Việt Nam, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Xây dựng cơ sở khoa học cho việc điều tra thể tích thân cây từ kích
thước gốc chặt của một số loài cây ở rừng tự nhiên vùng Bắc Trung bộ”
Sau một thời gian thực hiện, dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TS
Vũ Tiến Hinh, cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và bạn đồng nghiệp, đến nay đề tài đã hoàn thành
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới GS.TS
Vũ Tiến Hinh, các thầy cô trong bộ môn Điều tra quy hoạch rừng – Trường Đại học Lâm nghiệp và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có những cố gắng, nhưng do năng lực bản thân và thời gian nghiên cứu còn hạn chế, nên kết quả đạt được của đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn đồng nghiệp và những người quan tâm đến vấn đề này để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan, số liệu thu thập, kết quả tính toán trong luận văn
là hoàn toàn trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2011
Tác giả
Vũ Quốc Phòng
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các ký hiệu ivv
Danh mục các bảng v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Trên thế giới 2
1.2 Trong nước 7
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu 15
2.3 Phạm vi nghiên cứu 15
2.4 Nội dung nghiên cứu: 15
2.4.1 Xác định các đặc trưng thống kê về đường kính và chiều cao gốc chặt 15
2.4.2 Xác lập quan hệ giữa thể tích thân cây với đường kính và chiều cao gốc chặt 16
2.4.3 Xác định thể tích thân cây bằng phương trình thể tích và biểu thể tích đã lập sẵn 16
2.4.4 Chọn phương pháp xác định thể tích thân cây thông qua kích thước gốc chặt 16
2.5 Phương pháp nghiên cứu 16
2.5.1 Quan điểm và phương pháp luận 16
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 17
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 17
Trang 4Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Khái quát số liệu nghiên cứu 25
3.2 Đặc điểm về kích thước gốc chặt 27
3.3 Xác lập quan hệ giữa thể tích thân cây với đường kính gốc chặt và chiều cao gốc chặt 31
3.4 Xác định thể tích thân cây trên cơ sở sử dụng phương trình thể tích và biểu thể tích lập sẵn 37
3.4.1 Kiểm tra sự phụ thuộc của đường kính ngang ngực D 1.3 vào đường kính gốc chặt D gc , chiều cao gốc chặt H gc , và đường kính gốc D 0 37
3.4.2 Xác định quan hệ giữa đường kính ngang ngực D 1.3 với đường kính gốc chặt D gc hoặc đường kính gốc D 0 39
3.4.3 Xác lập quan hệ giữa đường kính ngang ngực D 1.3 với đường kính gốc chặt D gc và chiều cao gốc chặt H gc 43
3.4.4 Kiểm tra sự phụ thuộc của chiều cao vút ngọn H vn vào đường kính gốc chặt D gc , chiều cao gốc chặt H gc , đường kính gốc D 0 45
3.4.5 Xác lập quan hệ giữa chiều cao vút ngọn H vn với đường kính gốc chặt D gc và chiều cao gốc chặt H gc 47
3.4.6 Xác định thể tích gỗ thân cây bị chặt thông qua đường kính ngang ngực D 1 3 và chiều cao vút ngọn H v n 49
3.4.7 Xác định thể tích gỗ thân cây trên cơ sở sử dụng biểu thể tích đã lập sẵn 55
3.5 Chọn phương pháp xác định thể tích gỗ thân cây thông qua kích thước gốc chặt 57
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Tồn tại 61
3 Kiến nghị 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
D1.3 : Đường kính thân cây tại vị trí 1.3m
Dgc : Đường kính gốc chặt (đường kính tại mặt cắt gốc chặt)
D0 : Đường kính gốc cây tại vị trí sát mặt đất
f : Là hình số (độ tròn đầy)
Hvn : Chiều cao vút ngọn của cây
Hgc : Chiều cao gốc chặt khi khai thác gỗ
l : Chiều dài xúc gỗ Ntt: Số cây tính toán Nkt: Số cây kiểm tra PP1 : Phương pháp xác định tương quan giữa V với Dgc và Hgc
PP2 : Phương pháp xác định tương quan giữa V với D1.3 và Hvn
PP3 : Phương pháp tra biểu thể tích hai nhân tố D1.3 và Hvn
R2 : Hệ số xác định
R : Hệ số tương quan S% : Hệ số biến động
S : Sai tiêu chuẩn
Sbi : Phương sai của hệ số hồi quy bi
∆%ΣV: Sai số của tổng thể tích của một tập hợp thân cây
∆ v% : Sai số tương đối của một cây cá lẻ
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1: Khái quát số liệu nghiên cứu 26
3.2: Tổng hợp các đặc trưng thống kê chiều cao gốc chặt 28
3.4: Kết quả phân tích tương quan giữa V với Dgc và Hgc 32
3.5: Phương trình tương quan giữa V với Dgc và Hgc được chọn 36
3.6: Kiểm tra sự phụ thuộc của D1.3 vào Dgc, Hgc, D0 38
3.7: Tương quan giữa D1.3 với Dgc hoặc D0 40
3.8: Kiểm tra thuần nhất các phương trình tương quan giữa D1.3 và Dgc 42
3.9: Kết quả tính tương quan giữa D1.3 với Dgc và Hgc 44
3.10: Kết quả kiểm tra sự phụ thuộc của Hvn vào Dgc, Hgc, D0 46
3.11: Kết quả tính tương quan giữa Hvn với Dgc và Hgc 48
3.12: Kết quả phân tích tương quan giữa V với Hvn và D1.3 50
3.13: Phương trình tương quan giữa V với D1.3 và Hvn được chọn 54
3.14: Kết quả tính sai số thể tích thân cây xác định từ biểu thể tích lập theo tổ f01 56 3.15: Kết quả xác định sai số thể tích bằng 2 phương pháp 58
Trang 7
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng tự nhiên ở Việt Nam nói chung và vùng Bắc Trung bộ nói riêng
có rất nhiều loài cây với nhiều hình dạng và kích thước khác nhau Sự đa dạng
và phong phú này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, bảo
tồn đa dạng sinh học và duy trì sự ổn định của hệ sinh thái Tuy nhiên, việc
khai thác rừng tự nhiên ở Bắc Trung bộ trong những năm vừa qua đang diễn biến khá phức tạp, đặc biệt là những vụ phá rừng với quy mô lớn và nhiều loài gỗ quý khi các cơ quan chức năng phát hiện ra thì chỉ còn lại vết tích là gốc chặt Điều này đã gây nhiều khó khăn cho công tác điều tra, kiểm kê, đánh giá lượng gỗ bị mất hàng năm, đòi hỏi phải tốn nhiều công sức và tiền của Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về lập biểu thể tích cho các loài cây chủ yếu Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu
là tập trung vào đối tượng rừng trồng mà ít có điều kiện quan tâm đến các loài và nhóm loài trong rừng tự nhiên Có chăng thì cũng mới chỉ dừng lại ở việc lập biểu thể tích hai nhân tố (thường là đường kính D1.3 và chiều cao
Hvn), hai nhân tố này đều phải xác định gián tiếp từ kích thước gốc chặt
Xuất phát từ yêu cầu thực tế nói trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Xây dựng cơ sở khoa học cho việc điều tra thể tích thân cây từ kích
thước gốc chặt của một số loài cây ở rừng tự nhiên vùng Bắc Trung bộ”
Kết quả của đề tài sẽ góp phần vào việc đề xuất phương pháp xác định thể tích gỗ thân cây cho một số loài cây chủ yếu ở rừng tự nhiên vùng Bắc Trung bộ, đồng thời đảm bảo độ chính xác cần thiết và giảm được chi phí giá thành so với các phương pháp khác
Trang 8Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Mục đích chính của đề tài là lựa chọn được phương pháp xác định thể tích gỗ thân cây thông qua kích thước gốc chặt mà vẫn đảm bảo được độ chính xác cần thiết, do vậy phần tổng quan chủ yếu đề cập đến các phương pháp xác định thể tích đã có cũng như các mô hình dự đoán mối quan hệ giữa kích thước gốc chặt với các nhân tố tham gia cấu thành thể tích gỗ thân cây như D1.3, Hvn , làm cơ sở cho việc định hướng lựa chọn phương pháp nghiên cứu
1.1 Trên thế giới
Các phương pháp tính thể tích
Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lập biểu thể tích thân cây và thiết lập mối quan hệ giữa các nhân tố dễ xác định với các nhân tố cấu thành thể tích thân cây, trong giới hạn cho phép đề tài chỉ đề cập đến một số kết quả tiêu biểu có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Ngay từ cuối thế kỷ XIX các nhà lâm học đã biết sử dụng những công thức hình học (viên trụ, paraboloid bậc 2 cụt, đơn tiết diện giữa, đơn tiết diện bình quân, Simpson, Hostfeild,…) để đo tính thể tích từng xúc gỗ sản phẩm cá lẻ
Sang đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những nghiên cứu cơ bản về điều tra
gỗ tròn Trước hết các tác giả xây dựng loại biểu thể tích hình viên trụ, thực chất là những bảng tính sẵn chỉ để tiện cho việc áp dụng các công thức hình học nêu trên Tuy nhiên, loại biểu này khó sử dụng do phải biết đường kính tại một số vị trí trên xúc gỗ
Giai đoạn 1906 – 1908 Cruidener, giám đốc sở lâm nghiệp Hoàng gia (nước Nga) đã lập biểu thể tích gỗ tròn cho 6 loài cây (phân biệt thành gỗ tròn
có chứa phần bạnh gốc và không gồm bạnh gốc)
Trang 9Do các biểu ban đầu được lập theo phương pháp thực nghiệm, dung lượng mẫu có hạn, nên còn mắc sai số lớn, đặc biệt ở những cỡ cực đoan
Mendeleep D.I(1899), Belanovxki I.G(1917) và Wimmenauer K(1918) đặt mục tiêu xác định hình dạng của đường sinh và biểu thị nó bằng phương trình toán học, xem đường kính (Y) như là một hàm của chiều cao (x): Y = F(x) và đề nghị biểu thị hàm số này bằng phương trình bậc hai, bậc ba và bậc bốn (Theo Đồng Sĩ Hiền 1974)
Theo (Skindele và LeMay, 2006; Đồng Sĩ Hiền, 1974; Husch et al, 2003), các mô hình toán học về thể tích thân cây được xem như là một hàm của biến độc lập: đường kính, chiều cao và hình số [26] Nó được biểu thị dưới dạng phương trình:
Petrovxki V.S (1963, 1964) ở Liên Xô cũ, biểu thị quan hệ giữa đường kính lấy ở vị trí bất kỳ với khoảng cách (L) từ đường kính đó đến gốc bằng phương trình Parabol sau:
X2 = 2.P.(y - h)
Trong đó: + P là thông số tiêu đỉnh của đường sinh
+X, y là toạ độ của Parabol, h là chiều dài của thân cây bớt 1m Khi đó thể tích thân cây được tính theo công thức:
H
.
Trang 10Turxki (theo Anoutchin [1971]) đã dùng phương pháp biểu đồ để nắn
số liệu của Cruidener và hiệu chỉnh thành biểu mới lấy tên cả 2 tác giả và được thừa nhận làm tiêu chuẩn quốc gia sử dụng ở Liên xô cũ cho đến ngày nay Tuy nhiên, sai số của phương pháp biều đồ này cao hơn so với loại biểu thể tích hình viên trụ trước đây
Ở cộng hòa Séc Korsum (theo Anoutchin [1971]) cho rằng thể tích gỗ tròn quan hệ chặt chẽ với chiều dài sản phẩm theo dạng phương trình:
m l k
Và xét cả nhân tố đường kính thì:
n m d l k
v (1.4)
Nghiên cứu bằng thực nghiệm Korsum kết luận k, m, n rất khác nhau khi tính toán cho các đối tượng khác nhau nên việc ứng dụng các tương quan này tương đối khó khăn vào giai đoạn giữa thế kỷ XX
Vấn đề nghiên cứu về hình dạng thân cây phục vụ cho việc lập biểu thể tích chỉ thực sự được chú ý vào những năm cuối của thể kỷ XX Các chỉ tiêu được các tác giả đặc biệt quan tâm như độ thon tuyệt đối, độ thon bình quân (Anoutchin [1971]), độ thon tương đối (Zakharov [1967]) và hình số gỗ tròn (Dementiev)
Anoutchin dựa vào tài liệu 4000 súc gỗ tròn đã xác định độ thon bình quân phụ thuộc chặt chẽ vào đường kính đầu dưới sản phẩm theo phương trình:
d
s 0 , 39 0 , 021 (1.5)
Đồng thời xác định s dao động từ 0.77 đến 1.87, bình quân = 0.96 Hệ
số biến động từ 26 đến 47% bình quân là 38%, tương ứng với đường kính thay đổi từ 15 đền 55cm
Trang 11Dementiev dựa vào biểu thể tích gỗ tròn của Cruidener và Turxki, đã tính được độ tròn đầy của gỗ tròn (bằng tỉ số giữa thể tích gỗ tròn với thể tích hình viên trụ có cùng chiều dài và tiết dện đáy bằng tiết diện đầu trên xúc gỗ) cho từng cỡ chiều dài sản phẩm Từ đó ông đã đưa ra công thức xác định thể tích gỗ tròn là:
f l d
4 2
Trong đó: d: là đường kính đầu trên xúc gỗ tính bằng m
l: là chiều dài xúc gỗ tính bằng m f: là độ tròn đầy (hoặc hình số) gỗ tròn Theo Anoutchin [1971] kết quả tính bằng công thức của Dementiev và kết quả biểu thể tích gỗ tròn của Cruidener – Turxki là chênh nhau không đáng kể
Quan hệ giữa đường kính và chiều cao
Giữa chiều cao vút ngọn (Hvn) với đường kính thân cây tại vị trí 1.3m (D1.3) quan hệ chặt chẽ với nhau và có mối quan hệ với kích thước gốc chặt Mối quan hệ giữa (Hvn) và (D1.3) đã được nhiều tác giả mô phỏng bằng các phương trình toán học khác nhau, tiêu biểu trong số đó là:
Tovstolesse, DI (1930) đã lấy cấp đất làm cơ sở để nghiên cứu quan
hệ Hvn/D1.3 Mỗi cấp đất tác giả lập một đường cong chiều cao bình quân ứng với mỗi cỡ đường kính để có dãy tương quan cho loài và cấp chiều cao Sau đó dùng phương pháp biểu đồ để nắn dẫy tương quan theo dạng đường thẳng của Gerhardt và Kopetxki (dẫn theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [4]
Trang 12Các tác giả Naslund, M (1929); Assmanm, E (1936); Hohenadl, W (1936); Prodan, M (1944); Meyer, H.A (1952) [28] đã đề nghị các dạng phương trình:
2 2
b a
2 3
, 1
d b a
d h
d b a
b d k
Petterson, H (1955) đề xuất sử dụng phương trình:
d
b a
Mối quan hệ giữa chu vi ngang ngực (C1.3) với chu vi gốc chặt (Cgc)
đã được nhiều tác giả thừa nhận Theo (H.A Mayer [1953], A.NyyssOnen [1955], C.Boonnybhas [1961], J Parde [1961], và N Decornt [1964] thì mối quan hệ này có dạng đường thẳng bậc một) (Dẫn theo Phạm Thế Anh 2001) [1]
C1.3 = a + b Cgc (1.12) Tuy nhiên, J.P Mc cho rằng khi chiều cao gốc chặt (Hgc) thay đổi, để tìm dược đường kính ngang ngực (D1.3) cần xác định thêm chỉ tiêu Hgc Khi
đó thì phương trình có dạng:
D1.3=Dgc(b0 + b1).[log(Hgc+1) – log5,5] + b2[log(Hgc+1) – log5,5]2 + b3[Dgc(Hgc – 4.5)] (1.13)
Theo đó thì có 42 loài có hệ số tương quan r lớn hơn 0,95 và 11 loài có hệ
số r nhỏ hơn 0,95, từ đó tác giả đã lập ra biểu xác định D1.3 từ Dgc và Hgc cho 53 loài ở vùng Đông nam nước Mỹ (Dẫn theo Phạm Thế Anh 2001) [1]
Trang 131.2 Trong nước
Các phương pháp tính thể tích thân cây
Công tác điều tra và lập các loại biểu thể tích ở Việt Nam cho đến nay khá phong phú Dưới đây có thể điểm lại một số kết quả đáng chú ý sau:
Đầu những năm 60 của thế kỉ XX, Cục khai thác đã công bố một bảng tra thể tích gỗ tròn (thực chất là biểu thể tích hình viên trụ) theo chiều dài và đường kính bình quân sản phẩm [22]
Krauter và đoàn chuyên gia người Đức [1958] đã lập ra biểu thể tích một nhân tố theo cấp chiều cao Trong mỗi cấp chiều cao, lấy giá trị chiều cao tương ứng với các cỡ kính nhân với hình số f1.3 rồi chia cho 40 Thể tích thân cây tương ứng với mỗi cỡ kính và mỗi cấp chiều cao được xác định theo công thức :
2 /
1 ) Thể tích trong biểu được xác lập với đường kính thông qua phương trình:
Đồng Sỹ Hiền [1974] đã xây dựng phương pháp thiết lập phương trình đường sinh thân cây để lập biểu thể tích cây đứng và biểu độ thon thân cây cho rừng tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam [5]
Trang 14Phạm Huy Văn [1982] đã nghiên cứu độ thon bình quân gỗ tròn trụ
mỏ tại lâm trường Hoành Bồ - Quảng Ninh và kết luận chỉ tiêu này không phụ thuộc đáng kể vào loài cây, từ đó tác giả đã lập biểu thể tích gỗ tròn trụ mỏ theo đường kính giữa và chiều dài xúc gỗ trụ mỏ phục vụ công tác nghiệm thu
gỗ ở địa phương (Giáo trình Điều tra rừng [1997])
Năm 1983, khi nghiên cứu hình dạng gỗ tròn trụ mỏ của các loài cây rừng tự nhiên thuộc lâm trường Hữu Lũng – Lạng Sơn, thông qua hai đại lượng độ thon bình quân s và độ giảm bình quân đường kính giữa súc gỗ trên 1m chiều dài sản phẩm (s’) Ong Khắc Thảo đưa ra kết luận: Các đại lượng này có phân bố tiệm cận chuẩn, quan hệ chặt chẽ với đường kính đầu nhỏ sản phẩm (dn) và thể tích (V) gỗ tròn nhưng về cơ bản không chịu ảnh hưởng của loài cây khác nhau Từ đó tác giả cho rằng có thể nghiệm thu gỗ trụ mỏ ở Hữu Lũng – Lạng Sơn theo phương pháp đo tính hàng loạt
Lê Viết Lự [1983] đã thí nghiệm các phương pháp lập biểu bằng biểu
đồ, bằng tương quan b
n d k
v cho từng cỡ chiều dài và dạng hàm (1.4) chung cho các sản phẩm trụ mỏ Tác giả cho rằng trong điều kiện thí nghiệm của mình cả ba cách đều cho kết quả khả quan nhưng tốt nhất nên dùng phương trình (1.4) vì đảm bảo tính khách quan và chính xác hơn
Tác giả Vũ Nhâm [1988] đã áp dụng phương pháp của Đồng Sỹ Hiền
để lập biểu thể tích cây đứng và biểu thương phẩm cho loài Thông đuôi ngựa vùng Đông Bắc [14]
Tác giả Bảo Huy và Tăng Ngọc Tráng [1997] cũng sử dụng phương pháp trên để lập biểu thể tích và biểu thương phẩm cho loài Xoan Mộc, Bằng Lăng và nhóm cây ưu thế ở rừng tự nhiên Tây Nguyên [18]
Trang 15Nguyễn Ngọc Lung [1999] khi lập biểu thể tích và biểu sản phẩm cho rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng đã sử dụng f01 để xác định thể tích thân cây cũng như thể tích gỗ sản phẩm [11]
Phạm Xuân Hoàn và Hoàng Xuân Y [1999] đã nghiên cứu và lập biểu sản phẩm Quế trồng ở Yên Bái bằng phương trình đường sinh thân cây đã thu được phương trình đường sinh dạng tuyến tính bậc cao Từ đó xác định được hình số tự nhiên trong công thức tính thể tích như sau: f01vỏ = 0.50887 và
f01không vỏ = 0.43306 [15]
Trần Văn Cẩn [1999] đã nghiên cứu lập biểu thể tích từ phương trình đường sinh thân cây cho rừng Mỡ trồng tại vùng nguyên liệu giấy [2] Kết quả thu được phương trình đường sinh thân cây có vỏ là:
f ' (với v’ là thể tích hữu ích của xúc
gỗ, v là thể tích hình viên trụ có chiều cao bằng chiều dài xúc gỗ, tiết diện đáy bằng tiết diện đầu trên xúc gỗ) có tính ổn định cao hơn làm cơ sở tính toán
thể tích gỗ tròn theo công thức:
f l d f
Với f 0 , 826 cho đối tượng nghiên cứu
Phạm Thế Anh (2001) [1] đã khẳng định giữa thể tích thân cây Lim xanh với đường kính gốc chặt Dgc hay đường kính gốc D0 luôn tồn tại mối liên hệ mật thiết dưới dạng phương trình:
Trang 16b gc D a
b D a
hệ giữa thể tích và đường kính đầu nhỏ và chiều dài súc gỗ [23]
Tác giả Trần Huy Mạnh [2000] khi nghiên cứu đặc điểm hình số tuyệt đối (f0) đã khẳng định: có thể coi f0 như một hằng số để tìm kích thước cây Táu bị mất (Dẫn theo Phạm Thế Anh 2001):
01 2
Trang 17Lê Linh Ly (2009) nghiên cứu mỗi liên hệ mang tính qui luật giữa thể tích dưới cành với đường kính ngang ngực và chiều cao một số cây rừng tự nhiên [12] đã khẳng định thực sự tồn tại mỗi quan hệ chặt giữa thể tích đoạn
gỗ dưới cành với D1.3 và Hvn dưới dạng hàm Schumacher – Hann và mối quan
hệ rất chặt với thể tích thân cây theo dạng tuyến tính bậc một
Trịnh Thị Thành (2009) nghiên cứu đặc điểm có tính qui luật của hình
số dưới cành làm cơ sở xác định thể tích đoạn gỗ dưới cành cho một số loài cây rừng tự nhiên ở các tỉnh phía bắc [16] đã khẳng định giữa hình số thường đoạn gỗ dưới cành quan hệ mật thiết với hình số thường thân cây theo dạng tuyến tính bậc nhất Từ đó, các tác giả đã thử nghiệm thành công việc lập biểu thể tích dưới cành chung cho 6 loài: Dung, Giổi, Máu chó, Re, Dẻ và Vải rừng
Đỗ Văn Việt (2010) nghiên cứu mỗi quan hệ giữa thể tích gỗ dưới cành với đường kính, chiều cao và thể tích của thân cây ở một số loài cây rừng tự nhiên [24] đã khẳng định thực sự tồn tại mối liên hệ chặt chẽ giữa thể tích gỗ dưới cành với đường kính và chiều cao theo dạng phương trình Schumacher – Hann, đồng thời có thể thiết lập và sử dụng một dạng phương trình chung cho các loài nghiên cứu
Quan hệ giữa đường kính và chiều cao
Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa đường kính và chiều cao có ý nghĩa rất quan trọng, thông qua tương quan D/H ta có thể xác định được giá trị chiều cao hay cỡ kính ở từng vị trí tương ứng khi biết một nhân tố còn lại Từ
đó làm cơ sở cho việc xác định thể tích thân cây, trữ lượng rừng và lập các biểu chuyên dụng phục vụ công tác điều tra, kinh doanh rừng
Trang 18Đồng Sỹ Hiền (1974) [5] khi nghiên cứu rừng tự nhiên nước ta đã thử nghiệm 5 dạng phương trình tương quan, kết quả cho thấy chúng đều phù hợp
và có khả năng áp dụng:
2 2 1
a
d b a
d b a
d a d a a
3 3 2 2 1
a
Vũ Nhâm (1988) [14] sử dụng phương trình (1.25) để xác lập quan hệ
Hvn/D1.3 cho mỗi lâm phần Thông đuôi ngựa làm cơ sở lập biểu thương phẩm
Bảo Huy (1993) khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng nửa rụng lá,
rụng lá ưu thế Bằng Lăng [7] đã thử nghiệm 4 dạng phương trình:
d b a
d b a
d b a
d b a
Kết quả chọn được phương trình (1.29) là phù hợp nhất
Hoàng Văn Dưỡng (2001) [3] đã sử dụng các dạng phương trình (1.28), (2.29) để nghiên cứu quan hệ Hvn/D1.3 lâm phần Keo lá tràm ở một số tỉnh khu vực Miền Trung Tác giả chọn dạng phương trình (1.28) để biểu thị mối quan hệ
Hvn/D1.3
Trang 19Đào Công Khanh (1996) [8], Trần Cẩm Tú (1999) [19] chọn dạng phương trình logHab.logD1.3 để biểu diễn quan hệ Hvn/D1.3 cho rừng tự nhiên hỗn loài ở Hương Sơn - Hà Tĩnh
Theo nghiên cứu của T.S Phạm Ngọc Giao đối với rừng trồng thuần loài đều tuổi thuộc Trung tâm thực nghiệm Trường Đại học Lâm nghiệp cho thấy quan hệ giữa đường kính gốc (D0) với các nhân tố điều tra khác là rất chặt chẽ (Dẫn theo Đinh Hồng Khanh 2000)
Nguyễn Thành Mến (2005) [13] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên
lá rộng thường xanh sau khai thác ở tỉnh Phú Yên đã sử dụng các hàm:
2 2 1
a
d b a
d b a
b D a
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả bốn hàm đều biểu thị tốt mối quan hệ này Phạm Thế Anh (2001) [1] đã khẳng định giữa chiều cao của cây Lim xanh có quan hệ chặt chẽ với đường kính ngang ngực, đường kính gốc chặt
Dgc hoặc đường kính gốc cây D0 Giữa đường kính ngang ngực D1.3 với đường
Trang 20kính gốc chặt Dgc và đường kính gốc cây D0 luôn tồn tại mối liên hệ mật thiết theo các dạng phương trình:
3 1
ln
b a
gc D b a
0
ln
b a
gc D b a
0 3
Với những kết quả nghiên cứu về phương pháp lập biểu thể tích, mối quan
hệ giữa thể tích với đường kính và chiều cao, đường kính với chiều cao của các tác giả trong và ngoài nước đã được điểm qua ở trên cho thấy: Nhìn chung, đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, xu hướng phát triển về phương pháp nghiên cứu là đi vào định lượng, vì vậy những nghiên cứu đều xuất phát từ cơ sở lý luận về lâm sinh học, để từ đó xây dựng các phương pháp phù hợp cho từng loài cây trong từng điều kiện kinh doanh cụ thể
Trong khuôn khổ và giới hạn của một luận văn cao học không thể nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn bộ các vấn đề đặt ra, chúng tôi chỉ có tham vọng góp phần giải quyết một số khía cạnh có liên quan đến việc xác định thể tích thân cây thông qua kích thước gốc chặt của một số loài cây chủ yếu có giá trị ở rừng tự nhiên vùng Bắc Trung bộ
Trang 21Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Xây dựng cơ sở khoa học cho việc xác định thể
tích gỗ thân cây từ kích thước gốc chặt của một số loài cây khai thác chủ yếu
ở rừng tự nhiên vùng Bắc Trung bộ
Mục tiêu cụ thể: Xác lập được mối quan hệ giữa thể tích gỗ thân cây
với kích thước gốc chặt, từ đó đề xuất phương pháp xác định thể tích gỗ thân cây bị mất cho một số loài cây chủ yếu ở rừng tự nhiên vùng Bắc Trung bộ
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số loài và nhóm loài khai thác chủ yếu ở rừng tự nhiên vùng Bắc Trung bộ Sau khi điều tra, khảo sát sơ bộ
đề tài đã quyết định chọn ra một số loài ở ba tỉnh là Hà Tĩnh, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế làm đối tượng nghiên cứu, trong đó:
2.4 Nội dung nghiên cứu:
2.4.1 Xác định các đặc trưng thống kê về đường kính và chiều cao gốc chặt
- Đường kính gốc chặt (Dgc)
- Chiều cao gốc chặt (Hgc)
Trang 222.4.2 Xác lập quan hệ giữa thể tích thân cây với đường kính và chiều cao gốc chặt
- Thiết lập các phương trình thể tích: V=F(Dgc,Hgc)
- Xác định sai số của các phương trình thể tích
2.4.3 Xác định thể tích thân cây bằng phương trình thể tích và biểu thể tích
đã lập sẵn
- Kiểm tra sự phụ thuộc của đường kính ngang ngực D1.3 vào đường kính gốc chặt Dgc, chiều cao gốc chặt Hgc và đường kính gốc D0
- Xác định quan hệ giữa D1.3 với Dgc hoặc D0
- Xác định quan hệ giữa D1.3 với Dgc và Hgc
- Kiểm tra sự phụ thuộc của chiều cao vút ngọn Hvn vào đường kính gốc chặt Dgc, chiều cao gốc chặt Hgc, đường kính gốc D0
- Xác định quan hệ giữa Hvn với Dgc và Hgc
- Xác định thể tích gỗ thân cây bị chặt thông qua đường kính ngang ngực D1.3 và chiều cao vút ngọn Hvn
- Xác định thể tích gỗ thân cây trên cơ sở sử dụng biểu thể tích lập sẵn
2.4.4 Chọn phương pháp xác định thể tích thân cây thông qua kích thước gốc chặt
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Quan điểm và phương pháp luận
Sử dụng phương pháp điều tra điển hình ở các lâm phần, kết hợp kế thừa những thành quả của các tác giả đi trước làm cơ sở cho việc lựa chọn những mô hình toán học thích hợp, đảm bảo độ chính xác cần thiết và đơn giản khi sử dụng
Trang 232.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu nghiên cứu được kế thừa từ số liệu của đề tài “Xây dựng biểu thể tích thân, cành, ngọn cho một số loài cây khai thác chủ yếu ở rừng tự nhiên của Việt Nam” do GS.TS Vũ Tiến Hinh làm chủ nhiệm
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
2.5.3.1 Xác định đặc điểm gốc chặt
Mô tả các đặc trưng thống kê cho từng chỉ tiêu đường kính và chiều gốc chặt của các loài cây, làm cơ sở cho việc xác định các chỉ tiêu có liên quan đến việc xác định thể tích gỗ thân cây
- Tính các đặc trưng thống kê: Giá trị trung bình (Xtb), sai tiêu chuẩn (S), hệ số biến động (S%), độ lệch (Sk), độ nhọn (Ex) bằng trình lệnh (Analyze – Descriptive – Explore – Statistics - …– Contime – OK)
- Kiểm tra luật phân bố của các chỉ tiêu gốc chặt bằng trình lệnh (Analyze – Nonparametric Tests - SampleKS - …- OK), nếu giá trị Sig > 0.05 thì chỉ tiêu đó tuân theo luật chuẩn và ngược lại
2.5.3.2 Xác lập quan hệ giữa thể tích gỗ thân cây với D gc và H gc
- Thể tích thân cây được xác định theo công thức kép tiết diện bình quân, chia thân cây thành 10 đoạn có độ dài tuyệt đối bằng nhau
V =
10
2 4
2 09 2
02 2 01
2
d d
+ d00, d01, d02…d09 là đường kính tại các vị trí chia
+ h là chiều cao thân cây
Trang 24- Sử dụng 4 dạng phương trình sau để thăm dò mối quan hệ giữa thể tích thân cây (V) và kích thước gốc chặt (Dgc; Hgc) của những cây tính toán:
gc b
Để xác định hệ số của các phương trình, thực hiện các bước sau:
+ Lốc hóa hai vế của các phương trình (2.2), (2.3), (2.4) và (2.5) + Thực hiện trình lệnh D - D - R – OK trên phần mềm Excell office 2007 + Kiểm tra sự tồn tại của hệ số R2bằng việc so sánh giá trị Sig với 0.05, nếu Sig < 0.05 thì R2 thực sự tồn tại và ngược lại
- Sau đó tính sai số thể tích cho từng phương trình:
+ Sai số tương đối tính theo công thức:
) ) (
* 100 (
%
t V
+ Tính sai số trung bình cho từng dạng phương trình theo công thức:
n
n V v
Trang 25∆% : Sai số tương đối
n : Số cây kiểm tra + Tính sai số tổng thể tích theo công thức:
V
V V
Vt : Thể tích gỗ thân cây tính theo công thức (2.1)
Vlt : Thể tích gỗ thân cây theo phương trình thử nghiệm
n : Số cây kiểm tra
- Căn cứ vào hệ số xác định R2, điều kiện tồn tại của hệ số tương quan (Sig), sai số v%
a) Kiểm tra sự phụ thuộc của D1.3 vào Dgc, Hgc, D0
- Thực hiện trình lệnh: (Analyze / Compare Means / One Way ANOVA / Chuyển D1.3 vào Dependent List / Chuyển Dgc, Hgc, D0 vào Factor / OK) trong phần mềm SPSS Nếu giá trị Sig tính được < 0.05 thì hai đại lượng đó phụ thuộc vào nhau và ngược lại
b) Xác định quan hệ giữa D1.3 với Dgc hoặc D0
Kế thừa kết quả nghiên cứu trước đây đề tài sử dụng dạng phương trình sau để mô tả cho mối quan hệ giữa D1.3 với Dgc hoặc D0
Trang 26+ Xác định các hệ số của phương trình bằng trình lệnh : (Data / Data analysis / Regression / Chuyển D1.3 vào Input Y range / Chuyển Dgc hoặc D0
vào Input X range / OK) trên phần mềm Excell office 2007
+ Kiểm tra sự tồn tại hệ số b1 của phương trình:
Với tham số b1:
S
t
b b b
m
i i b m
i i b
W
b W b
W
1 1 1
2 1 1
1
2 1 1 2
) (
1
i b i b S
2
1i
b
S : Là phương sai của hệ số hồi quy b1i
m : Là số loài cây hay số phương trình
05 1
b (k = m – 1 ) thì các hệ số b1i của các phương trình là không thuần nhất với nhau, do vậy không gộp được thành phương trình chung cho các loài
05 1
m
i i b
W
b W b
1 1
1
1 1 1
.
(2.11)
Và hệ số tự do của mỗi phương trình được điều chỉnh theo công thức:
Trang 27i i b
W
b W b
1 0
1
0 0 0
.
(2.13)
Wb0i: Là trọng số của hệ số tự do b0i với 2
0 0 1
i b i b S
2
0i
b
S : Là phương sai của hệ số tự do b0i
Phương trình chung khi đó có dạng: y b0 b1.x
c) Xác định quan hệ giữa D1.3 với Dgc và Hgc
Bằng phương pháp thăm dò đám mây điểm, đề tài đã chọn được các dạng phương trình mô tả cho quan hệ trên như sau:
- Đối với những loài có D1.3 chỉ phụ thuộc vào Dgc, đề tài chọn phương trình dạng (2.9) để mô tả cho quan hệ giữa D1.3 với Dgc
- Đối với những loài có D1.3 phụ thuộc cả vào Dgc và Hgc, đề tài chọn dạng phương trình sau để mô tả cho quan hệ giữa D1.3 với Dgc và Hgc:
D1.3 = b0 +b1.Hgc + b2.Dgc (2.14)
Để xác định các hệ số cho hai dạng phương trình trên thực hiện trình lệnh sau: (Data / Data analysis / Regression / Chuyển D1.3 vào Input Y range / Chuyển Dgc hoặc cả Dgc và Hgc vào Input X range / OK) trên phần mềm Excell office 2007 Nếu giá trị Sig < 0.05 thì thực sự tồn tại R2 trong tổng thể và ngược lại d) Kiểm tra sự phụ thuộc của Hvn vào Dgc, Hgc, D0
Trang 28- Thực hiện trình lệnh: (Analyze / Compare Means / One Way ANOVA / Chuyển Hvn vào Dependent List / Chuyển Dgc, Hgc, D0 vào Factor / OK) trong phần mềm SPSS Nếu giá trị Sig tính được < 0.05 thì hai đại lượng đó phụ thuộc vào nhau và ngược lại
e) Xác định quan hệ giữa Hvn với Dgc và Hgc
- Đối với những loài có Hvn chỉ phụ thuộc vào Dgc, đề tài sử dụng 5 dạng phương trình khác nhau để thăm dò mối quan hệ giữa Hvn và Dgc thông qua phần mềm SPSS 16.0 là:
+ Linear : Y = b0 + b1X (2.15) + Logarithnic : Y = b0 + b1ln(X) (2.16) + In verre : Y = b0 + b1/X (2.17) + Quadeatic : Y = b0 + b1X + b2X2 (2.18)+ PoWer : Y = b0Xb1 (2.19) + Xác định các hệ số và kiểm tra sự tồn tại của phương trình bằng trình lệnh (Analyze – Regression – Curve Estimation - OK) trên phần mềm SPSS Nếu giá trị Sig < 0.05 thì tồn tại phương trình và ngược lại
+ Kiểm tra sự tồn tại các hệ số của phương trình trong tổng thể bằng trình lệnh (Analyze – Regression – Curve Estimation - Display ANOVA table –OK), Nếu giá trị Sig < 0.05 thì các hệ số của phương trình thực sự tồn tại trong tổng thể và ngược lại
+ Chọn ra phương trình có hệ số R2 cao nhất, mô phỏng cho mối quan
hệ giữa chiều cao Hvn với đường kính Dgc của đối tượng nghiên cứu
- Đối với những loài có Hvn phụ thuộc cả vào Dgc và Hgc, khi thăm dò bằng đám mây điểm cho thấy, Hvn có quan hệ với Hgc theo dạng phương trình (2.15) và quan hệ với Dgc theo dạng phương trình (2.18), do vậy đề tài đã
Trang 29chọn phương trình có dạng sau để mô tả cho mối quan hệ giữa Hvn với Dgc và
Hgc:
Hvn = b0 + b1.Hgc + b2.Dgc + b3.Dgc2 (2.20) + Để xác định các hệ số của phương trình thực hiện trình lệnh sau: (Data / Data analysis / Regression / Chuyển Hvnvào Input Y range / Chuyển
Dgc và Hgc vào Input X range / OK) trên phần mềm Excell office 2007 Nếu giá trị Sig < 0.05 thì thực sự tồn tại R2 trong tổng thể và ngược lại
f) Xác định quan hệ giữa thể tích thân cây với D1.3 và Hvn
Như vậy là từ chỉ tiêu Dgc tính Hvn và D1.3 thông qua các quan hệ đã xác lập ở trên, sau đó sử dụng 4 dạng phương trình sau để thăm dò quan hệ giữa thể tích thân cây V với Hvn và D1.3 của những cây tính toán
c vn b
H kD
vn
H bD a
vn
bH a
b vn
H D k
Đến đây phương pháp xác định phương trình quan hệ giữa thể tích thân cây với đường kính D1.3 và Hvn tương tự như phương pháp xác định quan hệ giữa thể tích thân cây với Dgc và Hgc
g) Xác định thể tích thân cây từ biểu thể tích đã lập sẵn
- Xác định hình số tự nhiên f01 thực cho từng cây tính toán:
Vvt
V
Trong đó:
f01i : là hình số tự nhiên của cây thứ i
Vt : là thể tích thực của cây tính theo công thức (2.1)
Trang 30Vvt : là thể tích của hình viên trụ có chiều dài bằng chiều cao thân cây và diện tích đáy bằng tiết diện ở độ cao 1/10 thân cây
- Hình số tự nhiên bình quân cho từng loài cây tính theo công thức:
n
f f
n i
1 01
Trong đó: n: là số cây dùng để tính toán cho từng loài
- Căn cứ vào hình số tự nhiên bình quân f01, xác định tổ hình dạng tương ứng cho loài cây (Theo Sổ tay điều tra quy hoạch rừng 1995) Từ đó, dựa vào tổ hình dạng f01 và các chỉ tiêu Hvn và D1.3 đã xác định ở trên tra biểu được thể tích thân cây Sau đó tính sai số xác định thể tích cho từng loài theo công thức (2.7) và (2.8)
2.5.3.4 Chọn phương pháp xác định thể tích thân cây thông qua kích thước gốc chặt
Đối với mỗi phương pháp chọn ra phương trình mô tả tốt nhất cho quan
hệ giữa thể tích thân cây với các nhân tố điều tra Sau đó dùng tài liệu khách quan gồm 339 cây không tham gia vào việc xác lập các phương trình làm đối chứng để kiểm nghiệm Tính sai số % giữa giá trị xác định bằng phương pháp V= f(Dgc; Hgc) và V = f(D1.3.; Hvn) với giá trị thực tính bằng công thức (2.1)
Từ đó chọn được phương pháp tốt nhất
Trang 31Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trong chương 2, đề tài đã giới thiệu những vấn đề chung nhất về mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở số liệu kế thừa và tài liệu hiện có, chương 3 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu riêng cho từng nội dung
3.1 Khái quát số liệu nghiên cứu
Với phương pháp kế thừa nguồn số liệu hiện có từ đề tài “Xây
dựng biểu thể tích thân, cành, ngọn cho một số loài cây khai thác chủ yếu ở rừng tự nhiên của Việt Nam”, tác giả đã lựa chọn được 30 loài,
với tổng số 1547 cây thuộc ba tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế làm đối tượng nghiên cứu (bảng 3.1) Trong đó có 1028 cây dùng để tính toán và thiết lập phương trình, 339 cây dùng để tính sai
số khi thiết lập các phương trình Các loài cây nghiên cứu phần lớn thuộc tổ hình dạng 1 và 3 (Theo thang phân chia của Đồng Sĩ Hiền [1974], là những loài thường gặp trong các khu rừng tự nhiên ở Bắc Trung bộ
Trong các loài cây nghiên cứu, có một số loài mang tên địa phương đặc trưng của vùng Bắc Trung bộ, do đó làm cho nhiều người rất dễ bị nhầm lẫn Để thuận tiện cho việc áp dụng kết quả nghiên cứu sau này, đề tài đã thống kê đầy đủ tên địa phương, tên phổ thông và tên khoa học cho các loài cây tương ứng Kết quả chi tiết xem phụ biểu 01
Trang 32Bảng 3.1: Khái quát số liệu nghiên cứu
Nhóm
gỗ
Ghi chú
Hà Tĩnh
TT Huế
Trang 33Kết quả cho thấy, các loài cây nghiên cứu chủ yếu thuộc nhóm gỗ từ nhóm V đến nhóm VII, là những loài sinh trưởng trung bình, thường gặp trong các khu rừng tự nhiên ở vùng Bắc Trung Bộ Một số loài thuộc nhóm gỗ
II và III chủ yếu chỉ có ở Quảng Bình, đây là những loài quý hiếm, có tính chất cơ lý cao, sinh trưởng trưởng chậm và là đối tượng đang bị khai thác cạn kiệt ở Việt Nam
Trên thế giới quy trình, quy phạm về khai thác gỗ ở các nước phát triển được thực hiện và giám sát một cách chặt chẽ Theo đó thì chiều cao gốc chặt
ở Châu Âu được quy định bằng 2/3 đường kính gốc chặt, điều này có nghĩa là chiều cao gốc chặt tỷ lệ thuận với đường kính gốc chặt của từng loài cây và chúng có quan hệ với nhau rất chặt chẽ Tuy nhiên, ở một số nước lại quy định chiều cao gốc chặt là cố định khi khai thác gỗ như ở Mỹ là 12 inch (≈ 30cm)
Trong số liệu nghiên cứu này, chiều cao gốc chặt của các loài phần lớn dao động từ 30 – 70cm, như vậy là khá sát với thực tế khi thiết kế khai thác
gỗ lớn của rừng tự nhiên ở Việt Nam Tuy nhiên, trong thực tế việc khai thác
gỗ trái phép thường có chiều cao gốc chặt lớn hơn, bởi lẽ đối tượng khai thác không có đủ điều kiện và thời gian để tận dụng lượng gỗ sát mặt đất Đây có thể là một hạn chế khi áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn
Đường kính D1.3 của các loài dao động khá lớn, nhỏ nhất là 25cm, lớn nhất là 111cm, chủ yếu các loài có đường kính D1.3 từ 40 – 80cm Đây là những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, nên đã và đang bị đe dọa bởi các đối tượng chặt phá rừng
Trang 34Bên cạnh đó việc xác định các đặc trưng thống kê còn cho biết dạng phân bố, mức độ tập trung và đồng đều của các chỉ tiêu gốc chặt cho mỗi loài
a) Đối với chiều cao gốc chặt (Hgc), các đặc trưng thống kê được tổng hợp ở bảng 3.2
Bảng 3.2: Tổng hợp các đặc trưng thống kê chiều cao gốc chặt
Ghi chú
Hà Tĩnh
Trang 35- Kết quả cho thấy, trị số trung bình Hgc của các loài chủ yếu dao động xung quanh giá trị 50cm, một số loài ở Thừa Thiên Huế giá trị này cao hơn rõ rệt như loài Ươi, Trò, Dầu, Trám chủa Điều này chứng tỏ việc quy định chiều cao gốc chặt ở vùng Bắc Trung bộ nói riêng và ở Việt Nam nói chung là chưa có sự thống nhất một cách chặt chẽ, đây có thể là một hạn chế khi nghiên cứu về mối quan hệ của chiều cao gốc chặt với các nhân tố khác
- Hệ số biến động của Hgc trong từng loài khá lớn (đa số lớn hơn 10%), có đến 17 loài có giá trị độ nhọn Ex < 0, điều này khẳng định thêm
là chiều cao Hgc của các loài biến động lớn và không tập trung
- Độ lệch Sk giữa các loài cũng không đồng nhất, có 18 loài có Sk <
0, đây là những loài mà số cây có Hgc > Xbq chiếm đại đa số Trường hợp ngược lại, có 13 loài có Ex > 0 và 12 loài có Sk > 0, đây là những loài có
Hgc biến động nhỏ, tập trung và số cây có Hgc < Xbq chiếm đa số
- Kết quả kiểm tra giả thiết thống kê về luật phân bố cho thấy, phân
bố N - Hgc tuân theo luật chuẩn là chủ yếu (Sig > 0.05), do vậy có thể sử dụng giá trị trung bình làm đại diện cho loài đó trong những trường hợp cần thiết
Trang 36b) Đối với đường kính gốc chặt (Dgc), các đặc trưng thống kê được tổng hợp ở bảng 3.3
Bảng 3.3: Tổng hợp các đặc trưng thống kê đường kính gốc chặt
Ghi chú
Hà Tĩnh