SLIMF Rừng quản lý theo quy mô nhỏ đầu tư thấp CITES Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã FLEGT Thực thi luật lâm nghiệp và thương mại LACEY Tên 1 đạo luật củ
Trang 1DƯƠNG DUY KHÁNH
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH CHỨNG CHỈ RỪNG THEO NHÓM CÁC HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT TẠI XÃ TRUNG SƠN, HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2011
Trang 2-
DƯƠNG DUY KHÁNH
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH CHỨNG CHỈ RỪNG THEO NHÓM CÁC HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT TẠI XÃ TRUNG SƠN, HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TSKH NGUYỄN NGỌC LUNG
HÀ NỘI, 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Lâm học và các Giảng viên trường đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Nguyễn Ngọc Lung - Người hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ thuộc Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để hoàn thành Luận văn này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến gia đình; các anh, chị em và bạn bè trong lớp học, các đồng nghiệp, những người đã đóng góp, giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ, hướng dẫn và chỉ bảo từ GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung Các nội dung nghiên cứu trong đề tài này là trung thực, các số liệu tham khảo có trích dẫn rõ ràng, các kết quả nghiên cứu chưa từng được ai công bố trong bất cứ các công trình nghiên cứu nào trước đây
Nếu có phát hiện bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình
Xin trân trọng cảm ơn,
Tác giả
Dương Duy Khánh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan về chứng chỉ rừng 5
1.1.1 Hội đồng quản trị rừng-FSC 5
1.1.2 Chứng chỉ rừng và sự phát triển 6
1.1.2.1 Trên thế giới: 6
1.1.2.2 Tại Việt Nam 9
1.1.3 Cơ chế hoạt động của CCR: 11
1.1.3.1 Cơ sở đánh giá CCR 11
1.1.3.2.Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 15
1.1.3.3 Đơn vị cấp chứng chỉ 16
1.2 Tình hình xuất, nhập khẩu gỗ có CCR tại Việt Nam 19
1.2.1 Tình hình xuất khẩu gỗ: 19
1.2.2 Tình hình nhập khẩu gỗ: 25
1.3 Tiếp cận với cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam 29
1.4 Các khó khăn trong quản lý rừng ở cấp quy mô nhỏ, lẻ khi tiếp cận với chứng chỉ rừng và quản lý rừng bền vững 32
Chương 2: MỤC TIÊU, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 36
2.2 Cơ sở khoa học 36
Trang 52.3 Tính khả thi của đề tài 37
2.4 Phạm vi nghiên cứu 37
2.5 Nội dung nghiên cứu 37
2.6 Phương pháp nghiên cứu: 38
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 39
3.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 39
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
3.1.1.1.Vị trí địa lý 39
3.1.1.2 Địa hình 39
3.1.1.3 Khí hậu - Thủy văn 40
3.1.1.4.Tài nguyên đất 42
3.1.1.5 Tình hình sử dụng đất toàn huyện 44
3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 44
3.1.2.1 Dân số huyện Gio Linh 44
3.1.2.2 Thành phần dân tộc 45
3.1.2.3 Lao động 45
3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng 45
3.1.3 Tài nguyên rừng 47
3.1.3.1 Hệ thực vật 48
3.1.3.2 Hệ động vật 48
3.2 Tổng quan về xã Trung Sơn [16] 49
3.2.1 Điều kiện tự nhiên 49
3.2.2 Các nguồn tài nguyên, khoáng sản 50
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
4.1 Tình trạng trồng, chăm sóc, bán sản phẩm gỗ keo tại địa phương 52
4.2 Diện tích rừng trồng đã được cấp chứng chỉ và quy trình cấp chứng chỉ FSC 54
4.3 Tổng quan mô hình CCR nhóm hộ gia đình thành công tại Gio Linh 59
4.3.1 Tổng quan về nhóm CCR 59
Trang 64.3.2 Cơ cấu tổ chức nhóm: 59
4.3.3 Hoạt động nhóm: 61
4.3.4 Quỹ phát triển nhóm: 65
4.3.5 Một số khó khăn trong công tác quản lý nhóm 66
4.4 Các khó khăn hiện các hộ trồng rừng đang gặp phải và các giải pháp thông qua cấp CCR 67
4.5 Đánh giá các lợi ích của người dân và của xã hội khi nhóm hộ tham gia được cấp CCR 70
4.5.1 Đánh giá về lợi ích kinh tế 70
4.5.2 Đánh giá lợi ích về mặt xã hội 76
4.5.3 Đánh giá về lợi ích môi trường và quản lý rừng bền vững 78
4.6 Các đề xuất bổ sung về chính sách và hướng dẫn thực hiện CCR theo nhóm hộ phù hợp với điều kiện thực tế tại vùng nghiên cứu 80
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
5.1 Kết luận 89
5.1.1 Kết quả chính của đề tài 89
5.1.2 Các điểm mới của đề tài 90
5.2 Khuyến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7SLIMF Rừng quản lý theo quy mô nhỏ đầu tư thấp
CITES Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã
FLEGT Thực thi luật lâm nghiệp và thương mại
LACEY Tên 1 đạo luật của Mỹ về nguồn gốc gỗ
KfW Ngân hàng tái thiết Đức
SECO Cục kinh tế liên bang Thụy Sỹ
GFTN Mạng lưới thương mại lâm sản toàn cầu
EU Cộng đồng các nước châu Âu
VIFORES Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam
CoC Chuỗi hành trình sản phẩm
GFA Công ty tư vấn cấp chứng chỉ của Đức
SNV Tổ chức phát triển Hà Lan
VCG Nhóm chứng chỉ rừng cấp thôn
WWF Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1.1 Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phầm gỗ 6 tháng đầu năm 2011 24 1.2 Thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2011 28 3.1 Số liệu bình quân 5 năm các chỉ tiêu nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa 42
3.3 Hiện trạng rừng huyện Gio Linh phân theo chức năng 47 4.1 Tổng diện tích rừng trồng keo có sổ đỏ xã Trung Sơn 52 4.2 Tổng hợp diện tích và lượng gỗ khai thác rừng có chứng chỉ
tại xã Trung Sơn (thôn Kinh Môn và Giang Xuân Hải) 71 4.3 Các chi phí cho cấp chứng chỉ (áp dụng cho diện tích dưới 2000ha) 72 4.4 Kinh phí thực hiện dự án cho nhóm Kinh Môn và Giang Xuân Hải 76
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
3.2 Sơ đồ tổng quát địa giới hành chính xã Trung Sơn 50 4.1 Sơ đồ diện tích các lô rừng được cấp chứng chỉ năm 2010 56 4.2 Phân tích chi phí khi đầu tư cho 3 loại rừng có và không có FSC 73 4.3 Phân tích thu nhập với loại gỗ tròn và gỗ dăm có và không có FSC 75
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, luật Bảo vệ và phát triển rừng cũng như Chiến lược lâm nghiệp Quốc Gia đã có những định hướng rõ ràng về quản lý rừng bền vững, tuy nhiên nó vẫn chưa xây dựng được chính sách quản lý rừng (QLR) bền vững cho nhiều loại rừng hiện có của nước ta hiện nay, đặc biệt là rừng trồng do các
hộ gia đình, các tổ chức cá nhân quản lý, khai thác và sử dụng Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp Quốc Gia năm 2006 -2020, nhiệm vụ của ngành lâm nghiệp cần phải quản lý bền vững 8,4 triệu ha rừng sản xuất trong đó có 4,15 triệu ha rừng trồng bao gồm rừng nguyên liệu công nghiệp tập trung, lâm sản ngoài gỗ , 3,36 triệu ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên và 0,62 ha rừng tự nhiên phục hồi sản xuất nông lâm kết hợp Bên cạnh đó, ngành lâm nghiệp còn quản lý bền vững 5,6 triệu ha rừng phòng hộ và 2,16 triệu ha rừng đặc dụng [12]
Chứng chỉ rừng là một công cụ quan trọng trong việc quản lý bền vững rừng, đặc biệt là rừng kinh doanh, thực chất đây là chứng chỉ ISO cung cấp cho các đơn vị kinh doanh rừng, kinh doanh gỗ và lâm sản Cho đến nay, đối tượng rừng được cấp chứng chỉ tương đối rộng bao gồm cả chứng chỉ cho rừng tự nhiên và rừng trồng Trên thế giới, có khá nhiều nước áp dụng mô hình chứng chỉ rừng và đã góp phần lớn trong việc quản lý rừng bền vững, đặc biệt là các khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng đặc dụng, bên cạnh đó chứng chỉ rừng còn mang lại các lợi ích về mặt kinh tế, xã hội và môi trường cho con người Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, khái niệm về chứng chỉ rừng còn rất mới mẻ, có rất ít các công ty lâm nghiệp, các tổ chức, cá nhân quan tâm đến nó,
có khi có quan tâm nhưng thực tế chưa biết bắt đầu từ đâu
Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá mô hình chứng chỉ rừng (CCR) thành công để đề xuất các giải pháp, thậm chí bổ sung để hoàn thiên các tiêu chí đã và được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước quan tâm Nó góp phần không nhỏ trong việc cải thiện các chính sách quản lý rừng bền vững và hỗ trợ người dân trong việc kinh doanh rừng đảm bảo được các yêu cầu về môi trường, kinh
tế và xã hội
Trang 11Trong vài thập kỷ qua, cảnh quan rừng tự nhiên nguyên sinh tại Việt Nam nói chung và khu vực miền Trung Việt Nam nói riêng đang có chiều hướng suy thoái nghiêm trọng Hiện tại tại khu vực miền Trung Việt Nam có diện tích khoảng 7.300 km2, đã suy thoái và phân mảnh nghiêm trọng do các nguyên nhân như hậu quả chiến tranh, khai thác gỗ bất hợp pháp, các tập quán canh tác lâm nghiệp không bền vững và sự bành trướng của các giống cây ngoại lai Việc độc canh cây Keo và các loài cây khác tạo ra sự phân mảnh hơn là tái kết nối cảnh quan rừng Các khu rừng tự nhiên có giá trị bảo tồn cao suy thoái đang liên tục được chuyển đổi thành các khu vực trồng cây rừng cho kinh tế với các chu kỳ kinh doanh ngắn hạn Nếu sự việc này vẫn được tiếp tục diễn ra với tốc độ ngày càng tăng và tính nguyên vẹn của hệ sinh thái không được phục hồi, nhiều loài đặc hữu tại khu vực sẽ đối mặt với sự tuyệt chủng trong tương lai gần Việc quản
lý các khu vực rừng trồng cũng chưa được trú trọng, các khu rừng mang tính phòng hộ vẫn được khai thác bừa bãi tùy vào điều kiện kinh tế của từng hộ làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phòng hộ của rừng
Trên thế giới cũng như ở Viêt Nam, sự thành công của việc chứng chỉ cho các đơn vị QLR (forest management unit) rộng lớn như Cty lâm nghiệp, lâm trường quốc doanh, liên hiệp sản xuất, HTX lâm nghiệp đã được khẳng định trong 15 năm nay, ví dụ ở Viêt Nam Công ty trồng rừng QFPL Quy Nhơn, lâm trường Đoan Hùng, lâm trường Vân Đài (Phú Thọ) đã được cấp chứng chỉ QLR bền vững, nhưng chứng chỉ QLR bền vững cho cá nhân hay hộ gia đình với quy
mô nhỏ từ vài ba ha tới vài ba chục ha (gọi là SLIMF) gộp lại thành nhóm thì đây là mô hình đầu tiên, nếu có kinh nghiệm tốt sẽ có tác động lớn đến diện tích rừng phân tán nhưng diện tích rừng rất rộng lớn của người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa Có thể nói „Chứng chỉ rừng (Forest Certification) chính là sự xác nhận bằng văn bản rằng một đơn vị quản lý rừng đã đạt được các tiêu chuẩn quản lý rừng của tổ chức cấp chứng chỉ“ [12]
Hiện nay, nhiều người tiêu dùng đã nhận thức được tầm quan trọng của các mặt hàng đồ gỗ được cấp chứng chỉ rừng, thậm chí hội người tiêu dùng tại Anh, Hà Lan còn có xu hướng tẩy chay sử dụng các loại hàng không có nguồn
Trang 12gốc xuất xứ Nhu cầu đối với gỗ nhiệt đới đã được chứng chỉ ở thị trường châu
Âu và Mỹ đã vượt quá cung Hiện có hơn 8.000 sản phẩm trên khắp thế giới có mang biểu trưng của chứng chỉ rừng FSC (Hội đồng quản trị rừng thế giới) từ cửa gỗ đến lược chải đầu, từ văn phòng phẩm đến giấy vệ sinh Ngày nay, mạng lưới lâm sản toàn cầu, một nhóm các tổ chức và công ty cam kết sản xuất và buôn bán gỗ và lâm sản đã được chứng chỉ, đã có mạng lưới ở 18 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới với hơn 600 thành viên Theo kết quả thống kê nhu cầu
sử dụng hàng có chứng chỉ rừng đã gia tăng với tỉ lệ 2-3% mỗi năm ở Anh Ở Hà Lan có 500 công ty cùng với nhà nhập khẩu gỗ nhiệt đới lớn nhất ở châu Âu và lớn thứ 2 trên toàn thế giới, hiện đã cam kết chỉ mua sản phẩm đã có GSC Các mạng lưới bán lẻ rất lớn từ Anh và Mỹ cũng hoạt động với vai trò xúc tác cho những thay đổi bởi họ đang gia tăng yêu cầu cung cấp gỗ đã được chứng chỉ [41]
FSC gọi phương pháp này là CCR theo nhóm, phương pháp này có điều kiện mở rộng vì nhà nước Viêt Nam đã giao quyền quản lý sử dụng tới 3,287 triệu ha rừng trồng và rừng tự nhiên cho hộ gia đình và cá nhân (TCLN, 2010),
và đề tài luận văn này sẽ cố gắng nghiên cứu để bổ sung đóng góp cho mô hình này sao cho ngày càng phù hợp với thể chế chính sách , luật tục và truyền thống canh tác, quản lý của địa phương Mặc dù chứng chỉ rừng vừa có thể tăng khả năng tiếp cận thị trường, vừa đem lại lợi ích về mặt kinh tế, môi trường và xã hội cho người dân nhưng nó cũng đòi hỏi khung chính sách có tính chất hỗ trợ từ các cấp chính quyền địa phương, trung ương đến các cộng đồng quốc tế để nó có thể thực tế hóa các tính năng đó Quá trình áp dụng chứng chỉ rừng tại nước ta cần phải xem xét đánh giá lại một cách có hệ thống đảm bảo giảm thiểu các tác động tiêu cực và đẩy mạnh công tác quản lý rừng có trách nhiệm Trên cơ sở đó đúc rút kinh nghiệm để có thể áp dụng đảm bảo chứng chỉ rừng là một trong những công cụ quan trọng trong việc quản lý rừng bền vững và có trách nhiệm
Tiêu chuẩn QLRBV là mức độ cao chung cho toàn thế giới, thể chế và các chính sách QLR ở mỗi vùng, mỗi quốc gia lại khác nhau, vì vậy thông qua việc đánh giá của tổ chức cấp CCR, ta có điều kiện xem xét sự chênh lêch của các quy định đó không những chỉ nhằm đưa năng lực QLR của ta dần dần đạt tới
Trang 13trình độ quốc tế, mà còn tạo điều kiện dễ dàng cho các chủ rừng Việt Nam thuận lợi trong việc xin cấp CCR, đó cũng chính là mục đích, là nội dung đóng góp của công trình này vào việc thực hiện tiến trình QLRBV trong chiến lược phát triển lâm nghiệp 1996-2020[12]
Với mục tiêu nhằm chuyển hướng lại xu thế này cũng như để giảm thiểu các tác động tiêu cực, quản lý rừng có trách nhiệm đảm bảo không ảnh hưởng đến công tác phòng hộ của rừng được nhiều cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước quan tâm Hiện tại trên địa bàn tỉnh Quảng Trị cũng có nhiều các tổ chức,
cá nhân khác nhau tham gia vào hoạt động hỗ trợ các hộ gia đình cấp chứng chỉ rừng nhằm đảm bảo được chu kỳ kinh doanh dài hơn cho rừng và tăng cường thu nhập cho người dân thông qua việc bán gỗ có chứng chỉ Tuy nhiên hoạt động này mới thực hiện được một số ít các điểm trên địa bàn của tỉnh Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu đánh giá mô hình Chứng chỉ rừng theo hướng quản lý từng bền vững theo nhóm hộ gia đình tại xã Trung Sơn, huyện Gio Linh nhằm bổ sung hướng dẫn chứng chỉ rừng theo nhóm phù hợp với điều kiện Miền Trung Việt Nam là vấn đề cấp thiết, cần thiết phải thực hiện để nhân rộng, đảm bảo cho việc duy trì và phát triển hệ sinh thái, cảnh quan rừng một cách bền vững hơn
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về chứng chỉ rừng
1.1.1 Hội đồng quản trị rừng-FSC
Hội đồng quản trị rừng (FSC) là một mạng lưới toàn cầu, được thành lập vào tháng 10 năm 1993 tại Toronto, Canada với 130 thành viên đến từ 26 quốc gia Trong những ngày đầu, tổ chức đặt trụ sở tại Oaxaca, Mehico, sau này chuyển đến thành phố Bonn của CHLB Đức Sau khi được thành lập, tổ chức này được đông đảo các tổ chức về kinh tế, xã hội và môi trường quan tâm, tín nhiệm Họ cũng đã đưa ra được 10 nguyên tắc và nhiều các tiêu chí về quản lý rừng bền vững, có trách nhiệm làm căn cứ đánh giá thẩm định chứng chỉ rừng, các tiêu chí chi tiết dựa vào từng nguyên tắc cụ thể Trên thực tế, hội đồng quản trị rừng không trực tiếp cấp chứng chỉ cho các đơn vị tập thể hoặc cá nhân mà họ
ủy quyền cho các đơn vị cấp chứng chỉ có uy tín trên thế giới thực hiện các hoạt động đánh giá, thẩm định và cấp chứng chỉ Cho đến nay có đến 27 tổ chức được
ủy quyền cấp chứng chỉ rừng trong đó có các tổ chức lớn, có tên tuổi và uy tín như Smartwood, GFA, SCS [29]
Tại Thụy Điển hàng năm có lớp đạo tạo quốc tế SSC Forestry (Svensk Skogscertifiering AB) về Chứng Chỉ Rừng (CCR) để giúp các nước trên thế giới đào tạo nguồn nhân lực cho các quốc gia có nhu cầu thành lập các tổ chức sáng kiến quốc gia hay CCR Quốc gia để thực hiện quản lý bảo vệ rừng bền vững
Ở Việt nam, năm 1998 đã thành lập Tổ công tác Quốc Gia về QLRBV và CCR.(NWG), từ năm 2006 đổi tên là Viện QLRBV & CCR (SFMI), được FSC gọi chung là sáng kiến quốc gia
Mục tiêu của Hội đồng quản trị rừng (FSC) là thúc đẩy quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có ích lợi về mặt xã hội và có thể
Trang 15thực hiện được về mặt kinh tế Để thực hiện được mục tiêu này, FSC đã đưa ra các tiêu chí thực hiện là:
- Đẩy mạnh việc áp dụng các nguyên tắc và tiêu chí về quán lý rừng đối với tất cả các loại rừng trên toàn thế giới thông qua một chương trình ủy nhiệm tình nguyện cho các cơ quan cấp chứng chỉ
- Tiến hành các hoạt động giáo dục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc tăng cường quản lý rừng
- Hướng dẫn và giúp đỡ các đơn vị, tổ chức, cá nhân, các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý rừng, các cơ quan lập phápvề lĩnh vực quản lý rừng
FSC cũng khuyễn khích và hỗ trợ các sáng kiến quốc gia và khu vực nhằm phi tập trung công việc và thúc đẩy sự tham gia của địa phương như: người liên hệ với FSC, nhóm làm việc FSC, Văn phòng FSC cấp quốc gia, vùng
Vấn đề cấp chứng chỉ rừng như là một biện pháp đảm bảo quản lý rừng bền vững và hợp lý về mặt môi trường Vấn đề này có thể sẽ gây ra nhiều mối lo ngại hơn là đóng góp một phần vào việc bảo tồn nguồn tài nguyên rừng đang bị cạn kiệt Tình hình ngày càng căng thẳng khi việc cấp CCR gây nhiều tranh cãi
và lộn xộn như hiện nay Tuy nhiên FSC cũng đã chứng minh được tính khách quan và thực tế của mình trong việc đánh giá, cấp chứng chỉ và đặc biệt nó nhấn mạnh nhiều được về các điểm môi trường, kinh tế và xã hội, do vậy nó được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn trong việc đánh giá và cấp chứng chỉ hiện tại
1.1.2 Chứng chỉ rừng và sự phát triển
1.1.2.1 Trên thế giới:
Trên thế giới chứng chỉ rừng được xem xét từ nhiều khía cạnh nhưng thường thì được coi là một công cụ hỗ trợ chính sách đồng thời đó cũng làm một quá trình giúp cho công tác quản lý rừng tại địa phương được tốt hơn Trong cả hai trường hợp nêu trên thì chứng chỉ rừng có 02 mục tiêu chính là: (1) Cải thiện thực tiễn quản lý rừng và (2) tạo ra những thuận lợi về mặt thị trường cho người sản xuất và các sản phẩm được cấp chứng chỉ Việc sử dụng các công cụ kinh tế
Trang 16để bảo vệ môi trường được các chuyên gia về kinh kế và các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới (OECD-Tổ chức phát triển kinh tế hoặc WB-ngân hàng thế giới) khuyến khích trong gần hai thập kỷ qua Trong một đánh giá gần đây, tổ chức phát triển quốc tế (OECD) đã coi chứng chỉ làm một khuyến khích kinh tế gián tiếp với định nghĩa là: “Bất kỳ một cơ chế nào tạo ra hoặc cải thiện các tín hiệu thị trường và giá cả đối với tài nguyên sinh học, khuyến khích bảo tồn và sử dụng bền vững tính đa dạng sinh học”
Tại Đức, chính phủ thông báo chỉ mua gỗ có nguồn gốc hợp pháp trên cơ
sở quản lý rừng bền vững Hệ thống cấp chứng chỉ PEFC được sử dụng như một công cụ chứng minh tính hợp pháp của gỗ và các sản phẩm làm từ gỗ Chính phủ liên bang đã xây dựng bộ quy chế nhằm chống lại việc khai thác gỗ bất hợp pháp
và khẳng định để ngăn chặn sự suy thoái của rừng thì việc áp dụng các phương pháp quản lý rừng bền vững là một việc làm bắt buộc và rất cần thiết
Tại Phần Lan, lâm nghiệp được quản lý ở quy mô nhỏ với cấp hộ gia đình
là chính Tại đây hiện tại có hơn 400 nghìn chủ sở hữu rừng quy mô nhỏ cung cấp tới hơn 80% tổng số gỗ cho cả nước với quy mô hơn 60% sở hữu với diện tích nhỏ hơn 20ha Việc cấp chứng chỉ ở đây được thực hiện từ những năm 1990 theo hình thức tự nguyện, các chủ rừng có thể làm đơn xin cấp chứng chỉ cho cá nhân hoặc theo nhóm Việc thanh tra kiểm tra sẽ được tiến hành hàng năm áp dụng cho các chủ rừng được lựa chọn bất kỳ, kết quả thanh tra do một cơ quan độc lập thẩm định Hiện tại hệ thống cấp chứng chỉ rừng của Phần lan có 37 tiêu chuẩn áp dụng trên toàn quốc
Tại Thụy Điển, FSC thành lập một nhóm xây dựng bộ chứng chỉ từ năm
1996, thành phần của nhóm xây dựng bao gồm đại diện các doanh nghiệp lâm nghiệp, chính quyền, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ và đến năm 1998 nội dung cơ bản của bộ công cụ đã được hoàn thành Hệ thống chứng chỉ rừng ở đây có thể được đánh giá là nghiêm khắc nhất trong tất các các hệ thống đang áp dụng cấp chứng chỉ hiện nay trên thế giới Nó được xây dựng với
Trang 17mục tiêu bảo tồn thiên nhiên trong cả các khu vực rừng sản xuất vì vậy những chủ rừng lớn và các cơ quan trong chính phủ phải lồng ghép những quy định bắt buộc đó vào các văn bản hướng dẫn Cũng tại nước này, các tiêu chuẩn cấp chứng chỉ rừng của FSC là điều kiện bắt buộc phải thực hiện do vậy sản lượng rừng của nước này tăng lên đáng kể Hiệp hội liên minh các chủ rừng ban đầu rất tích cực tham gia đàm phán về hệ thống các tiêu chuẩn của FSC, tuy nhiên nhiều tiêu chuẩn trong hệ thống không được họ đồng tình và hệ thống cấp chứng chỉ của Thụy Điển bị chỉ trích dữ dội từ phí các chủ rừng Một trong những nguyên nhân chủ yếu là tiêu chuẩn ở đây không phù hợp với các chủ rừng quy mô nhỏ với diện tích nhỏ là các cá nhân hộ gia đình FSC cũng có đề nghị cấp chững chỉ cho một nhóm các hộ gia đình chủ rừng nhỏ nhưng hiệp hội liên minh rừng không đồng ý, họ cho rằng không thể cấp chứng chỉ cho hàng ngàn chủ hộ có diện tích rừng quy mô nhỏ trong khi các hoạt động buôn bán lâm sản của họ diễn
ra ở khắp nơi, như vậy khó có thể truy xuất ra nguồn gốc nguyên liệu gỗ để sản xuất ra sản phầm Các chủ rừng giữ quan điểm cho rằng hệ thống cấp chứng chỉ phải được hài hòa cấp quốc tế và là quy tắc tương đồng với tiêu chuẩn của các nước khác Như vậy có thể đánh giá bộ tiêu chuẩn FSC tại đây đã gây ra thiệt hại
về kinh tế với chủ rừng là tư nhân hoặc các hộ gia đình cá nhân vì theo ước tính của FSC nếu áp dụng tiêu chuẩn đó thì sẽ có tới 14% diện tích rừng không được khai thác để dùng cho mục tiêu bảo tồn
Tại Canada, chính phủ nước này chính thức cam kết quản lý rừng bền vững bằng việc xây dựng và phê duyệt chiến lược lâm nghiệp quốc gia và quản
lý rừng bền vững vào năm 1992 Hiện nay Canada có tới hơn 20triệu ha rừng đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững lớn nhất trên thế giới
Tại Châu Á, từ những năm 1990, khi thảo luận về các vấn đề về rừng thì việc quản lý rừng bền vững và cấp CCR luôn được thảo luận sôi nổi hơn cả, việc đưa ra các tiêu chuẩn cũng được cân nhắc để đảm bảo tính hợp lý và phù hợp với chính sách của từng nước khác nhau Tuy nhiên do ở Châu Á có nhiều kiểu rừng
Trang 18khác nhau nên việc đưa ra một bộ tiêu chuẩn để áp dụng chung vẫn chưa thực hiện được Cấp CCR được khẳng định là công cụ quan trọng và là công cụ chính sách mạnh mẽ nhất trong quản lý rừng được các nước trong khu vực Châu Á khẳng định Để tham gia vào các hoạt động cấp CCR theo các nước trên thế giới, Châu Á cũng dần dần tham gia vào các hoạt động cho việc cấp CCR như: tham gia vào các cuộc họp thượng đỉnh Trái đất năm 1992 và là thành viên của tổ chức ITTO, xây dựng các bảng tiêu chuẩn quốc gia dựa trên các nguyên tắc và tiêu chí của FSC và đã có một số diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng được cấp CCR Tuy nhiên thành tựu của các nước Châu Á còn bị hạn chế nhiều do gặp nhiều khó khăn trong việc cấp chứng chỉ rừng do tính bền vững chưa có, các khó khăn về chính sách đất đai, nạn khai thác và buôn bán gỗ bất hợp pháp vẫn là vấn đề ảnh hưởng lớn đến quản lý rừng và cấp CCR
Trên thực tế trên thế giới tới tháng 9 năm 2011 có tới 79 Quốc gia được cấp chứng chỉ với 1062 chứng chỉ FM cho tổng diện tích là 143,91 triệu ha, tổng cộng có 107 Quốc gia được cấp chứng CoC với tổng số chứng chỉ là 21.439[28] Thực tế này chứng minh sự phổ biến và tuân thủ của các đơn vị/cá nhân đối với
bộ tiêu chuẩn của FSC[29]
1.1.2.2 Tại Việt Nam
Việt Nam đã tham gia hoạt động cấp CCR từ những năm 1998 cho tới nay, tuy nhiên việc cấp chứng chỉ chỉ áp dụng cho các khu vực rừng trồng chứ chưa cấp cho bất cứ một khu vực rừng tự nhiên nào Việc cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam ban đầu đã nhận được sự ủng hộ của các cấp chính quyền địa phương,
sự hăng hái và tự nguyện của các chủ rừng và tiến trình đi đến quản lý rừng bền vững để đạt được chứng chỉ rừng đã đạt được một số tiến bộ nhất định, nhất là tại các khu vực khai thác chế biến xuất khẩu gỗ hoặc các công ty lâm nghiệp có liên quan đến xuất khẩu gỗ Việc áp dụng chứng chỉ rừng như một công cụ để quản lý bền vững rừng và tài nguyên thiên nhiên thực sự đang là vấn đề cần thiết
ở các cấp độ chính quyền địa phương, các công ty lâm nghiệp, các đơn vị cá
Trang 19nhân là các chủ rừng quy mô nhỏ lẻ Đặc biệt trong bối cảnh chung hiện nay trên toàn thế giới, nếu chúng ta không năng động hội nhập thị trường thế giới thì sẽ bị
bỏ xa, chẳng hạn như sản phẩm lâm sản của chúng ta sản xuất từ các sản phẩm
gỗ không có chứng chỉ thì chúng ta không thể xuất sang các thị trường “béo bở” trên thế giới được Do vậy việc áp dụng công cụ hoặc phương pháp/tiêu chuẩn trong quản lý rừng để đạt được đến cấp chứng chỉ rừng là mục tiêu hàng đầu của các công ty lâm nghiệp của cả khối nhà nước và khối tư nhân
Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, các trở ngại dần dần cũng xuất hiện, đó
là quá trình chuyển đổi các chủ rừng quan lý theo cơ chế bao cấp nhà nước như một đơn vị sự nghiệp lâm nghiệp sang hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành, các lâm trường quốc doanh đổi tên thành các công ty lâm nghiệp ngoài việc quản lý rừng, khai thác gỗ họ còn được cấp kinh phí cho việc giữ gìn an ninh trật tự, vận động người dân thực hiện các chính sách giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội Trước đây các kế hoạch trồng rừng, khai thác gỗ đều
do nhà nước cấp chỉ tiêu và hầu hết có ít các lâm trường có thể tự điều tra trữ lương, sản lượng khai thác, thiết kế khai thác mà hầu hết họ phải thuê hoặc khoán cho các tổ chức/cá nhân khác từ bên ngoài vào làm, do đó động lực để cho các chủ rừng tiến hành làm chứng chỉ rừng ngày càng giảm đi rõ rệt, có những chủ rừng không quan tâm đến CCR hoặc có quan tâm thì chỉ ở mức độ biết, để đấy
Năm 2004, chính phủ ra nghị định số 200/2004/NĐ-CP về đổi mới các lâm trường quốc doanh, giao quyền tự chủ kế hoạch và tự chủ về tài chính cho các lâm trường và đổi mới các lâm trường thành các doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp Ngược lại với các chủ rừng, các đơn vị kinh doanh rừng và lâm trường, các cơ sở chế biến lâm sản lại phát triển manh mẽ và vươn tới các thị trường có lợi nhuận cao trên thế giới mà yêu cầu của các thị trường này là gỗ phải có nguồn gỗ hợp pháp và được quản lý bền vững, có nghĩa là gỗ phải có CCR Do vậy các doanh nghiệp này cần phải có một hệ thống quản lý chặt chẽ để có thể truy được nguồn gốc gỗ mà họ sử dụng và cần nguồn nguyên liệu được cấp
Trang 20chứng chỉ rừng theo các nguyên tắc mà FSC đã quy định được áp dụng tại khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng [13] Kết quả của Nghị định số 200/2004/NĐ-CP là đổi được tên tất cả các "Lâm trường" (2 từ) thành
"CTTNHHMTVLN" (11 từ), và các Lâm trường trả lại tổng diện tích khoảng 1,2 triệu ha rừng tự nhiên cho UBND các xã quản lý Cho đến nay các rừng tự nhiên này từ có người quản lý thành không có người quản lý[11]
Kết quả kiểm kê rừng (Viện điều tra rừng, 2000) cho thấy, tổng trữ lượng
gỗ cây đứng toàn quốc là 721 triệu m2 Nếu tổ chức quản lý kinh doanh hợp lý hàng năm có thể khai thác tối thiểu là 1 %, tương đương 7 triệu m2, như vậy sau chương trình hạn chế khai thác rừng tự nhiên nghèo kiệt (1997-2010), thường gọi là “đóng cửa rừng tự nhiên” trong 15 năm, sẽ không chỉ có 105 lâm trường khai thác gỗ hiện nay mà sẽ lại tăng lên gấp 2-3 lần với tổng trữ lượng cây đứng
7 triệu m3/năm còn năm dưới lượng tăng trưởng hàng năm 1% của rừng (Nguyễn Ngọc Lung, 2001)[10]
Hiện tại, nước ta là một trong năm nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hàng hóa đồ gỗ nhưng thị trường cung cấp nguồn nguyên liệu có chứng chỉ rừng hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu Do vậy việc tìm kiếm các nguồn
gỗ có chứng chỉ với giá thành đáp ứng được yêu cầu ngày càng được các đơn vị kinh doanh về lâm sản quan tâm hàng đầu Đây cũng có thể được đánh giá là một động cơ để khuyến khích các cơ sở kinh doanh, các công ty lâm nghiệp phối hợp với các chủ rừng để tiến hành thực hiện các hoạt động cấp chứng chỉ rừng, đáp ứng được yêu cầu của các nước nhập khẩu đề ra và cải thiện được tình trạng quản lý rừng hiện tại của nước ta cũng như tăng được các lợi ích về môi trường, kinh tế, xã hội cho các chủ rừng, các cấp chính quyền địa phương và người dân
1.1.3 Cơ chế hoạt động của CCR:
1.1.3.1 Cơ sở đánh giá CCR
Các nước trên thế giới hiện nay đang nỗ lực thể hiện các chính sách, pháp luật và các hành động liên quan đến bảo vệ rừng, quản lý rừng bền vững và có
Trang 21trách nhiệm thông qua tiến trình xây dựng những tiêu chí và chỉ tiêu để cụ thể hóa hoạt động quản lý rừng và giám sát chặt chẽ các hoạt động này Mỗi quan hệ giữa CCR và các tiến trình liên chính phủ nhằm xây dựng các tiêu chí và chỉ thị cho quản lý rừng bền vững có tính bổ sung, hỗ trợ Những sáng kiến như tins trình liên Âu tại Châu Âu, tiến trình Tarapota tại Châu Mỹ Latinh, tiến trình Montreal tại những nước vùng ôn đới và hàn đới nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng thông tin cấp quốc gia và hiện trạng rừng Chứng chỉ rừng thì hoàn toàn khác vì nó mang tính chuẩn mực chứ không manh tính miêu tả và hoạt động ở cấp quản lý với vai trò là một khuyến khích thị trường Nhưng ở đây lại có sự bổ sung và tương hỗ lẫn nhau là vì vcác số liệu có được từ các tiến trình xây dựng các tiêu chí, chỉ thị có thể giúp xây dựng các tiêu chuẩn chững chỉ và ngược lại thông tìn về các khu rừng đã được cấp chứng chỉ có thể sử dụng trong các tiến trình xây dựng tiêu chí và chỉ thị
Tại châu Âu có 32 quốc gia tham gia tiến trình Pan European -Helsinki vào năm 1994 Tiến trình này đã xây dựng các tiêu chuẩn và chỉ số theo nguyên tắc quản lý rừng vền vững ở châu Âu Kết quả có 6 tiêu chí và 20 chỉ số (C&I) định lượng được xác định (FAO) 2001)[32] Tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO) có 52 quốc gia trong đó có 33 quốc gia sản xuất gỗ nhiệt đới và 27 quốc gia tiêu thụ sản phẩm (ITTO member page)[30] Trong những năm 90, ITTO đã đi tiên phong trong việc xây dựng tiêu chuẩn để đo lường quản lý rừng nhiệt đới bền vững và đã xác định được 7 tiêu chí và 27 chỉ số tập trung trước hết vào cơ sở pháp luật và thể chế quản lý rừng bền vững và tập trung vào đối tượng là rừng khai thác gỗ, chưa có cho rừng đa mục tiêu Sau đó bảng chỉ số này được điều chỉnh vào lần 2 năm 1998 và lần 3 vào năm 2005[31] Trung tâm nghiên cứ lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) cũng đưa ra bộ tiêu chuẩn QLRBV với 8 tiêu chí trong khi đó tiến trình Montréal được nhiều nước ôn đới đề xuất bộ tiêu chuẩn 7 tiêu chí ra đời lần đầu vào tháng 2 năm 1995 tại Santiago, Chile và đã được sửa đối lần 3 vào tháng 12 năm 2007 (Website về Tiến trình Montreal)[34]
Trang 22Tương tự như vậy, FAO năm 1995 và tổ chức Môi trường Liên hiệp quốc
đã hỗ trợ các nước châu Phi và vùng Cận Đông tổ chức hội thảo tại Nairobi, Kenya và đưa ra 7 tiêu chí với 47 chỉ số cho vùng rừng khô hạn châu Phi và 7 tiêu chí, 65 chỉ số cho vùng Cận Đông[35] Năm 1997, tổ chức FAO và Môi trường và Phát triển Trung Mỹ cũng họp đề xây dựng tiêu chuẩn và chỉ tiêu cho các nước thành viên Kết quả là có 8 tiêu chí và 52 chỉ số cho cấp quốc gia và 4 tiêu chí cùng 40 chỉ số cho cấp vùng (FAO, 2001)[26]
Tùy điều kiện mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới mà việc xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững trên cơ sở thảo luận và nhất trí giữa các tổ chức môi trường, kinh tế và xã hội phù hợp với công ước quốc tế về môi trường và đao dạng sinh học như CITES, TFAP có thể dựa trên các nguyên tắc quản lý bảo vệ rừng của hội đồng quản trị rừng Tiêu chuẩn phải bao gồm các tiêu chí cụ thể về môi trường, kinh tế, xã hội phù hợp với đối tượng được chứng chỉ rừng (CCR cho rừng tự nhiên hoặc rừng trồng) và với điều kiện của từng vùng sinh thái hoặc trên phạm vi cả nước Trong tài liệu hướng dẫn của ITTO về quản lý bền vững rừng tự nhiên nhiệt đới[37] thì những quy định tập trung vào
41 nguyên tắc cụ thể với 03 mục lớn như: (1) Chính sách pháp luật; (2) Quản lý rừng và (3) là những vấn đề kinh tế xã hội và tài chính Trong mỗi nguyên tắc lại
có các hoạt động cụ thể quy định các công việc cần làm để đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc đề ra
Trong tài liệu những nguyên tắc và tiêu chí quản lý rừng của FSC đưa ra gồm có 10 nguyên tắc áp dụng cho tất các các loại rừng tự nhiên và rừng trồng
kể cả rừng sản xuất gỗ và các loại rừng cho ra các sản phẩm khác ngoài gỗ [17] Các nguyên tắc và tiêu chí phải bao gồm tất cả các khía cạnh liên quan đến quản
lý kinh doanh rừng và tuân thủ các chính sách pháp luật, quyền và trách nhiệm
sử dụng đất, quyền của các cộng đồng địa phương, phân chia lợi nhuận, khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm, chống ô nhiễm môi trường, kiểm tra đánh giá, chăm sóc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, xã hội Tuy nhiên các chủ rừng
Trang 23không nhất thiếp phải đáp ứng được toàn bộ các tiêu chí trên thì mới được cấp chứng chỉ, việc này còn tùy thuộc vào việc tổ chức thực hiện chứng chỉ nhưng phải đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc quan trọng nhất liên quan đến các yếu
tố môi trường, xã hội
Chứng chỉ rừng không thể thay thế những biện pháp quản lý bảo vệ rừng truyền thống như chính sách pháp luật, công ước, chương trình hay kế hoạch hành động của địa phương, nước sở tại Tuy nhiên tùy theo điều kiện thì chứng chỉ rừng là một công cụ hữu hiệu khuyến khích áp dụng quản lý rừng bền vững
và thu hút các tầng lớp xã hộ tham gia trong quá trình hội nhập và phát triển
Nhiệm vụ chính của FSC là thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và kinh tế
a) Lợi ích về môi trường:
Đảm bảo cho tất cả mọi người tham gia vào thương mại lâm sản rằng các đóng góp của họ sẽ giúp đỡ việc bảo tồn hơn là hủy diệt rừng, con người và cuộc sống thông qua các hoạt động
Bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị khác như nước, đất…
Duy trì các chức năng sinh thái và thể thống nhất của rừng
Bảo vệ các loại động, thực vật quý hiếm và môi trường sống của chúng b) Lợi ích về xã hội:
Đảm bảo quyền con người được tôn trọng Nhiệm vụ chính là yêu cầu có
sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan khi xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia hay khu vực Điều này có nghĩa rằng tất cả các hoạt động laâ nghiệp phải được sự đồng thuận cảu các nhóm dân tộc thiểu số hoặc cộng đồng địa phương
Ví dụ: các phương thức sử dụng rừng truyền thống như thu lượm hoa, quả, củi, vật liệu xây dựng hoặc cây thuốc phải được cân nhắc để đảm bảo cuộc sống của họ
c) Lợi ích về kinh tế:
Đó là chủ rừng cần phải cố gắng đạt được cách sử dụng tối ưu và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi
Trang 24trường nơi khai thác và chế biến FSC xây dựng 10 nguyên tắc và tiêu chuẩn cho quản lý rừng bền vững Các nguyên tắc và tiêu chuẩn này phù hợp với tất cả các loại rừng: ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên và rừng trồng
Từ các nguyên tắc và tiêu chuẩn đó, các quốc gia, khu vực tham gia vào tiến trình quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng sẽ xây dựng các bộ tiêu chuẩn quốc gia riêng để đánh giá và phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình Các bộ tiêu chuẩn này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó
1.1.3.2.Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC)
Từ một cây gỗ, để có thể trở thành một thành phẩm gỗ, cần phải trải qua nhiều bước, bao gồm từ khai thác, chế biến và sản xuất sơ cấp và thứ cấp, phân phối và tiêu thu Quá trình này được gọi là chuỗi-hành-trình-sản-phẩm Bằng cách kiểm định từng bước trong quá trình này, chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) đảm bảo với khách hàng rằng các sản phẩm đã được chứng chỉ mà
họ mua thực sự có nguồn gốc từ một khu rừng đã được chứng chỉ Sản phẩm của các công ty đã được chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm có thể được mang nhãn FSC
Bước đầu tiên cho một công ty muốn thực hiện chững chỉ chuỗi hành trình sản phẩm là phải xác định tất cả điểm kiểm soát gỗ tập kết (CCP’s) Điểm kiểm soát gỗ tập kết là điểm mà gỗ nguyên liệu đã được chứng chỉ và chưa được chứng chỉ có khả năng bị trộn lẫn với nhau Ở mỗi điểm đã xác định sẽ cần sự kiểm soát để đảm bảo rằng gỗ sẽ không bị trộn lẫn Trong hầu hết các trường hợp, CCP’s sẽ bao gồm:
- Việc thu mua nguyên liệu gỗ
- Đầu vào tốt
- Kiểm tra trong sản xuất
- Hàng hóa thành phẩm và lưu kho
- Việc bán hàng
Trang 25Cách thức mà CCP’s có thể ngăn cản được việc trộn lẫn gỗ đã được chứng chỉ và chưa được chứng chỉ là thông qua việc kết hợp xác nhận và xác minh gỗ, phân loại gỗ và chứng từ phù hợp, cùng với việc đào tạo chuyên môn đầy đủ Hướng dẫn chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm thay đổi tùy theo các cơ quan cấp chứng chỉ khác nhau và các chi tiết cần dẫn chiếu đến các cơ quan cấp chứng chỉ có liên quan Do đó, mục tiêu của việc chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm
là cung cấp bằng chứng rằng sản phẩm được chứng chỉ có nguồn gốc từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ và quản lý tốt và xác minh rằng các sản phẩm đó không lẫn lộn với các sản phẩm từ các khu rừng chưa được chứng chỉ ở bất kỳ điểm nào của chuỗi cung cấp, trừ phi dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơ chế nhãn sinh thái tỷ lệ (%) mà sản phẩm đang được áp dụng Nhãn sinh thái dựa trên tỷ lệ là một cơ chế mà lâm sản chỉ chừa một tỷ lệ nhỏ nguyên liệu gỗ được chứng chỉ vẫn có thể được dán nhãn nêu lên rằng chúng có nguồn gốc từ các khu rừng được quản lý tốt Cơ quan chứng chỉ được ủy nhiệm đang tiến hành hoặc quản lý chương trình chứng chỉ này sẽ đưa ra hướng dẫn và giới hạn về các tuyên bố này trên nhãn sinh thái
Chi phí trực tiếp của việc được chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) bao gồm chi phí đánh giá ban đầu và hàng năm Chi phí gián tiếp có thể bao gồm khoản tăng thêm để phân loại sản phẩm, trang bị lại nhà xưởng và đào tạo nhân viên để đảm bảo tính riêng rẽ của sản phẩm
1.1.3.3 Đơn vị cấp chứng chỉ
Như đã nói ở trên, FSC không trực tiếp cấp chứng chỉ mà ủy quyền cho các đơn vị khác có đủ điều kiện để cấp chứng chỉ cho các tổ chức, đơn vị và cá nhân trên toàn thế giới[29] Hiện nay có 27 tổ chức được FSC ủy quyền cấp cấp chứng chỉ rừng chính trên phạm vi toàn cầu là[25]:
(1) BM TRADA Certification Ltd (TT) – Anh
Email: amcgregor@bmtrada.com Website: www.bmtrada.com (2) Bureau Veritas Certification UK (BV) - Anh
Trang 26Email: rebecca.paine@uk.bureauveritas.com
(3) Control Union Certifications UK (CU) - Anh
Email: cuuk@controlunion.co.uk Website: www.controlunion.com (4) Rainforest Alliance, SmartWood Program UK (SW)- Anh
Email: uk@nepcon.net Website: www.nepcon.net
(5) SGS Qualifor UK (SGS) Chain of Custody - Anh
Email: gb.forestry@sgs.com Website: www.forestry.sgs.com
(6) SGS Qualifor UK (SGS) Forest Management - Anh
Email: douglasorr@btinternet.com
(7) Woodmark, Soil Association (SA) - Anh
Email: wm@soilassociation.org Website:
www.soilassociation.org/forestry
(8) Bureau Veritas Certification - Eurocertifor (BV) (former BVQI) - Pháp
Email: heloise.dhuart@fr.bureauveritas.com Website:
www.certification.bureauveritas.fr/com
(9) Certiquality (CQ) - Italia
Email: a.napolitano@certiquality.it Website: www.certiquality.it (10) Control Union Certifications (CU) (formerly SKAL Onternational) – Hà Lan Email: certification@controlunion.com Website: www.controlunion.com (11) CTIB-TCHN Belgian Institute for Wood Technology (CTIB) – Bỉ Email: alain.grosfils@ctib-tchn.be Website: www.ctib-tchn.be (12) Det Norske Veritas Certification AB (DNV) – Thụy Điển
Email: anders.wingqvist@dnv.com Website: www.detnorskeveritas.se (13) Forest Certification LLC (FC) – Cộng hòa liên bang Nga
Email: iso-bratsk@yandex.ru Website: www.fcert.ru
(14) Technological Institute FCBA (earlier called CTBA) - Pháp
Email: philippe.ferro@fcba.fr Website: www.fcba.fr
(15) GFA Consulting Group GmbH (GFA) – Đức
Trang 27Email: certification@gfa-group.de Website: www.gfa-certification.de (16) HolzCert Austria (HCA) – Ôx- trây-lia
E-mail: hca@holzcert.at Website: www.holzcert.at
(17) Institut fur Marktokologie (IMO) – Thụy Sỹ
(18) Istituto per la Certificazione e i Servizi per Imprese dell’Arrendemento e del Legno (ICILA) – I-ta-li-a
Email: fmcoc@icila.org Website: www.icila.org
(19) KPMG FCSI (Forest Certification Services Inc.) (KF) – Ca-na-đa Email: gmacintosh@kpmg.ca Website: www.kpmg.ca
(20) LGA InterCert GMbH (IC) – Đức
Email: klaus.schatt@intercert.lga.de Website: www.lga-intercert.com (21) QMI-SAI Global Assurance Services (QMI) – Ca-na-đa
E-mail: Guillaume.Gignac@qmi-saiglobal.com Website:
www.qmi.com
(22) Scientific Certification Systems (SCS) – Mỹ
Email: rhrubes@scscertified.com Website: www.scscertified.com (23) SGS Qualifor South Africa (SGS) – Nam Phi
Email: gerrit.marais@sgs.com Website: www.qualifor.sgs.com (24) SmartWood, Rainforest Alliance (SW) – Mỹ
Email: info@ra.org Website: www.smartwood.org
(25) Stichting Keuringsbureau Hout (SKH)-Hà Lan
(26) Swiss Association for Quality and Management Systems (SQS)- Thụy Sỹ Email: alfred.urfer@sqs.ch Website: www.sqs.ch
(27) TÜV Nord Cert GmbH (TÜV) – Đức
E-mail: whirtz@tuev-nord.de Website: www.tuev-nord-cert.com
Trang 28FSC được chính phủ các nước như Áo, Hà Lan, Úc tài trợ kinh phí để giúp các nước đang phát triển xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững, đào tạo cán bộ và thực hiện CCR Hiện tại trên thế giới có nhiều nước đã thành lập Chứng chỉ FSC quốc gia để xúc tiến quản lý bảo vệ rừng và cấp chứng chỉ rừng
1.2 Tình hình xuất, nhập khẩu gỗ có CCR tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình xuất khẩu gỗ:
Hiện đồ gỗ đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản Sự phát triển này đã đưa Việt Nam vượt Indonesia và Thái Lan trở thành một trong hai nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực
Trong khi thị trường đang được mở rộng và kim ngạch tăng nhanh thì nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực đồ gỗ nhất là các doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Định cho biết họ đang rất khó khăn trong tìm kiếm gỗ nguyên liệu để duy trì sản xuất Theo Bộ Công Thương, nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ xuất khẩu đang thiếu trầm trọng Hàng năm chúng ta phải nhập 80% gỗ nguyên liệu, chiếm tới 37% giá thành sản phẩm Hơn nữa 90% gỗ nhập khẩu từ Lào và Campuchia thì nguồn này đang cạn kiệt Kể từ năm 2005 đến nay, 2 nước Malaysia và Indonesia đã đóng cửa mặt hàng gỗ xẻ, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Giá nhiều loại gỗ đã tăng bình quân từ 5% - 7%, đặc biệt gỗ cứng đã tăng từ 30% - 40%, làm cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng có đơn hàng nhưng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận rất thấp
Đối với nguồn gỗ trong nước, công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, các
dự án phát triển rừng nguyên liệu chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến sản lượng gỗ phục vụ cho chế biến xuất khẩu không được cải thiện Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020 đặt mục tiêu phát triển 825.000 ha rừng
Trang 29nguyên liệu cho ngành gỗ Việt Nam, trong đó có sự kết hợp giữa các loại cây có chu kỳ kinh doanh ngắn 7-10 năm và chu kỳ kinh doanh dài từ 15 năm trở lên[12] Sản lượng dự kiến khai thác để phục vụ ngành gỗ vào năm 2020 sẽ đạt
20 triệu m3/năm (trong đó có 10 triệu m3 gỗ lớn), mới đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu Theo tính toán của Hiệp hội gỗ, còn phải chờ ít nhất 10 năm nữa mới hy vọng chủ động được một phần nguyên liệu trong nước khi các khu rừng trồng gỗ lớn do các doanh nghiệp phát triển bắt đầu cho khai thác Còn trong tương lai gần, không có cách nào khác là phải tiếp tục nhập khẩu gỗ nguyên liệu
Hiện tại phần lớn đất rừng (gần 5 triệu ha) là do các lâm trường quốc doanh và chính quyền địa phương quản lý, trong khi khoảng 3,1 triệu ha đã được giao cho hơn một triệu hộ gia đình và cá nhân, nhưng có 20-30% diện tích được
sử dụng đúng mục đích, 70% còn lại chưa đem lại hiệu quả như mong muốn[14] Trong khi đó, nhiều nhà đầu tư lớn muốn đầu tư vào rừng trồng thì lại không có đất trồng rừng Tuy nhiên, đến nay cũng đã xuất hiện một số mô hình hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp và các chủ rừng (hộ dân, nông lâm trường) để trồng rừng sản xuất Có doanh nghiệp chọn hình thức đầu tư tiền, giống, kỹ thuật cho các hộ dân trồng rừng, khi đến kỳ khai thác, hộ dân sẽ hoàn trả cho doanh nghiệp sản lượng gỗ nhất định, phần sản lượng tăng thêm sẽ thuộc về người trồng rừng
Công tác xây dựng mạng lưới chế biến gỗ trên toàn quốc chưa có sự thống nhất để sử dụng nguồn nguyên liệu vốn đang rất khan hiếm Cùng với hạn chế trên, công nghệ chế biến hiện nay cũng còn thô sơ và mang nặng tính thủ công, các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam chỉ mới dừng lại ở việc gia công nguyên liệu là chính, máy móc vẫn ở mức trung bình và lạc hậu Phần lớn dây chuyền thiết bị, máy móc được sản xuất từ Đài Loan, Trung Quốc, chỉ một số ít sản xuất tại Đức, Italy, Nhật, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng lớn
và khách hàng đòi hỏi chất lượng cao Các doanh nghiệp chế biến gỗ chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, yếu về năng lực quản lý, thiếu công nhân kỹ thuật,
Trang 30thiếu vốn Những yếu tố này khiến giá trị gia tăng của sản phẩm gỗ Việt Nam đạt
ở mức thấp và làm giảm tính cạnh tranh về giá thành
Là một mặt hàng mới phát triển mạnh khoảng nửa thập kỷ gần đây nên việc phát triển thương hiệu đồ gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế còn hạn chế
và chưa được chú trọng Hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đều có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế nên chưa có nhiều kinh phí để thực hiện việc này Tuy nhiên, Bộ Công Thương thừa nhận: công tác xúc tiến thương mại chưa
có sự liên kết tốt giữa các tổ chức hỗ trợ thương mại và doanh nghiệp Một thực trạng nữa là các doanh nghiệp chủ yếu vẫn bán hàng qua khâu trung gian (chiếm 90% lượng sản phẩm) Hơn nữa, việc nhận làm gia công và nhận mẫu mã thiết
kế, hợp đồng đặt hàng của nước ngoài ngày càng nhiều đã biến các doanh nghiệp của chúng ta thành người làm thuê, gia công cho thương hiệu nước ngoài Và tất
cả những điều này đang làm ảnh hưởng lớn đến thương hiệu gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới
Một vấn đề khác phát sinh khi chúng ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đối với mặt hàng đồ gỗ là các chứng chỉ về nguồn gốc hợp pháp nguyên liệu, đây không phải là chứng chỉ đạt chất lượng QLRBV, nhưng lại là cơ sở đầu tiên để buôn bán gỗ cho dù đã đạt hay chưa đạt CCR của FSC Mỹ có đạo luật LACEY được bổ sung có hiệu lực từ 15/12/2008, quy định kiểm soát nguồn gốc
gỗ nguyên liệu Từ 1/4/2009 tất cả doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp
tờ khai về sản phẩm nhằm đảm bảo tính hợp pháp Bên cạnh đó luật lâm nghiệp
và quản trị rừng (FLEGT) đang được triển khai ở tất cả các quốc gia EU còn phát động "Bản thỏa thuận đối tác tự nguyện" (VTA) Đây là những rào cản rất lớn cho ngành gỗ của chúng ta Phân tích của Vụ xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương mới đây cho biết, nhu cầu về gỗ có chứng chỉ đang gia tăng, nhưng Việt Nam vẫn chưa có hệ thống chứng chỉ thích hợp Các khách hàng (chủ yếu là EU) ngày càng đòi hỏi các sản phẩm được làm từ nguồn gỗ nguyên liệu có chứng chỉ của một tổ chức như Hội đồng các nhà quản lý rừng (FSC) Hiện ở nước ta chưa
Trang 31nơi nào có chứng chỉ như vậy Hậu quả là, để đáp ứng các yêu cầu có chứng chỉ FSC, các nhà sản xuất phải nhập khẩu gỗ có chứng chỉ FSC, giá thành sản phẩm đội lên, nên khó cạnh tranh được và giá trị gia tăng của ngành đồ gỗ bị giảm sụt quá nhiều so với những quốc gia có hệ thống chứng chỉ, cho dù đồ gỗ chế biến củaViệt Nam đang được ưa chuộng tại nhiều nước, cùng với những khách hàng chiến lược, thông qua những sản phẩm có chất lượng và sức cạnh tranh cao
Ngoài ra, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng đã gây ra nhiều khó khăn cho ngành chế biến gỗ Việt Nam như thị trường xuất khẩu trọng điểm bị thu hẹp, hàng hóa tồn đọng, giá đầu ra giảm, dẫn tới các đơn hàng vừa giảm, vừa khó thực hiện Còn giải pháp kích cầu của Chính phủ hiện nay với những điều kiện cho vay chặt chẽ, khó khăn, thời gian cho vay ngắn, khó đưa đồng vốn với lãi suất vay ưu đãi đến với với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, đây cũng có thể là cơ hội lớn cho ngành chế biến gỗ tái cấu trúc lại để có thể đủ năng lực cạnh tranh, đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất, đào tạo đội ngũ quản lý, lao động
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm của cả nước tính đến hết tháng 7/2011 đạt trên 2 tỷ USD, tăng 14,64%
so với cùng kỳ năm 2010, tính riêng tháng 7 Việt Nam đã thu về trên 314 triệu USD từ gỗ và sản phẩm gỗ, giảm 1,44% so với tháng liền kề trước đó, nhưng tăng 1,72% so với tháng 7/2010
Về thị trường xuất khẩu, 7 tháng đầu năm 2011 Việt Nam đã xuất khẩu gỗ
và sản phẩm sang 39 thị trường, số thị trường tăng trưởng trong thời gian này chỉ chiếm 15,6%
Hoa Kỳ là thị trường chính xuất khẩu gỗ và sản phẩm của Việt Nam, tuy nhiên kim ngạch xuất sang thị trường này lại giảm Tháng 7/2011, Việt Nam đã xuất khẩu 117,8 triệu USD hàng gỗ và sản phẩm sang Hoa Kỳ, giảm 3,73% so với tháng liền kề trước đó, giảm 11,87% so với tháng 7/2010 Tính chung 7
Trang 32tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu 744,8 triệu USD mặt hàng này sang Hoa
Kỳ, chiếm 35,4%, giảm 1,19% so với 7 tháng năm 2010
Đứng thứ hai là thị trường Trung Quốc với kim ngạch đạt từ đầu năm đến hết tháng 7 là 344,2 triệu USD, tăng 63,02% so với cùng kỳ năm trước Tính riêng tháng 7, Trung Quốc đã nhập khẩu 55,4 triệu USD gỗ và sản phẩm từ Việt Nam, giảm 11,9% so với tháng 6, nhưng tăng 12,73% so với tháng 7/2010[7]
Trang 33Bảng 1.1 Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phầm gỗ 6 tháng đầu năm 2011
ĐVT: USD
Thị
trường
KNXK T7/2011
KNXK 7T/2011
KNXK 7T/2010
% tăng, giảm
KN so T6/2011
% tăng giảm
KN so T7/2010
% tăng giảm
KN so cùng
kỳ Tổng KN 314.016.922 2.098.699.478 1.830.676.734 -1,44 1,72 14,64 Hoa Kỳ 117.862.596 744.894.939 753.877.416 -3,73 -11,87 -1,19 Trung Quốc 55.414.799 344.285.163 211.195.225 -11,90 12,73 63,02 Nhật Bản 50.879.511 305.945.220 229.851.825 14,89 26,52 33,11 Hàn Quốc 17.237.412 105.188.520 71.807.305 17,74 88,35 46,49 Anh 10.292.411 96.012.376 107.059.676 -2,61 -22,62 -10,32 Đức 5.865.289 64.393.145 63.069.386 -12,83 -28,10 2,10
Úc 10.986.875 49.478.507 39.817.984 25,52 21,33 24,26 Ca-na-đa 7.871.361 46.991.982 46.044.273 -27,86 -5,48 2,06 Pháp 3.877.434 37.160.834 42.641.690 -7,30 27,46 -12,85
Hà Lan 2.960.359 35.408.014 37.545.699 -11,28 -35,28 -5,69 Đài Loan 3.671.491 28.998.331 24.065.325 -13,97 26,24 20,50 Hồng kông 3.739.459 27.798.623 15.254.168 -24,45 154,69 82,24 I-ta-li-a 984.496 21.192.342 21.066.949 -24,63 -14,03 0,60
Bỉ 1.537.297 20.096.638 19.292.660 -36,79 9,69 4,17 Ma-lai-xi-a 3.736.857 19.770.450 12.857.569 -11,95 45,92 53,77
Ấn Độ 2.161.730 15.432.494 8.621.095 -4,24 133,16 79,01 Thuỵ Điển 851.775 14.224.398 14.548.712 -12,47 4,70 -2,23 Sinh-ga-po 732.217 11.743.081 4.542.851 -31,27 43,27 158,50 Tây Ban Nha 527.563 11.302.878 12.442.692 8,29 -10,11 -9,16 Đan Mạch 640.772 9.275.414 9.692.323 -33,46 16,54 -4,30 Niu Di Lân 1.771.550 6.024.326
Trang 34Na uy 522.654 5.259.394 3.389.488 11,43 118,82 55,17 Thổ Nhĩ Kỳ 286.366 5.073.432 4.681.807 57,07 -6,09 8,36
Ba Lan 388.441 4.186.674 6.007.636 116,99 290,07 -30,31
Hy Lạp 86.059 3.910.473 4.719.094 62,24 -9,15 -17,14
Áo 137.467 3.228.838 2.829.539 -74,06 -69,33 14,11 Nga 131.112 2.997.400 1.163.141 -64,35 -57,42 157,70
Bồ Đào Nha 177.412 1.881.791 1.937.817 693,22 -4,80 -2,89 Nam Phi 415.894 1.578.006 1.472.453 24,20 31,50 7,17 TháiLan 355.405 1.560.580 4.672.529 36,92 -50,68 -66,60
CH Séc 129.531 1.167.969 1.141.653 73,65 36,22 2,31 Mê-hi-cô 150.297 859.202 803.502 189,99 -6,65 6,93 Căm-puchia 89.462 726.769 1.215.430 21,56 -81,26 -40,20 U-c-rai-na 151.348 538.466 782.018 1,32 -31,14
Cho đến nay, nguồn gỗ nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam là từ Malaysia (60 triệu USD), Lào (36 triệu USD), Campuchia (29 triệu USD), Indonesia (18 triệu USD) Song thực tiễn nhiều năm qua đã chỉ ra: các quốc gia có rừng tự nhiên trong khu vực như Indonesia, Myanmar, Lào, Campuchia… ngày càng hạn chế tối đa việc khai thác xuất khẩu gỗ do nguồn tai nguyên rừng ngày càng cạn kiệt và do tác động từ các khuyến cáo của các tổ chức quốc tế Hơn thế nữa, thế
Trang 35giới trong xu thế quản lý rừng thương mại đã có hàng loạt biện pháp, trong đó biện pháp hữu hiệu nhất là quản lý bằng hệ thống chứng chỉ được cấp với rừng trồng và được thế giới công nhận như hệ thống FSC (Forest Stewardship Council) với 28 triệu ha; hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 với 103 triệu
ha và Hội đồng chứng nhận rừng Châu Âu Pan (Pan European Forest Certification Council) với 43 triệu ha
Sử dụng phổ biến nhất là hệ thống chứng chỉ của tổ chức FSC bởi các tiêu chí của tổ chức phi phủ này là: quản lý tài nguyên thế giới bền vững, vì những lợi ích lâu dài các mặt: xã hội, môi trường, kinh tế nhằm đảm bảo rừng trên thế giới được bảo vệ cho các thế hệ sau Để vào được các thị trường lớn như EU,
Mỹ, khối liên hiệp Anh, các sản phẩm gỗ xuất khẩu của các nước – trong đó có Việt Nam phải có một trong những chứng chỉ trên và thuận lợi nhất là sử dụng chứng chỉ FSC Do đó, việc cân nhắc nhập khẩu hàng gỗ từ các quốc gia có rừng FSC là một trong những tiêu chí lựa chọn thị trường nguyên liệu gỗ của Việt Nam Thị trường gỗ của Malaysia, New zealand, Nam Phi và Mỹ chính là các thị trường Việt Nam đang hướng tới Bên cạnh đó, tiềm năng thị trường nguyên liệu
gỗ của một số quốc gia khác như Brazil cũng nên được định hướng
Theo Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt nam (Vifores), hiện doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đang phải nhập nhẩu từ 70-80% nguyên liệu từ nước ngoài Số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan(TCHQ) cho thấy, tháng hai quý đầu năm 2011 Việt Nam đã nhập 606,8 triệu USD gỗ và sản phẩm gỗ, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm 2010 Trong đó kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này nhập trong tháng 6 là 121,1 triệu USD, tăng 3,2% so với tháng liền kề và tăng 12,68% so với tháng 6/2010 Trong khi đó nhiều loại gỗ nguyên liệu của các doanh nghiệp trong nước hiện được bán với giá rẻ bằng một nửa so với gỗ nhập khẩu Ví dụ, gỗ keo nguyên liệu trong nước có giá từ 0,8- 1,1 triệu đồng/m3 Trong khi đó, gỗ nhập khẩu cho cùng một loại lại chỉ có giá khoảng 3 triệu đồng/ m3 Giải thích nguyên nhân này, theo một thành viên của Hiệp hội gỗ và lâm sản
Trang 36cho hay, Việt Nam phải chịu giá bán rẻ và mua đắt như hiện nay là do chưa có
sự kết nối giữa doanh nghiệp chế biến xuất khẩu và người trồng rừng Hầu hết các cơ sở trồng rừng và chế biến xuất khẩu gỗ hoạt động độc lập, không có liên kết thông tin với nhau Tuy nhiên, cũng không thể đổ hết lỗi cho doanh nghiệp chế biến
gỗ xuất khẩu là "bỏ ngỏ" thị trường nội địa bởi trên thực tế Việt Nam chưa có công nghệ đạt chuẩn trong kỹ thuật xẻ gỗ, khiến chất lượng gỗ bị ảnh hưởng
Các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu đồ gỗ chê gỗ nội còn bởi lý do, gỗ nội không có chứng chỉ quản lý rừng do Hội đồng quản trị rừng quốc tế cấp Mặt khác, nếu gỗ nước ngoài được trồng trong thời gian 18 năm thì gỗ Việt Nam thường chỉ được trồng 6-7 năm Vì vậy, khi chế biến rất dễ xảy ra tình trạng gỗ
bị co ngót, sản phẩm không đẹp Bên cạnh đó, chi phí thuê nhân công, giá nguyên vật liệu trong nước liên tục tăng, lãi suất vốn vay ngân hàng cao cùng nhiều tác động khác làm lợi nhuận xuất khẩu các sản phẩm gỗ trong nước đạt tối
đa khoảng 5% so với giá trị xuất khẩu
Hai quý đầu năm nay, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Malaixia, Thái Lan là những thị trường chính cung cấp gỗ và sản phẩm gỗ cho Việt Nam, chiếm lần lượt 12,4%, 11,3%, 7,5% và 5,6% thị phần Qua đó ta thấy, Trung Quốc chiếm thị phần lớn nhất với kim ngạch đạt trong tháng là 17,1 triệu USD, tăng 14,19% so với tháng 5 và tăng 12,68% so với tháng 6/2010, nâng kim ngạch nhập khẩu gỗ
và sản phẩm từ thị trường Trung Quốc 6 tháng đầu năm lên 75,6% nhưng nếu so với cùng kỳ năm trước thì nhập khẩu mặt hàng này từ thị trường Trung quốc lại giảm 1,21% [7]
Trang 37Bảng 1.2 Thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2011
ĐVT: USD
T6/2011
KNNK 6T/2011
KNNK T6/2010
KNNK 6T2010
% tăng giảm
KN so với T5/2011
% tăng giảm
KN so với T6/2010
% tăng giảm
KN so với cùng
kỳ
Tổng KN 121997205 606819238 108269648 504846476 3,29 12,68 20,20 Trung Quốc 17.167.182 75.670.470 15368452 76.598.268 14,19 11,70 -1,21 Hoa Kỳ 14.634.828 69.092.024 12.893.153 68.533.423 3,16 13,51 0,82 Malaixia 9.159.795 46.076.202 10.428.937 5.955.641 4,74 -12,17 673,66 Thái Lan 7.935.081 34.438.622 8.237.622 44.130.619 0,16 -3,67 -21,96 Niu Di Lân 6.740.562 28.205.113 6.410.481 32.573.190 -1,53 5,15 -13,41 Căm puchia 4.015.289 20.037.069 3.561.196 19.057.966 -15,24 12,75 5,14 B-ra-xin 2.091.911 12.828.456 3.448.500 12.271.617 24,78 -39,34 4,54 In-đô-nê-xi-a 1.739.245 9.841.829 1.993.582 10.063.758 -20,55 -12,76 -2,21 Chi Lê 1.710.130 9.426.302 1.283.843 8.212.010 * 33,20 14,79 Phần Lan 1.973.622 6.019.168 1.183.601 5.033.125 62,43 66,75 19,59 Đức 853.425 4.460.441 1.077.058 4.993.699 -4,63 -20,76 -10,68 Thuỵ Điển 405.133 3.640.220 550.485 3.349.840 -52,87 -26,40 8,67 Ca-na-đa 577.832 3.238.940 625.523 3.165.102 -5,65 -7,62 2,33 Pháp 309.003 2.877.141 609.968 2.108.260 -59,31 -49,34 36,47 Nhật Bản 318.443 2.849.460 656.846 2.448.653 -59,78 -51,52 16,37 I-ta-lia 739.544 2.827.247 202.423 2.261.264 72,88 265,35 25,03 Đài Loan 540.914 2.821.134 904.016 3.846.723 88,79 -40,17 -26,66
Trang 38Hàn Quốc 435.692 2.314.810 510.338 1.523.109 116,72 -14,63 51,98 Ôx-trây-lia 367.049 1.385.129 888.192 4.988.024 28,54 -58,67 -72,23 Ac-hen-ti-na 483.744 1.289.524 127.362 1.002.015 737,68 279,82 28,69 Nam Phi 23.221 708.785 119.536 868.602 -91,89 -80,57 -18,40 Nga 184.363 557.954 225.637 757.271 289,48 -18,29 -26,32
Trích nguồn Vinanet
1.3 Tiếp cận với cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam
Đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp, một trong những động lực quan trọng của chứng chỉ rừng là tham nhập thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng đòi hỏi
có chứng chỉ (FM), vì vậy chứng chỉ rừng thường gắn với chứng chỉ chuỗi hành trình (CoC) xác nhận sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được chứng chỉ
Chứng chỉ rừng cần thiết để xác nhận quản lý bảo vệ của chủ rừng cũng giống như chứng chỉ ISO để xác nhận quản lý chất lượng sản xuất công nghiệp Chứng chỉ rừng được áp dụng cho tất cả các đơn vị quản lý rừng với các quy mô lớn nhỏ bất kể là sở hữu nhà nước hay tư nhân đang quản lý rừng sản xuất và đang hoạt động quản lý kinh doanh Đây là một quá trình hoàn toàn tự nguyện của các chủ rừng
FSC là tổ chức quản lý rừng uy tín và có phạm vi rộng nhất toàn thế giới,
có những nguyên tắc và tiêu chí áp dụng cả cho rừng tự nhiên, rừng trồng, cả cho rừng ôn đới, nhiệt đới Khi doanh nghiệp được cấp chứng chỉ rừng của FSC thì được hưởng các lợi ích gồm: Gỗ được cấp nhãn FSC sẽ bán được giá cao hơn so với cùng loại không được cấp nhãn (thông thường giá cao hơn khoảng 30%); Có điều kiện tiếp cận với thị trường mới; Các đánh giá định kỳ của cơ quan cấp chứng chỉ sẽ giúp tìm ra các điểm mạnh, yếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 39Trên cơ sở Bộ tiêu chuẩn FSC quốc tế, Tiêu chuẩn FSC Việt Nam được biên soạn áp dụng để xin cấp chứng chỉ rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng trồng FSC Việt Nam không đòi hỏi phải đáp ứng đầy đủ và hoàn chỉnh bộ tiêu chuẩn này, tuy nhiên nếu chủ rừng có những vi phạm đối với bất kỳ tiêu chuẩn nào thường không được cấp chứng chỉ hoặc bị thu hồi giấy chứng chỉ đã cấp 10 tiêu chuẩn FSC Việt Nam bao gồm:
1) Tuân theo pháp luật và Tiêu chuẩn FSC Việt Nam
2) Quyền và trách nhiệm sử dụng đất
3) Quyền của người dân sở tại
4) Quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân
Quy trình đánh giá cấp chứng chỉ rừng (Theo chương trình Smartwood -
cơ quan được FSC uỷ quyền cấp chứng chỉ rừng), gồm 10 bước cơ bản như sau:
1) Đơn vị quản lý rừng làm đơn yêu cầu cho cơ quan đánh giá;
Trang 402) Cơ quan đánh giá xây dựng dự toán, chi phí và đàm phán với đơn vị quản lý rừng;
3) Khách hàng ký thỏa thuận với cơ quan đánh giá Cơ quan đánh giá sẽ yêu cầu khách hàng ứng trước 60% chi phí cho dự toán để triển khai công tác đánh giá Khi nhận được tiền, quá trình thực hiện bắt đầu;
4) Cơ quan đánh giá cử chuyên gia lãnh đạo đoàn đánh giá Chuyên gia này sẽ được cung cấp toàn bộ tài liệu liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và bộ tiêu chuẩn đánh giá đã được chấp nhận;
5) Đoàn chuyên gia triển khai các hoạt động đánh giá tại hiện trường; 6) Thảo luận và thông báo kết quả đánh giá sơ bộ với khách hàng;
7) Gửi báo cáo sơ bộ cho cơ quan đánh giá;
8) Cơ quan đánh giá sẽ tổng hợp thành báo cáo và sẽ gửi cho khách hàng
để tham gia ý kiến, đồng thời cũng gửi cho các chuyên gia độc lập đánh giá và cho ý kiến;
9) Chuyên gia chính sẽ tổng hợp, xây dựng báo cáo cuối cùng từ ý kiến của khách hàng và chuyên gia độc lập;
10) Trình bày báo cáo cho Giám đốc cơ quan chứng chỉ ra quyết định cấp chứng chỉ
Về giá thành chứng chỉ rừng: bao gồm giá thành trực tiếp và giá thành gián tiếp Giá thành trực tiếp là số tiền chủ rừng phải trả cho quá trình chứng chỉ rừng Rừng càng lớn, càng tập trung, điều kiện càng thuận lợi cho đánh giá cấp chứng chỉ thì giá thành càng thấp Giá thành gián tiếp là chi phí cho cải thiện quản lý rừng để đạt tiêu chuẩn chứng chỉ, có thể là: chi phí điều tra rừng để xây dựng kế hoạch quản lý, xác lập và bảo vệ các khu bảo tồn, điều tra đánh giá tác động môi trường về kinh tế - xã hội, xác lập hệ thống thông tin tư liệu,v.v… Đối với những vùng có quản lý rừng còn thấp, cách xa tiêu chuẩn thì chi phí này tương đối cao Giải pháp chứng chỉ rừng theo nhóm sẽ giảm được giá thành