Tại Kasma Forest Technology Center Nhật Bản đã thiết lập hàng loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây, ở nhiều cấp tuổi và trồng ở nhiều độ cao khác nhau, đặc biệt ở
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS VÕ ĐẠI HẢI
Hà Nội, 2011
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừ ng phòng hô ̣ là mô ̣t trong 3 loa ̣i rừng ở nước ta Trong những năm gần đây rừng phòng hộ ở nước ta đã bi ̣ suy thoái rất nghiêm trọng, đặc biệt là
ở vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long… Mất
rừ ng phòng hô ̣ đã gây ảnh hưởng rất lớn tới môi trường và đời sống của người dân vùng đầu nguồn ven biển cũng như ảnh hưởng tới môi trường và cuộc sống của hàng triệu người dân vùng hạ nguồn Nhiều vấn đề không những chỉ xảy ra ở riêng một nước mà đã trở thành mối quan tâm chung của các nước trong khu vực… Do đó con người bắt đầu quan tâm hơn tới môi trường, rừng phòng hô ̣ vì thế đã trở nên rất quan tro ̣ng đối với loài người
Ở nước ta đã có chủ trương phát triển kinh tế gắn với phát triển bền vững là trọng tâm ưu tiên hàng đầu của quốc gia trong giai đoạn mới Điều này đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam Hai Chương trình được coi là ưu tiên số một của Chính phủ trong thời gian qua là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và Chương trình 135 đều gắn với việc bảo vệ môi trường, hạn chế ảnh hưởng của thiên tai và cải thiện điều kiện sống cho đồng bào vùng nông thôn, đặc biệt là ở miền núi
Nhiệm vụ khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng phòng hô ̣ ở nước ta được đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây, nhất là từ khi có nhu cầu phải đảm bảo hoạt động an toàn lâu dài cho các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện Hiện nay, hệ thống rừng chuyên phòng hộ được quy hoạch 5,68 triệu ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn được quy hoạch chiếm 93,3% Thực tiễn này cho thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của rừng phòng hô ̣ trong chiến lược môi trường ở nước ta
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc bộ, đây là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh miền núi Tây Bắc Do diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn đạt 195.618,8 ha, chiếm 55,4% tổng
Trang 4diện tích tự nhiên, địa hình dốc kết hợp với hệ thống sông suối dày đặc nên vấn
đề xây dựng các khu rừng phòng hộ đầu nguồn đã và đang rất được quan tâm
trong thời gian qua Năm 2000, Phú Thọ đã thực hiện quy hoạch phát triển lâm
nghiệp giai đoạn 2000 - 2010, tiến hành quy hoạch diện tích rừng phòng hộ chiếm tới 43,6% Năm 2006, thực hiện Chỉ thị 38 của Thủ tướng Chính phủ về
rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, đã giảm diện tích rừng phòng hộ của tỉnh từ 86.147,7 ha xuống còn 33.631,8 ha Năm 2007, đã hoàn thành rà soát quy hoạch 3 loại rừng, theo đó diện tích chuyển đổi từ rừng phòng hộ sang rừng đặc dụng là 779,5ha; từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất là 52.781,1 ha; từ rừng sản xuất sang rừng đặc dụng là 251,3 ha; từ rừng sản xuất sang rừng phòng hộ
là 1.044,7 ha
Những năm qua, tỉnh Phú Thọ đã triển khai và thực hiện nhiều chương trình dự án phát triển lâm nghiệp: Chương trình PAM (3352), Chương trình LNXH, Chương trình 327, Chương trình 135, Chương trình trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh cao và đặc biệt là Dự án 661 đã thể hiện được sự
nỗ lực rất lớn trong vấn đề phục hồi và phát triển rừng của Nhà nước Thông qua kết quả bước đầu của các chương trình trồng rừng này đã góp phần nâng
độ che phủ của rừng từ 32,8% năm 1999 lên 49,6% vào năm 2010, độ che phủ của rừng tăng bình quân hàng năm 1,4% Thêm vào đó là diện tích rừng phòng hộ cũng tăng lên đáng kể góp phần quan trọng vào việc nâng cao khả năng phòng hộ môi trường trên địa bàn tỉnh Có thể khẳng định rằng, Dự án
661 đã đóng góp một phần quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ che phủ rừng
và khả năng phòng hộ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, góp phần ổn định cuộc sống, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương Tính tới năm 2010, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng đã đi vào giai đoạn kết thúc, chính
vì vậy đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá chi tiết các mô hình, để đúc
Trang 5rút ra những mô hình thành công, thất bại và những vấn đề cần nghiên cứu tiếp theo
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài "Đánh giá một số mô hình rừng trồng
phòng hộ đầu nguồn trong dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ" đặt ra là rất cần
thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Kinh nghiệm nhiều năm về trồng rừng ở nhiều nước trên thế giới cho thấy do rừng trồng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài bằng nhiều loài cây khác nhau nhằm kinh doanh rừng theo hướng bền vững Các công trình nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài trên thế giới đã quan tâm đến một số biện pháp kỹ thuật như việc chọn loài cây trồng, phương thức, phương pháp trồng và mối quan hệ giữa qua lại giữa các loài cây trong các
mô hình rừng trồng hỗn loài
Tại Kasma Forest Technology Center (Nhật Bản) đã thiết lập hàng loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây, ở nhiều cấp tuổi và trồng ở nhiều độ cao khác nhau, đặc biệt ở vùng Tsucuba có độ cao dưới
876m so với mực nước biển đã trồng loài cây Tuyết tùng (Japanese ceder) để
tạo ra những lâm phần bền vững và có giá trị phòng hộ cao, họ đã nhận thấy
có sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng hỗn giao và ảnh hưởng của môi trường đến từng cây
Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán do đó
nó phát huy tác dụng bảo vệ và phòng hộ tốt hơn kiểu rừng thuần loài Vì thế nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nước trên thế giới quan tâm Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài, tác giả Bernar Dupuy (1995) thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụ thuộc vào đặc tính sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây trong lâm phần [33] Điều này cho thấy để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng và phát huy khả năng phòng hộ của rừng thì cần phải dựa vào đặc tính sinh trưởng cũng như
Trang 7phải quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa các loài cây để lựa chọn loài cây trồng cho phù hợp Đây là những cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình rừng trồng phòng hộ hỗn loài
Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi
xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài và nhanh phát huy giá trị phòng hộ
là rất cần thiết Nghiên cứu về lĩnh vực này điển hình có tác giả Matthew (1995) Ông đã nghiên cứu tạo lập mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân
gỗ với cây họ đậu Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính [36] Như vậy, nghiên cứu này cho thấy sử dụng các loài cây
họ đậu làm cây phù trợ cho các loài cây trồng chính trong mô hình rừng trồng hỗn loài là rất phù hợp Ngoài việc xác định được loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài Trên thế giới đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này Do hiểu biết
về yêu cầu sinh thái của các loài cây rừng mưa còn nghèo nàn nên các tác giả Rod Keenan, David Lamb, Gary Sexton khi xây dựng rừng trồng hỗn loài (giai đoạn 1945 - 1995) đã gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí và điều chỉnh các mô hình rừng trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng của chúng Vì vậy,
mô hình rừng trồng hỗn loài đã không được thành công như mong muốn [38]
Nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài đã được các nước châu Âu tiến hành
từ những năm đầu thế kỷ 19 Điển hình là công trình nghiên cứu trồng hỗn
loài Quercus và Ulmus campestris với tên kiểu hỗn loài Donsk của tác giả
Tikhanop (1872) Trong mô hình này do đặc tính sinh vật học và mối quan hệ
qua lại giữa các loài cây chưa được nghiên cứu kỹ, do đó loài Ulmus
campestris với đặc tính sinh trưởng nhanh hơn nên sau khi trồng vài năm đã
lấn át loài Quercus Để giải quyết sự cạnh tranh này năm 1884 tác giả
Polianxki đã cải tiến kiểu hỗn loài Donsk song vẫn không thành công Một số
Trang 8tác giả khác như Kharitonovis (1950); Grixenco (1951); Timofeev (1951); Encova (1960) và các cộng sự đã phân tích nguyên nhân thất bại của kiểu
Donsk và chỉ ra rằng các phitonxit của loài Ulmus campestris đã tác động xấu tới loài cây Quercus Nghiên cứu về ảnh hưởng tương hỗ giữa các loài, các
tác giả cho rằng sự cảm nhiễm tương hỗ là yếu tố quan trọng khi lý giải cơ chế cạnh tranh sinh học của thực vật [37] Trên cơ sở nghiên cứu tạo rừng hỗn
loài giữa Quercus và Fraxinus, tác giả JB Ball, T.J Wormald (1994) cho thấy sinh trưởng của Quercus trồng hỗn loài tốt hơn Quercus trồng thuần loài Ngoài ra, khi trồng Quercus hỗn loài với các loài cây khác theo băng hẹp (3 -
4 hàng) hoặc theo hàng cũng cho thấy sinh trưởng của Quercus tốt hơn [35]
Dự án xây dựng rừng nhiều tầng ở Malaysia (1999) đã nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng bằng các phương thức khác nhau Tuỳ theo các đối tượng khác nhau là rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng 10 - 15 tuổi hay rừng Keo tai tượng 2 - 3 tuổi mà mở các băng chặt và chừa khác nhau Chiều rộng băng chặt và chừa từ 6m (chặt 1 hàng) đến 60m (chặt 20 hàng) Thời gian đưa các loài cây bản địa vào trồng hỗn loài trong các băng chặt cũng rất khác nhau, từ 1 - 7 năm sau khi mở băng chặt Các loài cây bản địa đưa vào trồng trong các băng chặt tương đối phong phú, từ 14 - 23 loài cây khác nhau với số hàng từ 3 đến 16 hàng Kết quả cho thấy trong các loài cây bản địa được trồng trong các băng có 3 loài cây có sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất
là S roxburrghii; S ovalis; S leprosula Sinh trưởng chiều cao của các loài
cây trồng trong băng 10m và 40m tốt hơn băng 20m Khu trồng theo hàng có sinh trưởng chiều cao tốt nhất ở công thức trồng 1 hàng Keo xen 1 hàng cây bản địa Dự án còn đưa ra kế hoạch điều chỉnh quá trình sinh trưởng của các
mô hình thí nghiệm theo 8 thời điểm từ 2 - 47 năm sau khi trồng [39] Như vậy, đây là một trong những công trình nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài trên thế giới tương đối toàn diện về các biện pháp kỹ thuật, từ việc chọn loài
Trang 9cây trồng đến nghiên cứu phương thức trồng, thời điểm trồng và sự điều chỉnh
mô hình theo quá trình sinh trưởng trong thời gian dài Do đó, những mô hình thí nghiệm này hứa hẹn nhiều thành công trong tương lai
Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh các lâm phần
rừng trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng các tác giả Ball, Wormald và Russo (1994) đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn loài thông qua việc giảm bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây Kết quả cho thấy sau khi tác động các biện pháp tỉa cành, tỉa thưa, các loài cây mục đích đã được tạo điều kiện thuận lợi để sinh trưởng phát triển tốt hơn [35]
Ngoài các nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài nhằm phát huy tốt giá trị phòng hộ của rừng thì việc nghiên cứu chọn loài cây trồng lá rộng bản địa sao cho có thể phát huy tốt các giá trị này đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm và đã có những kết quả nghiên cứu bước đầu
Các nghiên cứu liên quan đến chọn loài cây trồng đã được thực hiện từ
khi loài người biết trồng rừng Bắt đầu từ những thí nghiệm thăm dò đến khảo nghiệm loài và xuất xứ, các thí nghiệm được bố trí một cách nghiêm ngặt theo các nguyên tắc khoa học để từ đó chọn được loài thích hợp cho mỗi vùng sinh thái Tại nhiều nước đã có một số nghiên cứu dùng các mô hình toán để tối ưu
cơ cấu cây trồng cho từng vùng Ở các nước vùng ôn đới số loài cây chính dùng trong trồng rừng thường rất ít, nên người ta đã tìm hiểu mối quan hệ giữa cây và lập địa rất cụ thể, chi tiết cho từng loài [30]
Ở Liên Xô và Trung Quốc thường dùng công thức để xác định diện tích
rừng chống xói mòn ở đất dốc là: F =
h
K P K
Trang 10- A là diện tích bậc thang mà diện tích rừng bảo vệ dốc phải phòng chống xói mòn (ha)
- P là diện tích đồng cỏ mà diện tích rừng bảo vệ dốc phải phòng chống (ha)
- K1 là độ dày tầng nước mặt lớn nhất của dòng nước mặt sản sinh ra trên mỗi ha ruộng bậc thang (mm/phút)
- K2 là độ dầy tầng nước mặt lớn nhất của dòng nước mặt sản sinh ra trên mỗi ha đồng cỏ (mm/phút)
- h là sức hút nước của đất rừng (mm/phút)
Đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, một số nước trên thế giới đã áp dụng phương pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, trồng bổ sung, bảo vệ ngăn ngừa các tác động xấu tới rừng Tại Malaysia đã xây dựng rừng nhiều tầng với việc sử dụng 2 loài cây trồng khác nhau; Nhật Bản cũng đã tạo rừng nhiều tầng bằng cách khai thác rừng theo băng rộng 4 - 5 m và sau đó trồng mới vào các băng rừng đã chặt
Biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ ven biển cũng được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu của V.A Lômitcôsku (1809), Dokuchaep (1982), X A Timiriazep (1983, 1909, 1911) đều cho rằng trên các hoang mạc muốn cải thiện tiểu khí hậu và cải tạo đất phải trồng rừng phòng
hộ thành hệ thống đai theo mạng lưới ô vuông, có kết cấu kín, có hỗn giao nhiều tầng Ở Trung Quốc và các nước Trung Đông, miền Đông và Tây Châu Phi thì Phi lao được coi là loài cây chủ đạo trồng trên các vùng cát thành các
hệ thống đai có chiều rộng ít nhất 100 - 200 m Sau đai rừng Phi lao là các đai rừng hỗn giao hoặc thuần loài của Bạch đàn, Keo, Thông nhựa, phía trong cùng sau các đai rừng dùng để canh tác nông nghiệp
Trang 111.2 Ở Việt Nam
Trong những năm qua đã có nhiều những công trình nghiên cứu về các loài cây bản địa nhằm phục vụ công tác trồng rừng phòng hộ ở nước ta điển hình là các nghiên cứu sau:
Tổng kết các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay Bộ NN&PTNT (2005) đã đưa ra được danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp, bao gồm cả các loài cây bản địa và cây nhập nội, trong đó có nhiều loài cây có thể trồng hỗn loài với nhau [3] Chương trình 327 và 661 đã đưa ra một bảng danh mục với hơn 60 loài cây phục vụ cho việc tạo lập các lâm phần rừng trồng trong cả nước Trần Quang Việt và cộng sự (1997) đã đánh giá tập đoàn cây trồng trong chương trình 327 trên các vùng sinh thái trong cả nước và thống kê được 70 loài cây đã được sử dụng trồng rừng trong Chương trình 327 Theo tác giả Hoàng Hoè và Trần Xuân Thiệp (1999) thì ở nước ta có khoảng 250 loài cây bản địa và nhập nội
đã và đang được sử dụng để trồng rừng [30] Như vậy việc tạo lập các lâm phần rừng trồng nói chung và các lâm phần rừng trồng hỗn loài nói riêng ở nước ta đã chọn ra được nhiều loài cây trồng phù hợp cho các vùng sinh thái trong cả nước Đó là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng và nâng cao năng xuất chất lượng rừng trồng ở nước ta
Trong chương trình “Khôi phục rừng và phát triển lâm nghiệp” giai đoạn 1991 - 1995, Vũ Văn Mễ đã nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cây lâm nghiệp để phát triển trồng rừng ở lưu vực sông Đà Về loài cây trồng, đã lựa chọn đươ ̣c nhóm những loài cây mọc nhanh (Keo lá tràm, Keo mangium, Trẩu, Keo lá sim, Tông dù) và nhóm những loài cây bản địa mọc châ ̣m, có giá trị sử dụng gỗ hoặc quả (Lát hoa, Long não, Vối thuốc, Xoài) Về phương thức trồng: những nơi đất trống đồi trọc, đất đang bị xói mòn, gần bờ sông thuộc vùng rất xung yếu, cần thiết phải trồng các loài cây mọc nhanh để sớm
Trang 12có lớp thảm che phủ mặt đất đáp ứng mục tiêu phòng hộ là chính Đối tượng thứ hai là đất còn tốt, rừng nghèo sau khai thác kiệt hoặc đất có cây bụi lúp xúp không có khả năng phục hồi thành rừng, tại đây nhu cầu phòng hộ không cấp thiết Vì thế cần trồng những loài cây mọc chậm có giá trị kinh tế và phòng hộ cao, bền vững
Với đặc tính của hầu hết các loài cây lá rộng bản địa là thường ưa bóng trong giai đoạn còn nhỏ, do vậy việc tạo được lớp “áo che” cho các loài cây bản địa trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng là việc làm đầu tiên và rất cần thiết khi muốn tạo lập lâm phần hỗn loài, đặc biệt là trên đối tượng đất
trống, đồi trọc Nghiên cứu lựa chọn cây phù trợ để xây dựng rừng trồng hỗn
loài đã được nhiều tác giả quan tâm Điển hình là một số công trình sau:
- Năm 1931 tác giả Maurand đã sử dụng lớp cây bụi thảm tươi trong rạch làm cây phù trợ để tạo rừng hỗn loài giữa Sao đen, Dầu rái và Vên vên ở
Trảng Bom Đồng Nai Ban đầu tác giả đã áp dụng phương thức “trồng rừng
dưới tán che dày và thấp”, sau 2 năm phương thức này đã được cải tiến thành
phương thức "trồng dưới tàn che cao và nhẹ" Sau khi được cải tiến phương
thức trồng, các loài cây trồng chính vẫn sinh trưởng phát triển kém nên tác giả tiếp tục dùng thảm che nhân tạo với các loài cây họ đậu là Muồng đen và Đậu tràm Kết quả cho thấy rằng dùng cây che phủ ban đầu kết hợp cây che trung gian là có hiệu quả [6] Như vậy, trong công trình này tác giả đã sử dụng cả 2 loại thảm che tự nhiên và thảm che nhân tạo để làm cây phù trợ Tuy nhiên,
sự kết hợp hai loại thảm che này không được tính đến từ đầu khi thiết kế rừng trồng, do đó chưa đánh giá được tác dụng riêng rẽ của từng loại thảm che
- Giai đoạn 1971 - 1976 tác giả Nguyễn Bá Chất và các cộng sự đã sử dụng cây phù trợ là các loài cây có khả năng cố định đạm như: Cốt khí, Ràng ràng mít, Lim xẹt để tiến hành thí nghiệm trồng rừng hỗn loài Bồ đề với Mỡ
và Xoan đào ở Tuyên Quang và Phú Thọ Kết quả sau 5 năm cho thấy năng
Trang 13xuất rừng Bồ đề trồng hỗn loài có cây phù trợ tăng 15 - 20% so với rừng Bồ
đề trồng thuần loài không có cây phù trợ Lượng thảm mục dưới rừng trồng hỗn loài cũng tăng lên 10 - 20%, đất đai dưới rừng trồng hỗn loài được cải thiện hơn so với rừng trồng thuần loài [6]
- Năm 1985 các tác giả Nguyễn Minh Đường và Lê Đình Cẩm đã sử dụng các loài cây Muồng đen, Keo lá tràm, Đậu tràm và Keo dậu làm cây phù
trợ để xây dựng rừng trồng hỗn loài Sao đen, Dầu rái, Gõ đỏ, Cẩm lai, Căm
xe cung cấp gỗ lớn ở lâm trường La Ngà (Đồng Nai) Các công thức được
trồng hỗn loài theo hàng và theo băng với kích thước các băng chặt, chừa là 10m và 20m Xen giữa 2 hàng cây trồng chính là các hàng cây phù trợ Sau một năm trồng cho thấy cây phù trợ mới chỉ có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của các loài cây trồng chính [13] Nhìn chung, các thí nghiệm trồng Dầu rái, Sao đen, Gõ đỏ trên các loại đất xám phù xa cổ thoái hoá ở Trảng Bom, đất ba gian nông màu đen ở Bàu Cạn, trên đất phiến thạch sét ở Mã Đà (Đồng Nai), đất phù sa cổ sâu ẩm ở Dương Minh Châu cũng chỉ có nhận xét tương tự
- Năm 1995 tác giả Phạm Đình Tam đã sử dụng cây Keo lai làm cây phù trợ để tạo rừng trồng hỗn loài giữa Trám trắng và Lim xẹt ở Bình Thanh - Hoà Bình [28] Đến năm thứ 4 Keo lai sinh trưởng nhanh đã bắt đầu che bóng Lim xẹt và Trám trắng Hiện tại mô hình đang có sự cạnh tranh mạnh, các loài Trám trắng và Lim xẹt đang bị Keo lai lấn át nên các loài cây trồng chính trong lâm phần đều không sinh trưởng phát triển tốt
- Giai đoạn 1994 - 1998 Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài ở Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng Trên đối tượng đất trống, đồi trọc, tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm làm “áo che” phủ Khi rừng Keo bắt đầu khép tán tác giả đã đưa vào trồng dưới tán Keo 10 loài cây lá rộng bản địa khác nhau Sau 4 năm thí nghiệm tác giả cho thấy phương pháp trồng rừng ẩm dưới tàn che nhìn chung là thích hợp cho tất cả
Trang 14các loài trung sinh trong giai đoạn 1 - 2 năm đầu Biện pháp lột tán theo định
kỳ thích hợp cho loài chịu bóng mọc chậm (Gội trắng, Giổi xanh, Re gừng) nhưng lại cản trở cây ưa sáng mọc nhanh (Lát hoa, Sấu, Nhội, Muồng đỏ) Kết quả cũng cho thấy dùng cây che phủ ban đầu Keo lá tràm là thích hợp nhất [15] Tuy nhiên, do thí nghiệm mới tiến hành trong giai đoạn ngắn nên chưa thể biết được 10 loài cây đó sẽ tồn tại như thế nào trong các giai đoạn sau Việc sử dụng các loài cây ưa sáng như Lát hoa và Muồng đỏ trồng duới tán Keo hiện tại đã cho thấy khó khăn trong việc nuôi dưỡng mô hình này Mặt khác phương pháp trồng hỗn loài theo hàng dưới tán Keo tác giả chưa cho thấy rừng hỗn loài này sẽ có cấu trúc ra sao theo thời gian Tuy vậy, có thể nói rằng đây là mô hình tương đối toàn diện về các biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài, từ việc tạo áo che, đến việc xác định thời điểm đưa các loài cây bản địa vào trồng dưới tán và các biện pháp lột dần tán che để các loài cây trồng chính sinh trưởng, phát triển
Nghiên cứu phương thức và phương pháp hỗn loài cũng đã được nhiều
tác giả quan tâm Thực tế cho thấy các mô hình rừng trồng hỗn loài ở nước ta đến nay chủ yếu là áp dụng theo phương thức trồng rừng hỗn loài giữa cây cao với cây cao Điển hình là thí nghiệm trồng rừng hỗn loài theo hàng giữa Mỡ với các loài cây Lim xanh, Xà cừ, Tếch của Học viện Nông Lâm (1962) [14]; Nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn loài giữa cây trồng chính, rụng lá mùa khô là Tếch với cây bạn thường xanh là Muồng đen và cây phù trợ là Đậu tràm
ở Tây Nguyên của Nguyễn Xuân Quát (1985 - 1990) [27]; Nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa cây lá kim (Thông đuôi ngựa) và cây lá rộng (Keo lá tràm, Bạch đàn trắng) ở Núi Luốt Xuân Mai của Phùng Ngọc Lan (1986) [22]; Nghiên cứu phương thức trồng hỗn loài Mỡ và Bồ đề của Ngô Quang Đê (1991) [12]; Nghiên cứu thiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây ưa sáng Bạch đàn trắng và Keo lá tràm của Nguyễn Hữu Vĩnh và các cộng tác viên (1991-1993)
Trang 15[32]… Hầu hết các công trình nghiên cứu này đều áp dụng phương pháp trồng hỗn loài theo theo hàng hoặc theo băng Các kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy dù được xây dựng theo phương thức và phương pháp nào thì rừng trồng hỗn loài đều cho năng xuất, chất lượng cao hơn và cải thiện tốt hơn điều kiện đất đai so với rừng trồng thuần loài
Từ năm 1980 trở lại đây, việc phục hồi rừng thông qua tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Nổi bật là công trình “Nghiên cứu các phương thức
phục hồi rừng vùng Sông Hiếu” của Nguyễn Bá Chất Tác giả đã trồng hỗn
loài cây Lát hoa với các loài cây lá rộng bản địa khác như Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõi thọ, Ràng ràng nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp lý Mô hình này được theo dõi đến năm thứ 10 và cho thấy sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên có ưu điểm hơn về sinh trưởng của các loài cây trồng và có dấu hiệu phục hồi đất tốt hơn [7]
Dự án RENFODA do JICA tài trợ đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái ở Cao Phong - Hoà Bình bằng cách tạo ra rừng trồng hỗn loài các loài cây lá rộng bản địa theo phương thức hỗn loài giữa các loài cây cao ưa sáng và chịu bóng với nhau Các loài cây lá rộng bản địa được kết hợp để tạo rừng trồng hỗn loài là Giẻ đỏ, Lim xanh, Trám trắng và Sồi phảng Phương pháp hỗn loài là theo rạch và theo đám Kết quả sau 4 năm thí nghiệm (2004 - 2007) cho thấy các loài cây trồng đều rất có triển vọng, tỷ lệ sống của các loài đều đạt trên 95% So với phương pháp trồng hỗn loài theo đám thì sinh trưởng của các loài cây trồng theo rạch đều tốt hơn [31]
Nghiên cứu tạo rừng trồng hỗn loài nhiều tầng, Trần Ngũ Phương (2000) [26] đã đề xuất mô hình thiết kế rừng hỗn loài nhiều tầng cho mục đích phòng hộ và sản xuất thông qua các phương thức hỗn loài khác nhau như
Trang 16hỗn loài giữa cây cao và cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao Căn cứ trên công trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu của rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam tác giả đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nước ta đều phân thành nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm tươi Tính chất này đã được xác nhận bởi kết quả điều tra rừng Việt Nam Dựa trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục tiêu phòng hộ đầu nguồn cho các vùng xung yếu, trong đó có 2 mô hình hỗn loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng và rừng sản xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng
Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu, mục tiêu hàng đầu của chương trình trồng rừng 327 là phòng hộ môi trường Một trong những phương thức trồng rừng của dự án là phương thức phục hồi rừng cây bản địa Để bảo đảm giá trị phòng hộ và duy trì tính đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới, các dự án cần:
+ Hạn chế các giải pháp trồng rừng theo cách “cạo trắng” trồng rừng thuần loại, nhất là cây nhập nội
+ Tăng cường và khuyến khích phục hồi rừng theo hướng “làm giàu bằng cây bản địa” như trồng bổ sung cây mới theo băng hay rạch hoặc các lỗ trống với mật độ 300 - 500 cây/ha và duy trì tối đa thảm thực bì tự nhiên cũ,
dù chỉ là cây bụi nhỏ
Dự án trồng rừng hỗn loài các loài cây gỗ giá trị cao để cung cấp gỗ và tăng cường các dịch vụ cộng đồng ở Việt Nam cũng như Australia (2002-2006) đã thiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây nhập nội và cây bản địa với các thời điểm hỗn loài khác nhau tại 3 địa điểm: i) Tại Đoan Hùng - Phú Thọ: trồng cùng thời điểm các loài Bạch đàn urophylla, Giổi xanh, Lát hoa và Trám trắng; ii) Tại vườn quốc gia Tam Đảo: trồng hỗn loài Sấu, Xà cừ, Lim xanh và Keo lai vào cùng một thời điểm; iii) Tại đèo Hải Vân - Huế tạo rừng hỗn loài giữa Keo tai tượng với Sao đen, Dầu rái và Chò chỉ, trong đó
Trang 17Keo tai tượng được trồng trước 7 năm sau đó được chặt theo băng để đưa các loài cây bản địa vào trồng dưới tán với mật độ 250 cây/ha Kết quả sau 3 năm cho thấy các loài cây trồng đều có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt và có nhiều triển vọng Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả bước đầu Mặt khác khi thiết kế xây dựng mô hình, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài cây chưa được chú ý Vì vậy, với các mô hình này cần phải theo dõi để có biện pháp tác động kịp thời, điều chỉnh sự cạnh tranh giữa các loài, đặc biệt là các loài cây mọc nhanh như Bạch đàn và Keo lai, tạo điều kiện để mô hình sinh trưởng, phát triển bình thường
Mô hình làm giàu rừng bằng các loài Lát hoa, Ràng ràng, Lim xẹt, Xoan mộc, Giổi xanh, Re hương tại Đoan Hùng - Phú Thọ Đối tượng làm giàu rừng là trạng thái rừng IIIA1 có cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàn toàn, tái sinh tự nhiên cây mục đích không đảm bảo về số lượng (nhỏ hơn 1000 cây/ha) Biện pháp kỹ thuật: mở rạch, rạch phát rộng 2m, rạch chừa 3m, trồng các loài Lát hoa, Ràng ràng, Lim xẹt, Xoan mộc (nhóm ưa sáng) Trên các rạch 2m trồng các loài Giổi xanh, Re hương (nhóm cây trung tính) kết quả cây trồng tỷ lệ sống đạt trên 90%, các loài cây làm giàu tỏ ra thích hợp Giổi xanh, Re hương
Trần Nguyên Giảng (1998), đã nghiên cứu trồng 10 loài cây bản địa
dưới tán rừng keo lá tràm (A auriculiformics) và keo tai tượng (A mangium)
tại vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng Sau 1năm trồng, kết quả bước đầu cho thấy cây bản địa có khả năng thích hợp và sinh trưởng tốt Nhưng đến năm
1998 thì mô hình này lại có những kết quả khác nhau Cây bản địa trồng dưới tán rừng keo lá tràm có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt, trong khi
đó cây bản địa trồng dưới tán rừng keo tai tượng có tỷ lệ sống thấp, sinh trưởng, phát triển kém không có triển vọng Tác giả cho rằng có thể là do nhu
Trang 18cầu nước của keo tai tượng giai đoạn này lớn làm cho đất luôn luôn khô cứng nên cây bản địa dưới tán sinh trưởng kém [15]
Vi Hồng Khánh (2003), khi đánh giá sinh trưởng của một số loài cây bản địa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển rừng tại trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh Cầu Hai trên cơ sở nghiên cứu 34 loài cây bản địa ở vườn thực vật với các chỉ số sinh trưởng của nó đã đưa ra kết luận Những loài có sức sống tốt, có khả năng nhân rộng và phát triển cho các điều kiện lập địa tương tự là Lim xanh, Re gừng, Xoan đào, Sồi phảng, Chiêu liêu, Giổi xanh, đó là những cây thích ứng và phát triển tốt, phù hợp với công tác làm giàu, cải tạo và phục hồi rừng [21]
Đỗ Thị Quế Lâm (2003), khi thực hiện nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái học của một số loài cây bản địa trồng dưới tán rừng thông đuôi ngựa
và keo lá tràm tại núi Luốt - Trường Đại học Lâm nghiệp, đề tài đã đưa ra khuyến cáo loài Đinh thối trồng dưới tán rừng Keo lá tràm tốt hơn trồng dưới tán rừng Thông đuôi ngựa Điều này có thể là do Keo lá tràm là loài có khả năng cố định đạm, cải thiện được đất, nên nó là cây phù trợ tốt hơn Thông đuôi ngựa [23]
Theo Lại Hữu Hoàn (2004), vùng Trung trung bộ có diện tích rừng trồng cây lá rộng bản địa đến năm 2003 là 34.940ha chiếm 16% diện tích rừng trồng trong vùng Trong đó, diện tích các mô hình trồng thử nghiệm dưới tán rừng là 5.621ha Qua một năm điều tra, tác giả cũng đã đưa ra đề xuất lựa chọn 18 loài cây cho trồng rừng phòng hộ và đặc dụng, trong đó 7 loài có thể đáp ứng được cho nhu cầu trồng rừng kinh tế [19]
Phạm Thanh Hùng (2006) khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân
tố đến sinh trưởng và hình thái của cây bản địa trồng dưới tán Keo lá tràm ở Bắc Hải Vân, kết quả nghiên cứu sinh trưởng cây bản địa cho thấy các loài cây bản địa sinh trưởng khá tốt Ở địa hình chân, Chò chỉ, Dầu rái là hai loài
Trang 19cây sinh trưởng nhanh nhất trong các loài nghiên cứu, tiếp đến là Huỷnh, cuối cùng là Sao đen; Ở địa hình sườn, Chò chỉ sinh trưởng nhanh nhất, sau đó là Sao đen, Dầu rái, Huỷnh; Ở địa hình đỉnh, sinh trưởng của các loài cây bản địa chưa thể hiện rõ quy luật Do đó cần quan tâm đến việc gây trồng các loài cây này để nhanh chóng chuyển hoá rừng Keo lá tràm thành rừng hỗn giao cây bản địa ở khu vực nghiên cứu [20]
Lê Minh Cường (2007), đã thực hiện đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây lá rộng bản địa trồng dưới tán rừng thông Mã vĩ ở Đại Lải-Vĩnh Phúc làm cơ sở để chuyển hoá rừng thông thuần loài thành rừng hỗn loài Đề tài đã đề xuất 3 loài cây bản địa là: Lim xanh, Re hương, Sao đen để gây trồng dưới tán rừng thông Mã vĩ tại Đại lải hoặc những khu vực có điều kiện tương tự [10]
Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, vào khoảng những năm 1950 sau khi miền Bắc được giải phóng, vấn đề này
được đề cập đến trong thuật ngữ “khoanh núi nuôi rừng” Tuy nhiên, trong một
thời gian rất dài sau đó người ta chỉ chú ý đến khai thác rừng tự nhiên là chính
Mãi đến những năm 1990, người ta mới hiểu chính xác về cụm từ này, và phát triển theo cụm thuật ngữ “phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”
và được thể hiện trong 2 quy phạm ngành QPN 14 - 92 và QPN 21 - 98
Trồng rừng phòng hộ là giải pháp duy nhất để khôi phục rừng trên những vùng đất trống, đồi núi trọc, đất rừng đã bị thoái hoá Trong đó việc lựa chọn loài cây trồng là một khâu quyết định đến khả năng phòng hộ của rừng Sau nhiều năm tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn, danh sách gồm 34 loài cây trồng rừng phòng hộ đã được đề xuất
Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát và Đào Công Khanh (1997) đã nghiên cứu xác định chủng loại cây bản địa phục vụ cho trồng rừng phòng hộ ở một
số vùng trọng điểm Trên cơ sở tiêu chuẩn cây bản địa đưa vào trồng rừng
Trang 20phòng hộ là phải phù hợp với tiểu vùng sinh thái, có tác dụng phù trợ lẫn nhau, điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, sống lâu năm, tán lá dày, thường xanh, bộ rễ phát triển sâu các tác giả đã đưa ra mô hình trồng rừng phòng hộ
dự tuyển cho 7 vùng sinh thái lâm nghiệp trên cả nước Trong đó, vùng Tây Bắc có 2 mô hình là:
+ Thông 3 lá + Táo mèo: 1 hàng (3 x 2m) + 1 hàng (3 x 2m)
+ Long não + Trẩu ta: Rạch 1 hàng (9 x 2m) + băng 2 hàng (3 x 2m)
Võ Đại Hải (2000) [16] trong khi nghiên cứu những giải pháp cho quản
lý và xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên đã đưa ra một số mô hình phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn khá thành công là các mô hình tại Kbang - Sơ Pai tiểu vùng Kon Hà Nừng; mô hình trên quốc lộ 22 gần huyện Kông - Plông miền Đông Kon Tum; Mô hình ở Tỉnh Lộ 674 Phú Thiệu - Kông cho vùng Đông Nam Pleiku; mô hình gần quốc lộ 20 vùng hồ Thuỷ Tiên - Đà Lạt Đây đều là các đối tượng rừng sau khai thác kiệt và rừng phục hồi sau nương rẫy Sau khi áp dụng khoanh nuôi có trồng bổ sung các đối tượng rừng trên đều phục hồi tốt
Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ làm cơ
sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng được quan tâm Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã công bố công trình
“Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước”,
trong đó các tác giả đã đánh giá được năng lực phòng hộ của một số dạng cấu trúc thảm thực vật rừng về mặt chống xói mòn và điều tiết nguồn nước Cụ thể lượng nước mưa bị tán rừng ngăn cản dao động từ 5,75 - 11,6% tùy thuộc vào từng loại rừng; lượng nước tạo thành dòng chảy ngầm và các dạng khác từ 88,2% - 92,5% tổng lượng nước mưa; lượng nước tạo thành dòng chảy bề mặt
ở những nơi có rừng rất thấp, qua đó hạn chế khả năng hình thành lũ và lũ quét
Trang 21Các tác giả cũng đã thành công trong việc xây dựng phương pháp đo lượng nước mưa lọt qua tán rừng Theo đó thì phải dùng ít nhất 9 ống đo mưa bố trí
hệ thống trên diện tích 3600 m2 sẽ cho kết quả tin cậy với sai số luôn nhỏ hơn 10% Một thành quả nữa được thể hiện rõ nét qua công trình nghiên cứu này là việc xác định cấu trúc hợp lý của thảm thực vật rừng chống xói mòn đất Hai tác giả đã xây dựng được bảng tra hệ số thảm thực vật (hệ số C) tương ứng với đặc điểm và cấu trúc của một số thảm rừng [24]
Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2005) [25] cho biết Dự án 661 giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừng trồng phòng
hộ đầu nguồn Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh có trồng rừng phòng hộ đầu có tới 188 mô hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn chia thành 4 nhóm chính là: Cây bản địa trồng hỗn giao với nhau và cây bản địa hỗn giao với cây phù trợ; Các loài Thông trồng thuần loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây khác; Các loài Keo trồng thuần loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác; Các loài Tre, luồng trồng thuần loài Trong những năm gần đây, các mô hình này đang được phát triển rộng hơn ở nhiều tỉnh trên cả nước
Tóm lại, có thể thấy rằng rừng phòng hộ, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn được quan tâm chú ý ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, việc nghiên cứu xây dựng và phát triển rừng phòng hộ, rừng phòng hộ đầu nguồn được Nhà nước đặc biệt quan tâm, rất nhiều các công trình nghiên cứu, các
Dự án quy hoạch vùng phòng hộ đầu nguồn được phê duyệt và triển khai Các văn bản pháp luật được ban hành đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ở nước ta Đánh giá các mô hình rừng trồng phòng hộ được một số tác giả quan tâm nhưng nói chung còn ít hoặc nếu có thì mới chỉ thực hiện trên diện rộng, thiếu những nghiên cứu cụ
thể cho từng vùng, đặc biệt ở Phú Thọ
Trang 22Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng kết và đánh giá được các mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn, các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ
- Phân tích được các khoảng trống, sự thiếu hụt trong hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng phòng hộ dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất được một số khuyến nghị về loài cây, mô hình và biện pháp
kỹ thuật rừng trồng phòng hộ đầu nguồn có triển vọng tại tỉnh Phú Thọ
2.2 Đối tượng và giới hạn địa bàn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các mô hình rừng trồng phòng hộ tại tỉnh Phú Thọ trong dự án 661 giai đoạn 1999 - 2010
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Các mô hình đánh giá được giới hạn trong 5 huyện (huyện Phù Ninh, huyện Yên Lập, huyện Cẩm khê, huyện Thanh Sơn, huyện Thanh Ba) của tỉnh Phú Thọ
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung vào các nội dung nghiên cứu sau:
- Tổng kết các mô hình và biện pháp kỹ thuật rừng trồng phòng hộ đầu nguồn đã xây dựng trong dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ
- Đánh giá một số mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn trong dự án
Trang 232.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu
Dự án 661 là một chủ trương lớn trong nỗ lực khôi phục và phát triển tài nguyên rừng của Đảng và Nhà nước ta Dự án được triển khai trên phạm vi quy
mô toàn quốc và cho tới nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu đánh giá
về các vấn đề có liên quan tới loài cây trồng, biện pháp kỹ thuật cũng như suất đầu tư đối với các hoạt động trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ tại nhiều vùng trên cả nước Tới nay, dự án đã kết thúc vì vậy đòi hỏi cần có những nghiên cứu tổng hợp hơn, chi tiết hơn nhằm đánh giá được những thành công, thất bại của
dự án, đặc biệt là các mô hình rừng trồng phòng hộ, loài cây và biện pháp kỹ thuật đã áp dụng thành công nhằm đề xuất mở rộng
Xuất phát từ những lý do đó, quan điểm của đề tài đưa ra trong quá trình thực hiện là kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu, đánh giá đã được thực hiện trong hơn 10 năm qua và trên cơ sở đó tiến hành điều tra, phân tích bổ sung theo chiều sâu, rộng và chi tiết hơn đối với kết quả thực hiện trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong dự án 661 thực hiện tại tỉnh Phú Thọ Các mô hình
rừng trồng đã xây dựng khá đa dạng nên trong quá trình đánh giá đề tài sẽ tiếp
cận theo mô hình, loài cây gắn với kỹ thuật Sự thành công của các mô hình rừng
trồng phòng hộ dự án 661 không chỉ do các yếu tố kỹ thuật, do vậy tiếp cận hệ thống sẽ được áp dụng để nghiên cứu trong đề tài, cụ thể là đánh giá cả yếu tố kỹ thuật gắn với các chính sách
Phương pháp tiếp cận của đề tài là theo hướng tổng hợp thông tin, số liệu
đa chiều từ nhiều nguồn khác nhau, từ những nghiên cứu tổng kết đánh giá kết quả thực hiện trồng rừng phòng hộ đầu nguồn của dự án ở các cấp xã tới cấp huyện và cuối cùng là cấp tỉnh Phương hướng và cách giải quyết vấn đề của đề tài được mô hình hoá theo sơ đồ hình 01
Trang 24Hình 01: Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài
Phân tích nguyên nhân thành công, tồn tại
Thu thập các thông
tin, số liệu đã có
Khảo sát khu vực, lựa chọn đối tượng điều tra
Tổng kết các mô hình và biện pháp
kỹ thuật rừng trồng phòng hộ đầu nguồn trong dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ
Phân tích những khoảng trống
Đánh giá mô hình
trồng rừng phòng
hộ đã xây dựng
Sinh trưởng của mô hình
Đề xuất giải pháp
Trang 252.4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Thu thập các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu đã có
- Thu thập các văn bản hướng dẫn kỹ thuật, các quyết định, chỉ thị của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng Cục Lâm nghiệp, các thông tư hướng dẫn liên bộ và của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, liên quan đến kỹ thuật trồng rừng phòng hộ và chính sách trong Dự án 661; Các thông tin chung về tình hình thực hiện, triển khai dự án và những vấn đề có liên quan từ Ban quản lý dự án 661 Trung ương và các ban quản lý
- Thu thập các hướng dẫn kỹ thuật, cơ chế chính sách, loài cây và các
mô hình áp dụng trong Dự án 661 của tỉnh Phú Thọ Các thông tin, số liệu về tình hình, tiến độ thực hiện dự án tại Ban quản lý Dự án 661 tỉnh, các Ban quản lý dự án cơ sở
2.4.2.2 Phương pháp khảo sát, đánh giá trên thực địa
Phương pháp đánh giá chung được áp dụng là lập ô tiêu chuẩn, kết hợp với điều tra sơ thám và phỏng vấn cán bộ kỹ thuật, người dân tham gia trồng rừng phòng hộ, những người tham gia quản lý, điều hành và thực hiện dự án
661 tại tỉnh Phú Thọ Các bước của quá trình khảo sát, đánh giá như sau:
- Làm việc với lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Lâm nghiệp, Ban quản lý Dự án 661 của tỉnh và các Ban quản lý Dự án
cơ sở trực thuộc để nắm được tình hình chung về việc triển khai thực hiện dự
án, các hướng dẫn kỹ thuật, các cơ chế chính sách và các mô hình lâm sinh đã
áp dụng, các loài cây trồng rừng, biện pháp kỹ thuật (lập địa, xử lý thực bì,
Trang 26làm đất, phương thức trồng, mật độ trồng, bón phân, thời vụ, ) chủ yếu áp dụng trong Dự án, tình hình tổ chức thực hiện, những khó khăn, vướng mắc
mà các địa phương gặp phải và các kiến nghị, đề xuất của lãnh đạo, cán bộ và người dân địa phương Từ đó chọn ra các địa điểm để điều tra, khảo sát và đánh giá chi tiết Cụ thể như sau:
+ Số người được phỏng vấn như sau:
Chi cục Lâm nghiệp tỉnh: 1 lãnh đạo và 2 cán bộ kỹ thuật
Ban quản lý dự án 661 cấp huyện: Phù Ninh, Yên Lập, Cẩm Khê, Thanh Sơn và Thanh Ba mỗi huyện 3 người
Người dân tham gia trồng rừng phòng hộ của 5 huyện:
- Huyện Phù Ninh là 10 người
- Huyện Yên Lập và huyện Cẩm Khê mỗi huyện 6 người
- Huyện Thanh Sơn và huyện Thanh Ba mỗi huyện 3 người
(danh sách những người được phỏng vấn được thể hiện ở phần phụ biểu)
+ Điều tra thực địa 5 điểm nghiên cứu có diện tích rừng trồng phòng hộ lớn là huyện Phù Ninh, huyện Yên Lập, huyện Cẩm Khê, huyện Thanh Sơn
và huyện Thanh Ba Sau đó tiến hành chọn mô hình trên mỗi huyện, trong đó:
- Huyện Phù Ninh lựa chọn 4 mô hình là: i) Lim xanh + Keo lai; ii) Lim xẹt + Trám trắng + Keo lai; iii) Sấu + Trám trắng + Keo lai; iv) Keo lai + Tre măng bát độ
- Huyện Yên Lập lựa chọn 2 mô hình là: i) Lim xẹt + Keo lai; ii) Luồng + Lát hoa + Muồng đen
- Huyện Cẩm Khê lựa chọn 2 mô hình là: i) Sấu + Lim xẹt + Keo lai; ii) Luồng + Keo tai tượng
- Huyện Thanh Sơn lựa chọn 1 mô hình là: Tre măng bát độ + Lát
- Huyện Thanh Ba lựa chọn 1 mô hình là: Keo lai + Trám trắng + Lim xẹt
Trang 27Tại mỗi mô hình lập 3 ô tiêu chuẩn hình chữ nhật diện tích 500 m2
(20m x 25m) Trong trường hợp số cây còn lại của mỗi loài trên mỗi OTC<30 cây thì diện tích OTC sẽ được mở rộng hơn để đảm bảo có ít nhất có 30 cây còn sống cho mỗi loài Như vậy, tổng số OTC điều tra là 30 OTC, các OTC này được rải đều trên phạm vi nghiên cứu
+ Trên các ô tiêu chuẩn, tiến hành đo đếm thu thập các số liệu về:
- Loài cây trồng, tuổi rừng
- Phương thức trồng
- Cự ly trồng (mật độ)
- Bón phân, chăm sóc rừng
- Tình hình sinh trưởng của cây trồng trong các mô hình như tỷ lệ sống
Doo, D1,3, Hvn, Dt, độ tàn che, độ che phủ (kết quả điều tra sẽ được ghi vào mẫu phiếu điều tra chi tiết)
2.4.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu điều tra ô tiêu chuẩn rừng trồng, tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng
Tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng như: D1 3; Hvn; Dt, theo các công thức:
D1 3 =
n
i D
n i
1
3 1
; Hvn =
n
Hvni
n i
Trang 28Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Phú Thọ là tỉnh miền núi thuộc Trung tâm Bắc bộ, nằm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc Trung tâm tỉnh cách thủ đô Hà Nội 80km, là nơi chung chuyển, tiếp nối giữa Hà Nội và 2 cửa khẩu Quốc tế Lào Cai và Thanh thủy (Hà Giang)
Tọa độ địa lý:
- Từ 200 55' 00" đến 210 43' 00" vĩ độ Bắc
- Từ 1040 47' 30" đến 1050 27'30" kinh độ Đông
Ranh giới hành chính của tỉnh như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái
- Phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình
- Phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây
- Phía Tây giáp tỉnh Sơn La
Với vị trí đó đã tạo cho Phú Thọ có nhiều thuận lợi để phát triển kinh
tế, là cầu nối giao lưu kinh tế giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi Tây Bắc Qua đó có thể đánh giá vị trí địa lý của tỉnh Phú Thọ là một yếu tố quan trọng tạo nên tiềm năng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và kinh tế của tỉnh nói chung
3.1.2 Địa hình, địa thế
Do nằm cuối dãy Hoàng Liên Sơn nên địa hình tỉnh Phú Thọ bị chia cắt tương đối mạnh, độ cao địa hình giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Có thể chia thành 3 dạng địa hình chính như sau:
Trang 29- Địa hình núi trung bình phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam: Kiểu địa hình này chiếm 34,3% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, phía Tây Cẩm Khê và một phần của Hạ Hòa Do ảnh hưởng địa hình núi chia cắt, đây là vùng khó khăn trong việc đi lại, giao lưu với nơi khác Tuy nhiên, vùng này còn nhiều tiềm năng phát triển, nhất là
về Lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch sinh thái
- Địa hình núi thấp và đồi gò bát úp xen kẽ đồng ruộng: Kiểu địa hình này chiếm 40,8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở Đoan Hùng,
Hạ Hòa, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh và một phần Tam Nông - Thanh Thủy Đặc điểm là đồi núi thấp, địa hình lượn sóng tạo thành hệ thống đồi bát
úp, đỉnh cao nhất trên 300m, cao trung bình trên 100m, độ dốc thường dưới
200, cá biệt có nơi dốc trên 250 Vùng này thuận lợi cho việc trồng rừng công nghiệp tập trung với quy mô lớn và cây công nghiệp dài ngày như chè, cây ăn quả, phát triển lương thực
- Địa hình bằng: Kiểu địa hình này chiếm 24,9% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở Lâm Thao, ven sông Lô (thuộc Phù Ninh), Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy, Việt Trì Địa hình thấp dần về phía Đông Nam Với dải đồng bằng phù sa mới tương đối bằng phẳng, đây là vùng có tiềm năng thâm canh lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày
3.1.3 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn
3.1.3.1 Đặc điểm khí hậu
Tỉnh Phú Thọ mang đặc điểm khí hậu điển hình của tiểu vùng Đông - Đông Bắc: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa hè nắng nóng, mưa nhiều từ tháng 5 tới tháng 10 và mùa đông lạnh, ít mưa từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 30Nhiệt độ trung bình năm là 230C, tổng tích ôn năm khoảng 80000C, lượng mưa trung bình năm khoảng 1600 - 1800 mm Độ ẩm trung bình năm khoảng 85 - 87%
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của Phú Thọ phù hợp với sinh trưởng, phát triển và đa dạng hoá các loại cây trồng Nhiệt đới, Á nhiệt đới; Chăn nuôi gia súc, khả năng cho năng xuất và chất lượng cao Tuy nhiên, do đặc điểm của địa hình và chế độ mưa, hàng năm một số nơi như Thanh Sơn, Yên Lập… thường xuyên xuất hiện lũ quét, lốc xoáy, kèm theo mưa đá Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, trong các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp cần giải quyết tốt khâu thủy lợi và bố trí hệ thống cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái
3.1.3.2 Điều kiện thuỷ văn
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có ba con sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Lô và sông Đà Các sông này bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với tổng chiều dài qua tỉnh khoảng 207 km
Ngoài ra, do đặc điểm chia cắt của địa hình, trong tỉnh còn có hệ thống sông Bứa, Ngòi Giành và hàng trăm km suối thuộc hệ thống sông Hồng, sông Lô, tạo thành mạng lưới sông suối phân bố đều khắp trong phạm vi toàn tỉnh
Một đặc điểm chung của các sông lớn chảy qua Phú Thọ là có lòng sông ít dốc nhưng lượng nước thất thường, nhiều đoạn hẹp, do đó về mùa khô khả năng vận chuyển lâm sản và giao thông thủy rất hạn chế Ngược lại, trong mùa mưa thường gây ra lũ lụt, ngập úng gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông
- lâm nghiệp
3.1.4 Đất đai
Theo tài liệu thổ nhưỡng và kết quả điều tra bổ sung những năm gần đây, Phú Thọ có 13 loại đất nằm trong 7 nhóm đất:
Trang 31- Đất phù sa ngòi suối (Py): Diện tích khoảng 500 ha, chiếm 0,14% diện tích tự nhiên, được sử dụng trồng 2 vụ lúa (nếu có tưới) hoặc 1 vụ lúa và
1 vụ rau, màu
- Đất phù sa úng nước (Pj): Diện tích 15.810 ha, chiếm 4,5% diện tích
tự nhiên
Nhóm II: Đất lầy (J): Đất lầy (J) có diện tích 400 ha, chiếm 0,11% diện
tích tự nhiên Đất lầy được hình thành từ phù sa sông, đặc điểm là bị úng nước quanh năm, ở các tầng sâu trên 15cm đất có màu nâu hơi xanh, xám xanh, đất ẩm, dẻo, dính, thịt nặng, glây mạnh Hiện đa phần chỉ được trồng 1
vụ lúa
Nhóm III: Đất xám (X): Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (X): Diện tích
2.626 ha, chiếm 0,74% diện tích tự nhiên Đất có màu xám nhạt, có phản ứng chua, hàm lượng dinh dưỡng thấp, thành phần cơ giới nhẹ
- Đất vàng đỏ trên đá Mácma axit (Fa): Diện tích 6.012 ha, chiếm 1,71% diện tích tự nhiên Đất có phản ứng chua, thành phần cơ giới nhẹ Địa
Trang 32hình dốc nên đất bị rửa trôi, xói mòn mạnh, các chất dinh dưỡng đều nghèo hoặc trung bình
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (FI): Diện tích 4.439 ha, chiếm 1,27% diện tích tự nhiên
Nhóm V: Đất mùn (HS): Diện tích 3.470 ha, chiếm 0,99% diện tích tự
nhiên Hầu hết còn rừng vì ở đó là núi cao, độ dốc lớn Đây cũng là vùng rừng đầu nguồn cần được bảo vệ
Nhóm VI: Đất thung lũng (D): Diện tích 14.973 ha, chiếm 4,27% diện
tích tự nhiên Đất này được hình thành do sự tích đọng các sản phẩm từ hai bên sườn đồi núi đưa xuống Đất thường có phản ứng chua, lý hoá tính có thể
thay đổi phụ thuộc vào sản phẩm rửa trôi từng khu vực
Nhóm VII: Đất xói mòn trơ sỏi đá (E): Đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích
540 ha Chất lượng đất rất thấp, khả năng cải tạo để trồng trọt rất khó khăn
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động
Tỉnh Phú Thọ có 21 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 89,24%, các dân tộc khác chiếm 10,76% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh là 1,02%/năm
Bảng 3.1: Diện tích - Dân số - Mật độ dân số các huyện của tỉnh Phú Thọ
TT Phân theo
huyện
Diện tích (ha)
Dân số (khẩu)
Mật độ (người/km2)
Trang 33Tổng số lao động toàn tỉnh là 790.900 người, chiếm 60,1%, trong đó,
số lao động trong độ tuổi là 753.000, chiếm 95% và ngoài độ tuổi có khả năng lao động là 33.300 người, chiếm 4,2% Lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản là 486.600 người, chiếm 61,5% tổng số lao động trong toàn tỉnh
Chất lượng lao động: Theo kết quả điều tra cho thấy có 12.469 người
có trình độ đại học, 142 người đạt trình độ thạc sĩ, 43 người có trình độ tiến
sĩ Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có gần 20 Viện, Trung tâm nghiên cứu của Trung ương và địa phương Đây là nguồn lực to lớn quan trọng của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội Số lao động đã qua đào tạo đạt 29%, trong đó có 17% là công nhân kỹ thuật, còn lại là lao động phổ thông tuy có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nhưng tiếp thu kiến thức khoa học và công nghệ mới
để áp dụng vào sản xuất còn hạn chế
Trang 343.2.2 Thực trạng chung về kinh tế của tỉnh
Nền kinh tế của Phú Thọ trong những năm qua đã có bước chuyển biến tích cực, đời sống người dân ngày càng được cải thiện Các hoạt động kinh tế bao gồm đủ các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại dịch vụ Trong đó, hoạt động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là hoạt động sản xuất thu hút phần lớn lao động hiện có trong tỉnh (khoảng 72,62% tổng số lao động)
Cơ cấu thu của ngành lâm nghiệp ở cấp độ hộ gia đình thể hiện sự trì trệ trong chuyển đổi Trong tổng thu ngành lâm nghiệp, hoạt động khai thác lâm sản chiếm tới 78%, thu nhặt lâm sản phụ 13%, thu từ hoạt động trồng mới, chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng chỉ chiếm 7,4%
3.2.3 Thực trạng xã hội và cơ sở hạ tầng
Giao thông: Hệ thống giao thông trong tỉnh khá thuận lợi cho việc đi
lại, trao đổi và chuyên trở hàng hoá cũng như phát triển sản xuất của nhân dân Mạng lưới giao thông đường bộ phân bố đều và hợp lý Tuy nhiên, chất lượng còn thấp, nhiều tuyến đường đang xuống cấp, chưa đáp ứng được tốc
độ lưu thông cao và các phương tiện vận tải lớn
Thủy lợi: Hiện nay, hệ thống thuỷ lợi trong tỉnh khá phát triển, từng
bước đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cho các hoạt động sản xuất, trồng trọt và phòng chống lụt bão hàng năm Trong tỉnh còn có các hệ thống tiêu tự chảy, tiêu động lực, hệ thống công trình tưới đồi, 1.634 km kêng mương và hệ thống đê phòng chống lũ, bảo vệ cuộc sống người dân và bảo vệ mùa màng
Điện: Hiện nay, 100% số xã trong tỉnh đã có điện lưới quốc gia, điện
năng cung cấp đạt trên 500 KWh/người/năm, tăng 31,9% so với năm 2000 Hiện tại, hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp các loại đang từng bước được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới
Trang 35Y tế: Hệ thống y tế trong tỉnh khá hoàn thiện từ thành phố, huyện, thị
xã, thị trấn đến các xã, phường Tuy nhiên, trạm y tế thường thiếu giường bệnh, trang thiết bị y tế rất hạn chế, thuốc chữa bệnh thường xuyên không đủ gây nhiều khó khăn đối với việc khám chữa bệnh
Giáo dục: Tất cả các huyện trong tỉnh đều có hệ thống giáo dục từ
mầm non đến trung học phổ thông Cơ sở vật chất trường lớp được tăng cường đầu tư xây dựng và cao tầng hoá, mua sắm trang thiết bị tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học Trình độ học vấn của dân cư Phú Thọ hiện nay vào loại khá so với vùng Đông Bắc, số người chưa biết chữ chỉ chiếm 0,5 %
so với tổng dân số toàn tỉnh
3.3 Đánh giá mức độ thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội tới công tác phát triển rừng trồng phòng hộ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Thuận lợi
- Nhiệt độ bình quân năm cao, lượng mưa lớn là điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loài cây trồng nhiệt đới trong đó có các cây lâm nghiệp
- Diện tích đất lâm nghiệp lớn
- Được sự quan tâm rất lớn của tỉnh Phú Thọ và Nhà nước cho công tác phát triển rừng, đặc biệt là nhu cầu xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn
- Vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu, chuyển giao khoa học kỹ thuật giữa tỉnh với các tỉnh lân cận đặc biệt là thành phố Hà Nội
- Trên địa bàn tỉnh có nhiều trung tâm chuyển giao công nghệ lâm nghiệp như: Trạm thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai - Phú Thọ
- Nguồn lao động dồi dào, lực lượng lao động đã qua đào tạo có trình độ chuyên môn chiếm tỷ lệ cao
- Cơ sở hạ tầng cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 36Khó khăn
- Các điều kiện thời tiết bất lợi như: Gió lào, sương muối, mưa đá,… gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp
- Phần lớn đất đai bị thoái hóa, nghèo dinh dưỡng cây trồng kém phát triển
- Cơ chế chính sách đầu tư cho trồng rừng đặc biệt là trồng rừng phòng hộ còn thấp, chưa khuyến khích được người dân tham gia trồng rừng Đối với rừng trồng phòng hộ, cơ chế hưởng lợi còn chưa thỏa đáng
- Lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài, mức rủi do lớn, thu nhập thấp so với các ngành kinh tế khác
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tổng kết các mô hình và biện pháp kỹ thuật rừng trồng phòng hộ đầu nguồn đã xây dựng trong dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ
4.1.1 Các văn bản chỉ đạo kỹ thuật trong dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ
Quyết định về cơ cấu cây trồng, mô hình trồng rừng trong dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ
Dựa trên các văn bản hướng dẫn của Trung ương, UBND tỉnh Phú Thọ
đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện dự án 661 trên địa bàn toàn tỉnh Cùng với sự phối hợp của các ban ngành liên quan như Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Chi cục phát triển Lâm nghiệp, cơ cấu cây trồng trong dự án 661 của tỉnh đã được ban hành tại Quyết định số 3886/QĐ-CT ngày 17/11/2003 về việc phê duyệt cơ cấu cây trồng và dự toán trồng rừng theo suất đầu tư 4 triệu đồng/ha thuộc dự án 661 Theo Quyết định này, cơ cấu cây trồng của tỉnh Phú Thọ được quy định cụ thể như sau:
- Đối với vùng cao nơi đất đai còn tính chất đất rừng thuộc các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hoà, Sông Thao:
+ Cây bản địa chọn 9 loài (theo thứ tự ưu tiên): Lim xẹt, Muồng đen, Trám trắng, Ràng ràng, Lim xanh, Giổi, Re, Chò chỉ, Lát hoa
+ Cây phù trợ: Keo, Mỡ, Quế, Tre lấy măng
- Đối với vùng núi thấp, đất đai nghèo kiệt thuộc các huyện Thanh Ba, Đoan Hùng, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Phù Ninh:
+ Cây bản địa chọn 6 loài (theo thứ tự ưu tiên): Lim xẹt, Muồng đen, Trám trắng, Sồi, Lim xanh, Sấu
+ Cây phù trợ: Keo, Luồng Thanh hoá, Tre lấy măng
Nhằm cụ thể hóa Quyết định số 3886/QĐ-CT, Chi cục phát triển Lâm nghiệp Phú Thọ (Ban quản lý dự án 661 cấp tỉnh) ban hành Công văn số
Trang 3820/HC-LN ngày 4/3/2004 về việc hướng dẫn các Ban quản lý dự án cơ sở triển khai thực hiện trồng rừng dự án 661 Nội dung cụ thể về trồng rừng phòng hộ trong dự án 661 như sau:
Về cơ cấu cây trồng
Trồng rừng dự án 661 với mật độ 1.600 cây/ha, trong đó các loài cây bản địa gỗ lớn là 600 cây (từ hai loài trở lên) và 1.000 cây phù trợ, cụ thể là:
- Đối với các dự án thuộc huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê:
+ Trồng cây bản địa gỗ lớn: (Xếp theo số lượng cây trồng từ cao xuống thấp) gồm có Lim xẹt, Muồng đen, Trám trắng, Ràng ràng, Lim xanh, Giổi, Sấu, Lát hoa
+ Cây phù trợ: Trồng chủ yếu Keo lai, Quế, Luồng Thanh Hoá, Tre lấy măng
- Đối với các dự án huyện Thanh Ba, Phù Ninh:
+ Trồng cây bản địa gỗ lớn: (Xếp theo số lượng cây trồng từ cao xuống thấp) gồm có Lim xẹt, Muồng đen, Trám trắng, Lim xanh, Sấu
+ Cây phù trợ: Gồm có Keo lai, Luồng Thanh hoá, Tre lấy măng
Trồng rừng dự án 661 được thực hiện với phương thức trồng hỗn giao theo băng giữa các cây bản địa gỗ lớn với cây kinh tế, trồng từ trên đỉnh lô xuống, cứ băng cây bản địa rồi đến băng cây kinh tế
- Băng cây bản địa: gồm 6 - 8 hàng, cự ly cuốc hố trồng rừng hàng cách hàng 3 m, trong hàng cây cách cây 3 m (cự ly 3 x 3 m) Cây bản địa có từ 2 loài cây trở lên trồng hỗn giao theo hàng, tùy theo số lượng các loài cây bản địa theo cơ cấu cây trồng mà định ra số hàng hỗn giao với nhau Trong băng cây bản địa thực hiện hỗn giao theo hàng Cây Trám trắng không trồng trong băng cây bản địa trên đỉnh đồi
Trang 39- Băng cây kinh tế: Chủ yếu là Keo lai, băng trồng gồm 4 - 5 hàng cây Keo lai, cự ly hàng cách hàng là 2,3 m, cây cách cây là 2 m (cự ly 2,3 x 2 m) Trồng hết băng cây bản địa, phần còn lại dưới chân đồi trồng cây kinh tế Cây kinh tế sau khi khai thác phải trồng lại ngay
Nếu cây kinh tế có cả Keo lai, cây luồng Thanh Hoá hoặc Tre lấy măng thì chỉ trồng Luồng, Tre lấy măng ở vị trí thấp ven chân đồi nơi đất tốt và độ
ẩm cao, mỗi khóm cách nhau 5m Số lượng cây Keo phải giảm đi để đảm bảo không gian dinh dưỡng cho cây Vốn đầu tư cho giống cây kinh tế có cả Luồng, Tre măng, Keo lai trên 1 ha chỉ bằng vốn đầu tư của 1.000 cây Keo lai/ha
Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng cả 2 văn bản trên vẫn chưa đưa ra được mô hình cụ thể và quy định về loài cây bản địa và loài cây kinh tế trong mỗi mô hình Các văn bản đều quy định còn chung chung, không cụ thể, do
đó gây nhiều hạn chế trong việc triển khai thực hiện Việc lựa chọn mô hình rừng phòng hộ cụ thể do Ban quản lý dự án 661 cơ sở quyết định Theo báo cáo tổng kết và qua khảo sát thực tế tại tỉnh Phú Thọ nhận thấy về tổng quát
có 3 nhóm mô hình rừng trồng phòng hộ chính như sau:
Nhóm mô hình 1: Luồng + cây bản địa: Mô hình này gồm 200 cây bản địa và 400 cây luồng/ha và được bố trí trồng theo hai phần riêng biệt Một nửa diện tích gây trồng ở chân đồi được sử dụng để trồng Luồng (mật độ 200 cây luồng/ha) và một nửa diện tích gây trồng phần đỉnh đồi được sử dụng cho trồng cây gỗ bản địa (mật độ 400 cây/ha) Mô hình này tỏ ra khá phù hợp với vùng có địa hình dạng đồi bát úp như tỉnh Phú Thọ
Nhóm mô hình 2: Tre măng (tre bát độ) + cây bản địa: Mô hình này gồm 200 tre măng và 300 cây bản địa Phương thức trồng là hỗn giao theo cây, hàng cách hàng 3 m, trồng tre măng bát độ ven khe và chân đồi
Trang 40Nhóm mô hình 3: Cây bản địa + cây phù trợ: Gồm 1.100 cây phù trợ +
660 cây bản địa Bố trí hỗn giao theo dải, cứ một dải cây chính xen một dải cây phù trợ
4.1.2 Tình hình áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật tại tỉnh Phú Thọ
Qua khảo sát thực tế và làm việc với Chi cục phát triển Lâm nghiệp Phú Thọ, Ban quản lý Dự án 661 các huyện trong tỉnh cho thấy các biện pháp
kỹ thuật được áp dụng trong triển khai thực hiện dự án 661 tại tỉnh Phú Thọ gồm:
- Cơ cấu loài cây trồng rừng phòng hộ
+ Trồng cây bản địa gỗ lớn: gồm Lim xẹt, Muồng đen, Trám trắng,
Ràng ràng, Lim xanh, Giổi, Sấu, Lát hoa
+ Cây phù trợ: Trồng chủ yếu Keo lai, Quế, Luồng Thanh Hoá, Tre lấy măng
Đối với rừng phòng hộ: Trồng hỗn giao gồm 1 - 2 loài cây bản địa trong
mô hình xen với cây phù trợ Các mô hình trồng rừng hỗn giao áp dụng trên địa bàn tỉnh gồm 10 mô hình Dưới đây thống kê và mô tả các mô hình trồng rừng phòng hộ áp dụng trong dự án 661 tại các huyện dự án của tỉnh Phú Thọ được thể hiện ở bảng 4.1