1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Trí thức nam kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930 (tt)

27 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 362,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vẫn mang những đặc điểm chung của đội ngũ trí thức cả nước, đó là “sự gắn bó bằng máu thịt của trí thức Việt Nam với dân tộc của họ”, “họ cùng với dân tộc nổi chìm trong dòng lịch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ ÁNH

TRÍ THỨC NAM KỲ TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Lê Hữu Phước

Vào hồi … giờ … ngày …… tháng …… năm 2017

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Trường Đại học Vinh

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong tiến trình lịch sử, trí thức Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng cho đất nước trên nhiều lĩnh vực Khi đất nước đối diện với họa xâm lăng, trí thức có mặt ở tuyến đầu chống ngoại xâm với tâm niệm “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” Khi đất nước hòa bình, trí thức là trụ cột trong sự nghiệp “kinh bang tế thế”, xây dựng và phát triển quốc gia Đúng như người xưa đã viết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp…” (Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 - 1442) Chính vì vậy, nghiên cứu về quá trình hoạt động, vai trò, cống hiến và đặc điểm của trí thức Việt Nam trong lịch sử là một trong những vấn đề trọng tâm của sử học 1.2 Kể từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định, rồi sau đó chiếm Lục tỉnh Nam Kỳ và thôn tính cả nước ta, trí thức Nam Kỳ là lực lượng tiên phong trong phong trào kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc Trí thức Nam Kỳ cũng là lực lượng sớm nhận thức được sự bất lực của ý thức hệ phong kiến và chủ động tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Những hoạt động yêu nước và đóng góp lớn lao của đội ngũ trí thức yêu nước Nam Kỳ đã góp phần bồi đắp truyền thống kiên cường của vùng đất “Thành đồng Tổ quốc”, đồng thời để lại những bài học lịch sử quan trọng để phát huy vai trò của trí thức trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hôm nay

1.3 Trí thức Nam Kỳ có những đóng góp to lớn trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930 Mặc dù vẫn mang những đặc điểm chung của đội ngũ trí thức cả nước, đó là “sự gắn bó bằng máu thịt của trí thức Việt Nam với dân tộc của họ”,

“họ cùng với dân tộc nổi chìm trong dòng lịch sử”, người trí thức chân chính ở Việt Nam “học giỏi và suốt đời mở rộng tri thức, suốt đời đem hết tài năng và trí tuệ phục vụ cho Tổ quốc và nhân dân”,… nhưng do điều kiện và hoàn cảnh lịch sử tác động, bộ phận trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930 có những đặc điểm riêng so với trí thức cùng thời ở những vùng miền khác trên cả nước Cho đến nay vẫn chưa có công trình sử học nào nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu về vấn đề này

1.4 Nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam; đồng thời giúp người đọc có cái nhìn tổng thể, xuyên suốt

về vị trí, vai trò và những đóng góp to lớn của bộ phận trí thức Nam Kỳ đối với công cuộc chống ngoại xâm từ năm 1884 đến năm 1930

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930” làm luận án tiến sĩ sử học,

chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình hình thành, phát triển, thái độ chính trị, hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930

Trang 4

Khái niệm “trí thức” được hiểu là những người có học thức (thi đỗ từ “tú tài” trở

lên) Trong một số trường hợp, đó có thể là người không đỗ đạt, nhưng có hiểu biết rộng, uy tín cao, được xã hội trân trọng

Trong luận án, khái niệm “trí thức Nam Kỳ” bao gồm nhân sĩ, trí thức sinh ra, lớn

lên ở Nam Kỳ hoặc sinh ra ở nơi khác, nhưng hoạt động chủ yếu trên địa bàn Nam Kỳ,

để lại những dấu ấn sâu đậm ở Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc giai đoạn 1884 -1930 Trong điều kiện tư liệu cho phép, luận án cũng đề cập đến một số trí thức quê ở Nam Kỳ, hoặc ở các vùng miền khác của Việt Nam, sau thời gian học tập, sinh sống và hoạt động ở nước ngoài trở về, có đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ngay trên mảnh đất Nam Kỳ

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu là “trí thức Nam Kỳ”, hoạt động yêu

nước trên địa bàn Nam Kỳ, luận án xác định phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài

là Lục tỉnh Nam Kỳ dưới triều Nguyễn trước khi Pháp xâm lược và là vùng đất Nam Kỳ (Cochinchine), thuộc địa của Pháp theo quy định của Hiệp ước Patenôtre (1884)

- Phạm vi thời gian luận án tập trung nghiên cứu được xác định từ năm 1884 đến năm

1930 Chọn năm 1884 làm mốc mở đầu và năm 1930 làm mốc kết thúc phạm vi nghiên cứu của đề tài là vì:

Sau gần 26 năm kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta ở bán đảo Sơn Trà, ngày 6-6-1884, triều đình Huế ký Hiệp ước Patenôtre, công nhận quyền bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Nước mất, nhân dân Nam

Kỳ, trong đó có lực lượng trí thức yêu nước cùng với nhân dân cả nước bước vào cuộc vận động giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân, giành độc lập

Trải qua quá trình đấu tranh quyết liệt xác lập quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam giữa các tổ chức cách mạng với các đảng phái theo những khuynh hướng cứu nước khác nhau, tháng 2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trở thành chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam theo khuynh hướng vô sản, đánh dấu bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và phong trào yêu nước của trí thức Nam Kỳ nói riêng Từ đây, trí thức yêu nước Nam Kỳ cùng với nhân dân bước vào thời

kỳ đấu tranh mới dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án được xác định là hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, bao gồm:

+ Hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX;

+ Hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản trong 30 năm đầu thế kỷ XX;

+ Hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản trong nửa cuối những năm 20 (thế kỷ XX)

Trên đây là giới hạn phạm vi không gian, thời gian và phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án Những vấn đề nằm ngoài giới hạn trên không thuộc đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn tài liệu tin cậy, luận án tập trung nghiên cứu về sự hình thành, phát triển và thái độ chính trị của các bộ phận trí thức ở Nam Kỳ trước cuộc chiến tranh xâm lược và cai trị của thực dân Pháp qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1884 đến năm 1930; đồng thời hệ thống lại những hoạt động yêu nước tiêu biểu của trí thức Nam Kỳ theo các khuynh hướng cứu nước khác nhau từ năm 1884 đến năm 1930; qua đó, làm rõ đặc điểm, vai trò và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc

từ năm 1884 đến năm 1930

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, đề tài xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Trình bày quá trình hình thành, phát triển của đội ngũ trí thức nho học (cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX) và đội ngũ trí thức tân học (đầu thế kỷ XIX đến năm 1930) ở Nam Kỳ;

- Phân tích và làm rõ thái độ chính trị của trí thức Nam Kỳ trước những biến động thời cuộc qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1884 đến năm 1930;

- Phục dựng những hoạt động của trí thức Nam Kỳ trong phong trào yêu nước và cách mạng theo các khuynh hướng cứu nước khác nhau từ năm 1884 đến năm 1930;

- Phân tích những chuyển biến nổi bật về tư tưởng của trí thức Nam Kỳ từ ý thức hệ phong kiến sang lập trường dân chủ tư sản và lập trường vô sản qua các giai đoạn: từ năm 1884 đến đầu thế kỷ XX, từ đầu thế kỷ XX đến giữa thập niên 20 của thế kỷ XX và

từ giữa thập niên 20 của thế kỷ XX đến năm 1930;

- Nhận định, đánh giá vai trò và những đóng góp nổi bật của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930

4 Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:

- Tài liệu lưu trữ: Phông Thống đốc Nam Kỳ (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II) bao

gồm các báo cáo của Sở An ninh các tỉnh Nam Kỳ gửi Thống đốc Nam Kỳ về tình hình chính trị ở các tỉnh Nam Kỳ từ năm 1884 đến năm 1930; Phông Toàn quyền Đông Dương (Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại - ANOM - Pháp) bao gồm các báo cáo, điện tín, các công văn mật của các cơ quan chuyên trách ở Nam Kỳ, Thống đốc Nam Kỳ và Nha An ninh Đông Dương gửi chính quyền cấp trên về tình hình chính trị ở Nam Kỳ từ năm

1884 đến năm 1930 Các tài liệu lưu trữ sử dụng trong luận án là một kênh thông tin quan trọng, phản ánh hoạt động yêu nước và cách mạng của trí thức Nam Kỳ, cũng như những nhận định, đánh giá của đối phương về vai trò của trí thức Nam Kỳ trong các phong trào yêu nước và cách mạng từ năm 1884 đến năm 1930

- Tài liệu tham khảo: Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và

ngoài nước về trí thức Việt Nam và trí thức Nam Kỳ, các công trình nghiên cứu về lịch

sử Việt Nam cận đại, lịch sử Nam Bộ, các công trình nghiên cứu về phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cũng như về các nhân vật trí thức Nam Kỳ trong phong trào đấu

Trang 6

tranh chống thực dân Pháp xâm lược, các tác phẩm hồi ký, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…

- Tài liệu văn kiện, lý luận: Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tài liệu của

các cơ quan Đảng, Nhà nước phản ánh quan điểm, chủ trương của Trung ương và các cấp ủy Đảng về đội ngũ trí thức; cũng như đề cập đến các nhân vật trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trong nửa sau thập niên 20 của thế kỷ XX

- Tài liệu báo chí: Các bài viết về trí thức đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu Hội thảo,

báo viết, báo điện tử…

4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở phương pháp luận: Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đội ngũ trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức

- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp

lịch sử và phương pháp logic - hai phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịch sử Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ như: thống kê, tổng hợp,

phân tích, so sánh,… để thực hiện đề tài

- Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

- Chương 2.Trí thức Nam Kỳ với phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX

- Chương 3.Trí thức Nam Kỳ với phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh

hướng dân chủ tư sản

- Chương 4.Trí thức Nam Kỳ với phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng

cách mạng vô sản

Trang 7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam được công

bố, ấn hành dưới nhiều dạng: sách, bài báo khoa học, đề tài khoa học, luận án, luận văn… Có thể phân chia các công trình đó theo các mảng đề tài sau:

1.1 Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử

Ở mảng đề tài này, đã có nhiều công trình được công bố từ những góc độ tiếp cận khác nhau (thuộc các chuyên ngành triết học, xã hội học, văn hoá học, sử học,…), nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến trí thức hoặc giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp và đóng góp của những nhân vật trí thức nổi bật; đồng thời cung cấp những quan điểm lý luận để tiếp cận nghiên cứu về đội ngũ trí thức; giới thiệu khái lược về diện mạo, hành trạng, vai trò, đóng góp, đặc điểm của nhiều nhân vật trí thức Việt Nam từ xưa đến nay; tạo cơ sở lý luận và nguồn tư liệu tổng quát để tác giả luận án đi sâu nghiên cứu đề tài

1.2 Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc

Nội dung này bao gồm những công trình nghiên cứu trong nước và một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài, chủ yếu là những công trình nghiên cứu từ góc độ sử học, các công trình hồi ký của các nhà hoạt động yêu nước và cách mạng, các công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của các nhân vật trí thức Việt Nam thời Pháp thuộc,… Thông qua các công trình trên, có thể nhận diện được bối cảnh lịch sử, hoạt động và vai trò của trí thức Việt Nam thời Pháp thuộc Tuy nhiên, vì là những công trình nghiên cứu

về trí thức Việt Nam nói chung, hoặc là các công trình nghiên cứu chuyên sâu về một (hoặc một số) nhân vật trí thức và từng tổ chức, nên việc đề cập đến vai trò, hoạt động của đội ngũ trí thức nói chung, nhất là đội ngũ trí thức ở Nam Kỳ chỉ dừng lại ở mức độ khái lược, chưa đi sâu khắc họa diện mạo, đặc điểm của trí thức Nam Kỳ trước những biến động lớn với những đặc trưng độc đáo, cần được phân tích và lý giải thỏa đáng

1.3 Các công trình nghiên cứu về trí thức Nam Kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc

Những công trình nghiên cứu về trí thức Nam Kỳ từ cuối thế kỷ XIX đến trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập (bao gồm các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước) có số lượng khá lớn, nhiều nhất là những công trình viết về các phong trào yêu nước và các hoạt động văn hóa gắn với các gương mặt trí thức Nam Kỳ tiêu biểu Trong nhiều công trình đã liệt kê, những vấn đề quan trọng về trí thức Nam Kỳ (như nguồn gốc xuất thân, thái độ chính trị, hoạt động và những đóng góp nổi bật…) trong một thời kỳ lịch sử có nhiều biến động phức tạp đã được làm rõ bằng những tư liệu có độ tin cậy cao

và lập luận xác đáng, thuyết phục Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống về “Trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930” Mặc dù vậy, tác giả luận án đã kế thừa được những kết quả nghiên cứu có giá trị trên để tiếp tục đi sâu phân tích, lý giải trong đề tài của mình

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: “Trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930” là đề tài mới, không trùng lặp với các

công trình đã công bố ở trong và ngoài nước

Trang 8

CHƯƠNG 2 TRÍ THỨC NAM KỲ VỚI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP

CUỐI THẾ KỶ XIX 2.1 Khái quát về vùng đất Nam Kỳ và trí thức Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược

2.1.1 Khái quát về vùng đất Nam Kỳ

Vùng đất Nam Kỳ dưới thời Nguyễn và thời thuộc Pháp (Cochinchine) - nay được gọi là Nam Bộ - vốn là một phần lãnh thổ của vương quốc cổ có tên gọi là Phù Nam, xuất hiện vào khoảng đầu công nguyên Đến thế kỷ VII, Phù Nam bị thôn tính và sáp nhập vào vương quốc Chân Lạp Đợt biển tiến sau đó đã biến hải cảng Óc Eo và nhiều khu dân cư ở vùng hạ lưu sông Mê Kông, sông Đồng Nai bị chôn vùi, trở thành vùng đồng lầy ngập nước Thế kỷ XVII, triều đình Chân Lạp hầu như không còn khả năng kiểm soát vùng đất ngập nước (Thủy Chân Lạp) Đây cũng là thời điểm cư dân người Việt ở vùng đất Thuận - Quảng tiến vào vùng đất phía Nam khai hoang lập ấp Từ đầu thế kỷ XVII trở đi, chúa Nguyễn dần xác lập chủ quyền của mình trên vùng đất Nam Bộ

Cư dân người Việt vào khai thác vùng đất này ngày càng đông Ngoài ra, còn có người Hoa, người Chăm cũng đến khai khẩn đất hoang, sinh sống hoặc buôn bán, làm ăn trên vùng đất mới

Năm 1698 Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược vùng đất phía Nam lập phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn Đến năm 1757, phần đất còn lại ở Tây Nam Bộ được sáp nhập vào lãnh thổ của chính quyền chúa Nguyễn

Sau khi nhà Nguyễn thành lập, năm 1808, vua Gia Long chia cả nước làm 2 đơn vị hành chính lớn: Bắc thành và Gia Định thành Riêng Gia Định thành gồm 5 trấn: Phiên

An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên Đến năm 1832, vua Minh Mạng chia 5 trấn cũ thành 6 tỉnh: Phiên An (năm 1836 đổi tên là tỉnh Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Sáu tỉnh này được gọi là “Nam Kỳ Lục tỉnh”

Trong quá trình mở đất, những nét riêng độc đáo trong đời sống xã hội, phong tục tập quán, ứng xử, đặc biệt là những tính cách đặc trưng của cư dân Nam Bộ cũng được hình thành: trọng nghĩa, khinh tài, khoáng đạt, quảng giao, nghĩa hiệp, dũng cảm, Những truyền thống quý báu của dân tộc, cùng với cốt cách đặc trưng của người Nam Bộ hình thành trong quá trình mở đất đã được các thế hệ hậu sinh gìn giữ, phát huy, trở thành vũ khí và sức mạnh tinh thần trong cuộc chiến đấu chống xâm lược, giành và bảo vệ độc lập dân tộc

2.1.2 Đội ngũ trí thức ở Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược

Kể từ khi Nguyễn Hữu Cảnh phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược vùng đất phía Nam (1698), cho đến trước khi Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định lần cuối cùng (1788), giáo dục nho học ở đây vẫn chưa có điều kiện để phát triển Cuối thế kỷ XVIII, đã xuất hiện những trường học tư đầu tiên do hai nhà nho Võ Trường Toản và Đặng Đức Thuật thành lập, đào tạo rất nhiều nhân tài cho đất Gia Định

Cùng với việc Nguyễn Ánh tổ chức các khoa thi ở Gia Định (1791 và 1796), đội ngũ trí thức nho học ở Nam Kỳ bắt đầu hình thành

Trang 9

Sau khi vương triều Nguyễn thành lập (1802) cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược, các vua nhà Nguyễn đều rất quan tâm đến việc xây dựng trường sở, tổ chức học hành thi cử ở Nam Kỳ để đào tạo đội ngũ quan lại Từ khoa thi Hương đầu tiên (1813) đến khoa thi cuối cùng (1864) ở Nam Kỳ, với tổng cộng 20 khoa thi, số sĩ tử đỗ cử nhân

là 269 người Có hơn 2/3 nho sĩ Nam Kỳ đỗ đạt trong các kỳ thi đã ra làm quan, tham gia và đóng góp vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở các địa phương trên cả nước Như vậy, đến đầu thế kỷ XIX, đội ngũ nho sĩ ở Nam Kỳ đã phát triển cả về

số lượng lẫn chất lượng

Trí thức nho học Nam Kỳ tuy có xuất thân từ nhiều thành phần xã hội khác nhau, nhưng tính cách nghĩa hiệp, khẳng khái, xả thân vì lý tưởng của lớp cha ông đi mở đất vẫn được duy trì ở họ Ở vùng đất mới phương Nam, giáo dục nho học phát triển chủ yếu dưới thời Nguyễn, khi Nho giáo ở Việt Nam đã bước vào chặng đường cuối và chế

độ phong kiến không còn uy tín như trước Đó cũng là một trong những lý do khiến Nho giáo ở Nam Kỳ không thể trở nên “thâm căn cố đế” như ở Bắc và Trung Kỳ Thực tế lịch sử cho thấy, ứng xử của sĩ phu yêu nước Nam Kỳ đã vượt ra khỏi khuôn khổ được định sẵn của Nho giáo Những nho sĩ có tấm lòng yêu nước, thương dân luôn đặt quyền lợi của nhân dân, của quốc gia dân tộc lên trên hết, chứ không phải theo tư tưởng trung quân mù quáng

Tài năng và những phẩm chất tốt đẹp của sĩ phu yêu nước Nam Kỳ thể hiện rõ nét trong quá trình họ tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội, lại càng phát huy cao

độ với tinh thần “xả thân vì nghĩa lớn” khi nước nhà đối diện với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp

2.2 Thái độ của trí thức Nam Kỳ trước cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp

Ngày 17-2-1859, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Gia Định Đứng trước nguy cơ mất nước, trong trí thức nho học Nam Kỳ, đã có sự phân hóa mạnh mẽ: một bộ phận trí thức vì danh lợi đã cộng tác với thực dân Pháp, phản bội nhân dân, đất nước, trong số

đó, có Tôn Thọ Tường, Đỗ Hữu Phương, Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn,…; một bộ phận trí thức khác chủ trương hợp tác với Pháp nhằm mục đích tranh thủ thời cơ làm việc có lợi cho dân, cho nước, dựa vào giáo dục, kỹ nghệ của kẻ đi “khai hóa” để đưa dân tộc tiến lên đạt trình độ văn minh, trong đó có Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký,…; bộ phận chiếm số đông trong giới trí thức Nam Kỳ trước cảnh nước mất nhà tan, đã tự nguyện đứng về phía nhân dân, cùng nhân dân kiên quyết chiến đấu chống xâm lược dưới nhiều hình thức: đấu tranh vũ trang, sáng tác văn thơ tố cáo tội

ác của thực dân Pháp xâm lược và tay sai, tỵ địa ra khỏi vùng địch tạm chiếm, không ra làm việc cho Pháp,…, trong đó, phải kể đến các trí thức như: Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Huân Nghiệp, Trần Thiện Chánh, Nguyễn Hữu Huân, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông,…

Khi triều đình Huế cắt đất đầu hàng thực dân Pháp, các nho sĩ yêu nước Nam Kỳ dũng cảm kháng mệnh triều đình, đứng hẳn về phía nhân dân đi đến tận cùng con đường cứu nước

Ở vị trí tiên phong trên mặt trận đấu tranh vũ trang, văn hóa - tư tưởng, với tinh thần

xả thân vì nước, các nhà nho yêu nước đã tiếp thêm nguồn sức mạnh cho quần chúng yêu nước đương thời trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc

Trang 10

2.3 Hoạt động chống Pháp của trí thức Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX

Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Tây (1867), thực dân Pháp đã thiết lập ở đây bộ máy kìm kẹp chính trị, bóc lột kinh tế, đàn áp quân sự khá hoàn chỉnh và chặt chẽ, gây rất nhiều khó khăn cho phong trào kháng chiến, nhiều lãnh tụ khởi nghĩa ở bị bắt và hy sinh, phong trào đấu tranh vũ trang dần lắng xuống Mặc dù vậy, vẫn có một số cuộc vận động vũ trang được nhen nhóm khắp nơi ở Nam Kỳ đến tận những năm cuối thế kỷ XIX Tiêu biểu nhất là hai cuộc khởi nghĩa dưới danh nghĩa Cần Vương do Đào Công Bửu và Lê Công Chánh lãnh đạo, quy tụ được một một số trí thức tham gia như: Nguyễn Văn Huy, Trần Văn Minh,… và lan rộng trên hầu khắp các tỉnh Nam Kỳ Khi các cuộc khởi nghĩa do Đào Công Bửu và Lê Công Chánh lãnh đạo thất bại, cũng là lúc phong trào Cần Vương trên cả nước bị đàn áp khốc liệt và chấm dứt (1896)

Nam Kỳ vốn là vùng đất “đi trước” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Sau 25 năm kiên cường, bền bỉ chiến đấu (1859-1884), nhiều lãnh tụ nghĩa quân (phần lớn là trí thức nho học) bị bắt tù đày, bị xử tử hoặc hy sinh ngay trên chiến trường, lực lượng kháng chiến bị thiệt hại nặng nề trước sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù

Vì thế, kể từ khi phong trào Cần Vương bùng nổ (1885) cho đến cuối thế kỷ XIX, chỉ thấy rải rác một số ít cuộc đấu tranh vũ trang có sự tham gia của trí thức Nam Kỳ như đã

đề cập ở trên Mặc dù vẫn thấy bóng dáng của trí thức Nam Kỳ trong phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp trong giai đoạn này, nhưng khá mờ nhạt so với vai trò của bộ phận văn thân, sĩ phu yêu nước trong phong trào Cần Vương trên dải đất dài từ Bình Thuận trở ra phía Bắc

2.4 Tiếp thu và truyền bá văn hóa, văn minh phương Tây

Là vùng đất bị biến thành thuộc địa của thực dân Pháp sớm nhất so với các địa phương khác trên phạm vi cả nước, Nam Kỳ sớm có sự tiếp xúc, va chạm với văn hóa, văn minh phương Tây Ngoài những hạn chế và hậu quả của chế độ thực dân, vẫn có những yếu tố tích cực, khách quan ngoài ý muốn của người Pháp đã ảnh hưởng đến nhận thức, tư duy, hành động của nhân dân nói chung, đội ngũ trí thức ở Nam Kỳ nói riêng Một bộ phận trí thức Nam Kỳ vốn xuất thân từ nho học, nhưng sớm tiếp cận văn minh phương Tây đã lựa chọn một giải pháp khác biệt, chủ trương tiếp nhận, truyền bá văn minh phương Tây nhằm mục đích nâng cao dân trí, phát triển nền văn hóa dân tộc, góp phần làm cho nước nhà phú cường Đó là con đường hợp tác với Pháp để tranh thủ thời cơ làm việc có lợi cho dân cho nước Đây được xem như một quan điểm cứu nước mới, mà các trí thức Nam Kỳ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký

là đại diện Tuy ra làm việc với Pháp nhưng họ đã có những cống hiến nhất định trong việc truyền bá nền văn minh phương Tây, mở đầu cho việc phổ biến và phát triển chữ quốc ngữ ở Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX thông qua các hoạt động: viết sách, dịch thuật, dạy học, làm báo,

Với sự nghiệp trước tác và những hoạt động không mệt mỏi trong việc truyền bá chữ quốc ngữ, chủ trương kết hợp hài hòa giữa khoa học kỹ thuật phương Tây và triết lý phương Đông, Trương Vĩnh Ký và những trí thức cùng thời với ông đã có những đóng góp đáng trân trọng nhằm trang bị cho đồng bào những tri thức đầu tiên về nền văn minh phương Tây, đồng thời bối đắp và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc

Trang 11

Tiểu kết Chương 2

Trí thức nho học ở Nam Kỳ ra đời muộn hơn so với cả nước, đã có những đóng góp quan trọng cho đất nước trên nhiều lĩnh vực Đứng trước sự xâm lược của thực dân Pháp, trong đội ngũ trí thức nho học Nam Kỳ có sự phân hóa sâu sắc: một bộ phận làm tay sai cho thực dân; một bộ phận chủ trương cộng tác với Pháp để tranh thủ làm việc có lợi cho dân cho nước; bộ phận chiếm số đông với tinh thần yêu nước, thương dân, kiên quyết chống thực dân xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc Trước thái độ bạc nhược của triều đình, trí thức yêu nước Nam Kỳ đã dũng cảm kháng mệnh vua, sát cánh với nhân dân đi đến tận cùng con đường chiến đấu chống thực dân, bảo vệ độc lập dân tộc

Từ 1884 đến cuối thế kỷ XIX, một số trí thức Nam Kỳ hoặc hưởng ứng, hoặc mượn danh nghĩa Cần Vương, đã khởi xướng, lãnh đạo, tham gia vào các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống xâm lược, cùng với nhân dân cả nước bước vào cuộc vận động giải phóng dân tộc

Trong khi đó, một số trí thức Nam Kỳ đã lựa chọn giải pháp hợp tác với thực dân Pháp để làm việc có lợi cho dân, cho nước, trở thành những người tiên phong bắc chiếc cầu giao lưu hai nền văn minh Việt - Pháp, chủ động tiếp thu tinh hoa văn hoá của đối phương để mở mang dân trí, phát triển giống nòi, góp phần tạo dựng nền móng cho công cuộc duy tân đất nước diễn ra vào đầu thế kỷ XX

Từ năm 1884 đến cuối thế kỷ XIX, trí thức yêu nước Nam Kỳ cùng nhân dân phải tiến hành một cuộc chiến đấu không cân sức với kẻ thù, trong khi giai cấp phong kiến đầu hàng quân xâm lược, các phong trào đấu tranh vũ trang lại diễn ra rời rạc, chưa khai thác được một cách triệt để sức mạnh của nhân dân, và vì thế, các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp lần lượt bị đàn áp Sự thất bại của khuynh hướng cứu nước theo lập trường phong kiến ở nước ta vào nửa sau thế kỷ XIX là tất yếu do chưa đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc lúc bấy giờ Mặc dù vậy, với những đóng góp to lớn cho cuộc đấu tranh chống thực dân xâm lược trong giai đoạn này, trí thức yêu nước Nam Kỳ

đã góp phần hun đúc trong toàn dân ngọn lửa căm thù giặc, ý chí đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc

CHƯƠNG 3 TRÍ THỨC NAM KỲ VỚI PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

THEO KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN 3.1 Sự ra đời của đội ngũ trí thức mới ở Nam Kỳ

3.1.1 Bối cảnh lịch sử

Sau khi dập tắt phong trào Cần Vương (1896), cơ bản bình định được phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp ra sức thiết lập và củng cố bộ máy cai trị, tiến hành khai thác bóc lột kinh tế trên qui mô lớn Hai cuộc đại khai thác thuộc địa (1897-1914 và 1919-1929) đã làm cho cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung, Nam

Kỳ nói riêng chuyển biến mạnh mẽ Nền kinh tế tiểu nông độc canh dần chuyển sang nền kinh tế với cơ cấu đa dạng, đầy đủ các ngành chủ chốt như: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và ngân hàng Theo đó, cơ cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam cũng

có sự thay đổi: các giai cấp cũ bị phân hóa (địa chủ, nông dân), các giai tầng mới xuất hiện (công nhân, tư sản và tiểu tư sản)

Trang 12

Hai cuộc đại khai thác kinh tế của thực dân Pháp làm cho tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân bị bòn rút đến cạn kiệt, hệ quả tất yếu là mâu thuẫn xã hội, nhất là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến, giữa các tầng lớp nhân dân Việt Nam nói chung, Nam Kỳ nói riêng với thực dân Pháp ngày càng gay gắt

Đứng trước vận nước hồi đầu thế kỷ XX, mỗi một giai cấp, tầng lớp nhân dân có một thái độ chính trị khác nhau nhưng tựu trung, trừ giai cấp phong kiến và tay sai đầu hàng thực dân, các tầng lớp nhân dân với tinh thần yêu nước sẵn sàng đứng lên đấu tranh giành độc lập Trí thức yêu nước Nam Kỳ với sự năng động, thức thời, trước sự thất bại của khuynh hướng cứu nước theo ý thức hệ phong kiến đã chủ động tiếp thu những trào lưu tư tưởng mới từ bên ngoài được truyền bá vào Việt Nam, mạnh dạn đề xướng nhiều

xu hướng cứu nước mới, tiếp tục là lực lượng tiên phong, lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội

3.1.2 Đội ngũ trí thức mới ra đời

Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, bên cạnh lực lượng trí thức nho học cấp tiến, bộ phận trí thức tân học ở Nam Kỳ cũng dần hình thành và ngày càng phát triển đông đảo

Đó là kết quả của quá trình thực dân Pháp đầu tư phát triển nền giáo dục Tây học thay thế cho nền giáo dục truyền thống ở đây, nhằm đào tạo một lực lượng lớn trí thức phục

vụ cho công cuộc cai trị lâu dài của người Pháp

Sau khi chiếm được Lục tỉnh Nam Kỳ, ngoài việc bỏ hẳn kỳ thi Hương, thực dân Pháp cho mở một số trường học, đẩy mạnh truyền bá chữ quốc ngữ và chữ Pháp nhằm loại bỏ chữ Hán cũng như ảnh hưởng của các trí thức nho học yêu nước trong nhân dân Sớm nhất có thể kể đến các trường: Collège d’Adran còn gọi là Trường Bá Đa Lộc (1861), An Nam còn gọi là Trường Thông ngôn (1862); Sư phạm thuộc địa (1871), Hậu

bổ (Collège des Stagiaires, 1873); Chasseloup Laubat (1874);… đào tạo được nhiều trí thức tân học, bổ sung vào lực lượng công chức người bản xứ trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp

Với việc ban hành bản Quy chế về giáo dục (1874), chương trình giáo dục Pháp -

Việt chính thức được áp dụng trong các nhà trường thực dân ở Nam Kỳ, gồm hai bậc tiểu học và trung học, dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ, còn chữ Hán hầu như bị bãi bỏ hoàn toàn hoặc chỉ là môn phụ

Đầu thế kỷ XX, với sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách giáo dục cùng với hai cuộc cải cách giáo dục ở Đông Dương dưới thời Toàn quyền Paul Beau và Albert Sarraut, nền giáo dục tân học ở Nam Kỳ đã có những bước phát triển mới Nếu như sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), nền giáo dục nho học vẫn còn tồn tại song song với nền giáo dục Pháp - Việt, thì sau cải cách giáo dục lần thứ hai (1917), nền giáo dục nho học bị xóa bỏ, thay vào đó là hai hệ thống trường Pháp và trường Pháp - Việt (gồm

ba bậc: tiểu học, trung học, cao đẳng hay đại học và các trường thực nghiệp) Đến năm

1924, trên toàn Nam Kỳ đã có tất cả là 72.709 học sinh Ở bậc cao đẳng và đại học, trường Đại học Đông Dương và nhiều trường cao đẳng được xây dựng như: Cao đẳng sư phạm, Công chính, Thương mại, Thú y, Canh nông,… với số lượng sinh viên ngày càng tăng, đào tạo được một đội ngũ trí thức tân học với trình độ cao và số lượng ngày càng đông đảo

Trong số những trí thức tân học được đào tạo từ nhà trường thực dân, có người ra làm việc cho Pháp, nhưng cũng có không ít thanh niên trí thức tuy học ở trường Tây hoặc

Trang 13

sang Tây du học trở về, với tinh thần yêu nước đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Điều này rõ ràng trái với chủ ý của người Pháp khi đầu tư phát triển giáo dục ở Nam Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung

3.2 Trí thức Nam Kỳ tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản

Đầu thế kỷ XX, trong lúc giới trí thức đương thời trăn trở với câu hỏi nguyên nhân

mất nước và con đường cứu nước, thì làn sóng Tân thư, Tân văn, cùng với tiếng dội của phong trào “Châu Á thức tỉnh” đã đem lại sự chuyển biến trong nhận thức chính trị và

những quan niệm mới mẻ cho một bộ phận sĩ phu thức thời Việt Nam đầu thế kỷ XX Trước hết, phải kể đến ánh sáng của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp (1789) và các thuyết về “nhân đạo”, “dân quyền” của giai cấp tư sản Pháp với các đại biểu tiến bộ như Montesquieu, Rousseau, Voltare,…; cuộc duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật Bản (1868) vốn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với sĩ phu tiến bộ; cuộc vận động duy tân ở Trung Quốc (1898) với hai đại diện tiêu biểu là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu; cuộc vận động cách mạng của Tôn Trung Sơn, đỉnh cao là Cách mạng Tân Hợi (1911)…

Tư tưởng tự do dân chủ và tư tưởng đấu tranh sinh tồn là hai nội dung cơ bản được

thể hiện rất rõ trong Tân thư và Tân văn Các nhà nho yêu nước đầu tiên của Việt Nam

như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng,… đã tìm thấy sự liên quan giữa hai nội dung này với hai nhiệm vụ chống phong kiến và chống đế quốc ở Việt Nam lúc bấy giờ Với lòng yêu nước, thức thời và sự nhạy bén trước thời cuộc, các sĩ phu cấp tiến đã hồ hởi đón nhận tư tưởng cứu nước mới, mạnh dạn vượt qua rào cản của hệ tư tưởng phong kiến, học tập Trung Quốc

và Nhật Bản, khởi xướng con đường cứu nước mới để tìm con đường đi mới cho dân tộc Phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Minh Tân ở Nam Kỳ diễn ra đầu thế kỷ XX vừa là sự tiếp nối những hoài bão canh tân của các sĩ phu lớp trước chưa thành hiện thực, vừa là kết quả của sự tiếp thu những tư

tưởng mới mẻ, tiến bộ qua Tân thư và Tân văn Riêng trí thức yêu nước Nam Kỳ, trong

đó có trí thức tân học như Trần Chánh Chiếu và một số sĩ phu cấp tiến như Huỳnh Đình Điển, Nguyễn An Khương, Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến,… đã hưởng ứng tích cực và có những đóng góp quan trọng trong phong trào Đông Du và Duy Tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

3.3 Trí thức Nam Kỳ hưởng ứng xu hướng cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

3.3.1 Hưởng ứng phong trào Đông Du

Thập niên đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược ở Việt Nam từ lập trường phong kiến chuyển sang khuynh hướng dân chủ tư sản được đánh dấu bằng hai cuộc vận động yêu nước: Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xướng và Đông

Du với Phan Bội Châu là linh hồn của phong trào Khi bão táp của hai cuộc vận động lan đến tận Nam Kỳ, rất nhiều trí thức yêu nước đã tích cực hưởng ứng với tên gọi “Minh Tân” thông qua nhiều hình thức: viết báo cổ súy cho Duy Tân, cho con em tham gia vào cuộc Đông Du, lập những cơ sở kinh tài để ủng hộ phong trào

Phong trào Đông Du bắt đầu ở Bắc và Trung Kỳ vào tháng 7-1905 Dưới tác động

của Ai cáo Nam Kỳ phụ lão cùng với nhiều tài liệu tuyên truyền khác của Phan Bội Châu

gửi từ nước ngoài về và được Trần Chánh Chiếu phổ biến, đến năm 1907 phong trào lan vào đến tận Nam Kỳ Dưới hình thức của cuộc vận động Minh Tân, các chí sĩ đầu tiên

Ngày đăng: 19/09/2017, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w