1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận án trí thức nam kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930

229 382 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 8,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, đề tài xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau: - Làm rõ quá trình hình thành, phát triển của đội ngũ trí thức nho học cuối thế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -* -

TRẦN THỊ ÁNH

TRÍ THỨC NAM KỲ TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1930

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGHỆ AN – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -* -

TRẦN THỊ ÁNH

TRÍ THỨC NAM KỲ TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1930

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trần Thị Ánh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận án 7

6 Bố cục của luận án 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9

1.1 Tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử 9

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc 16

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về trí thức Nam Kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc

27

1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu vấn đề 37

1.3 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 38

CHƯƠNG 2 TRÍ THỨC NAM KỲ VỚI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP CUỐI THẾ KỶ XIX 39

2.1 Khái quát về vùng đất Nam Kỳ và trí thức Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược 39

2.1.1 Khái quát về vùng đất Nam Kỳ 39

2.1.2 Đội ngũ trí thức ở Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược 41

2.2 Thái độ của trí thức Nam Kỳ trước cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp 45

2.3 Hoạt động chống Pháp của trí thức Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX 55

2.4 Tiếp thu và truyền bá văn hóa, văn minh phương Tây 59

Trang 5

Tiểu kết Chương 2 65

CHƯƠNG 3 TRÍ THỨC NAM KỲ VỚI PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC THEO KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN 68

3.1 Sự ra đời của đội ngũ trí thức mới ở Nam Kỳ 68

3.1.1 Bối cảnh lịch sử 68

3.1.2 Đội ngũ trí thức mới ra đời 71

3.2 Trí thức Nam Kỳ tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản 75

3.3 Trí thức Nam Kỳ hưởng ứng xu hướng cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh 78

3.3.1 Hưởng ứng phong trào Đông Du 78

3.3.2 Hưởng ứng phong trào Duy Tân 81

3.4 Trí thức Nam Kỳ thành lập các tổ chức chính trị và đảng phái 85

3.4.1 Đảng Lập hiến 85

3.4.2 Tổ chức Thanh niên Cao vọng 88

3.4.3 Đảng Thanh niên 91

3.4.4 Đông Dương Lao động Đảng 94

3.5 Các phong trào yêu nước của trí thức Nam Kỳ 96

3.6 Hoạt động yêu nước của trí thức Nam Kỳ trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng 104

3.6.1 Diễn thuyết cổ động tinh thần yêu nước 104

3.6.2 Hoạt động báo chí, xuất bản 108

Tiểu kết Chương 3 118

CHƯƠNG 4 TRÍ THỨC NAM KỲ VỚI PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC THEO KHUYNH HƯỚNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN 121

4.1 Sự phân hóa tư tưởng trong trí thức Nam Kỳ ở nửa cuối những năm 20 (thế kỷ XX) 121

4.2 Trí thức Nam Kỳ đi theo con đường cách mạng vô sản 126

4.2.1 Trí thức Nam Kỳ với hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin 126

4.2.2 Trí thức Nam Kỳ với chủ trương “Vô sản hóa” 131

Trang 6

4.3 Trí thức Nam Kỳ với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 134

4.3.1 Trí thức Nam Kỳ với các tổ chức tiền thân của Đảng 134

4.3.2 Trí thức Nam Kỳ với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 141

Tiểu kết Chương 4 144

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

PHỤ LỤC 176

Trang 8

Cao Bá Quát từng nhận định: Nguyễn Trãi và Chu Văn An là hai nhà trí thức tiêu biểu nhất cho trí thức Việt Nam thời xưa, là những trí thức “có chí lớn như chim hồng hộc bay tít lên mây xanh” và khi không có điều kiện trực tiếp cống hiến tâm sức cho triều đình, cho đất nước, lại chọn cách sống “thanh cao ở ẩn như chim hạc đen ngủ một mình bên sườn núi” Đó là những trí thức chân chính được xã hội tôn vinh, nhân dân nể trọng Trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến, có rất nhiều bậc hiền tài, cho dù là nhà quân sự, nhà chính trị ở chốn quan trường hay gặp trở ngại lui về dạy học, làm thuốc cứu dân,… dù ở vị trí nào, họ cũng sẵn sàng hiến dâng trí tuệ, tài năng của mình, góp phần quan trọng trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước

Trong thời kỳ cận - hiện đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trí thức cũng đảm nhận vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Trí thức Việt Nam là lực lượng rất nhạy bén với cái mới, với những tư tưởng tiến bộ, “có đầu

óc dân tộc và đầu óc cách mạng”, “có học thức, dễ có cảm giác chính trị…, dễ tiếp thu sự giáo dục cách mạng và cùng đi với công nông”, “trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”,… Chính vì vậy, nghiên cứu về quá trình hoạt động, vai trò, cống hiến

và đặc điểm của trí thức Việt Nam trong lịch sử là một trong những vấn đề trọng tâm của sử học

Trang 9

3

1.2 Kể từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định, rồi sau đó chiếm Lục tỉnh Nam Kỳ và thôn tính cả nước ta, trí thức Nam Kỳ là lực lượng tiên phong trong phong trào kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc Trước nỗi đau mất nước, trí thức yêu nước Nam Kỳ tự nguyện đứng về phía nhân dân, tìm mọi phương cách, mọi hình thức để cứu nước Có những trí thức đứng ra lãnh đạo hoặc tham gia các cuộc khởi nghĩa vũ trang, có người dùng ngòi bút sắc bén của mình đấu tranh trên các mặt trận chính trị, tư tưởng và văn hóa…

Từ giữa thế kỷ XIX đến những thập niên đầu của thế kỷ XX, cùng với nhân dân Nam Kỳ, trí thức Nam Kỳ “đi trước về sau” trong phong trào chống Pháp Họ là lực lượng sớm nhận thức được sự bất lực của ý thức hệ phong kiến và chủ động tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Những hoạt động yêu nước và đóng góp lớn lao của đội ngũ trí thức yêu nước Nam

Kỳ đã góp phần bồi đắp truyền thống kiên cường của vùng đất “Thành đồng Tổ quốc”, đồng thời để lại những bài học lịch sử quan trọng để phát huy vai trò của trí thức trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hôm nay 1.3 Trí thức Nam Kỳ có những đóng góp to lớn trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có công trình sử học nào nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu về vấn đề này Mặc dù trí thức Nam Kỳ mang những đặc điểm chung của đội ngũ trí thức cả nước, như tác giả

Vũ Khiêu nhận định, đó là “sự gắn bó bằng máu thịt của trí thức Việt Nam với dân tộc của họ”, “họ cùng với dân tộc nổi chìm trong dòng lịch sử”, người trí thức chân chính ở Việt Nam “học giỏi và suốt đời mở rộng tri thức, suốt đời đem hết tài năng

và trí tuệ phục vụ cho Tổ quốc và nhân dân”,…; tuy nhiên, do điều kiện và hoàn cảnh lịch sử tác động, trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930 có những đặc điểm riêng so với trí thức cùng thời ở những vùng miền khác trên cả nước

1.4 Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay, việc giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, ý thức trách nhiệm của công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề quan trọng Luận án vừa góp phần vào mục đích trên; vừa có giá trị bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam; giúp người đọc có một cái nhìn tổng thể, xuyên suốt về vị trí, vai trò và những đóng góp to lớn của bộ

Trang 10

4

phận trí thức Nam Kỳ đối với công cuộc chống ngoại xâm của dân tộc trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động từ năm 1884 đến năm 1930

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Trí thức Nam

Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930” làm luận

án tiến sĩ sử học, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình hình thành, phát triển, thái độ chính trị, hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930

Khái niệm “trí thức” được hiểu là những người có học thức (thi đỗ từ “tú tài” trở

lên) Trong một số trường hợp, đó có thể là người không đỗ đạt, nhưng có hiểu biết rộng, uy tín cao, được xã hội trân trọng

Trong luận án, khái niệm “trí thức Nam Kỳ” bao gồm nhân sĩ, trí thức sinh ra,

lớn lên ở Nam Kỳ hoặc sinh ra ở nơi khác, nhưng hoạt động chủ yếu trên địa bàn Nam Kỳ, để lại những dấu ấn sâu đậm ở Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc giai đoạn 1884 - 1930 Trong điều kiện tư liệu cho phép, luận án cũng đề cập đến một số trí thức quê ở Nam Kỳ, hoặc ở các vùng miền khác của Việt Nam, sau thời gian học tập, sinh sống và hoạt động ở nước ngoài trở về, có đóng góp cho

sự nghiệp giải phóng dân tộc ngay trên mảnh đất Nam Kỳ

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu là “trí thức Nam Kỳ”, hoạt động yêu

nước trên địa bàn Nam Kỳ, luận án xác định phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài là Lục tỉnh Nam Kỳ dưới triều Nguyễn trước khi Pháp xâm lược và là vùng đất Nam Kỳ (Cochinchine), thuộc địa của Pháp theo quy định của Hiệp ước Patenôtre (1884)

- Phạm vi thời gian luận án tập trung nghiên cứu được xác định từ năm 1884 đến năm 1930 Chọn năm 1884 làm mốc mở đầu và năm 1930 làm mốc kết thúc phạm

vi nghiên cứu của đề tài là vì:

Sau gần 26 năm kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta ở bán đảo Sơn Trà, ngày 6-6-1884, triều đình Huế ký Hiệp ước Patenôtre, công nhận quyền

Trang 11

5

bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Nước mất, nhân dân Nam Kỳ, trong đó có lực lượng trí thức yêu nước cùng với nhân dân cả nước bước vào cuộc vận động giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân, giành độc lập

Trải qua quá trình đấu tranh quyết liệt xác lập quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam giữa các tổ chức cách mạng với các đảng phái theo những khuynh hướng cứu nước khác nhau, tháng 2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trở thành chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam theo khuynh hướng vô sản, đánh dấu bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và phong trào yêu nước của trí thức Nam Kỳ nói riêng Từ đây, trí thức yêu nước Nam

Kỳ cùng với nhân dân bước vào thời kỳ đấu tranh mới dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án được xác định là hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, bao gồm:

+ Hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX;

+ Hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản trong 30 năm đầu thế kỷ XX;

+ Hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản trong nửa cuối những năm 20 (thế kỷ XX)

Trên đây là giới hạn phạm vi không gian, thời gian và phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án Những vấn đề nằm ngoài giới hạn trên không thuộc đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn tài liệu tin cậy, luận án tập trung nghiên cứu về sự hình thành, phát triển và thái độ chính trị của các bộ phận trí thức ở Nam Kỳ trước cuộc chiến tranh xâm lược và cai trị của thực dân Pháp qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1884 đến năm 1930; đồng thời hệ thống lại những hoạt động yêu nước tiêu biểu của trí thức Nam Kỳ theo các khuynh hướng cứu nước khác nhau từ năm 1884 đến năm

Trang 12

6

1930; qua đó, làm rõ đặc điểm, vai trò và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, đề tài xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Làm rõ quá trình hình thành, phát triển của đội ngũ trí thức nho học (cuối thế

kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX) và đội ngũ trí thức tân học (đầu thế kỷ XIX đến năm 1930) ở Nam Kỳ;

- Phân tích và làm rõ thái độ chính trị của trí thức Nam Kỳ trước những biến động của thời cuộc qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1884 đến năm 1930;

- Phục dựng những hoạt động của trí thức Nam Kỳ trong phong trào yêu nước và cách mạng theo các khuynh hướng cứu nước khác nhau từ năm 1884 đến năm 1930;

- Làm rõ những chuyển biến nổi bật về tư tưởng của trí thức Nam Kỳ từ ý thức

hệ phong kiến sang lập trường dân chủ tư sản và lập trường vô sản qua các giai đoạn: từ năm 1884 đến đầu thế kỷ XX, từ đầu thế kỷ XX đến giữa thập niên 20 của thế kỷ XX và từ giữa thập niên 20 của thế kỷ XX đến năm 1930;

- Nhận định, đánh giá vai trò và những đóng góp nổi bật của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930

4 Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:

- Tài liệu lưu trữ: Phông Thống đốc Nam Kỳ (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II)

bao gồm các báo cáo của Sở An ninh các tỉnh Nam Kỳ gửi Thống đốc Nam Kỳ về tình hình chính trị ở các tỉnh Nam Kỳ từ năm 1884 đến năm 1930; Phông Toàn quyền Đông Dương (Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại - ANOM - Pháp) bao gồm các báo cáo, điện tín, các công văn mật của các cơ quan chuyên trách ở Nam Kỳ, Thống đốc Nam Kỳ và Nha An ninh Đông Dương gửi chính quyền cấp trên về tình hình chính trị ở Nam Kỳ từ năm 1884 đến năm 1930 Các tài liệu lưu trữ sử dụng trong luận án

là một kênh thông tin quan trọng, phản ánh hoạt động yêu nước và cách mạng của trí thức Nam Kỳ, cũng như những nhận định, đánh giá của đối phương về vai trò

Trang 13

7

của trí thức Nam Kỳ trong các phong trào yêu nước và cách mạng từ năm 1884 đến năm 1930

- Tài liệu tham khảo: Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và

ngoài nước về trí thức Việt Nam và trí thức Nam Kỳ, các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cận đại, lịch sử Nam Bộ, các công trình nghiên cứu về phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cũng như về các nhân vật trí thức Nam Kỳ trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, các tác phẩm hồi ký, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…

- Tài liệu văn kiện, lý luận: Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tài

liệu của các cơ quan Đảng, Nhà nước phản ánh quan điểm, chủ trương của Trung ương và các cấp ủy Đảng về đội ngũ trí thức; cũng như đề cập đến các nhân vật trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trong nửa sau thập niên 20 của thế kỷ XX

- Tài liệu báo chí: Các bài viết về trí thức đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu Hội

thảo, báo viết, báo điện tử…

4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở phương pháp luận: Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đội ngũ trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức

- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu

phương pháp lịch sử và phương pháp logic - hai phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịch sử Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ

như: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh,… để thực hiện đề tài

5 Đóng góp của luận án

- Luận án là công trình đầu tiên phục dựng bức tranh toàn cảnh về hoạt động yêu nước và cách mạng của trí thức Nam Kỳ qua các giai đoạn lịch sử đầy biến động từ năm 1884 đến năm 1930

- Làm rõ đóng góp, vai trò và đặc điểm của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930

- Hệ thống nguồn tư liệu, góp phần vào việc nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch sử Nam Bộ, lịch sử Việt Nam thời cận đại

Trang 14

8

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được bố cục thành 4 chương:

- Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

- Chương 2 Trí thức Nam Kỳ với phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ

XIX

- Chương 3 Trí thức Nam Kỳ với phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh

hướng dân chủ tư sản

- Chương 4 Trí thức Nam Kỳ với phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh

hướng cách mạng vô sản

Trang 15

9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về quá trình hoạt động, vai trò, cống hiến và đặc điểm của trí thức Việt Nam trong lịch sử là một trong những trọng tâm của sử học và các ngành khoa học có liên quan Chính vì vậy, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu

về trí thức Việt Nam được công bố, ấn hành dưới nhiều dạng: sách, bài báo khoa học, đề tài khoa học, luận án, luận văn…

Có thể phân chia các công trình đó theo các mảng đề tài sau:

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử

Ở mảng đề tài này, đã có nhiều công trình được công bố từ những góc độ tiếp cận khác nhau (thuộc các chuyên ngành triết học, xã hội học, văn hoá học, sử học,…), nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến trí thức hoặc giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp và đóng góp của những nhân vật trí thức nổi bật

Dưới đây là nội dung chính của các công trình tiêu biểu:

Trong công trình Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử, (Nxb

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1987), dưới nhãn quan xã hội học, tác giả Vũ Khiêu phân tích nguồn gốc hình thành tầng lớp trí thức, cơ sở xã hội và đặc điểm truyền thống của trí thức, từ đó đánh giá vị thế, thái độ xuất xử và vai trò của trí thức Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, cùng với những kiến giải về nguyên nhân dẫn đến ứng

xử có phần khác nhau của họ đối với thời cuộc

Do chỉ lựa chọn trình bày hành trạng và đóng góp của một số nhân vật trí thức nho học, công trình thiếu hẳn bóng dáng của các nhân vật trí thức (dù là tiêu biểu) trong các giai đoạn lịch sử cận - hiện đại, có chăng chỉ đề cập đến thái độ, sứ mệnh của họ trong phong trào giải phóng dân tộc, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cũng chỉ ở mức độ khái lược, vì thế chưa thể khắc hoạ đầy đủ diện mạo trí thức Việt Nam trong các chặng đường của lịch sử dân tộc

Tác giả Phạm Tất Dong trong công trình Trí thức Việt Nam - thực tiễn và triển

vọng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1995) đã đi sâu trình bày các vấn đề lý

Trang 16

10

luận như: khái niệm về trí thức; chức năng, nhiệm vụ, cấu trúc của đội ngũ trí thức; qua đó khắc họa diện mạo, vai trò và những đóng góp to lớn của trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc, nhất là trong công cuộc đấu tranh chống xâm lược, giành và bảo vệ độc lập dân tộc Công trình cũng giành một dung lượng thích đáng nghiên cứu về thực trạng, nhu cầu và nguyện vọng của trí thức, đồng thời đề xuất định hướng xây dựng chính sách phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 2, mục II (Trí thức Việt Nam thời kỳ đất nước bị Pháp đô hộ) tập trung

làm rõ thái độ, ứng xử của trí thức Việt Nam trước cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp; phân tích những yếu tố tác động đến sự phân hoá và chuyển biến về

tư tưởng của trí thức Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, qua đó, giúp độc giả hình dung khái quát về đóng góp của trí thức Việt Nam trong phong trào yêu nước và cách mạng với ba khuynh hướng cứu nước: theo ý thức hệ phong kiến, theo khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng cách mạng vô sản Ba khuynh hướng cứu nước ấy không phải là những lát cắt rời rạc trên con đường giải phóng dân tộc, mà là “sự bàn giao sứ mệnh cứu nước” (trang 69) và là sự tiếp thu những tư tưởng mới đúng đắn nhưng “không hề gạt bỏ những yếu tố tiến bộ trong truyền thống tư tưởng và tâm lý dân tộc” (trang71)

Công trình Một số vấn đề về trí thức Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

năm 1998) của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn tập trung làm rõ vị trí, bản chất xã hội, đặc trưng và ý thức hệ tư tưởng của trí thức Việt Nam xưa và nay Với quan điểm

“trí thức một mặt là kết quả của tiến bộ xã hội, mặt khác, sự phát triển của trí thức góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội” (trang 35), tác giả khẳng định vai trò quan trọng của trí thức trong tiến trình phát triển của lịch sử, đặc biệt là trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, từ đó đề xuất phương hướng đổi mới công tác quản lý và chính sách đối với đội ngũ trí thức Công trình đã cung cấp cho chúng tôi cơ sở lý luận về trí thức cũng như những đánh giá xác đáng về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc

Công trình Một số vấn đề về trí thức Việt Nam của hai tác giả Nguyễn Văn

Khánh và Nguyễn Quốc Bảo (Nxb Lao động, Hà Nội, năm 2001) nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn, khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong lịch sử Với dung lượng gần 300 trang, bố cục thành bốn nội dung lớn, Phần I và Phần II

Trang 17

Ở Phần III (Trí thức Việt Nam với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, từ trang 144 - 198), gồm các nội dung: Trí thức yêu nước và xu hướng cách mạng tư

sản ở Việt Nam trong thập kỷ 20; Thanh niên trí thức những năm 20 với quá trình chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tác giả Nguyễn Văn Khánh đã trình bày khá cô đọng,

súc tích về những đóng góp của trí thức Việt Nam trong phong trào yêu nước và cách mạng chống thực dân Pháp xâm lược trên nhiều mặt trận: đấu tranh vũ trang, chính trị, văn hoá và tư tưởng,… Chúng tôi tìm thấy nhiều thông tin về vai trò và đóng góp của một số nhân vật trí thức Nam Kỳ tiêu biểu trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp như: Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Trần Huy Liệu, Nguyễn Trọng Hy, Bùi Công Trừng,…

Góp phần tìm hiểu một số nhân vật lịch sử Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, năm 2003) là công trình tập hợp nhiều bài viết của tác giả Chương Thâu, cung cấp nhiều thông tin về cuộc đời và hoạt động yêu nước của hơn 40 gương mặt trí thức tiêu biểu nước ta, trong đó có các danh nhân văn hoá, nhà tư tưởng, chính khách, học giả,… thời kỳ trung và cận đại của lịch sử dân tộc Đặc biệt, tác giả đã

đề cập, đánh giá xác đáng những đóng góp của ba nhân vật trí thức yêu nước tiêu biểu ở Nam Kỳ trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược: Nguyễn Đình Chiểu (từ trang 227 đến trang 234), Phan Văn Trường (từ trang 418 đến trang 432) và Nguyễn An Ninh (từ trang 524 đến trang 533) Tác giả cho rằng, Nguyễn Đình Chiểu theo Trương Định “làm trái thiên tử chiếu”, “theo bụng dân phải chịu tướng quân phù” là “một tư tưởng yêu nước sáng ngời”, “là việc cần thiết và là điều

Trang 18

12

sáng suốt của một sĩ phu thức thời”; Phan Văn Trường là một trí thức “có nhãn quan chính trị, có quan điểm đúng đắn về một đường lối cách mạng ở Việt Nam”,

đó là “đường lối bạo lực cách mạng chứ không phải là đề huề”; Nguyễn An Ninh là

“một nhà yêu nước nhiệt thành”,… Mặc dù tác phẩm chỉ đề cập ba nhân vật trí thức

kể trên, nhưng đó là những hiện tượng nổi bật của đội ngũ trí thức yêu nước Nam

Kỳ trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn nửa sau thế

kỷ XIX và trong những năm 20 của thế kỷ XX

Trên cơ sở công trình Một số vấn đề về trí thức Việt Nam được xuất bản năm

2001, tác giả Nguyễn Văn Khánh và những cộng sự cho xuất bản công trình Trí

thức với Đảng, Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước

(Nxb Thông tấn, Hà Nội, năm 2004), tiếp tục giới thiệu khái quát những luận điểm

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về trí thức, về vị trí, vai trò của trí thức trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản; đồng thời trình bày những hoạt động và đóng góp của trí thức Việt Nam trong xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc, trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc (trong đó có đề cập đóng góp của nhiều nhân vật trí

thức Nam Kỳ như đã trình bày trong công trình Một số vấn đề về trí thức Việt Nam),

trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Công trình còn

đề cập đến các yêu cầu, nhiệm vụ và phương hướng đào tạo, bồi dưỡng trí thức, tạo điều kiện để trí thức đóng góp tích cực nhất vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay Ở phần thứ tư (từ trang 149 đến trang 524), các tác giả đã dày công sưu tầm những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước về trí thức với cách mạng Việt Nam

Với hai tập sách Lịch sử và văn hóa Việt Nam - Những gương mặt trí thức,

(Trung tâm Unesco thông tin tư liệu và lịch sử văn hóa Việt Nam tổ chức sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn, năm 1998), tác giả Nguyễn Quang Ân (chủ biên) và cộng

sự đã tập hợp trên một trăm bài viết của nhiều tác giả, cung cấp những thông tin cơ bản về các gương mặt trí thức Việt Nam có những đóng góp quan trọng trong lịch

sử và văn hoá nước nhà Trên cơ sở sắp xếp, biên tập lại và bổ sung thêm thông tin

về một số nhân vật trí thức vào hai tập sách này, Trung tâm Unesco phổ biến kiến thức văn hóa giáo dục cộng đồng kết hợp với Hội khoa học Lịch sử Việt Nam xuất

Trang 19

13

bản tác phẩm Trí thức Việt Nam xưa và nay (Nguyễn Quang Ân, Dương Trung

Quốc tuyển chọn, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2006) gồm hai phần: Phần một tập hợp nhiều bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà nghiên cứu về trí thức và vai trò của trí thức trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhất là trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; Phần hai của tác phẩm giới thiệu, tôn vinh công lao của 165 trí thức Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, trong đó có một số trí thức Nam Kỳ tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, Trương Vĩnh Ký, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Trần Huy Liệu, Mặc dù còn nhiều tên tuổi trí thức yêu nước chưa được giới thiệu, nhưng chúng tôi đã tìm thấy trong tập sách nhiều thông tin giá trị liên quan đến luận án đang nghiên cứu

Tiếp nối kết quả nghiên cứu đã được công bố trong công trình Người trí thức

Việt Nam qua các chặng đường lịch sử (xuất bản năm 1987), tác giả Vũ Khiêu viết Trí thức Việt Nam thời xưa (Nxb Thuận Hóa, năm 2006) Trong công trình này, tác

giả tiếp tục khắc họa chân dung của một số trí thức tiêu biểu nước ta thời phong kiến, qua đó khẳng định: “Ngoài những dị biệt về hoàn cảnh xã hội, về nhiệm vụ lịch sử, về cách thức tư duy và hành động, từ xưa đến nay, họ đều có những nét tương đồng về phẩm chất bất diệt, đó là “sự gắn bó máu thịt của trí thức Việt Nam với dân tộc của mình” (trang 5); trí thức Việt Nam “học giỏi và suốt đời mở rộng tri thức, suốt đời đem hết tài năng và trí tuệ phục vụ cho tổ quốc và nhân dân” (trang 11) Tác giả dành tình cảm trân trọng và đánh giá cao phẩm chất tốt đẹp cùng với những đóng góp to lớn của trí thức nho học trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Mặc dù chỉ đề cập một số nhân vật trí thức tiêu biểu, song đây là tài liệu giúp độc giả có thể tìm được những ý kiến xác đáng trong nhận định, đánh giá vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức nho học trong lịch sử dân tộc thời phong kiến

Với những luận cứ khoa học kết hợp với khảo nghiệm thực tiễn, công trình Thực

trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Trần Đức Vượng chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2014) trình bày

một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về trí thức và xây dựng lực lượng trí thức Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng; đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam trong nhiều lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với trí thức qua gần 30 năm

Trang 20

14

đổi mới; dự báo xu hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất mục tiêu, quan điểm, phương hướng, giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ trí thức giai đoạn 2011 - 2020

Có thể tìm thấy trong công trình một số thông tin liên quan đến đề tài luận án Ở

Phần thứ nhất (Trí thức Việt Nam - Lịch sử và lí luận), các tác giả đi sâu phân tích

đặc trưng, thiên chức và phẩm chất của người trí thức Việt Nam Theo các tác giả,

“trí thức Việt Nam thể hiện sắc thái, bản lĩnh yêu nước và chính sắc thái, bản lĩnh

ấy đã là một trong những nhân tố tạo thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Nó có ý nghĩa to lớn trong thời kỳ hình thành dân tộc, cũng như trong cuộc đấu tranh chống

áp bức dân tộc” (trang 90) Đáng chú ý, ở mục IV (Những đặc trưng cơ bản của

người trí thức), các tác giả đã chỉ rõ đặc trưng, đóng góp quan trọng của thế hệ trí

thức trong thời kỳ vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Theo các tác giả, những trí thức ở Nam Kỳ như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Châu Văn Liêm, Phạm Văn Đồng cùng với Nguyễn Ái Quốc và nhiều chiến sĩ cộng sản trên cả nước thời kỳ này là “lớp trí thức khai phá, định hình một đường lối của cách mạng Việt Nam, đường lối này phát triển theo xu hướng cách mạng dân tộc và dân chủ, giải phóng dân tộc, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa” (trang 34)

Gần đây, chúng tôi tiếp cận được công trình Trí thức Việt Nam trong tiến trình

lịch sử dân tộc của tác giả Nguyễn Văn Khánh (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2016)

Với dung lượng gần 600 trang, gồm hai phần: Phần I bao gồm 8 chương, đi từ lý luận đến thực tiễn, trình bày một số quan điểm chung về trí thức, sự hình thành và phát triển của trí thức Việt Nam qua các thời kỳ trung, cận và hiện đại của lịch sử dân tộc, đồng thời phác họa sơ nét hoạt động và đóng góp của trí thức trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, trong sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ

Tổ quốc và trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước qua các thời kỳ Phần II của công trình giới thiệu thân thế và sự nghiệp của một số trí thức tiêu biểu với những đóng góp nổi bật của họ trên các lĩnh vực: quân sự - chính trị - ngoại giao, khoa học - giáo dục - kỹ thuật, văn học - nghệ thuật (trong đó có các nhân vật trí thức tiêu biểu liên quan đến đề tài chúng tôi đang tập trung nghiên cứu như Nguyễn

An Ninh, Phan Văn Trường, Phạm Văn Đồng, Châu Văn Liêm,…)

Trong Phần I, chương V: Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải

phóng dân tộc từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 (từ trang 102 đến trang 138), tác giả

Trang 21

15

tập trung trình bày đóng góp của trí thức - sĩ phu trong phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX, của sĩ phu yêu nước tiến bộ trong phong trào dân tộc đầu thế

kỷ XX và đóng góp của trí thức Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX

Trong phần “Trí thức - sĩ phu trong phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế

kỷ XIX” (trang 102 - 109), mặc dù đánh giá cao vai trò tiên phong của đội ngũ trí

thức nho học, nhưng theo tác giả, tâm trạng đầy bi quan, chán chường của họ (các sĩ phu - TG), cùng với sự lạc hậu về chiến lược và kỹ thuật tác chiến là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các phong trào đấu tranh do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo trong giai đoạn này

Lý giải nguyên nhân vì sao phong trào kháng Pháp đầu thế kỷ XX vẫn do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, trong khi đội ngũ trí thức tân học đã ra đời, tác giả cho rằng, ảnh hưởng của trí thức nho học vẫn còn sâu rộng trong quần chúng, trong khi đội ngũ trí thức tân học còn nhỏ bé về số lượng và chưa có uy tín lớn trong nhân dân (mục II, chương IV, trang 110) Tiếc rằng, ở nội dung này, tác giả chỉ đề cập khái lược đóng góp của trí thức nho học tiến bộ trong phong trào Đông Du và Duy Tân ở Bắc và Trung Kỳ, chưa thấy đề cập đến đóng góp của các trí thức trong phong trào Minh Tân (kết hợp cả Đông Du và Duy Tân) ở Nam Kỳ vốn diễn ra không kém phần sôi nổi so với Bắc và Trung Kỳ Tác giả cũng cho rằng, sự hy sinh và thất bại của lớp sĩ phu trong phong trào dân tộc đầu thế kỷ XX “không phải là vô ích, nó để lại cho thế hệ sau những bài học lịch sử hết sức thiết thực” (trang 114)

Ở mục III, chương IV, đề cập hoạt động yêu nước của trí thức Việt Nam trong thập niên 20 của thế kỷ XX, tác giả nhận định: đóng góp của các trí thức trẻ trong phong trào dân chủ trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng (thông qua vai trò của Nguyễn

An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Phạm Tất Đắc,…) đã góp phần giác ngộ lòng yêu nước, truyền bá tư tưởng cách mạng tiến bộ, đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam; việc thành lập các tổ chức chính trị sơ khai (Đảng Thanh niên, Hội Phục Việt,…) đã góp phần quan trọng trong việc thổi bùng phong trào dân chủ ở Việt Nam trong những năm 20; đội ngũ trí thức tiểu

tư sản đi theo lập trường cách mạng vô sản, dưới sự dẫn dắt của Nguyễn Ái Quốc

đã có những đóng góp quan trọng trong sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Công trình giúp người đọc có cái nhìn khái quát về vai trò và đóng góp của trí thức Việt Nam trên nhiều lĩnh vực qua các thời kỳ của lịch sử dân tộc Tuy nhiên,

Trang 22

16

do chủ ý tiếp cận những vấn đề sát thực về tình hình trí thức Việt Nam hiện nay, vẫn còn những khoảng trống trong công trình về hành trạng, vai trò và đóng góp của đội ngũ trí thức Nam Kỳ trong phong trào yêu nước và cách mạng chống xâm lược, giành và bảo vệ độc lập dân tộc

Cùng với những công trình đã xuất bản thành sách nêu trên, còn có nhiều bài viết về đóng góp và vai trò của trí thức Việt Nam đã được đăng trên các tạp chí như:

“Trí thức và chính sách xã hội đối với trí thức trong sự nghiệp đổi mới của Đảng” của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn (Tạp chí Cộng sản, năm 1989, số 408, tr 54 - 58);

“Đội ngũ trí thức Việt Nam với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

trong giai đoạn hiện nay” của Đoàn Trường Thụ (Tạp chí Việt Nam và Đông Nam

Á ngày nay, năm 1999, số 23, tr 48 - 49); “Hành trình của trí thức Việt Nam từ Nho giáo đến Chủ nghĩa cộng sản” của Trịnh Văn Thảo (Tạp chí Xưa & Nay, năm

2011, số 385, tr.9)…

Nhìn chung, các công trình và bài viết trên đây đã cung cấp những quan điểm lý luận để tiếp cận nghiên cứu về đội ngũ trí thức; đồng thời đã giới thiệu khái lược về diện mạo, hành trạng, vai trò, đóng góp, đặc điểm của nhiều nhân vật trí thức Việt Nam từ xưa đến nay; tạo cơ sở lý luận và nguồn tư liệu tổng quát để tác giả luận án

đi sâu nghiên cứu đề tài

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc

Nội dung này chủ yếu là những công trình nghiên cứu từ góc độ sử học, bao gồm những công trình nghiên cứu trong nước và một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài được xuất bản tại Việt Nam

Các công trình nghiên cứu trong nước

Công trình Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng

dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỉ XX (Nxb Đại học Quốc gia, Hà

Nội, năm 2002) của tác giả Đinh Trần Dương tập trung làm rõ những yếu tố tác động và quá trình chuyển hoá của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong

ba thập niên đầu thế kỷ XX Từ sự phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan làm chuyển biến phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, tác giả nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa yêu nước truyền thống và ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin đến cách mạng Việt Nam Từ thực tiễn phong trào giải phóng

Trang 23

17

dân tộc giai đoạn này, tác giả đã chỉ rõ: sau thất bại của phong trào Cần Vương, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược chuyển từ lập trường phong kiến sang khuynh hướng dân chủ tư sản, cuối cùng quy tụ lại một mối, phát triển theo khuynh hướng cách mạng vô sản là kết quả tất yếu của cuộc vận động giải phóng dân tộc 30 năm đầu thế kỷ XX

Chương II của công trình (Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách

mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX) trình bày

khái lược phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược nửa sau thế kỷ XIX

và 30 năm đầu thế kỷ XX, qua đó khẳng định sự chuyển biến trong nhận thức, tư tưởng của người Việt Nam, nhất là trong giới trí thức đã tạo ra bước chuyển trong

phong trào giải phóng dân tộc nước ta giai đoạn này Đáng chú ý, ở mục 2.2.3 (Hoạt

động yêu nước của giai cấp tư sản và tiểu tư sản sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1919 - 1926), tác giả đề cập phong trào dân chủ ở Nam Kỳ trong thập niên 20

của thế kỷ XX với những hình thức đấu tranh mới mẻ, phong phú, sôi nổi (diễn thuyết, báo chí, xuất bản, thành lập các tổ chức chính trị, đảng phái,…) do các trí thức tiểu tư sản như: Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Trần Huy Liệu,… khởi xướng, lãnh đạo

Trong công trình Góp phần tìm hiểu Nho giáo - Nho sĩ - Trí thức Việt Nam trước

năm 1945 (Nxb Văn hoá - Thông tin & Viện Văn hoá, Hà Nội, năm 2007), bên cạnh

nội dung khái lược về lịch sử Nho giáo, quá trình Nho giáo du nhập và truyền bá vào Việt Nam, tác giả Chương Thâu đã giành phần lớn nội dung công trình trình bày tình hình, đặc điểm và những chuyển biến trong nhận thức, tư tưởng của trí thức Việt Nam thời phong kiến Theo tác giả, “trí thức trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể

có ứng xử và thái độ khác nhau, nhưng điều dễ thấy rõ ràng nhất ở tầng lớp trí thức Việt Nam là tấm lòng vì dân tộc, vì đất nước” (trang 308), “trí thức vốn có hiểu biết

về lịch sử, vốn giàu tinh thần tự trọng nên rất nhạy cảm với nhiệm vụ này”, “trí thức những ngày đầu cách mạng không có ai nghĩ về quyền lợi, địa vị, chức tước một khi cách mạng thành công” (trang 309 - 310) Công trình không đi sâu nghiên cứu về hành trạng của trí thức thức Việt Nam, chủ yếu từ việc phác hoạ bối cảnh lịch sử,

phân tích những yếu tố tác động (đặc biệt là ảnh hưởng của làn sóng Tân thư, Tân

văn) đến sự chuyển biến về tư tưởng, thái độ ứng xử của trí thức trước những thăng

trầm của lịch sử đất nước thời cận đại

Trang 24

18

Nhiều bài viết của hai tác giả Đinh Xuân Lâm và Chương Thâu về một số nhân vật trí thức Việt Nam có nhiều đóng góp quan trọng trong phong trào yêu nước và

cách mạng đầu thế kỷ XX được tập hợp trong công trình Phong trào yêu nước cách

mạng đầu thế kỷ XX - Nhân vật và sự kiện (Nxb Lao động, năm 2012) Đánh giá về

những đóng góp của văn thân, sĩ phu trong phong trào yêu nước và cách mạng giai đoạn này, hai tác giả nhận định: “Trên nền tảng một tinh thần yêu nước mãnh liệt,

họ đã vượt qua được những hạn chế vốn có của giai cấp xuất thân để bắt đầu tiếp nhận ánh sáng của tư tưởng thời đại mới và vận dụng vào công cuộc giải phóng dân tộc, nhờ vậy đã trở thành những trí thức dân tộc chân chính, đáng được tôn vinh” (trang 5 - 6)

Công trình Trí thức Việt Nam đối diện với văn minh phương Tây thời Pháp

thuộc của tác giả Trần Viết Nghĩa (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2012) đã đi từ lý

luận đến thực tiễn, phân tích thái độ ứng xử của trí thức trước làn sóng văn minh phương Tây du nhập vào Việt Nam thời Pháp thuộc Ở mỗi giai đoạn lịch sử (nửa sau thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những năm 20 và 30 của thế kỷ XX và từ những năm 30 của thế kỷ XX trở đi), trong đội ngũ trí thức Việt Nam có sự phân hóa với thái độ ứng xử khác nhau trước làn sóng văn minh mới: một bộ phận kiên quyết phủ nhận, cự tuyệt và chống đối (thái độ này chiếm vị trí chủ đạo, bắt nguồn từ lòng yêu nước và ý thức tự tôn dân tộc); một bộ phận chủ trương tiếp nhận (trên cơ sở duy tân đất nước, hiện đại hóa dân tộc, trên cơ sở dung hòa hai nền văn hóa Đông- Tây, trên cơ sở vong bản, trở thành nô lệ của văn minh phương Tây, phản bội Tổ quốc) Theo đánh giá của tác giả, trong số những trí thức tiếp nhận trên cơ sở dung hòa hai nền văn hóa Đông - Tây, Trương Vĩnh Ký là trường hợp tiêu biểu nhất Ông là một trong những người đã “xây những nhịp cầu đầu tiên cho sự kết nối văn hóa Đông - Tây và là biểu tượng của sự hòa hợp văn hóa Đông - Tây ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX” (trang 82) Đây cũng là đánh giá ghi nhận đóng góp của Trương Vĩnh Ký đối với nền văn hóa dân tộc trong số nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh nhân vật trí thức này

Trên cơ sở phân tích, làm rõ thái độ ứng xử của từng bộ phận trí thức trước làn sóng văn minh du nhập từ phương Tây, tác giả nhận định, bộ phận trí thức có tư tưởng tiếp nhận và tiếp biến văn minh phương Tây ngày càng chiếm ưu thế, tỉ lệ thuận với sự phát triển ngày càng đông đảo của lực lượng trí thức Tây học, đồng

Trang 25

19

thời khẳng định vai trò tiên phong của trí thức trong công cuộc giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc

Công trình Thái độ của sĩ phu Việt Nam thời tiếp xúc Đông - Tây từ thế kỷ XVII

đến đầu thế kỷ XX (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014) do tác giả

Trần Thuận chủ biên đã khắc họa hình ảnh của tầng lớp sĩ phu nước ta trong gần ba thế kỷ, phân tích thái độ của sĩ phu Việt Nam trước sự tiếp xúc với phương Tây ở hai giai đoạn (trước 1858 và từ 1858 đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất) Các tác giả đi từ sự phân tích diễn biến tư tưởng và hành động, những đóng góp nổi bật của các sĩ phu tiêu biểu, từ đó rút ra những đặc điểm cơ bản và hạn chế của sĩ phu Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm và đề xuất những quyết sách hợp lí đối với trí thức trong giai đoạn hiện nay Công trình cũng đem đến cho độc giả những kiến giải về nét tương đồng, sự khác biệt về thái độ và ứng xử của trí thức Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử

Trong Chương 3, mục 2.1.2 (Thái độ của sĩ phu trước cuộc xâm lược của thực dân

Pháp), bên cạnh việc trình bày phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Nam

Kỳ vào nửa sau thế kỷ XIX do các trí thức nho học lãnh đạo, các tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong nhận thức tư tưởng của tầng lớp nho sĩ thời kỳ này Theo các tác giả, hạn chế của họ là “quá cứng nhắc theo học thuyết Nho giáo đã quá lỗi thời… các sĩ phu đã không nhận ra được qui luật phát triển của xã hội” (trang 169)

và “…tiêu cực như thái độ chống Pháp tới cùng của Nguyễn Đình Chiểu, chống cả những thành tựu văn minh, kỹ thuật phương Tây…” và cho rằng “sự cố chấp này đã không tạo được cho một nhận thức mới hình thành” (trang 170) Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX Trong khi đó, trên nền tảng nho học và ảnh hưởng của những tri thức, tư

tưởng mới qua làn sóng Tân thư, Tân văn, một bộ phận sĩ phu có tư tưởng cấp tiến

hồ hởi đón nhận văn minh phương Tây và đã “có sự thay đổi to lớn trong nhận thức của mình” (trang 221) Phong trào Đông Du và Duy Tân nổ ra mạnh mẽ là kết quả của sự chuyển biến tư tưởng đó Các tác giả cũng đã dành một dung lượng đáng kể đánh giá ảnh hưởng cũng như hạn chế của phong trào Đông Du, Duy Tân, đặc biệt

là cuộc Minh Tân ở Nam Kỳ với vai trò quan trọng của Trần Chánh Chiếu Đối với các sĩ phu yêu nước giai đoạn này, cho dù đấu tranh dưới hình thức nào, bạo động

Trang 26

20

hay cải cách, thì đó vẫn là “sự gặp gỡ của các xu hướng chính trị xã hội khác nhau trong cùng một hệ quy chiếu: giải phóng nước nhà khỏi nghèo nàn và lạc hậu” (trang 260)

Trí thức Việt Nam trong tiến trình giải phóng dân tộc nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) (Nxb Văn hóa - Văn nghệ, năm 2016) do tác giả Nguyễn Đình Thống làm

chủ biên, đi từ lý luận đến thực tiễn về vấn đề trí thức Cùng với việc phân tích tác động của tình hình trong nước và quốc tế đến vận mệnh quốc gia, dân tộc, công trình làm rõ những chuyển biến trong nhận thức, tư tưởng của đội ngũ trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX, đánh giá vai trò của trí thức và những đóng góp tích cực của

họ trong tiến trình giải phóng dân tộc trước và sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Đề tài cũng đúc kết một số kinh nghiệm về phát huy vai trò của trí thức Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, áp dụng vào thực tiễn để phát huy năng lực của trí thức trong nhiệm vụ thực thi sứ mệnh thúc đẩy tiến bộ xã hội

Chúng tôi tìm thấy trong công trình nghiên cứu trên nhiều nội dung liên quan

đến đề tài luận án Ở Chương IV (Trí thức Việt Nam trong hai mươi năm đầu thế kỷ

XX), mục 4.12 (Trí thức Việt Nam với phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ) đã phác họa

khá rõ nét phong trào Minh đức Tân dân, đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Trần Chánh Chiếu - một nhà Minh Tân tài ba ở Nam Kỳ, qua đó khẳng định:

“kết quả to lớn và dài lâu của công cuộc Minh Tân chính là sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa theo hướng kinh tế thị trường, gắn liền với sự ra đời của tầng lớp

tư sản dân tộc và đội ngũ trí thức Tây học xuất thân từ những sĩ phu yêu nước với khát vọng chấn hưng đất nước, giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội Đó cũng chính

là đặc trưng của tầng lớp tư sản dân tộc và đội ngũ trí thức, tiểu tư sản ở Nam Kỳ nói riêng, ở Việt Nam nói chung” (trang 97)

Trong Chương V (Trí thức Việt Nam trong những năm 1920-1929), ngoài việc

phác họa bối cảnh đất nước những năm 1920-1930 và sự ra đời, phát triển của lực lượng trí thức tân học; các tác giả tập trung trình bày hoạt động yêu nước chống thực dân Pháp của trí thức trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn học nghệ thuật; trong phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh; vai trò của trí thức trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đối với sự ra đời của các tổ chức tiền thân của Đảng, trong đó có sự đóng góp to lớn của trí thức yêu nước Nam

Kỳ Mục 5.6 (Nguyễn An Ninh, ngọn cờ tập hợp thanh niên trí thức ở Nam Bộ)

Trang 27

21

đánh giá cao vai trò của Nguyễn An Ninh trong phong trào yêu nước ở Nam Kỳ với các hoạt động diễn thuyết, xuất bản sách báo tố cáo tội ác của thực dân Pháp, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, vận động và tập hợp quần chúng đấu tranh, kêu gọi thanh niên, trí thức và mọi người dân phải dốc hết tâm trí vào mục tiêu giải phóng giống nòi, đưa dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ (trang 146)

Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu công phu về trí thức Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử nhiều biến động, giúp độc giả hình dung được bức tranh tổng thể về đội ngũ trí thức Việt Nam với những đóng góp quan trọng của họ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Qua các công trình và đề tài trên, có thể nhận diện được bối cảnh lịch sử, hoạt động và vai trò của trí thức Việt Nam ở một thời kỳ “khổ nhục nhưng vĩ đại” (chữ dùng của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng) trong lịch sử dân tộc Tuy nhiên, vì là những công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam nói chung, nên các công trình này chưa đi sâu khắc họa diện mạo, đặc điểm của trí thức Nam Kỳ trước những biến động lớn ở vùng đất “đi trước về sau” với những đặc trưng độc đáo, cần được phân tích và lý giải thỏa đáng

Có thể kể thêm các công trình hồi ký của các nhà hoạt động yêu nước và cách

mạng đề cập đến đội ngũ trí thức yêu nước Nam Kỳ như: Phan Bội Châu niên biểu (Hồi ký của Phan Bội Châu, Nhóm nghiên cứu Sử - Địa xuất bản, 1973); Hồi Ký

Trần Huy Liệu (Phạm Như Thơm biên soạn, Nxb Khoa học Xã hội,1991); các công

trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của các nhân vật trí thức Việt Nam dưới

thời Pháp thuộc như: Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Tập 1 & 2 (Lê Thị

Kinh, Nxb Đà Nẵng, năm 2001, 2003) Cũng có thể tìm thấy thông tin về xuất thân, hành trạng của các trí thức trẻ Nam Kỳ là những chiến sĩ cộng sản thế hệ đầu tiên,

có những đóng góp quan trọng trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt

Nam trong các công trình: Những người sống mãi (Trung Chính, Nxb Sử học, năm 1960); Những người Cộng sản (Nxb Thanh niên, năm 1976); Thế hệ ban đầu (Đặng Hòa, Nxb Thanh niên, Hà Nội, năm 1986); Trương Vân Lĩnh, Lê Hồng Sơn - Cuộc

đời và sự nghiệp (Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An,

năm 2000); v.v… hoặc một số công trình khác nghiên cứu về các tổ chức chính trị

và đảng phái ở Việt Nam thời Pháp thuộc có sự tham gia của trí thức như: Các tổ

Trang 28

22

chức tiền thân của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,

năm 1977); Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (Nxb Thông tin Lý luận, năm 1985); Nguyễn Ái Quốc với sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam

1921-1930 (Phạm Xanh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2001); Tân Việt Cách mạng Đảng trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (Đinh

Trần Dương, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2006)

Bên cạnh đó, trong các bộ lịch sử Việt Nam thời kỳ cận đại, cũng có thể tìm thấy

ít nhiều tư liệu liên quan đến đội ngũ trí thức, phần lớn được đề cập trong các nội dung trình bày về tình hình chính trị, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp

Tuy nhiên, với tính chất là các công trình nghiên cứu chuyên sâu về từng nhân vật (hoặc một số nhân vật) và từng tổ chức; hoặc vì đây là những bộ thông sử (viết tổng quát nhiều lĩnh vực, nhiều sự kiện…), nên việc đề cập đến vai trò, hoạt động của đội ngũ trí thức nói chung, nhất là đội ngũ trí thức ở Nam Kỳ trong các công trình này chỉ dừng lại ở mức độ khái lược

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Cho đến nay, việc tiếp cận của tác giả luận án đối với các công trình nghiên cứu chuyên sâu về trí thức Việt Nam xuất bản ở nước ngoài (hoặc được dịch và xuất bản

ở Việt Nam) còn tương đối ít ỏi vì nhiều lý do (cả khách quan lẫn chủ quan) Dù vậy, vẫn có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây:

Công trình L’Indochine francaise pendant la Guerre de 1914-1918 (Đông

Dương thuộc Pháp trong chiến tranh 1914-1918) của tác giả Duong Van Giao (Nxb

Jean Budry et Cie - Paris, năm 1925), bao gồm 3 phần chính xoay quanh các vấn đề: đưa lính thợ Đông Dương sang Pháp để phục vụ chiến tranh; tình hình kinh tế ở Đông Dương; tình hình chính trị và tinh thần đấu tranh của nhân dân Đông Dương trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) Đáng chú ý, phần 3 của công trình đề cập tình hình chính trị, những cải tổ quan trọng của chính quyền thực dân trong lĩnh vực giáo dục cũng như kinh tế ở Đông Dương sau chiến tranh Chúng tôi tìm được một vài thông tin liên quan đến luận án đang nghiên cứu, trong đó có chi tiết đề cập thái độ của tầng lớp trí thức tư sản hóa đối với những cải tổ của chính quyền thực dân có liên quan đến quyền lợi kinh tế của họ, trong đó có những nhân vật như: Nguyễn Phan Long, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phú Khai, Tác giả nhận

Trang 29

Với công trình Vietnamese Anticolonialism 1885 - 1925 (Việt Nam chống thực

dân 1885 - 1925, University of California Berkeley, Los Angeles, London, 1971), tác giả David G Marr tập trung nghiên cứu hoạt động chống Pháp của một số nhà yêu nước trong các phong trào Cần Vương, Đông Du và Đông Kinh Nghĩa Thục, trong đó có những trí thức tiêu biểu như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Khương, Trần Huy Liệu, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Tác giả còn chỉ ra những mối liên hệ và ảnh hưởng giữa các trí thức trong phong trào yêu nước và cách mạng chống thực dân Pháp xâm lược

từ cuối thế kỷ XIX đến giữa những năm 20 của thế kỷ XX, đặc biệt trong phong trào Đông Du và Đông Kinh Nghĩa Thục

Chương 2 của công trình (A Patrimony Lost - Một di sản bị mất) khái lược tình

hình nước ta từ khi nhà Nguyễn thành lập (1802) cho đến khi thực dân Pháp đặt được ách thống trị lên toàn lãnh thổ Việt Nam (1884) Chúng tôi cũng tìm thấy ở đây một số thông tin về các trí thức nho học như: Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Trần Thiện Chánh,… với phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp (trang 30-35); Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của,… với những cố gắng làm cầu nối giữa hai nền văn hóa Pháp - Việt (trang 36); Nguyễn Đình Chiểu với phong trào “tỵ địa”, tham gia vào khởi nghĩa Trương Định với vai trò “quân sư”, bút chiến với Tôn Thọ Tường là tay sai của thực dân Pháp (trang 37-38)…

Trong Chương 6 (The Dong Du Movement - Phong trào Đông Du), bên cạnh

việc trình bày những hoạt động của chí sĩ Phan Bội Châu trong phong trào Đông

1 Tức báo La Tribune Indochinoise - Diễn đàn Đông Dương

Trang 30

24

Du, tác giả cũng đề cập những đóng góp quan trọng của một số trí thức yêu nước Nam Kỳ như: Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn An Khương,… Đặc biệt, Trần Chánh Chiếu, người chủ xướng phong trào Minh Tân đã lập những

cơ sở kinh tài (The Nam - Trung Hotel in Saigon, The Minh Tan Hotel in My Tho and The Minh Tan industrial corporation in Cho Lon,…) cung cấp tài chính cho phong trào Đông Du, đưa thanh niên sang Nhật du học và làm báo cổ súy cho phong trào Đông Du và Duy Tân (trang 143-145)

Chương 10 (Changing the Guard - Chuyển hướng đấu tranh) đã ghi lại một

cách sống động những diễn biến của phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam trong thập niên 20 của thế kỷ XX Trong đó, tác giả nhấn mạnh vai trò của Nguyễn An Ninh trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Sài Gòn từ nửa sau thập

niên 20 (trang 249), đặc biệt là việc Nguyễn An Ninh xuất bản tờ La Cloche Fêlée,

tuyên truyền những tư tưởng tiến bộ của Montesquieu, Rousseau và chủ nghĩa Marx cùng với tư tưởng chống Pháp (trang 271) Tác giả cũng đề cập đến các cuộc diễn thuyết với nội dung yêu nước của Phan Châu Trinh ở Sài Gòn sau khi từ Pháp trở

về vào năm 1925 (trang 269) và đám tang Phan Châu Trinh với sự tham gia tổ chức của những người trong Đảng Lập hiến và những thanh niên trẻ tuổi có tư tưởng tiến

bộ như Trần Huy Liệu, Phan Văn Trường (trang 273)…

Công trình chủ yếu đề cập tình hình chính trị của đất nước, trình bày khá súc tích và đánh giá một cách khách quan hoạt động yêu nước của trí thức Việt Nam trong các phong trào đấu tranh tiêu biểu chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX và hơn hai thập niên đầu thế kỷ XX

Nhà báo, nhà sử học chuyên nghiên cứu về Đông Dương Philippe Derviller công

bố công trình Francais et Annamites - Partenaires ou ennemis? 1856 - 1902

(Denoel, 1998) Công trình đã được dịch ra tiếng Việt bởi dịch giả Ngô Văn Quỹ

dưới nhan đề Người Pháp và người An Nam - Bạn hay thù? (Nxb Tổng hợp Thành

phố Hồ Chí Minh, năm 2006) Đây là một công trình sử học chuyên sâu về lịch sử Việt Nam từ 1856 đến 1902, là một bức tranh toàn cảnh, chi tiết về một giai đoạn xảy ra nhiều biến cố lớn của lịch sử Việt Nam cận đại Trình bày các sự kiện diễn ra trong triều đình nhà Nguyễn, quá trình người Pháp tiến hành xâm lăng, cho đến khi thiết lập được chế độ thuộc địa tại Việt Nam và phản ứng của nhân dân Việt Nam trước cuộc chiến tranh xâm lược của người Pháp, tác giả “tránh mọi phán xét mà chỉ

Trang 31

25

trình bày một cách lạnh lùng các sự kiện và những diễn biến của chúng” Tuy nhiên, dựa trên sự thật lịch sử từ nguồn tư liệu phong phú, với những phân tích, lập luận một cách biện chứng của tác giả, độc giả dễ nhận thấy quan điểm rất rõ ràng của ông về “những số mệnh đã giao nhau”, về cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam “Đất nước đẹp và lộng lẫy này là nơi cư ngụ của một dân tộc cao thượng, cần cù và có nghị lực, có ý thức về bản sắc và lịch sử của mình” (trang 8) Vậy thì người Pháp đến tìm gì ở Việt Nam? Một cuộc phiêu lưu thuộc địa? Thị trường tiêu thụ cho thương mại? Để truyền đạo hay thực thi sứ mệnh khai hóa? Hay để bảo vệ những quyền con người? Tác giả kết luận: “đó là cuộc xâm lăng bằng vũ lực… rồi

đi đến thôn tính và cai trị trực tiếp” (trang 8) Ở đây, “Người Pháp có ác cảm với những người Việt Nam yêu nước Người Pháp chỉ yêu mến những người Việt Nam hèn hạ, nịnh bợ hay bội phản hoặc ít nhất cũng ly khai” (trang 10) Đối với thái độ của trí thức Việt Nam thời bấy giờ, “phải ghi nhận sự bền bỉ của một tập thể những

vị quan thâm nho, ghi nhận phẩm cách của họ, lòng yêu nước và sự trung thành của

họ đối với những ông vua rất không xứng đáng với dân tộc mà ông ta cai trị” (trang 15)

Liên quan đến đề tài chúng tôi nghiên cứu, trong mục Xứ Cochinchine dưới nền

cai trị quân sự, tác giả đánh giá cao vai trò của Trương Vĩnh Ký trong việc truyền

bá chữ Quốc ngữ và nền giáo dục Pháp - Việt Ông cho rằng, “một trong những tham vọng lớn của Pétrus Ký là làm cho người Pháp hiểu biết về lich sử nước Annam, những phong tục, tín ngưỡng và các thể chế của nước này…” (trang 288) Nhận xét trên cũng tương đồng với đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, ghi nhận sự đóng góp của Trương Vĩnh Ký đối với nền văn hóa dân tộc

Công trình nghiên cứu nghiêm túc, kỹ lưỡng và khách quan về tình hình Việt Nam trong một giai đoạn nhiều biến động về chính trị liên quan đến vận mệnh dân tộc, cung cấp thêm những cứ liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam, đặc biệt là lịch sử Nam Kỳ thời cận đại

Công trình Vietnam du Confucianisme au Communisme (Việt Nam từ Khổng

giáo đến chủ nghĩa cộng sản) của Trịnh Văn Thảo (L’Harmattan (Collection

Logiques Sociales), Paris, 2007) được dịch ra tiếng Việt với nhan đề Ba thế hệ trí

thức người Việt (1862 - 1954): nghiên cứu lịch sử xã hội do nhóm biên dịch của

Trang 32

26

trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện (Nxb Thế giới, năm 2013) (khi dịch ra tiếng Việt, tên sách do chính tác giả Trịnh Văn Thảo chọn để phản ánh đúng nội dung công trình) Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành xã hội học - lịch sử, tác giả đã khảo sát rất cụ thể về thành phần xuất thân, lĩnh vực hoạt động và hành trình xã hội của ba thế hệ trí thức người Việt, cùng những trải nghiệm và ứng phó của họ ở những thời đoạn đầy sóng gió của đất nước thời kỳ cận và hiện

-

Từ việc nghiên cứu thái độ ứng xử, đóng góp và dấu ấn của trí thức yêu nước trên hành trình giải phóng dân tộc, tác giả cũng đã xác định những nhân vật trung tâm, tiêu biểu cho từng thế hệ trí thức trong lịch sử Với thế hệ 1862 - 1907 (Trí thức cổ điển), tác giả cho rằng: “Nguyễn Đình Chiểu được xem như người phát ngôn của phong trào kháng chiến nho sĩ cuối thế kỷ” (trang 187); “Trương Vĩnh Ký hiện thân cho chủ nghĩa cộng tác không có tâm trạng… Ông hiến dâng mọi trí lực cho sự nghiệp văn hóa và góp phần hình thành một phong cách riêng, mới cho dân chúng Nam Kỳ, giải phóng mọi ức chế dân tộc chủ nghĩa, và tìm thấy trong công cuộc thực dân một nền văn hóa mới” (trang 192) Với thế hệ 1907 - 1925 (Trí thức của hai thế giới), với “một sự kiên định về chủ đề và hệ tư tưởng trong tư duy logic triết học và chính trị… Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu không thể là tín hiệu mù quáng…, ngược lại, nó thiết lập nền tảng văn hóa dẫn đến cuộc gặp gỡ quyết định giữa Nho giáo Việt Nam và chủ nghĩa Mác những năm 1920, cuộc gặp gỡ đánh dấu bước ngoặt của lịch sử đương đại Việt Nam (trang 274) Trong khi đó, đối với thế

hệ 1925 - 1975 (Trí thức Âu hóa) tác giả dành tình cảm trân trọng và ngưỡng mộ hai nhân vật “cách mạng vĩ đại” thế hệ này: Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn An Ninh (trang 315)

Thông qua công trình trên, độc giả có thể hình dung được sợi dây xuyên suốt trong sự chuyển biến tư tưởng và hành trình xã hội của trí thức Việt Nam trong gần một thế kỷ từ năm 1862 đến năm 1875

Trang 33

27

Nhà Việt Nam học Daniel Hémery viết công trình Du patriolisme au marxisme:

limmigration Vietnamienne en France de 1926 à 1930 (Éditions Ouvrières, 1973)

Công trình được Nguyễn Trọng Cổn lược dịch với nhan đề Từ chủ nghĩa yêu nước

đến chủ nghĩa Mác (Nxb Lao động, năm 2001) Thông qua việc nghiên cứu tình

hình nhập cư, cuộc sống lao động, học tập và hoạt động yêu nước của người Việt Nam trên đất Pháp từ năm 1926 đến năm 1930, tác giả tập trung làm rõ một đặc điểm lớn nhất và bao quát nhất của cách mạng Việt Nam giai đoạn này là sự chuyển biến và phân hóa mạnh mẽ trong nhận thức, tư tưởng của đội ngũ trí thức Việt Nam

- chuyển biến từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác Theo tác giả, một trong những nguyên nhân đưa đến sự chuyển biến đó là nhờ đội ngũ trí thức tham gia vào cuộc “xuất dương yêu nước” Bởi lẽ, “họ sang Pháp để tìm kiếm cái mới,… để có thêm một chút tự do tư tưởng,… trong đó, những người như Phan Văn Trường hay Nguyễn An Ninh có ảnh hưởng đặc biệt đối với Nam Kỳ và họ đều là những người

du học Pháp về nước” (trang 55) Những trí thức này đã “góp phần lấp khoảng trống giữa nền văn hóa chính trị Việt Nam với chủ nghĩa cộng sản” (trang 108) Công trình góp thêm nhiều tư liệu quý và góc nhìn tham chiếu bổ ích cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử cận đại Việt Nam, trong đó có đóng góp và vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức tân học đầu thế kỷ XX

Tuy mức độ tiếp cận còn hạn chế, tác giả luận án vẫn ghi nhận được giá trị tham khảo quan trọng của các công trình được biên soạn bởi các tác giả nước ngoài (hoặc người Việt ở nước ngoài) về cách đặt vấn đề và phương pháp nghiên cứu, nhất là về khối lượng tài liệu phong phú, có độ tin cậy…, rất đáng được kế thừa và phân tích sâu phục vụ cho nội dung luận án

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về trí thức Nam Kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc

Lẽ đương nhiên, đây là những công trình liên quan mật thiết đến đề tài luận án, nên đã được tác giả luận án hết sức quan tâm tìm hiểu, phân tích Trong đó, tương

tự như ở mục 1.1.2, có thể chia thành hai tuyến: (1) các công trình nghiên cứu trong nước và (2) các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Các công trình nghiên cứu trong nước

Đi theo tiến trình lịch sử, các công trình công bố trong nước đã tập trung nghiên

cứu về trí thức Nam Kỳ thời Pháp thuộc qua ba giai đoạn chính: 1858-1884 (giai đoạn đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược Việt Nam), 1884-1930 (giai đoạn

Trang 34

28

đấu tranh giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ phong kiến và dân chủ tư sản),

1930-1945 (giai đoạn tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản)

Nghiên cứu về trí thức Nam Kỳ giai đoạn 1858-1884, trước hết phải kể đến luận

án tiến sĩ sử học của Trần Thị Kim Nhung (bảo vệ tại Trường ĐHKHXH&NV

TP.HCM, 2003) với tên đề tài: Trí thức Nam Kỳ đối mặt với cuộc chiến tranh xâm

lược của thực dân Pháp (qua các trường hợp Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Trương Vĩnh Ký) Luận án đã làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử

đất nước, đồng thời tập trung phân tích và lý giải những căn nguyên dẫn đến sự khác biệt trong động cơ và phương thức ứng phó của bốn nhân vật trí thức tiêu biểu

ở Nam Kỳ trong buổi đầu chống thực dân Pháp xâm lược, qua đó rút ra được bài học lịch sử về trách nhiệm của giới trí thức Nam Kỳ đối với thời cuộc Từ phân tích những đặc điểm về xuất thân, hành trạng và ứng xử của bốn trí thức kể trên, tác giả

đi đến nhận định: Phan Thanh Giản là đại diện của tầng lớp trí thức - quan lại cấp cao có số phận gắn liền với sự thăng trầm của nhà Nguyễn; Nguyễn Đình Chiểu là đại diện của tầng lớp trí thức - bình dân, đã “đưa ra giải pháp rất phù hợp với ý nguyện của đông đảo người dân là: quyết liệt chống giặc đến cùng” nhưng trước ưu thế về trang thiết bị, kỹ thuật quân sự của giặc thì “nó không thể là giải pháp đầy đủ nhất và có hệ thống nhất cho vấn đề mà dân tộc giải quyết trong nửa sau thế kỷ XIX” (trang 205); Nguyễn Thông tuy gắn với chế độ Nguyễn, vẫn không xa lạ với các ước nguyện của nhân dân và “các tư tưởng canh tân của ông đều có phương hướng tự kiềm chế trong khuôn khổ luật pháp… Đó là nguyên nhân của bi kịch tư tưởng và thất bại chính trị của Nguyễn Thông, cũng như của những nhân vật có tư tưởng cải cách cùng thời với ông” (trang 206-207); Trương Vĩnh Ký là trí thức tân học yêu nước, hợp tác với chính quyền thực dân để mong tìm một giải pháp (trang 3-4), tuy nhiên, việc ông dựa vào chính quyền thực dân để thực hiện những hoài bão cho dân cho nước là “sự lựa chọn sai lầm và nguy hiểm” (trang 207)

Tiếp cận những kiến giải và nhận định của tác giả, từ đó có sự nhìn nhận khách quan để đi đến đánh giá công bằng công lao và hạn chế của bốn trí thức yêu nước Nam Kỳ kể trên đối với sự phát triển văn hoá dân tộc và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nửa sau thế kỷ XIX

Trang 35

29

Nhiều công trình khác giới thiệu chân dung và hoạt động của trí thức Nam Kỳ

giai đoạn này như Phan Văn Trị 1830 - 1910 (Tủ sách Những mảnh gương, Tân Việt, năm 1956); Cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trị - Tôn Thọ Tường của Thái Bạch (Nxb Đời sống mới, năm 1957); Nguyễn Đình Chiểu - Ngôi sao sáng của trí

thức Việt Nam của Vũ Khiêu - Nguyễn Đức Sự (Nxb Khoa học Xã hội, năm 1982); Nguyễn Đình Chiểu - đạo làm người của Trần Văn Giàu (Sở Văn hóa & Thông tin

Long An, năm 1983); Nguyễn Thông con người và tác phẩm của Ca Văn Thỉnh, Bảo Định Giang (Nxb TP Hồ Chí Minh, năm 1984); Tác phẩm Nguyễn Thông của Cao Tự Thanh, Đoàn Lê Giang (Sở Văn hóa & Thông tin Long An, năm 1984);

Nguyễn Hữu Huân - Nhà yêu nước kiên cường nhà thơ bất khuất của Phạm Thiều,

Lê Minh Đức, Cao Tự Thanh (Nxb Trẻ, năm 1986); Bùi Hữu Nghĩa - Con người và

tác phẩm của Bảo Định Giang (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1988); Khởi nghĩa Trương Định của Nguyễn Phan Quang, Lê Hữu Phước (Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh, năm 1989); Phan Văn Trị cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Khắc

Thuần, Nguyễn Quảng Tuân (Nxb Trẻ, năm 2001) v.v…

Đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về những gương mặt tiêu biểu của trí thức Nam Kỳ ở các khía cạnh: thái độ chính trị, hoạt động đấu tranh, vai trò

và đóng góp,… Tuy nhiên, vì tập trung nghiên cứu ở giai đoạn 1858-1884, nên nội dung của các công trình kể trên không liên quan trực tiếp đến phạm vi thời gian của

đề tài luận án (1884-1930) Dù vậy, những tư liệu và nhận định khoa học từ các công trình này vẫn có giá trị tham khảo cao, cung cấp nhiều thông tin bổ ích về bối cảnh lịch sử, về hành trạng của trí thức Nam Kỳ để làm cơ sở nghiên cứu trong các giai đoạn tiếp theo

Những công trình nghiên cứu về trí thức Nam Kỳ từ cuối thế kỷ XIX đến trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập có số lượng khá lớn, nhiều nhất vẫn là những cuốn sách, bài báo viết về các phong trào yêu nước và các hoạt động văn hóa gắn với các gương mặt trí thức tiêu biểu Một trí thức thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu với những nhận định, đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau: Trương Vĩnh

Ký Trong hai năm 1963 -1964, một loạt bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch

sử có cùng quan điểm phủ nhận hoàn toàn những đóng góp của Trương Vĩnh Ký

đối với văn hóa dân tộc, phê phán, thậm chí công kích Trương Vĩnh Ký đã cộng tác

và là tay sai đắc lực của chính quyền thực dân Có thể kể ra đây các bài viết: Vài ý

Trang 36

30

kiến về Trương Vĩnh Ký của Nguyễn Anh (Tạp chí NCLS, số 57, năm 1963); Tìm hiểu thực chất vấn đề Trương Vĩnh Ký trong lịch sử Việt Nam của Mai Anh (Tạp chí

NCLS, số 58, năm 1964); Trương Vĩnh Ký tên tay sai đắc lực đầu tiên của chủ

nghĩa thực dân Pháp trong lịch sử nước ta của tác giả Tô Minh Trung (Tạp chí

NCLS, số 59, năm 1964); Cần nhận rõ chân tướng Trương Vĩnh Ký để đánh giá

cho đúng của Nguyễn Khắc Đạm (Tạp chí NCLS, số 59, năm 1964); Trương Vĩnh

Ký, một nhà bác học trứ danh đã ngang nhiên đóng vai đặc vụ tình báo, làm tay sai đắc lực cho giặc Pháp (Tạp chí NCLS, số 60, năm 1964); Nhìn nhận Trương Vĩnh

Ký thế nào cho đúng của tác giả Hoàng Văn Lân, Đặng Huy Vận (Tạp chí NCLS, số

61, năm 1964); Nhận định về Trương Vĩnh Ký của Trần Huy Liệu (Tạp chí NCLS,

số 63, năm 1964);… Cùng quan điểm trên, hai tác giả Nguyễn Sinh Duy và Phạm

Long Điền viết công trình Cuốn sổ bình sanh của Trương Vĩnh Ký (Nam Sơn xuất

bản, năm 1975), cho rằng toàn bộ sự nghiệp trước tác của Trương Vĩnh Ký đều

“nằm trong quỹ đạo xâm lăng văn hóa của thực dân Pháp (trang 179)

Trái với quan điểm trên, cũng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tác giả Nguyễn Ngu Í trong bài Thử xét qua: Trương Vĩnh Ký (1837-1889) - nhà chánh trị (Tạp chí

NCLS, số 41, năm 1958) tỏ ra đồng cảm với sự chọn lựa của Trương Vĩnh Ký và cho rằng, trong cuộc chiến không cân sức với kẻ thù, nếu như ông “chống đối lại bằng vũ lực, chỉ đưa đến thất bại và tan tành, ông bằng lòng hợp tác với kẻ thù của dân tộc, hợp tác chân thành, hợp tác trong danh dự, mong nhờ ở sự tựa nương này

mà nước Việt yếu đuối sẽ qua hồi vận bỉ” (trang 30) Trong khi đó, từ sớm, tác giả

Lê Thanh đã viết cuốn Trương Vĩnh Ký - Biên khảo (Phổ thông bán nguyệt san, số

3, Tân Dân xuất bản phát hành, năm 1943) đã đánh giá cao sự nghiệp trước tác của Trương Vĩnh Ký, gọi ông là “nhà chính trị, nhà cổ học, nhà sư phạm, nhà khoa học, nhà từ ngữ học” (trang 71) và cho rằng “Trương tiên sinh thành thực ra bắt tay người Pháp để đem lại cho nước mình nhiều lợi hơn” và là “một người có công lớn

với tiếng nước nhà” (trang 72) Tác giả Nguyễn Văn Trấn trong P.J.B Trương Vĩnh

Ký (1837 - 1898) (Ban Khoa học Xã hội Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, năm

1993) cũng đã công nhận tất cả từ sự nghiệp chính trị đến sự nghiệp trước tác của Trương Vĩnh Ký và cho rằng “Trương Vĩnh Ký đã khơi động một cuộc cách mạng học vấn” (trang 189), “đã giải phóng chữ quốc ngữ khỏi kiếp a hườn và đặt nó ngồi

ngang với chữ Pháp” (trang 216) Ngoài ra, Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh

Trang 37

31

Ký của Bằng Giang (Nxb Văn học, năm 1994); Trương Vĩnh Ký - Bi kịch muôn đời

của Hoàng Lại Giang (Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2001); Thế kỷ XXI nhìn về

Trương Vĩnh Ký (Tạp chí Xưa và Nay, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp.HCM, năm

2006)… cũng là những công trình cùng quan điểm đánh giá cao đóng góp của Trương Vĩnh Ký trong việc phổ biến chữ quốc ngữ và phát triển nền văn hóa dân tộc

Nghiên cứu về phong trào Đông Du, Duy Tân ở Nam Kỳ (tức phong trào Minh

Tân) đầu thế kỷ XX, trước tiên phải kể đến công trình Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu -

Một lãnh tụ trọng yếu trong Phong trào Đông Du miền Nam của Nguyễn Văn Hầu

(Hương Sen tái bản, năm 1974) Ngoài nội dung đề cập sự nghiệp văn chương của chí sĩ Nguyễn Quang Diêu, phần đầu của quyển sách đề cập cuộc đời, hành trạng và đóng góp của ông trong phong trào yêu nước, đặc biệt là phong trào Minh Tân ở

Nam Kỳ Theo đó, Nguyễn Quang Diêu vừa tham gia tích cực vào Khuyến du học

hội do Nguyễn Thần Hiến sáng lập nhằm vận động và quyên góp tài trợ cho sinh

viên sang Nhật du học, vừa là một trong những mắt xích quan trọng và là cầu nối giữa các nhà Minh Tân như Bùi Chi Nhuận, Đặng Thúc Liêng, Lê Văn Đáng, Ngô Trung Tín,… với các chính khách Việt Nam xuất ngoại (trang 33) Cuốn sách cũng

đề cập đóng góp quan trọng của Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Thần Hiến,… trong phong trào Đông Du và Duy Tân ở Nam Kỳ thập niên đầu thế

kỷ XX

Phong trào Đông Du ở miền Nam của nhiều tác giả (Tạp chí Xưa & Nay - Nxb

Văn hóa Sài Gòn, năm 2007) là quyển sách tập hợp nhiều bài viết đề cập phong trào Đông du ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX, đồng thời đánh giá cao những đóng góp quan

trọng của các nhà Minh Tân tiêu biểu ở Nam Kỳ Có thể kể đến các bài viết: “Các

khuôn mặt lớn của phong trào Đông Du, Duy Tân ở Nam Kỳ” của Nguyễn Quang

Thắng (trang 49-64); “Nguyễn Thần Hiến nhà cách mạng tiền phong” của Trương Minh Đạt (trang 83-92); “Nguyễn Háo Vĩnh - Chiến sĩ phong trào Đông Du” của

Phan Lương Minh (trang 101-114);… Cuốn sách tập hợp nhiều bài tham luận có giá trị về mặt tư liệu cùng với những nhận định, đánh giá xác thực, chỉ ra những đặc điểm riêng của phong trào Đông Du ở Nam Kỳ; đồng thời đề cập khá rõ nét về hành trạng và đóng góp của các chí sĩ tiêu biểu trong phong trào như: Nguyễn Thần Hiến, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản, Nguyễn Háo Vĩnh, Nguyễn Quang Diêu,…

Trang 38

32

Nghiên cứu về phong trào Đông Du và Duy Tân trên cả nước, trong đó có phong

trào Minh Tân ở Nam Kỳ có tác tập sách như: Phong trào Duy Tân của Nguyễn Văn Xuân (Nxb Đà Nẵng, năm 2000), Phong trào Duy Tân ở Bắc Trung Nam -

Miền Nam đầu thế kỷ XX - Thiên Địa Hội và cuộc Minh Tân (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí

Minh, năm 2004) của Sơn Nam; Xu hướng canh tân - Phong trào Duy tân - Sự

nghiệp đổi mới từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX của Hải Ngọc Thái Nhân Hòa

(Nxb Đà Nẵng, năm 2005); Phong trào Duy Tân - các khuôn mặt tiêu biểu của

Nguyễn Quang Thắng (NxbVăn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006); Các công trình này đã khắc họa rõ nét hoạt động, vai trò và những đóng góp quan trọng của các trí thức Nam Kỳ thế hệ Đông Du - Duy Tân, trong đó có những nhân vật nổi bật như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến, Huỳnh Đình Điển, Bùi Chi Nhuận

Tiếp đó, là những công trình viết về những trí thức yêu nước tiêu biểu ở Nam

Kỳ trong giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930, trong đó,

Luật sư Phan Văn Trường của hai tác giả Nguyễn Phan Quang, Phan Văn Hoàng

(Nxb TP.Hồ Chí Minh, năm 1995) là công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của luật sư Phan Văn Trường cùng với những đóng góp của ông trong phong trào yêu nước ở Việt Nam, đặc biệt trên lĩnh vực báo chí Thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ của Phan Văn Trường với Nguyễn Ái Quốc và một số trí thức yêu nước như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh,… các tác giả đã đánh giá rất cao vai trò của Phan Văn Trường - một người “chống chế độ thực dân triệt để” (trang 151) - trong việc bước đầu công khai truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, cũng như sự tiến bộ trong nhận thức tư tưởng của Phan Văn Trường

so với một số trí thức yêu nước cùng thời Hai tác giả cũng đánh giá cao sự tương đồng trong nhận thức của Phan Văn Trường với Nguyễn Ái Quốc về con đường đấu tranh giải phóng dân tộc: con đường bạo lực cách mạng Các tác giả cho rằng “cùng

với những bài báo của Nguyễn Ái Quốc trên Le Paria và Thanh Niên, các bài viết của Phan Văn Trường trên La Cloche Fêlée và An Nam đã đập tan huyền thoại Pháp

- Việt đề huề của thực dân Pháp” (trang 119), “Phan Văn Trường đã biết tận dụng những kẽ hở trong luật pháp thực dân đối với tờ báo tiếng Pháp để truyền bá một cách “kín cạnh” những tư tưởng yêu nước và tiến bộ” (trang 129) Với nguồn tư liệu lưu trữ đáng tin cậy, công trình cung cấp nhiều thông tin quý báu về cuộc đời, sự

Trang 39

Ninh lại nhiều hơn hẳn Đáng chú ý, Nguyễn An Ninh (Nhiều tác giả, Nxb Thành

phố Hồ Chí Minh, năm 1988) được xem là cuốn sách mở đầu cho việc nghiên cứu

có hệ thống về chí sĩ Nguyễn An Ninh, đánh giá cao những đóng góp của ông trong phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ những năm 20 của thế kỷ XX cho đến khi ông qua đời (1943), đồng thời đề cập đến một số công trình, bài viết, cũng như sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn An Ninh trong quá trình ông tham gia vào phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam

Sự tiến hóa liên tục của Nguyễn An Ninh, một lãnh tụ cách mạng hùng biện

(Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1989) là công trình của Hà Huy Giáp đề cập đến quá trình diễn biến sự chuyển hóa tư tưởng và hành động của Nguyễn An Ninh Theo tác giả, Nguyễn An Ninh cùng với Phan Văn Trường là những người sau Nguyễn Ái Quốc đã sớm cố công gieo hạt giống yêu nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa trong thanh niên, trí thức, học sinh trong buổi đầu (trang 9) Từ việc phân tích nhiều yếu tố tác động đến quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn An Ninh, tác giả cho rằng, mặc dù Nguyễn An Ninh là một trí thức sớm có cảm tình với cách mạng Bôn-sê-vich Nga, nhưng “anh thích chủ nghĩa Gandhi, chủ nghĩa nhân văn, cho là nhân đạo hơn dùng bạo lực cách mạng” và “qua hành động thực tiễn, anh đã đến với Lênin” (trang 98) Cho đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, “quan điểm của anh trùng hợp với quan điểm của Đảng ta lúc đó” (trang 10) Quyển sách mặc dù không đề cập đến sự nghiệp giải phóng con người của Nguyễn An Ninh, nhưng đã cung cấp những luận cứ cho thấy sự năng động, nhạy bén và sự tiến hóa liên tục trong tư tưởng của Nguyễn An Ninh để đến với Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng đồng bào

Nguyễn An Ninh của Nguyễn An Tịnh (Nxb Trẻ, năm 1996); Nguyễn An Ninh qua hồi ức của những người thân (Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nxb Văn học,

năm 2009); Nguyễn An Ninh - Tác phẩm (Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nxb

Văn học, năm 2009) là ba cuốn sách tập hợp nhiều tác phẩm, bài diễn thuyết, bài viết của Nguyễn An Ninh (bằng tiếng Việt và tiếng Pháp được dịch sang tiếng Việt)

Trang 40

34

với nội dung yêu nước chống Pháp được đăng trên các tờ báo La Cloche Fêlée,

L’Annam,… cũng như những hồi ức của những người thân của ông về cuộc đời,

hành trạng, sự chuyển biến tư tưởng và những đóng góp của Nguyễn An Ninh trong phong trào yêu nước và cách mạng Có thể tìm thấy trong các công trình trên những bằng chứng về cuộc đời hoạt động yêu nước sôi nổi, nhiệt huyết của một trí thức trẻ mẫn tiệp, với tinh thần dân tộc cùng với khát vọng giải phóng đồng bào khỏi ách nô

lệ thực dân

Trong thập niên 20 của thế kỷ XX, trí thức Nam Kỳ thành lập nhiều tổ chức chính trị và đảng phái chống Pháp Nếu như có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến sự ra đời, hoạt động của Đảng Thanh niên, Đảng Lập hiến, Thanh niên Cao

vọng,… thì Đông Dương Lao động Đảng lại hiếm thấy được đề cập đến Cao Triều

Phát - nghĩa khí Nam Bộ của Phan Văn Hoàng (Nxb Trẻ, năm 2001) là công trình

hiếm hoi nghiên cứu về Đông Dương Lao động Đảng và những trí thức sáng lập tổ chức này Trên cơ sở nguồn tài liệu phong phú, đặc biệt là tài liệu lưu trữ, công trình phác họa chân dung, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Cao Triều Phát, một trí thức Nam Kỳ tham gia sáng lập và là linh hồn của Đông Dương Lao động Đảng (1926-1929) Đây được xem là một tổ chức chủ trương đấu tranh bảo vệ quyền lợi của người lao động, tập hợp công nhân như một lực lượng chính trị trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược Tác giả cuốn sách cũng đã dày công sưu tầm, tập hợp nhiều ý kiến đánh giá của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của các học giả, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt

- Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Mai Chí Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam,…ghi nhận công lao của Cao Triều Phát đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc

Trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, có thể tìm thấy một số tư liệu về hoạt động của trí thức Nam Kỳ trong các công trình nghiên cứu, sưu tầm, biên khảo về văn thơ yêu

nước như: Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX của Bảo Định Giang, Ca Văn Thỉnh sưu tầm, giới thiệu (Nxb Văn học Giải phóng, năm 1976); Văn học Quốc

ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930 của Bằng Giang (Nxb Trẻ, năm 1992); Trong các công

trình trên, có thể tìm thấy chân dung của các nhà báo - nhà yêu nước như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Trần Huy Liệu, dùng báo chí vạch trần âm mưu, tội ác xâm lược của thực dân Pháp, bênh vực quyền lợi của nhân

Ngày đăng: 19/09/2017, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w