TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 ĐẶNG THỊ THẠCH THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH VÀ TRONG GIÃ TỪ VŨ KHÍ CỦA HEMINGWAY Chuyên ngành: Lí luận văn học Mã số: 60
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐẶNG THỊ THẠCH
THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
VÀ TRONG GIÃ TỪ VŨ KHÍ CỦA HEMINGWAY
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHÙNG GIA THẾ
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo và các anh chị học viên K19
lí luận văn học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Phùng Gia Thế, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong Tổ bộ môn Lý luận văn học đã tạo điều kiện thuận lợi
để luận văn của tôi được hoàn thành
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Thị Thạch
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Phùng Gia Thế Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Thị Thạch
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 SÁNG TÁC CỦA BẢO NINH VÀ HEMINGWAY TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC VIẾT VỀ CHIẾN TRANH 9
1.1 Về hành trình sáng tác của Bảo Ninh và Hemingway 9
1.1.1 Hành trình sáng tác của Bảo Ninh 9
1.1.2 Hành trình sáng tác của Hemingway 10
1.2 Nỗi buồn chiến tranh và Giã từ vũ khí trong dòng chảy văn học về chiến tranh 12
1.2.1 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam và vị trí của Nỗi buồn chiến tranh 12
1.2.2 Hemingway với đề tài chiến tranh và vị trí của Giã từ vũ khí trong dòng chảy văn học 17
CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ GIÃ TỪ VŨ KHÍ –NHÌN TỪ NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG 22
Trang 52.1 Nhân vật người lính 22
2.1.1 Con người cô đơn lạc lõng 23
2.1.2 Con người tự nhiên, bản năng 27
2.1.3 Con người chấn thương 29
2.1.4 Bi kịch tình yêu 39
2.2 Nhân vật người phụ nữ 46
2.2.1 Người phụ nữ “vết thương” và cô đơn 46
2.2.2 Người phụ nữ suy thoái thiên chức 53
2.2.3 Người phụ nữ “nguồn sáng của thế giới” 58
2.3 Nhân vật đám đông 59
CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA THẾ GIỚI NHÂN VẬTTRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ TRONG GIÃ TỪ VŨ KHÍ 65
3.1 Cảm quan của người lính: hai lí lẽ trái ngược 65
3.1.1 Người lính trong "Nỗi buồn chiến tranh": nhận thức như một lẽ sống 65
3.1.2 Người lính trong "Giã từ vũ khí" : áp lực chiến trận và lựa chọn cá nhân 68
3.2 Những khoảnh khắc thời gian khác biệt 71
3.2.1 Thời gian hai chiều của người lính trong“Nỗi buồn chiến tranh” 71
3.2.2 Thời gian hiện thực của người lính trong "Giã từ vũ khí" 77
3.3 Không gian nghệ thuật – dấu ấn riêng của mỗi tác phẩm 81
3.3.1 Không gian trong Nỗi buồn chiến tranh: đa chiều, phức diện 82
3.3.2 Không gian trong Giã từ vũ khí: hạn hẹp, sơ giản 88
3.4 Nghệ thuật miêu tả 91
3.4.1 Nỗi buồn chiến tranh miêu tả qua chiều sâu tâm lí 91
3.4.2 Giã từ vũ khí miêu tả qua góc nhìn trực diện 100
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong tác phẩm tự sự, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, việc kiến tạo thế giới nhân vật luôn được xem là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu Nhân vật văn học là yếu tố không chỉ giúp bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, mà còn thể hiện tập trung tài năng và phong cách nghệ thuật của nhà văn Sự thành công của một tác phẩm văn học được tạo ra bởi nhiều yếu
tố, trong đó nhân vật trở thành phương diện chủ chốt, mang lại sức hấp dẫn riêng cho các sáng tác văn học
1.2 Người lính là hình tượng phổ biến trong các tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới, đặc biệt là những tác phẩm được viết trong thời kì chiến tranh và viết về đề tài chiến tranh Kiểu nhân vật người lính phản ánh cuộc sống gian khổ và những khắc nghiệt do chiến tranh gây ra cho con người, nhất
là những người trực tiếp đứng trên chiến trận Nhân vật người lính truyền tải những thông điệp, cái nhìn, quan niệm của nhà văn về chiến cuộc nói riêng và
về cuộc đời nói chung
Bên cạnh kiểu nhân vật người lính, hệ thống các nhân vật khác trong sáng tác văn học về chiến tranh (nhân vật người phụ nữ, nhân vật đám đông…) cũng có khả năng chuyển tải lại những giá trị tư tưởng - thẩm mĩ quan trọng cho tác phẩm văn học
1.3 Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Giã từ vũ khí của
Hemingway là hai tác phẩm viết về đề tài chiến tranh rất tiêu biểu của nền văn học Việt Nam và văn học Mĩ Trước nay, đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu với những hướng tiếp cận phong phú về hai tác phẩm này Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chủ yếu mới xem xét chúng trong phạm vi tách biệt, riêng lẻ, thực tế chưa có công trình nào tìm hiểu hình tượng nhân vật trong hai tác phẩm dưới góc nhìn của văn học so sánh
Trang 71.4 Trong chương trình Ngữ văn ở bậc học trung học phổ thông, học sinh được tiếp xúc nhiều tác phẩm viết về chiến tranh với các hệ thống nhân vật
phong phú Thiết nghĩ, việc nghiên cứu thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến
tranh và Giã từ vũ khí là một cách gợi mở hướng tiếp cận mới cho học sinh,
đồng thời cung cấp những tư liệu phục vụ cho giáo viên, học sinh trong quá trình tìm hiểu, lý giải và phân tích các tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh
Với những lí do nêu trên, tác giả luận văn lựa chọn đề tài: “Thế giới
nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Giã từ vũ khí của
Hemingway” với mục đích làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về thế giới nhân vật của hai tác phẩm
2 Lịch sử vấn đề
Tính đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào tập
trung đi sâu vào việc so sánh về thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Giã từ vũ khí của Hemingway Rải rác đâu đó trong các
công trình nghiên cứu cũng như trong một số bài viết riêng lẻ từng tác phẩm của từng nhà văn, một số nhà phê bình đã gặp gỡ nhau trong cách đánh giá sơ
bộ về nội dung tư tưởng được thể hiện trong hai tác phẩm Trong đó có thể kể tới một số bài viết tiêu biểu như sau:
Trong bài giới thiệu về Nỗi buồn chiến tranh, nhà văn Nam Dao viết:
“Tác phẩm không hậu hiện đại qua những hình thức thời thượng Tác phẩm cổ
điển từ cấu trúc đến văn phong Tác phẩm nói về chiến tranh qua thân phận thời hậu chiến, với cái đau đằng đẵng của con người cứ tưởng chiến tranh chấm dứt Không, không như tiếng bom đạn thôi nổ trên đầu, nó nổ trong đầu Máu không chảy ra ngoài, nó chảy vào trong Đã xảy ra, chiến tranh không bao giờ thực sự kết thúc với những người sống xót sau cuộc chiến Nó chỉ kết thúc trên những trang sử biên niên, với ngày tháng trơ lỳ Nhưng trong văn chương đích thực, nó còn đó như những vết trầy trụa đớn đau chẳng bao giờ
Trang 8lành, cảnh báo để những thế hệ mai hậu biết trân quí hòa bình…”[28] Hay
trong cuộc thảo luận về Thân phận của tình yêu do báo văn nghệ tổ chức gày 24/8/1991, Từ Sơn cho rằng: “Âm hưởng của tác phẩm còn đậm chất bi, âm
hưởng hùng còn bị chìm lấp đâu đó, chưa tạo nên đầy đủ nét bi hùng của một thời đã qua”
Bên cạnh một số nhận xét phủ định giá trị Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh, nhìn chung cuốn tiểu thuyết này được đánh giá rất cao từ phía các nhà nghiên cứu phê bình và độc giả Đó cũng là xu hướng đánh giá chung của các nhà nghiên cứu hiện thời
Trong bài viết “Thân phận tình yêu của Bảo Ninh” (in trong Thi pháp
hiện đại), nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cho rằng: “Thân phận tình yêu hay Nỗi buồn chiến tranh là một hiện tượng ngôn từ lạ lùng mang tính đa thanh, tính đối thoại , là một cuộc phiêu lưu muốn nhập vào văn học hiện đại thế giới” [29, tr.271] Tuy vậy, việc nhận xét của nhà nghiên cứu ở đây mới ở
mức khái quát, chưa đi sâu vào phân tích cụ thể, chi tiết các yếu tố ngôn từ của tác phẩm
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp trong bài “Kĩ thuật dòng ý thức qua
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh” (in trong sách Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử) đã có những nghiên cứu rất sâu về kĩ thuật dòng ý thức - một
thủ pháp trần thuật đặc sắc của Bảo Ninh ở tiểu thuyết này Ông viết: “Ở Việt
Nam, cũng từng có một số nhà miêu tả dòng ý thức nhân vật nhưng phải đến
“Nỗi buồn chiến tranh” thì kĩ thuật dòng ý thức được vận dụng triệt để trở thành nguyên tắc nghệ thuật chi phối cách tổ chức của tác phẩm” [12, tr.121]
Bên cạnh đó, một số bài viết trong công trình hợp tuyển những bài
nghiên cứu văn học với tiêu đề Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề
nghiên cứu và giảng dạy cũng quan tâm tới tác phẩm ở nhiều bình diện khác
nhau Nguyên Ngọc trong bài Văn xuôi Việt Nam hiện nay - logic quanh co
Trang 9của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng cho rằng: “Về mặt
nghệ thuật, Nỗi buồn chiến tranh là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới ” [31, tr.96] Phạm Xuân Thạch trong bài Nỗi buồn chiến tranh viết về
chiến tranh thời hậu chiến - từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp nhấn mạnh: “Riêng Bảo Ninh, anh đã đẩy khuynh hướng nghệ thuật của nhà văn đi trước một chiều kích mới Anh quyết liệt từ bỏ hình thức tiểu thuyết hiện thực truyền thống để theo đuổi tiểu thuyết tâm lý” [41, tr.34]
Tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, đúng như lời nhận xét của Đỗ Đức Hiểu, “là cuộc phiêu lưu muốn hòa nhập vào văn học thế giới” [19, tr.271]
Trên thực tế, tiểu thuyết của Bảo Ninh đã được dịch, giới thiệu ở nhiều nước
trên thế giới và được chào đón nồng nhiệt Tờ Independent, một trong những
nhật báo có uy tín của nước Anh đã nhận xét về cuốn tiểu thuyết của Bảo
Ninh : “Vượt ra ngoài sức tuởng tượng của người Mỹ, Nỗi buồn chiến
tranh đi ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỷ, Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh của Erich Maria
câu chuyện tình đau đớn…một thành quả lao động tuyệt đẹp” [41]
Trên một số tạp chí văn học và trang web cũng xuất hiện một loạt
những bài viết về tác phẩm này,chẳng hạn như: Thời gian trong Thân phận
tình yêu của Bảo Ninh của Đào Duy Hiệp (Tạp chí nghiên cứu văn học số 8 – 2007), Hiện tượng phân giã cốt truyện trong Phiên chợ Giát và Thân phận tình yêu của Lưu Thị Thu Hà, bài viết Về nhân vật Phương, người phụ nữ Hà Nội, và chủ đề văn học trong Nỗi buồn chiến tranh của Đoàn Cầm Thi trên
trang web Evan.com.vn
Nhìn chung, có thể thấy, đã có nhiều ý kiến bình luận khác nhau, thậm
chí trái chiều về Nỗi buồn chiến tranh song về cơ bản, hầu hết các nhà nghiên
cứu đều khẳng định vị trí quan trọng của tác phẩm trong đời sống tiểu thuyết đương đại
Trang 10Giã từ vũ khí (A Farewell to Arms) là một tiểu thuyết bán tự truyện của
nhà văn Ernest Hemingway viết 1929 Phần lớn cuốn tiểu thuyết này được viết tại nhà bố mẹ vợ Hemingway ở Piggott, Arkansas Được nhiều nhà phê bình xem là một trong những tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại nhất mọi thời đại, câu chuyện được thuật lại thông qua lời kể của trung úy Frederic Henry, một người
Mỹ nhưng lái xe cứu thương trong quân đội Ý vào thời Đệ nhất thế chiến
Ở Việt Nam, từ năm 1985, Lê Đình Cúc đã đề cập đến đề tài chiến
tranh của E Hemingway qua luận án Phó tiến sĩ: Tiểu thuyết về chiến tranh
của Hemingway [6] Trong luận án của mình, Lê Đình Cúc đã khảo sát những
tiểu thuyết tiêu biểu của Hemingway nhằm làm rõ thái độ và quan niệm của
E Hemingway về chiến tranh Lê Đình Cúc nhận định: “Cùng đi song song
với đề tài chiến tranh là đề tài tình yêu và sức sống mãnh liệt của con người”
Có thể xem đây là công trình công phu sớm nhất tại Việt Nam nghiên cứu về
đề tài chiến tranh trong sáng tác của Hemingway
Nhìn nhận về Giã từ vũ khí có nhiều đánh giá khẳng định về giá trị của
tác phẩm, trong đó, có thể kể đến bài viết của Lê Hữu Huy trên trang
“VIETNAM GLOBAL NETWORK (Kết nối - phát huy giá trị Việt) Theo tác
giả, Giã từ vũ khí “được nhiều nhà phê bình xem là một trong những tiểu
thuyết chiến tranh vĩ đại nhất mọi thời đại” [21] Giáo trình Văn học phương Tây của Đặng Anh Đào và một số tác giả đã dành mục từ viết về Giã từ vũ khí
với nhận xét: Giã từ vũ khí - Cuốn tiểu thuyết hiện đại về tình yêu, chiến tranh
và phản anh hùng” Bên cạnh đó còn có một số bài viết về đề tài trong Giã từ
vũ khí hay sự thay đổi kết truyện tới 47 lần của tác phẩm,
Từ trước đến nay, Giã từ vũ khí được các tác giả nghiên cứu, đánh giá
trên nhiều phương diện, nhưng việc nghiên cứu tác phẩm trên tinh thần so sánh, đối chiếu với các tác phẩm có cùng chủ đề, đề tài thì vẫn còn hạn chế
Trang 11Dựa trên đặc điểm của hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Giã từ vũ khí của Hemingway, tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Giã từ vũ khí
của Hemingway” với mục đích làm rõ điểm tương đồng và khác biệt trong cách thiết tạo thế giới nhân vật của hai tác phẩm
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên
3.1 Mục đích nghiên cứu
3.1.1 Đối sánh hệ thống nhân vật đặc biệt là nhân vật người lính trong hai tác phẩm để nhận biết những tương đồng, ảnh hưởng, sự khác biệt, đồng thời thấy được nỗ lực sáng tạo riêng của mỗi nhà văn
3.1.2 Góp phần vào việc khẳng định sự thành công về thế giới nhân vật trong hai tác phẩm của hai nhà văn nổi tiếng ở các thời điểm lịch sử khác nhau Việc nghiên cứu đề tài này còn góp phần vào việc khẳng định vị trí, tầm quan trọng của bộ môn Văn học so sánh trong bối cảnh nghiên cứu văn học hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Tập hợp và trình bày những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
3.2.2 Nghiên cứu so sánh thế giới nhân vật trong hai tác phẩm nói trên
ở cả trên hai bình diện tư tưởng và thi pháp nghệ thuật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thế giới nhân vật trong hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Giã từ vũ khí của Hemingway
Trang 12- Giã từ vũ khí của Hemingway, Nhà xuất bản Văn học, 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp hệ thống, cấu trúc: Luận văn sử dụng phương pháp này
nhằm mục đích tạo sự liên kết chặt chẽ, logic khoa học
Phương pháp so sánh – đối chiếu: Phương pháp này chúng tôi sử
dụng nhằm mục đích so sánh, đối chiếu các luận điểm trong vấn đề nghiên
cứu hay giữa vấn đề nghiên cứu trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh với
Giã từ vũ khí Qua đó sẽ khẳng định được nét đặc sắc về thế giới nhân vật
trong hai tác phẩm
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Sử dụng phương phân phân tích
– tổng hợp chủ yếu là để đi sâu khám phá từng yếu tố, khía cạnh trong việc kiến tạo thế giới nhân vật, nhưng đồng thời cũng có cái nhìn tổng quát về nghệ thuật tự sự của nhà văn
Phương pháp tiểu sử: Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng
phương pháp tiểu sử để tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn
chương của nhà văn Bảo Ninh và Hemingway Đồng thời, đó còn là vị thế của
nhà văn trong lịch sử đời sống - xã hội của thời đại
Ngoài ra, khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi còn sử dụng các thao tác
tư duy bổ trợ cần thiết cho các phương pháp nghiên cứu chính như: phân tích, tổng hợp, chứng minh, giải thích, hệ thống…nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn
đề một cách rõ ràng, thuyết phục
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Góp phần làm rõ đặc trưng của thế giới nhân vật trong hai tác phẩm viết về đề tài chiến tranh
Trang 136.2 Trên cơ sở so sánh thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Giã từ vũ khí của Hemingway, luận văn chỉ ra những
nét tương đồng cũng như điểm khác biệt trong thế giới nhân vật và trong cách xây dựng hình tượng nhân vật của hai tác giả
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Sáng tác của Bảo Ninh và Hemingway trong dòng chảy văn
học viết về chiến tranh
Chương 2: Thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh và Giã từ vũ khí –nhìn từ những điểm tương đồng
Chương 3: Những điểm khác biệt của thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh và trong Giã từ vũ khí
Trang 14NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 SÁNG TÁC CỦA BẢO NINH VÀ HEMINGWAY
TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC VIẾT VỀ CHIẾN TRANH
1.1 Về hành trình sáng tác của Bảo Ninh và Hemingway
1.1.1 Hành trình sáng tác của Bảo Ninh
1.1.1.1 Tiểu sử
Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam Ông là con trai của Giáo sư Hoàng Tuệ (1922 - 1999), nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Ông vào bộ đội năm 1969 Thời chiến tranh, ông chiến đấu ở mặt trận B-3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn
10 Năm 1975, ông giải ngũ Từ 1976-1981 học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam Từ 1984-1986 học khoá 2 Trường viết văn
Nguyễn Du Làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997
1.1.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Trong giới hạn bài viết, tác giả luận văn xin điểm qua một vài tác phẩm
tiêu biểu của Bảo Ninh và tập trung vào tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Năm 1987 tác giả xuất bản truyện ngắn Trại bảy chú lùn Năm 1991, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (in lần đầu năm 1987 tên là Thân
phận của tình yêu), được tặng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và đã được
đón chào nồng nhiệt Đó là câu chuyện một người lính tên Kiên, đan xen giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức về chiến tranh và về mối tình đầu với
cô bạn học Phương Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, hùng tâm tráng chí của người lính
Trang 15chiến đấu vì vận mệnh đất nước, Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh từ một góc
độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào những nỗi niềm cá
nhân Nhà văn Nguyên Ngọc ca ngợi: "Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu
cao nhất của văn học đổi mới" Tuy nhiên, trong hơn 10 năm sau đó tác phẩm
đã bị cấm, không được in lại, có lẽ do quá nhạy cảm; mặc dù vậy, với làn
sóng đổi mới ở Việt Nam, cuốn sách vẫn rất được ưa thích
Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh
Hảo, xuất bản năm 1994 với nhan đề "The Sorrow of War", được ca tụng rộng
rãi, và một số nhà phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh Bản dịch này được photo bán rộng rãi cho du khách nước ngoài Đây là một cuốn sách được đọc rộng rãi ở phương Tây, và là một trong
số ít sách nói về chiến tranh từ quan điểm phía Việt Nam được xuất bản ở đây Một điều đáng khâm phục là Bảo Ninh đã trình bày quan điểm này mà không hề lên án phía bên kia
Năm 2005, tác phẩm này được tái bản với nhan đề ban đầu là Thân
phận của tình yêu; năm 2006 tái bản với nhan đề đã trở thành nổi tiếng: Nỗi buồn chiến tranh
Bảo Ninh còn viết một số truyện ngắn về đề tài chiến tranh, trong đó
truyện “Khắc dấu mạn thuyền” đã được dựng thành phim Truyện ngắn "Bội
phản" trong tập "Văn Mới" do Nhà xuất bản Văn học xuất bản, cũng đã được
ông gửi gắm nhiều tình cảm và suy nghĩ vào trong các nhân vật
1.1.2 Hành trình sáng tác của Hemingway
1.1.2.1 Tiểu sử
Ernest Hemingway (1899 - 1961) là nhà văn, nhà báo người Mỹ Ông từng tham gia chiến đấu trong Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất, sau đó ông được biết đến qua "Thế hệ đã mất", nhận được giải thưởng báo chí Pulitzer
năm 1953 với tiểu thuyết Ông già và biển cả, và giải Nobel văn học năm 1954
Trang 161.1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Hemingway để lại ấn tượng sâu sắc đối với bạn đọc qua nguyên lý tảng
băng trôi, văn phong của ông được mô tả bởi sự kiệm lời nhưng có nhiều tầng
ý nghĩa, phải suy nghĩ thật sâu mới có thể hiểu hết được những gì tác giả gửi gắm Nhiều tác phẩm của ông hiện nay được coi là những tác phẩm kinh điển của nền văn học Mỹ
Từ nhỏ Hemingway đã không thích học đàn mà thích đấu võ quyền Anh, bản tính chuộng chủ nghĩa cá nhân đã thể hiện nơi con người Hemingway bằng các phản kháng nhỏ nhặt, để rồi trong cuộc đời sau này, đã hiện ra bằng các hành động trên tầm vóc lớn hơn
Ngay từ khi còn học ở trường trung học, ông đã bắt đầu viết văn và tham gia vào các hoạt động báo chí của trường Năm 1917, ông rời trường trung học và thay vì đi học đại học ông tới thành phố Kansas làm phóng viên cho tờ báo Star Nhưng nghề phóng viên không hấp dẫn ông được lâu, do ưa thích mạo hiểm Hemingway đã tình nguyện đăng ký vào Hội đồng thập tự Hoa Kỳ và qua miền bắc nước Ý là tài xế xe cứu thương
Năm 1918, khi chưa tròn 19 tuổi ông bị thương nặng ở chân trong khi đang cõng một người lính Ý mang tới địa điểm chỉ huy Ông được chữa trị tại bệnh viện Milan và được tưởng thưởng huy chương anh dũng Những trải nghiệm trong cuộc chiến này đã cung cấp cho ông những hiểu biết để viết nên
tác phẩm Giã từ vũ khí (1929), một tiểu thuyết nổi danh nhất đề cập tới chiến
tranh
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ông trở lại Hoa Kỳ sinh sống và tiếp tục viết văn Nhưng ông cùng một số nhà văn khác tự nhận mình là "thế hệ lạc lõng" - từ để ám chỉ một thế hệ sau chiến tranh, đặc biệt là các nhà văn trẻ khi cuộc sống và niềm tin của họ đã bị tổn thương vì chiến cuộc, vì các tham lam vật chất đang dần dần trở nên một thực tại khiến cho cuộc sống hóa vô nghĩa
Trang 17Trong thời gian làm phóng viên tại Paris, Ernest Hemingway đã đi khắp châu Âu, phỏng vấn các nhân vật danh tiếng như Lloyd George, Clemenceau
và Mussolini… rồi vào năm 1925, cuốn tiểu thuyết quan trọng đầu tiên của
Hemingway được xuất bản tại New York với tên là "Trong thời đại của chúng
ta" (In Our Time) Cũng vào thời gian này, nhiều thú vui như trượt tuyết, coi
đấu bò rừng, đi câu cá và đi săn… đã là từng phần của cuộc sống của ông và
từ đó tạo nên nền móng của các cuốn tiểu thuyết sau này
Năm 1950, Hemingway xuất bản cuốn sách "Qua sông và vào trong
rừng " nhưng không gây dấu ấn với độc giả Năm 1952, cuốn tiểu thuyết
"Ông già và biển cả" đã mang lại ngôi vị cho ông trên văn đàn, giúp ông nhận
được giải thưởng báo chí danh giá Pulitzer năm 1953
Năm 1954 ông được viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải Nobel văn học "vì thể văn mạnh mẽ dùng trong nghệ thuật kể chuyện mới lạ và được
ông từng thể hiện trong tác phẩm "Ông Già và Biển Cả"
1.2 Nỗi buồn chiến tranh và Giã từ vũ khí trong dòng chảy văn học
về chiến tranh
1.2.1 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam và vị trí của Nỗi buồn chiến tranh
1.2.1.1 Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam
Văn học Việt Nam một phần lớn là nền văn học của những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại Cho nên đề tài xuyên suốt của văn học Việt Nam là đề tài về chiến tranh Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hình ảnh những người lính luôn là hình ảnh đẹp nhất, đáng ca ngợi nhất và lý tưởng nhất Cái nhìn về người lính giai đoạn này không được phép bi lụy, nếu
có buồn thì phải bi hùng, bi tráng Cảm hứng chủ yếu của văn học viết về chiến tranh giai đoạn này chủ yếu là cảm hứng sử thi, anh hùng ca
Trang 18Do vậy, hình ảnh người lính trong văn học thời kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ về cơ bản đã thể hiện được tinh thần của thời đại, nó có vai trò
cổ vũ và động viên rất lớn cho các thế hệ nối tiếp nhau ra chiến trường Nhưng mặt khác nó cũng có phần nào thiếu sự sinh động và có phần phiến diện Hình ảnh người lính hiện lên phần nhiều là những con người lý tưởng, không có những biến động lớn về nội tâm Tuy nhiên trong điều kiện chiến tranh, vấn đề quan trọng là vận mệnh của dân tộc và sinh mệnh của nhân dân chứ không phải là số phận của từng cá nhân nên người nghệ sĩ phải biết hi sinh nghệ thuật vì lợi ích chung của dân tộc là việc nên làm Khi cuộc chiến tranh đã qua đi, văn học bước vào thời kì mới thì vấn đề giữa văn học và hiện thực, quan niệm về con người cần phải xem xét lại Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986), văn học thực sự bước vào thời kỳ đổi mới Văn nghệ sĩ thực sự được cởi trói, họ được quyền “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực được nhìn cởi
mở hơn, và đặc biệt có những thay đổi lớn trong quan niệm về con người, vấn
đề về người lính cũng được nhìn lại với một điểm nhìn mới
Trong công cuộc đổi mới ấy nhiều nhà văn đã thể hiện sự nhạy bén của mình khi đã khám phá ra những vấn đề mới của cuộc sống và những quan
điểm về con người Nguyễn Minh Châu với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành, Cỏ lau; Lê Lựu với Thời xa vắng; Dương Hướng với Bến không chồng;
Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng,…đã thể hiện những sự đổi mới đó Đặc biệt Bảo Ninh với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã thể hiện một cách rất mới về
hình ảnh người lính Hình ảnh người lính không còn được miêu tả bằng cảm hứng sử thi, anh hùng với cái nhìn đơn giản như trước nữa Hình ảnh người lính ở đây được tiếp cận ở phương diện tàn khốc của chiến tranh, ở những góc khuất của tâm hồn mà trước đây ta chưa hề đề nói tới hoặc không dám nói tới
Không chỉ nói về hình ảnh người lính trong chiến tranh, tiểu thuyết Nỗi buồn
Trang 19chiến tranh còn đi sâu vào khai thác đời sống của những người lính thời hậu
chiến với sự ám ảnh của một quá khứ đen tối luôn đeo đuổi họ, là cuộc đời đi giữa hai mặt sáng - tối, giữa lạc quan và bi quan, không thể trở về sống với quá khứ, không thể hòa nhập được với cuộc sống hiện tại, họ như là những người đến từ một thế giới khác
1.2.1.2 Vị trí của “Nỗi buồn chiến tranh” trong dòng chảy văn học viết về chiến tranh
Như một luồng gió mới về đề tài chiến tranh, tác phẩm Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh đã nhanh chóng chinh phục độc giả, gợi ra sự quan tâm
đặc biệt đối với người hâm mộ lẫn những người phản đối tác phẩm Cuốn
sách được in lần đầu tiên vào năm 1987 với nhan đề Thân phận của tình yêu
do các biên tập viên nhà xuất bản Hội nhà văn lựa chọn Chỉ một năm sau đó,
tác phẩm được tái bản với tiêu đề do chính tác giả đặt tên từ trước Nỗi buồn
chiến tranh Đó là câu chuyện một người lính tên Kiên đan xen giữa hiện tại
và hậu chiến với hai luồng hồi ức về chiến tranh và về mối tình đầu với cô bạn học Phương Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, hùng tâm tráng chí của người lính chiến đấu
vì vận mệnh đất nước, Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh từ một góc độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào những nỗi niềm cá nhân
Đến năm 1991, Nỗi buồn chiến tranh trở thành một trong ba tác phẩm
được giải văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam – một giải thưởng danh giá nhất của làng văn nghệ nước ta trong nhiều năm qua Nhà văn Nguyên Ngọc – người lãnh đạo Hội nhà văn hồi đó đã từng đánh giá cao thành quả sáng tạo
của Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh Ông viết:
Đây là cuốn tiểu thuyết về một cuộc chiến đấu của một con người tìm lẽ sống hôm nay Bằng cách chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình Cuốn sách này không mô tả chiến tranh Nó “mô tả” một cuộc kiếm tìm nặng nhọc
Trang 20chính hôm nay Hiện thực ở đây là hiện thực bên trong của một tâm hồn quằn quại và đầy trách nhiệm, quằn quại vì đầy trách nhiệm Trách nhiệm lương tâm Cuốn sách nặng nề này không bi quan Vẫn thấm sâu ở đâu đó trong từng kẽ chữ của nó một âm hưởng hy vọng tiềm tang, chính là vì thế Anh đi tìm, nghĩa là anh còn hy vọng…Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới [32] Còn Hoàng Ngọc Hiến đã viết: “Cách tiếp cận đề tài của Bảo Ninh giống như một sự liều lĩnh Có thể tác giả sẽ bị trả giá nhưng trong khi không ít người viết còn thiên viết về cách nghĩ bằng những
“thuận lí”, “một nghĩa”, “bảo đảm an toàn”, thì cuốn tiểu thuyết khác thường của Bảo Ninh là “cái được” của văn chương”
Và chỉ sau một thời gian ngắn, tác phẩm đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước yêu thích Tác phẩm được thảo luận trên báo Văn Nghệ với những lời khen ngợi nức lòng Không đầy một năm sau khi xuất hiện, cuốn sách đã được nhiều người tỏ ý muốn dịch ra tiếng nước ngoài Bản dịch
Anh ngữ The Sorrow of War (bản dịch tiếng Anh của Phan Thanh Hảo, Frank
Palmos hiệu đính) được xuất bản tại Úc năm 1993 có lẽ là bản dịch đầu tiên
của Nỗi buồn chiến tranh và từ đó, cuốn sách bắt đầu cuộc chu du trên khắp
thế giới, được dịch hơn 10 ngôn ngữ
Nhưng bên cạnh những lời ngợi khen lại là phong ba bão táp Từ lẻ tẻ vài lời chê bai đến bùng nổ một phong trào phê phán Tiểu thuyết đầu tay của Bảo Ninh bị coi là tiêu cực, thể hiện cái nhìn sai lệch về cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Nhiều tác giả cũng như nhà phê bình đã lên tiếng phản đối
và công kích tác phẩm Tiêu biểu có thể lấy ý kiến của ông Đỗ Văn Khang,
Tiến sĩ mỹ học và Phó tiến sĩ Ngữ văn “Ông Khang phẫn nộ vì Bảo Ninh đã
gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “cuộc chiến tranh Việt – Mỹ”, đã thể hiện người lính quân đội nhân dân như một lũ thất trận chứ không phải những người mang tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” [32] Thậm chí
Trang 21có một số nhà văn trong ban giám khảo của Hội nhà văn đã lên tiếng phủ nhận giải thưởng cũng như những phát ngôn của mình trước đó Nhà nghiên
cứu Vương Trí Nhàn từng cho rằng: “Nếu thời trước thì cứ thế cuốn sách sẽ
chìm dần trong bóng tối và chỉ cần bị ném ra khỏi các thư viện nữa thôi là có thể coi như bị xóa sổ hoàn toàn” [32] nhưng may mắn, nó được ra mắt vào
đúng thời kì đổi mới
Đến năm 2003, tác phẩm này được tiếp tục in lại ở Việt Nam với nhan
đề Thân phận của tình yêu, sau mới chính thức đổi thành Nỗi buồn chiến
tranh Mới đây, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh cũng lọt vào top 50 tác
phẩm văn học nước ngoài dịch sang tiếng Anh hay nhất trong nửa thế kỷ qua
ở vị trí thứ 37, cuốn sách được đứng chung với những kiệt tác lớn của thế giới
như Cái trống thiếc (Gunter Grass, Nghệ nhân và Margarita (Mikhail Bulgakov), Chiến tranh và hòa bình (Lev Tolstoy), Trăm năm cô đơn (Gabriel Garcia Marquez),… Gần đây nhất, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
đã được dịch và giới thiệu ở Iran và là cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên được dịch ra tiếng Ba Tư
Tính đến nay, Nỗi buồn chiến tranh đã đoạt nhiều giải thưởng lớn, được
dịch và giới thiệu ở nhiều quốc gia trên thế giới Những giải thưởng được trao gần đây nhất là giải thưởng Châu Á (Nikkei Asia Prizes) lần thứ 16 của báo kinh tế Nhật Bản và giải sách hay (với 100% số phiếu đồng thuận của hội đồng bình chọn) trong nước năm 2011 Dịp này, vì lý do riêng, nhà văn Bảo Ninh không vào Thành phố Hồ Chí Minh để nhận giải thưởng được Ông gửi đến Ban tổ chức Diễn từ, trong đó có đoạn:
Tôi hàm ơn các thầy của tôi ở trường viết văn Nguyễn Du là giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà văn Nguyễn Minh Châu, giáo
sư Phạm Vĩnh Cư Đối với riêng bản thân tôi, các thầy chính là hiện thân của
sự khai sáng và thức tỉnh trong đổi mới, nhờ các thầy mà tôi có được cho
Trang 22riêng mình tinh thần nhân văn tự do trong sáng tạo văn học, một cách cụ thể
là nhờ các thầy mà tôi đã có thể viết cuốn Nỗi buồn chiến tranh [16]
Và kể từ tháng 5 năm 2011, nhà xuất bản Trẻ đã chính thức mua và độc
quyền tái bản tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh cũng đã lọt vào tầm ngắm của các nhà làm phim trong nước như Hải Ninh, Khánh Dư Nhưng vì vấp phải nhiều trở ngại khác nhau, họ đành bỏ dở dự án chuyển thể cuốn sách thành phim Đến năm 2008, sau hơn 10 năm qua lại giữa Việt Nam và Mĩ, đạo diễn Nicolas Simon cũng nhận được sự đồng ý của nhà văn Bảo Ninh và giấy phép của Bộ
Văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam cho kịch bản phim Nỗi buồn chiến
tranh Nhưng đến nay bộ phim được chuyển tải từ Nỗi buồn chiến tranh vẫn
chưa ra đời Nhiều ý kiến cho rằng có sự trở ngại từ phía tác giả vì ông không đồng ý kịch bản cũng như việc lựa chọn nhân vật để xây dựng linh hồn của bộ phim
Mặt khác hiện trạng nghiên cứu sáng tác của Bảo Ninh (có đề cấp tới
tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh) trong nhà trường cũng diễn ra khá sôi động
trong nhiều năm trở lại đây đặc biệt là ở các trường đại học phía Bắc qua một
số luận án, luận văn cao học, một số công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ,…
1.2.2 Hemingway với đề tài chiến tranh và vị trí của Giã từ vũ khí trong dòng chảy văn học
1.2.2.1 Hemingway với đề tài chiến tranh
Từ cuộc Đại thế chiến I, nước Mỹ đã ở cái thế một cường quốc, đến mức thời kỳ sau 1918 được mệnh danh là “những năm hai mươi chói lọi” Tuy nhiên một lớp người trẻ tuổi từ chiến trận trở về hoàn toàn không chia sẻ tâm lí thỏa mãn và than phục nước Mỹ bấy giờ Họ đại diện cho cả “thế hệ vứt đi” - cái tên dùng để chỉ một bộ phận trí thức nghệ sĩ không chỉ của nước
Trang 23Mỹ mà của cả châu Âu từ sau Đại chiến I Đó là Hemingway, Đôx Paxôx, …
và lịch sử văn học vẫn tìm thấy bóng dáng của “thế hệ vứt đi” ngay cả sau Đại chiến II Song người ta không thể duy danh định nghĩa để coi đây là một lớp người chán chường phủ nhận từ quá trình sáng tác, hình tượng nghệ thuật, tới
ý đồ sáng tạo của họ, ta thấy toát lên một ý nghĩa phức tạp rộng lớn và lành mạnh hơn thế Bản thân người đã “nhặt lấy” cái tên này là Hemingway cũng
đã nhiều lần gợi lên những cách hiểu khác nhau về họ và đã tìm cách định nghĩa ở nó
Theo Hemingway, văn chương của “thế hệ vứt đi” đó không đơn giản chỉ là sự phanh phui tính chất phi nhân và phi lí của chiến tranh thế giới, cũng không đơn giản chỉ là ẩn dụ về cuộc sống như một bi kịch, với kết thúc mang tính tiền định Thiên hướng sung bái sự kiện – và cả nỗ lực trí tuệ vượt qua ngoài giới hạn của nó, một chủ nghĩa hiện thực toàn vẹn trong sự miêu tả cái chết – và cả sự khước từ chấp nhận thất bại nữa: đó chính là sự kết hợp hữu
cơ quan điểm đạo đức và nghệ thuật, khiến những cuốn sách xưa cũ của một chặng đường lịch sử văn chương biến thành một hiện tượng to lớn của đời sống văn học thế kỉ XX Cho tới thập kỉ 80, người ta vẫn đánh gia như vậy về một bộ phận văn chương quan trọng ở nửa đầu thế kỉ mà Hemingway là đại diện xuất sắc nhất
1.2.2.2.Vị trí của “Giã từ vũ khí” trong dòng chảy văn học
Giã từ vũ khí xuất bản vào năm 1929, đầu tiên in theo lối tiểu thuyết
nhiều kì đăng báo Sau đó, tờ báo bị đình bản, truyện càng nổi tiếng hơn, được in thành sách với số lượng rất cao ngay từ lần xuất bản đầu tiên (31000 bản) và sau đó lập tức được coi như một kiệt tác của Hemingway Cuốn truyện, sau khi in lập tức được dựng thành kịch và đã hai lần dựng thành phim Cuốn sách thuộc loại “dễ đọc” hơn một số truyện khác của Hemingway, vừa dễ tiếp cận với đông đảo người đọc, lại vừa làm hài lòng
Trang 24những độc giả tinh tế Bởi đằng sau vẻ trong sáng ấy là những âm hưởng phức tạp trái ngược của trái tim và số phận của một thế hệ trẻ, là khoảnh khắc đổ
vỡ của một thế kỷ sắt thép Và một giọng nói giản dị, trần trụi nhưng cũng rất độc đáo mới mẻ không giống với lối viết đương thời, lối khoa trương trong bút pháp cũng như trong tình cảm nay đang bắt đầu trở thành cũ kĩ với sự xuất hiện của Hemingway
Trong một bài tham luận về Hemingway mang tên Âm hưởng thời đại
trong Hemingway, Lê Huy Bắc cho rằng: “Hemingway tập trung khắc họa hai diện mạo: chết trong chiến tranh và sống trở về”, “chiến tranh hiện diện trong tác phẩm của Hemingway trước tiên không phải bằng bộ mặt thật với đạn bom, xe tăng pháo binh,…mà nỗi ám ảnh ghê hồn” [1, tr.24-27] Tuy ý
kiến của Lê Huy Bắc không mới và chưa tập trung nhưng đó là sự tái khẳng định về đề tài chiến tranh trong sáng tác của Hemingway
Xuất phát từ hai cuộc chiến với tính chất khác nhau (trong Nỗi buồn
chiến tranh – cuộc chiến tranh chính nghĩa, trong Giã từ vũ khí – cuộc chiến
tranh phi nghĩa), tuy nhiên mỗi tác phẩm đều được xây dựng dựa trên cái nhìn của người tham chiến và chính bởi lẽ đó nên hệ thống nhân vật của mỗi tác phẩm bên cạnh những nét riêng cũng có nhiều điểm nhìn chung
Thế chiến thứ nhất cũng như cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã qua đi nhưng cho đến nay đứa con tinh thần của các tác giả vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi, gây xôn xao dư luận suốt mấy mươi năm qua Có nhiều lời ngợi ca dành cho tác phẩm, nhưng cũng không ít bạn đọc công kích, phản đối nội dung của câu chuyện Nhờ những phân tích mổ xẻ trái chiều này, tiểu thuyết của Bảo Ninh và Hemingway ngày càng được quảng bá rộng rãi hơn Việc tạo
ra “sự thay đổi ngoài tầm đón đợi” [20, tr.3] từ phía công chúng trong bản thân nội dung câu chuyện đã góp phần kiến tạo giá trị cho tác phẩm Sáng tác chỉ mới là quá trình vận động tư tưởng Phải kinh qua người đọc, giá trị, ý nghĩa tiềm năng của văn bản mới trở thành hiện thực
Trang 25Nhìn chung, Nỗi buồn chiến tranh và Giã từ vũ khí là hai tác phẩm
thuộc loại “hiện tượng văn học”, trở thành những cuốn sách khá nổi tiếng về
đề tài chiến tranh Bởi chúng không chỉ viết về “bom đạn và mưu mô quân sự” mà còn “viết về trái tim con người” Sáng tác của Bảo Ninh và Hemingway không những giá trị về nội dung tư tưởng mà còn có tác dụng vô cùng quan trọng trong việc giáo dục thẩm mĩ, mở rộng chân trời đón nhận từ phía độc giả của ngày hôm qua, hôm nay và cả mai sau
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy qua nội dung chương 1, có thể thấy việc dẫn dắt hành trình sáng tác của Bảo Ninh và Hemingway trong dòng chảy văn học thời chiến là quá trình giúp người đọc có thể tiếp cận có hệ thống và lí giải rõ hơn cảm quan của hai nhà văn khi viết những tác phẩm về đề tài chiến tranh mà tiêu biểu
nhất là trong hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh và Giã từ vũ khí
Hai nhà văn Bảo Ninh và Hemingway là những cây bút đạt được thành công lớn khi viết những tác phẩm về đề tài chiến tranh với cái nhìn mới mẻ và
sâu sắc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là cuốn tiểu thuyết viết chiến tranh ở thời hậu chiến Bao trùm lên tất cả, Nỗi buồn chiến tranh là nỗi buồn
sâu xa gắn với từng mảnh đời riêng Tác phẩm đã bước ra khỏi lối mòn về lòng tự hào dân tộc cùng những chiến công và vinh quang tập thể để nêu lên thông điệp về sự ghê tởm, về tính chất hủy diệt của chiến tranh đối với con
người Trong khi đó, Giã từ vú khí của Hemingway là một tiểu thuyết bán tự
truyện, xây dựng thành công với hình ảnh người lính với những suy nghĩ cá nhân, đời thường Bản thân họ phải chứng kiến, trải qua hay đối mặt với lựa chọn danh dự và sự sống
Với nội dung chương 1, người viết đã bao quát hành trình sáng tác của
Bảo Ninh và Hemingway cũng như vị trí của Nỗi buồn chiến tranh và Giã từ
Trang 26vũ khí nhằm để khẳng định hơn về vị thế của mỗi nhà văn cũng như giá trị của
mỗi tác phẩm đem lại không chỉ cho nền văn học của hai quốc gia mà còn có sức ảnh hưởng cả toàn thế giới
Trang 27CHƯƠNG 2
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
VÀ GIÃ TỪ VŨ KHÍ –NHÌN TỪ NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG
Trong Từ điển văn học: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm
văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yêu tố chính có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm văn học” Nhìn một cách tổng quát, nhân vật là một khái niệm tương đối ổn định trong nghiên cứu phê bình văn học Trước nay dù có khá nhiều cách định nghĩa về nhân vật, song tập trung lại các ý kiến đều gặp nhau trong sự khẳng định: nhân vật văn học là thành tố quan trọng trong tác phẩm, là phương tiện
để nhà văn phản ánh đời sống và được nhà văn xây dựng bằng những yếu tố nghệ thuật độc đáo Nghiên cứu về tác phẩm văn chương cần phải tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết luận về những đóng góp riêng của nhà văn đó
Ở mỗi tác phẩm khi nhìn nhận về nhân vật đều có thể chỉ ra những nét đặc trưng, trong cái nhìn khách quan của cá nhân tác giả bài viết không có ý
so sánh phân loại hệ thống nhân vật ở hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Giã từ vũ khí của Hemingway, người viết cảm thấy cách phân
chia thế giới nhân vật dưới đây là dựa trên những hình tượng điển hình
Trang 28tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Giã từ vũ khí của
Hemingway gắn với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật từ sau giải phóng đến
nay
2.1.1 Con người cô đơn lạc lõng
Cô đơn, lạc lõng là những thái cực cảm xúc cơ bản là tiêu cực ở con người Ai đó đã nói: “Chiến tranh nhào nặn nhân cách người lính” Trong khói lửa đạn bom, người lính là hiện thân của đạo lí và chính nghĩa, của chủ nghĩa yêu nước, của những giá trị tiến bộ Người lính được coi là chuẩn mực cái đẹp trong xã hội vì họ kết tinh những vẻ đẹp của con người trong chiến đấu Trong văn học thời kì chiến tranh hay hậu chiến, ta cũng bắt gặp hình
tượng đẹp ấy Người lính trong Một lần tới thủ đô của Trần Đăng, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, người lính trong các tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu, Hữu Mai,… đều là những con người kiên trung bất khuất Khi cuộc chiến kết thúc, người lính “giã từ vũ khí” trở về cuộc sống thường ngày Những phẩm chất đẹp đẽ một thời vẫn còn đó, nhưng có đủ đảm bảo để cho họ tiếp tục là hình mẫu lý tưởng của cộng đồng? Các tác phẩm viết sau chiến tranh thường đặt nhân vật vào những tình huống thử thách mới để quan sát quá trình tự hoàn thiện nhân cách cá nhân trong dòng chảy tự nhiên của cuộc sống, và trong số đó không ít người lính dạn dày kinh nghiệm trận mạc hôm qua, hôm nay thành kẻ “ngơ ngác” giữa đời thường
Nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh trở về sau chiến tranh, trở về
với cuộc sống đời thường, Kiên không thể nào hòa nhập với cuộc đời như bao nhiêu người khác Anh không thể có được một cuộc sống gia đình với ai khác, bởi tất cả tình yêu anh đã dành chọn cho Phương Chiến tranh đã chia cắt họ, làm họ không thể trở lại là mình và mỗi người - Kiên hay Phương đều có cách chối bỏ thực tại Họ ra đi với mong muốn giữ lại trong nhau một tình yêu, một
kí ức đẹp Phương ra đi vì có lẽ cô hiểu rằng đó là cách tốt nhất giữ gìn trong
Trang 29nhau những kỉ niệm đã qua, tạo nên trong nhau “những vùng chưa hề có” và
như vậy đối với anh, cô “vĩnh viễn trẻ trung, vĩnh viễn ở ngoài thời gian, vĩnh
viễn ở bên ngoài mọi thời buổi” [29, tr.311] Còn Kiên, anh chỉ còn lại một
mình với văn chương, ngập chìm trong rượu và luôn thôi thúc mình phải viết, viết về đồng đội, về những tháng ngày đã qua, về quá khứ đau thương mà anh nếm trải Kiên lần trở về và sống lại quá khứ ấy, về với truông Gọi Hồn, đồi Xáo Thịt, với những đồng đội của anh trong khu rừng cánh Bắc, sống lại từng trận đánh, đau lại những vết đau khi chứng kiến bạn bè anh, đồng đội anh ngã xuống Những ngày tháng còn lại trong cuộc đời mình Kiên như không sống với hiện tại mà từng ngày trôi theo dòng quá khứ Kiên trở thành
kẻ lạc thời, trở thành con người cô đơn không biết bạn bè cùng ai Tâm sự của Kiên, niềm đau của Kiên chẳng thể nào san sẻ cùng ai Chỉ khi nhập vào trong men say, Kiên tìm đến dốc bầu tâm sự cùng người đàn bà câm - người đàn bà sống trên tầng áp mái của ngôi nhà trước đây Kiên đã từng sống Ở đó, Kiên nhớ và kể lại tất cả cuộc đời mình nhưng cũng khác gì độc thoại nội tâm vì người đàn bà kia không nói được, chỉ biết nghe, rồi gật đầu hay lắc đầu, còn Kiên thì miên man chìm đắm trong quá khứ, kể về quá khứ, kể về cuốn tiểu thuyết đang dở dang, anh sống mà như đang trôi đi và trong cái nhìn của mọi
người ở khu phố Kiên được coi là một “hiện tượng dị biệt, khó cắt nghĩa.Một
kẻ bị ma ám…Một di chứng của thời đại trước Một con ma men, uống để sám hối, để chôn vùi những uẩn khúc, những tội lỗi hẳn là vô khối trong đời”
[29,tr.315] Khi từ bỏ khu phố, anh không cho ai hay và cũng chẳng ai để ý và
mổ xẻ sự kỳ lạ đó Kiên là con người của cộng đồng, của thời đại mang trong mình những ý tưởng của cả một thế hệ lên đường chiến đấu vì tiếng gọi của non sông, của tổ quốc Vậy mà bước qua cuộc chiến, Kiên không thể nào hòa nhập được với cuộc đời, không thể quên đi toàn bộ quá khứ để sống vui vẻ, hạnh phúc bởi quá khứ như một ma lực luôn bám riết tìm về Mặt khác, khi
Trang 30tìm về quá khứ cũng chính là lúc Kiên đang chạy trốn thực tại và bơ vơ lạc lõng giữa cuộc đời, cảm thấy thất vọng trước cuộc sống mà mình đang sống, đang chứng kiến Tương lai trong tâm tưởng của Kiên hoàn toàn trái ngược
với thực tại: “Đối với tôi tương lai đã nằm lại ở phía sau xa kia rồi và không
phải là cuộc sống mới, thời đại mới, không phải là những hy vọng tốt đẹp đã cứu giúp tôi, mà trái lại những tấm thảm kịch của quá khứ đã nâng đỡ tâm hồn tôi, tạo sức mạnh tinh thần cho tôi thoát khỏi vô tận những tấn trò đời hôm nay” [29, tr.59] Kiên chỉ quay về với quá khứ thì cuộc sống mới bớt cô
đơn, lạc lõng Hiện tại quá phũ phàng khi mà Phương - người Kiên yêu suốt cuộc đời đã trở thành người đàn bà của nhiều người đàn ông, cả cô gái bên hồ Hale - em gái một đồng đội của Kiên giờ cũng là một cô gái điếm,
Bên cạnh đó, bạn bè chiến đấu cùng Kiên như Vượng, Phán, ít nhiều đều mang dáng dấp con người lạc thời, cô đơn trong Xây dựng kiểu con người cô đơn, lạc thời như vậy là một cách con người thức tỉnh, nhìn nhận lại thực tại Con người không chỉ tiếp tục sống mà phải nhìn nhận lại quá khứ và hiện tại, đó là điều mà Bảo Ninh và nhiều cây bút mang tư tưởng đổi mới muốn thể hiện thông qua tác phẩm của mình
Cũng giống như tâm trạng của Kiên, Trong Giã từ vũ khí, Frederic
Henry là một thanh niên người Mỹ đang du học tại Ý Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ, để tìm cảm giác mạnh anh đã tình nguyện tham gia chiến trận, nhưng cuộc sống chiến trận làm Henry cảm thấy “cô đơn và trống rỗng” Sau khi bị thương, được gặp Catherine rồi trở lại chiến trận, Henry thấy mọi thứ trở nên xa lạ, không còn cảm giác quen thuộc nữa: “Tôi không còn cảm giác như người đi xa mới được trở về nhà” Dường như những suy nghĩ trước khi đầu quân với Henry lúc này trở nên vô nghĩa Thay vào đó là
những thú vui mà anh tự tạo ra cho mình: “Tôi chẳng hề quan tâm đến con
đường phiêu lưu tình ái tôi đang lao vào Tôi biết là tôi không yêu Catherine
Trang 31mà cũng chẳng có mảy may ý định nào yêu nàng Tôi chỉ xem đó như một trò đùa ” [18, tr.38] Tưởng rằng mối tình với Catherine là “trò đùa” nhưng
trước sự “cô đơn và trống rỗng” trước vẻ đẹp đắm say của Catherine, Henry
đã yêu nàng thực sự Qua thời gian gắn bó, Catherine đã mang thai Lúc này, Henry không còn tin tưởng chiến tranh sẽ kết thúc, luôn khao khát được sống, được hạnh phúc: nhảy xuống sông trốn khi bị xử bắn vì tội oan Sau khi trốn khỏi quân ngũ, Henry tưởng như sẽ được sống cuộc sống hạnh phúc bên Catherine và đứa con sắp chào đời, nhưng oái oăm thay, lúc trở dạ,
Catherine và đứa bé đều qua đời, một sự đắng cay đến tận cùng: “ Nhưng
sau khi bảo họ đi ra và đóng cửa, tắt đèn, tôi hiểu rằng tất cả đều vô ích Cũng không khác nào lời nói từ biệt trước một pho tượng Một lát sau tôi bước ra khỏi phòng, rời bệnh viện và tôi trở về khách sạn dưới trời mưa”
[18, tr.383]
Khi đề cập đến E Hemingway, Drobishevshii có nhận xét: truyện của ông mang sắc thái “bi kịch của sự cô đơn” Cùng với ý kiến ấy, Jonh killinger cho rằng Hemingway luôn đề cập đến con người cô đơn Còn Hemut Papajewski nhận định: trong tác phẩm của Hemingway luôn có sự sợ hãi, sự cô độc tận cùng của cá nhân, đến nỗi tình yêu đôi lứa cũng không thể hóa giải nổi Hoàng Nhân và Lê Huy Bắc chú ý đến hình ảnh nhân vật người lính trở về trong tác phẩm của Hemingway dở điên dở dại, bấn loạn và “lánh đời”, mang trong lòng những vết thương âm ỉ
Với những nhận định, đánh giá trên càng khẳng định cái nhìn chung của các nhà nghiên cứu về sự xuất hiện “con người cô đơn lạc lõng” trong sáng tác của Hemingway
Nhìn chung, nhân vật người lính trong Nỗi buồn chiến tranh và trong
Giã từ vũ khí đều trải qua những khốc liệt của chiến trận và khi trở về họ đều
cô đơn, lạc lõng, không mối quan hệ với mọi người xung quanh Đó chính là
Trang 32một bi kịch điển hình của người lính thời hậu chiến Đây có lẽ là một trong những điểm tương đồng trong cảm quan về người lính của Bảo Ninh và Hemingway
2.1.2 Con người tự nhiên, bản năng
Nhân vật người lính trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là những
con người mang tính tự nhiên và bản năng Bảo Ninh đã sáng tạo nên một thế giới nhân vật độc đáo và hoàn toàn mới mẻ so với trước đó Bên cạnh con
người cộng đồng, sống vì lý tưởng, người lính trong tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh còn có phần tự nhiên, bản năng Con người thường gắn với những
ước mơ và người lính cũng vậy, họ cũng có ước mơ của riêng mình Ước mơ của những người lính trinh sát tưởng như tầm thường nhưng lại là động lực để
họ cố gắng vượt qua những tháng ngày đau buồn của cuộc chiến Những ngày
mưa mịt mờ: “Trong những cơn mê đổ đốn ấy, không gian tưởng tượng thật
trong lành, bầu trời cao vòi vọi, mây nắng tuyệt vời gần như là tầng trời của những giấc chiêm bao thời thơ ấu.Và dưới vòm trời xán lạn ấy, Kiên lại được thấy Hà Nội của anh, Hồ Tây, chiều hạ, hàng phượng vĩ ven hồ, tiếng ve sầu ran lên khi hoàng hôn xuống anh cũng nghe thấy và cảm thấy gió hồ lộng thổi, cảm thấy sóng vỗ mạn thuyền Anh mơ thấy Phương đang cùng ở trên thuyền thoi với anh, tóc vờn trước gió, trẻ trung xinh đẹp, không một nét sầu thương” [29, tr.19] Đó là giấc mơ của Kiên, còn đồng đội của anh, như Cừ
thì mơ “ngày trở về với những sum họp đoàn tụ dễ chịu” [29, tr.20], Hình
tượng người lính được xây dựng với những thú vui đầy bản năng: ham mê bài
bạc, hồng ma, xục gái, nói tục, chửi thề, Người lính trong Nỗi buồn chiến
tranh không ngần ngại chất vấn con người trần tục, bản chất hèn nhát trong
chính bản thân mình Trở về sau chiến tranh đã bao lần Kiên dằn vặt mình về
sự hèn nhát của bản thân Chẳng phải cái may mắn sống sót của anh có được
là nhờ sự hy sinh của đồng đội sao? Chẳng phải, anh đã nhát gan không dám
Trang 33nhích chân khi Hòa bị đám lính Ngụy xông đến hành hạ trước măt, khi chỉ một bước chân chần chừ mà Oanh đã phải thế mạng cho anh sao? Kiên vẫn luôn tự chất vấn mình như thế và nhận thấy việc mình trở thành nhà văn rồi viết về đồng đội, về quá khứ như một sự trả ơn, một thiên mệnh
Đó còn là khung cảnh nhốn nháo ở sân bay Tân Sơn Nhất với hình hài chân thực của người lính, với những năm tháng xông pha trận mạc đã hiện ra trước mắt bạn đọc Họ điềm nhiên ăn uống bên cạnh xác chết, điềm nhiên đá một xác chết như người ta đá một trái banh “Hãy xem lại nhân tính” là ý nghĩa của việc tạo dựng lên những con người như vậy Hơn nữa, qua đây Bảo Ninh cũng khẳng định một điều: Người lính - họ là những con người thực thụ, không phải cỗ máy, lại càng không phải là những viên ngọc không tì vết Hơn
ai hết, họ chính là nhưng con người chịu nhiều tổn thương và nếm trải nhiều đau khổ Bảo Ninh đã nỗ lực tạo nên thế giới đa dạng như nó vốn có
Giống như nhân vật người lính trong Nỗi buồn chiến tranh, Henry trong
Giã từ vũ khí, là một thanh niên trẻ, vốn ưa thích khám phá nên trong Thế
Chiến thứ nhất anh đã tình nguyện đầu quân cho quân đội Ý Trong cuộc sống chiến trận, anh và các đồng đội luôn thể hiện những suy nghĩ đời thường Anh được coi là: “Người bạn đích thực của cánh đàn ông” trong chủ đề là rượu và phụ nữ Trong những giây phút căng thẳng của chiến tranh những người lính vẫn tìm tới niềm vui là những câu chuyện tếu Henry cũng có những suy nghĩ hết sức tự nhiên và bản năng của một thanh niên khi nhìn nhận về phụ nữ Ban
đầu đến với phụ nữ và “chỉ xem đó như một trò đùa ” rồi khi yêu thật sự, Henry đã có ý nghĩ “trời ơi giá gì được nằm trên giường siết chặt người yêu
trong tay, Catherine yêu quý của anh ơi!” Và cũng như bao con người bình
thường phải đối mặt với cái chết, với sự khốc liệt của chiến tranh, Henry không còn tin tưởng vào việc chiến tranh sẽ kết thúc Anh đã lựa chọn cách để mình
có thể tồn tại: nhảy xuống sông trốn khi bị xử bắn vì tội oan Kể từ khi yêu
Trang 34Catherine và đối mặt với chiến tranh, Henry đã mang trong mình một khao khát về cuộc sống ngập tràn hạnh phúc,
Xây dựng hình ảnh nhân vật người lính với con người tự nhiên, bản năng, các nhà văn muốn đưa những người lính ấy sống một cuộc sống đời thường, cá nhân, gắn chặt với bản chất người của họ
2.1.3 Con người chấn thương
“Con người trong chiến tranh có biết bao nhiêu tâm tư, bao nhiêu mối
tình cảm khác nhau, bao nhiêu dằn vặt băn khoăn khác, chứ không chỉ đơn thuần là giết giặc” - một nhà văn đã nói như vậy về chiến tranh và con người
trong chiến tranh Quả thực, trong những năm tháng chiến tranh, mục tiêu chính là chiến thắng, mọi suy nghĩ, hành động đều phải có tác dụng động viên, cổ vũ chiến đấu Nên xung quanh nhân vật người lính có nhiều điều chưa được các nhà văn nói đến, hoặc có nói đến nhưng chưa toàn diện Khi chiến tranh kết thúc, khi luồng gió mới tràn vào văn học thì nhân vật người lính sẽ được phản ánh một cách trung thực, khách quan và sâu sắc hơn Trước đây, môi trường sống của người lính chủ yếu là chiến trường, ở đó có nhiệm
vụ cầm súng giết giặc Cuộc giáp mặt trực tiếp bao giờ cũng căng thẳng, ranh giới sống chết chỉ trong gang tấc Và chắc chắn những ám ảnh về ngày tháng
ấy luôn là những điều sâu kín nhất trong tâm hồn những người đã cầm sung
Các nhà văn dù đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh hay không đều có những phát hiện hết sức tinh tế về nỗi đau tinh thần, tấn bi kịch tinh thần mà người lính phải trải qua Họ nhìn sâu vào tâm hồn, suy nghĩ của người lính trở về và phát hiện những nỗi niềm, ấm ức Có thể nói, đã xuất hiện một loạt nhân vật người lính đặc biệt mà văn học trước 1975 chưa bao giờ nói tới: Nhân vật chấn thương, nhân vật bi kịch Đó là những người lính
do bị ám ảnh quá dữ dội của chiến tranh mà không tìm lại được sự thanh thản yên tĩnh trong tâm hồn khi đất nước đã hòa bình, thống nhất như họ hằng
Trang 35mong ước Đó là những vết thương không được chứng thương và không bao giờ lành Mỗi người một cảnh ngộ riêng cho người đọc thấy rõ hơn mặt trái của chiến tranh và cái giá của chiến tranh, không chỉ là xương máu, là những năm tháng thanh niên mà cả những day dứt không nguôi trong phần đời còn lại, những dày vò dai dẳng đau đớn nhất
Trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã thể hiện rất thành công bi
kịch của những người lính sau chiến tranh – bi kịch về sự hòa nhập của người lính với cộng đồng sau ngày trở về Đó là bi kịch của Kiên, Phán, Vượng, Sinh,… Kiên là người may mắn sống sót tới ngày hòa bình, cũng là người chứng kiến biết bao cái chết của đồng đội, của những người bên kia chiến
tuyến Nhân vật “tôi” đã khắc họa chân dung Kiên như sau: “Anh ta cao lớn,
mảnh dẻ, vẻ mặt không đẹp, lầm lì, có ánh nhìn man rợ Da dẻ anh ta khô và sạm, thủng lỗ chỗ, đét lại như thuộc, lốm đốm vệt thuốc súng, môi mím chặt Bên má một vết đạn bắn thẳng cày một rãnh vào xương” Khi người con gái
mà anh yêu thương – Phương bỏ đi, “Kiên rộc đi Nhìn vào gương mà giật
mình: tóc tai râu ria, hốc mắt, gò má, những nếp nhăn, vẻ suy tàn… Cái nhìn của anh làm nản lòng người Một cái nhìn chằm chằm mà chẳng nhìn gì cả, trống rỗng, vô cảm,…” [29, tr.85] Những miêu tả về ngoại hình nhân vật đã
cho người đọc thấy được Kiên là một người từng trải qua nhiều đau khổ Không những thế, cuộc sống của anh sau chiến tranh cũng không mấy hạnh phúc vì những gì anh đã trải qua, đã chứng kiến mãi ám ảnh trong kí ức của anh Đau khổ, vật vã với những kí ức của chiến tranh, anh tìm sự thảnh thơi
của tâm hồn trong những trang tiểu thuyết: “Trở về sau chiến tranh, cho đến
tận bây giờ, tôi đã phải chịu đựng hết hồi ức này cho đến hồi ức khác, ngày này qua ngày khác, đêm thâu này qua đêm thâu kia thử hỏi đã bao nhiêu năm ròng? [29, tr.58] Càng đi sâu vào những trang tiểu thuyết của mình, anh càng
bất lực Anh không thể làm chủ được tâm hồn mình nữa Những kí ức về
Trang 36chiến tranh dữ dội thường bất chợt ập đến làm Kiên luôn sống trong hoảng
loạn: “Nhiều hôm không đâu giữa phố xá đông người, tôi đi lạc vào một giấc
mơ khi tỉnh Mùi hôi hám pha tạp của đường phố bị cảm giác nồng lên thành mùi thối rữa Tôi tưởng mình đi qua đồi Xáo Thịt la liệt người chết sau trận xáp lá cà tắm máu cuối tháng chạp 72 Tử khí xộc lên từ vỉa hè nồng nặc đến nỗi tôi phải vội đưa tay lên bịt mũi như kẻ hóa rồ trước mắt người qua đường” [29, tr.58] Kiên đã hoàn toàn đánh mất hiện tại Hiện tại trong anh là
quá khứ - quá khứ đau thương đầy ắp những ám ảnh: “Có đêm tôi giật mình
thức dậy nghe tiếng quạt trần hóa thành tiếng rú rít rợn gáy của trực thăng
vũ trang Thót người lại trên giường, tôi nín thở chờ đợi trái hỏa tiễn từ tảu
rà phụt xuống Chéo-éo-éo…Đoành! Và tôi không thể nào bình tâm nổi trước cảnh bọn Mỹ mặc áo giáp đang gào lên xung trận trên màn ảnh truyền hình Tôi như sẵn sàng nhập thân trở lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém, giết cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng” [29, tr.59] Anh sống
với những giấc mơ để rồi khi thức dậy, anh như trở thành một người khác:
“trống ngực nện thùm thùm, tôi nhìn chằm chằm vào các góc tối cầu thang
nơi các hồn ma rách nát vẫn thường hiện hình, ôm theo những vết thương đỏ lòm, toác hoác” [29, tr.59] Và: “Toàn thân tôi lạnh giá nhưng đẫm mồ hôi,
cổ họng đau rát vì mê hoàng la hét, môi rớm máu, cúc áo ngủ đứt tung, ngực
bị móng tay cào xoạc da Và trái tim tôi run rẩy nhói đau, hồi hộp đập dồn như treo trên đầu sợi chỉ” [29, tr.58] Những kí ức này trở thành một phần
máu thịt theo đuổi bám riết lấy cuộc đời Kiên Sau cuộc chiến này, “những
thằng lính chiến đấu như ông ấy mà, ông Kiên, chả trở lại thành người bình thường nữa đâu Ngay cả cái giọng người, mẹ kiếp, xin nói là còn chán mới hòng có lại để giao tiếp với đời” [29, tr.53] Nói ra những điều này quả thực
thật phũ phàng nhưng nó lại là sự thật, một sự thật trần trụi nhất Người ta sẽ đau khi phải sống trong đau khổ của cuộc sống trong chiến tranh Nhưng
Trang 37người ta sẽ đau đớn hơn khi những kí ức về chiến tranh đó vẫn cứ mãi ám
ảnh, Kiên lại càng trở nên méo mó, gàn dở Anh cay đắng nhận ra rằng: “Thì
ra cuộc đời tôi kỳ thực có khác nào con thuyền bơi ngược dòng sông không ngừng bị đẩy lùi về dĩ vãng Đối với tôi, tương lai đã nằm ở phía sau xa kia rồi” [29, tr.59] Rồi càng, anh càng thấm thía nỗi đau của chiến tranh – nỗi
đau được sống sót – một nghịch lý tưởng chừng như không thể diễn ra mà lại
có thật
Kỉ niệm ám ảnh và bi thảm thứ nhất đối với Kiên là hình ảnh cô giao liên bé nhỏ tên Hòa trong sự thoái trào của cuộc tấn công Mậu Thân Nó ám ảnh và mãi xuất hiện trong dòng hồi tưởng của Kiên và xuất hiện hai lần ở
đầu và gần cuối tác phẩm Kiên mãi ám ảnh với cảnh tượng “Hòa gục ngã
giữa trảng cỏ và đằng sau bọn Mỹ xô tới, vây xúm lại, trần trùng trục, lông lá một bầy như những con đười ươi, phì phò thở, giằng giật, nặng nề hộc rống lên…” Cảnh tượng đó khiến toàn thân Kiên “lạnh giá nhưng đẫm mồ hôi, cổ họng đau rát vì mê hoảng la hét, môi rớm máu, cúc áo ngủ đứt tung, ngực bị móng tay cào xoạc da Và trái tim tôi run rẩy nhói đau, hồi hộp đập dồn như treo trên đầu sợi chỉ” [29, tr.58] Câu chuyện về Hào mãi ám ảnh trong anh:
“Ngợp trước mắt anh, ở trảng cỏ trên đám những cây bổi bị dẫm nát ngay sát tảng đá rêu mốc, chơ vơ hình đầu người, kín nghịt một đống kinh khủng, đen ngòm, lấp loáng mồ hôi và phì phò hơi thở dốc Không nghe thấy tiếng Hòa kêu nhưng mà có thể cảm thấy tiếng kêu ấy… Chúng không hò hét, không rống cười, không quát tháo Sự ghê rợn bày ra quằn quại trong yên tĩnh man rợ”
Chiến tranh trong tiểu thuyết thời kì hậu chiến là một “nghịch lý” (Hoàng Ngọc Hiến), bởi không đâu như ở đây, người lính trong tư thế người chiến thắng trở về lại mang “nỗi buồn được sống sót” Họ cảm thấy mình “bị bắn ra khỏi lề đường”, “bị mắc kẹt lại trên cõi đời này” Họ cô độc trong
“chuỗi ngày bất tận…nhạt thếch, buồn tẻ và êm đềm đến phát ốm” của hiện
Trang 38tại Họ hụt hẫng đau xót và phẫn nộ trước thái độ thờ ơ của mọi người đối
với cuộc chiến mà thế hệ họ đã “quăng mình vào”: “Chiến tranh mới đó, hơn
chục năm chứ nhiều nhặn gì đâu mà sao cả người ngoài lẫn người trong cuộc đều chóng vánh quên đi quá thế vậy? Sao… nhắc đến mọi kỉ niệm đau thương lại ráo hoảnh như nhắc đến cuộc chiến tranhcủa người khác, của quốc gia khác?” Và trong sự hụt hẫng ấy, cái quá khứ mà thiên hạ đang quên đi, cố
quên đi lại không thôi quấn lấy họ, ám ảnh họ như thể nó là người bạn đồng hành duy nhất cùng họ vượt nốt chặng đường còn lại của cuộc đời
Chiến tranh trong cảm quan của Kiên là sự ra đi của những đồng đội, những người bạn người anh, người em cùng chiến đấu nơi chiến trường ác liệt Không những thế, chiến tranh còn ám ảnh trong anh ngay cả khi hòa bình được lập lại Trong những ngày còn lại của cuộc đời, Kiên dành nhiều thời gian cho việc đi tìm hài cốt đồng đội Anh trở lại chiến trường xưa Và rồi những kí ức trong quá khứ chợt ùa về và ám ảnh mãi trong tâm hồn anh Với anh, giờ đây chỉ có việc tìm lại và phục sinh quá khứ, mới có thể đưa anh thoát khỏi những ám ảnh, những dằn vặt về sự hi sinh của những người đồng đội Anh tìm lại họ như tìm và sám hối về quá khứ đã qua: “Nếu không lần ra được tên tuổi của họ thì cuộc đời chúng ta sẽ mãi mãi bị cái chết của họ đè nặng” Dường như Kiên vẫn luôn canh cánh trong lòng một món nợ đã qua với chiến tranh, với những người đã nằm xuống Trong những người đã hi sinh nằm lại kia có cả những người đã hi sinh để cho anh được sống như Từ, như Oanh, như Hòa,… Anh thấy mình như nợ họ: “Với Kiên, món nợ đó chính là thế giới hàm chứa trong cuộc sống của anh Cả một thế giới, một thời đại, một lịch sử bị vùi xuống lòng sâu đất ấm cùng với thân xác anh chẳng phải là oan uổng và đáng nuối tiếc làm sao” Và rồi Kiên trở về với chiến trường xưa và coi việc tìm lại hài cốt đồng đội là con đường tìm về với quá
Trang 39khứ, trả lại cho họ món nợ nghĩa tình của người còn sống, trả lại món nợ nghĩa tình mà chiến tranh đã cướp đi của họ
Bảo Ninh xây dựng nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh như một
người lính bị chấn thương, một người có tâm tính không bình thường Qua dòng hồi tưởng của Kiên, người đọc thấy rõ những mặt trái của chiến tranh
phía sau tấm huân chương chiến thắng Trong cảm thức của Kiên, “chiến
tranh là những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng, những ngày bất hạnh nhưng chan chứa tình người” Những ngày đó nối tiếp nhau trở về
chiếm lĩnh cuộc sống hiện tại của anh, khiến anh cứ phải “bơi ngược dòng quá khứ” Và quá khứ để lại trong Kiên một nỗi buồn không thể giải tỏa bởi
anh thấy rõ trong chiến tranh “chính nghĩa đã thắng, lòng dân đã thắng” nhưng “cái ác, sự chết chóc và bạo lực phi nhân cũng chiến thắng” Điều đó
ám ảnh anh, làm anh mãi mãi mất khả năng sống bình thường, lúc nào cũng như đang ở “cõi xa xăm bên ngoài biên giới tư duy, đạt đến cõi hòa đồng người sống và người chết, hạnh phúc và khổ đau, hồi ức và ước mơ” Theo dòng hồi tưởng của Kiên, người đọc lúc thì chứng kiến những trận đánh ác liệt, lú thì gặp cảnh êm đểm thơ mộng của Hà Nội, lúc thì nhập vào dòng ý thức “rối bời”, “bấn loạn” cuồn cuộn như thác cuốn của nhân vật Ký ức, hiện tại đan xen cùng với dòng độc thoại nội tâm triền mien, những giấc mơ dày đặc… của một tâm hồn bị chấn thương nặng nề Xuyên suốt tác phẩm là những hoài nghi, dằn vặt, những ấm ức, bức bối, những mâu thuẫn không sao giải tỏa, khiến nhân vật luôn trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, lẫn lộn ảo giác
và thực tại
Khi miêu tả về những cái chết nát vụn và đau đớn, tác giả đã phơi bày
ra hiện thực khốc liệt của chiến tranh và hơn nữa là những ám ảnh khôn nguôi
về cuộc chiến luôn thường trực trong tâm trí Kiên, không ngừng bị khuấy đảo
và buộc anh lần hồi về quá khứ để chiêm nghiệm những điều đã trải qua
Trang 40Cuộc đời của Kiên chính là cuộc đời đã qua, cuộc đời gửi lại nơi tiền tuyến, là cuộc đời đã mất đi trong nỗi buồn chiến tranh
Với Kiên, quá khứ như là một sức mạnh ghê gớm kéo anh quay cuồng
trong những hồi ức triền miên không dứt với “biết bao kỉ niệm bi thảm, bao
nhiêu là nỗi đau mà từ lâu lòng đã nhủ phải cố gắng cho qua, rốt cuộc đều dễ dàng bị lay thức bởi những mối liên tưởng tưởng như là không đâu nảy sinh một cách khôn lường” [29, tr.56] Đối với con người khốn khổ luôn bị dằn vặt
bởi quá khứ ấy, những gì của hiện tại chỉ là ảo, là không thực Tâm hồn Kiên dường như đã chết từ lâu trong cuộc chiến cùng với Từ, Oanh, Tâm, Quảng,… và những đồng đội khác, khiến anh càng thêm đau khổ và nặng nề trong hồi ức, “chút lòng tin và lòng ham sống còn lại trong tôi không phải do những ảo tưởng mà nhờ sức mạnh của những hồi tưởng” Từ đó, Kiên đắm chìm vào quá khứ như là liều thuốc giúp anh tiếp tục duy trì sự sống, và vì vậy mà “tương lai đã nằm lại ở phía sau xa kia rồi”
Kiên trở về cuộc chiến tranh tàn khốc với tâm hồn méo mó đầy thương tật Anh trở thành một nhà văn “phường”, một anh “khùng” như láng giềng vẫn gọi Kiên mang trong lòng một cuộc chiến tranh của riêng mình Anh sống với những hồi ức về những đồng đội kẻ còn sống, người đã chết, và những con ma hiện hình trong truông Gọi Hồn ở Trường Sơn, về những cảnh chém giết đẫm máu, về lòng dũng cảm, sự hi sinh và sự đốn mạt của con người
Ra khỏi cuộc chiến, Kiên trở thành “nhà văn cấp phường”, sống một thời hậu chiến đầy u buồn Anh lao vào viết như một “thiên mệnh” xa vời, tối tăm Nhà văn của phường như người mộng du lang thang cả đêm khắp phố phường, đêm đêm viết hàng núi giấy Những câu chữ xuất hiện trong “bóng đêm âm u” của tiềm thức, vô thức đã trở thành những hình tượng ảo giác trên trang bản thảo Ngày kia anh đốt bản thảo tác phẩm của mình, bên người con gái câm, một biểu tượng đẹp, một bản sao khác của Phương Cô gái câm là