1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam

129 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đầu tư là hoạt động kinh tế nhằm phát triển trong tương lai, đó là hoạt động sử dụng tiền vốn và các nguồn lực khác trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi nhuận hoặ

Trang 1

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 - Ti ́nh cấp thiết của viê ̣c nghiên cứu luâ ̣n văn

Đối với mọi quốc gia, để tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội bền vững thì một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là phải mở rộng, thu hút đầu tư từ mọi nguồn lực của xã hội Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp thì vai trò của đầu tư càng trở nên quan trọng và thu hút đầu

tư có tính chất quyết định đến sự phát triển kinh tế đất nước

Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương xã hội hoá ngành lâm nghiệp, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lâm nghiệp Tuy nhiên theo nhận định chung, đầu

tư vào lâm nghiệp còn rất hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển lâm nghiệp của đất nước

Xuất phát điểm của kinh tế vùng Tây Bắc còn quá thấp, cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi còn yếu kém, đặc biệt là giao thông đường bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong đó có phát triển lâm nghiệp

Tỷ lệ tăng dân số còn cao trong khi diện tích canh tác ruộng nước ít Sự gia tăng dân số, nhu cầu về lương thực, gỗ và lâm sản của đồng bào vùng cao đang là sức ép lớn đối với rừng hiê ̣n có trên địa bàn

Vù ng Tây Bắc có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ phía Tây Bắc của tổ quốc, nơi tập trung các sông lớn là: sông Đà, sông Mã, sông Nậm Rốm, sông Bôi Rừng Tây Bắc có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, duy trì nguồn nước cho các hồ thuỷ điện Hoà Bình, hồ thuỷ điện Sơn

La, Lai Châu Đây là những công trình thủy lợi lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á, với vai trò điều tiết và cung cấp nước cho đồng bằng Bắc Bộ, cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn, cho việc phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng ở vùng biên giới phía Tây Bắc của tổ quốc Mặt

Trang 2

2

khác, vùng Tây Bắc là vùng có nhiều dân tộc thiểu số với thu nhập bình quân thấp nhất nước ta, do vậy mà cần có chính sách phát triển kinh tế để tạo thế phát triển cân bằng giữa các vùng đồng bằng và miền núi Chính vì vậy việc xây dựng và phát triển rừng bền vững trên địa bàn vùng Tây Bắc là vô cùng cấp bách hiện nay, đòi hỏi sự đóng góp của tất cả các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc Trước hết là Nhà nước với vai trò chủ đạo trong việc đầu tư nguồn vốn “mồi” cũng như tạo ra các chính sách

ưu tiên để khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế

hộ gia đình, tư nhân và các hợp tác xã ở địa phương tham gia vào việc đầu tư phát triển và bảo vệ rừng, phát triển kinh tế rừng một cách hiệu quả Ngoài ra còn thu hút các tổ chức trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào lĩnh vực phát triển lâm nghiệp Do vâ ̣y, cần thiết phải có những giải pháp để viê ̣c đầu tư vào phát triển lâm nghiê ̣p đươ ̣c nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vớ i quy mô đầu tư lớn Để đề xuất đươ ̣c mô ̣t số giải pháp có tính khoa học và thực tiễn nhằm thúc đẩy hoa ̣t đô ̣ng đầu tư phát triển vào lâm nghiệp trên đi ̣a bàn 4 tỉnh Tây Bắc Bô ̣ Viê ̣t Nam (Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên) (Sau đây gọi chung là vùng Tây Bắc) trong những năm tới,

tôi đã chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh Tây Bắc Bộ Việt Nam” để nghiên cứu

Đầu tư phát triển vào lâm nghiệp gồm nhiều lĩnh vực đầu tư như: Đầu

tư vào lĩnh vực lâm sinh; Cơ sở hạ tầng … Do thời gian thu thập tài liệu có hạn, tôi tập trung đi sâu vào phân tích thực trạng đầu tư cho lĩnh vực lâm sinh Các lĩnh vực còn lại chỉ đề cập, tổng quan và khái quát

Trang 3

3 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đố i tươ ̣ng nghiên cứu: là các chỉ tiêu, số liê ̣u, các vấn đề đầu tư phát triển vào lâm nghiê ̣p trên đi ̣a bàn Tây Bắc và kết quả, tình hình đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiê ̣p trên đi ̣a bàn 4 tỉnh

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên đi ̣a bàn 4 tỉnh Tây Bắc Bô ̣ Việt Nam, bao gồ m tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điê ̣n Biên

- Về thời gian: Các tư liệu tổng quan thu thập từ các tài liệu đã công bố

trong giai đoạn từ năm 2005 - 2009, số liệu điều tra hiện trạng chủ yếu thu thập số liệu của năm 2009

Trang 4

4

4 - Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn

Luận văn là công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực; là tài liệu tham khảo giúp tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu và Điê ̣n Biên xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành lâm nghiệp từ nay đến năm 2015 một cách có cơ sở khoa học

5 - Bố cục của Luận văn:

Đă ̣t vấn đề

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực tra ̣ng đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiê ̣p vùng Tây Bắc giai đoa ̣n 2005 - 2009

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoa ̣t đô ̣ng đầu tư

vào lĩnh vực lâm nghiê ̣p vùng Tây Bắc giai đoa ̣n 2010 - 2015

Kết luận và Kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 5

5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIÊ ̣U NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Khái niệm, bản chất và sự tác động của đầu tư và đầu tư phát triển

Đầu tư là một hoạt động cơ bản, tồn tại tất yếu và có vai trò quan trọng

trong bất kỳ nền kinh tế - xã hội nào Thuật ngữ “Đầu tư” (Investment) có thể được hiểu đồng nghĩa với “Sự bỏ ra”, “Sự hy sinh” từ đó có thể coi “Đầu tư”

là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ…) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai Trên thực tế có rất nhiều cách tiếp cận khái niệm đầu tư khác nhau, nhưng thường đề cập đến một số khái niệm cơ bản sau:

- Đầu tư là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các địa phương, các ngành và của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng

- Đầu tư là hoạt động kinh tế nhằm phát triển trong tương lai, đó là hoạt động sử dụng tiền vốn và các nguồn lực khác trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội

- Đầu tư là việc bỏ tiền ra nhằm tạo những năng lực mới để từ đó dự kiến khai thác được khoản tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra

- Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cá nhân và xã hội

Như vậy đầu tư trên giác độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế Các hoạt động mua bán, phân

Trang 6

6

phối lại, chuyển giao tài sản hiện có giữa cá nhân, các tổ chức không phải là đầu tư đối với nền kinh tế Vốn đầu tư được hình thành từ tiền tích luỹ của xã hội, từ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, từ tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động khác được đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội

Đầu tư phát triển (đầu tư tài sản vật chất và sức lao động) là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo

ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi

hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội Đó là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền móng và đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này và nhằm duy trì hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội

Trong tác phẩm “tư bản”, Mác đã giành phần quan trọng nghiên cứu

về cân đối kinh tế, về mối quan hệ giữa hai khu vực của nền sản xuất xã hội

để đảm bảo quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng, về các vấn đề trực tiếp liên quan đến tích luỹ Theo Mác, các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất, lao động, vốn, tiến bộ khoa học kỹ thuật Điều kiện để đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng không ngừng là chia nền kinh tế thành hai khu vực là sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng Không những thế nền sản xuất xã hội còn phải đảm mối quan hệ:

(C+V+M)I > CI + CII

Có nghĩa là tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàn cho những tiêu hao vật chất CI và CII ở cả hai khu vực của nền kinh tế, mà còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo Còn khu vực II (sản xuất cho tư liệu tiêu dùng) thì:

Trang 7

Ngoài ra Mác còn phân tích về các yếu tố kinh tế kỹ thuật Mục đích nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư và họ dựa vào chủ yếu là cải tiến kỹ thuật Ông cho rằng cải tiến kỹ thuật làm tăng số lượng máy móc, dư thừa lao động, nghĩa là cấu tạo hữu cơ C/V Có xu hướng ngày càng tăng Do đó các nhà tư bản cần nhiều tiền vốn hơn để khai thác tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động của công nhân Cách duy nhất để gia tăng vốn là tiết kiệm, các nhà tư bản không được dùng hết giá trị thặng dư Họ phải chia giá trị thặng dư thành hai phần: một phần để tiêu dùng, một phần để tích luỹ phát triển sản xuất

Từ đó có thể tìm ra con đường cơ bản, quan trọng và lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phải phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và trong tiêu dùng

Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cung và đối với tổng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư,

dù tăng hay giảm đều cùng một lúc phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia

Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố đầu tư tăng làm cho giá của các hàng hóa có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động,

Trang 8

8

vật tư) đến một mức độ nào đó làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế

Khi đầu tư tác động đến hai mặt của nền kinh tế, nhưng theo chiều hướng ngược lại so với các tác động trên đây Vì vậy, trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạt động chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này

để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì được sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế

Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước

Từ đó suy ra

Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu

tư Ở các nước phát triển ICOR thường lớn do thừa vốn thiếu lao động, vốn được sử dụng để thay thế công nghệ hiện đại có giá cao Còn các nước chậm

Trang 9

lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dự kiến

1.1.1.2 Một số lý luận về đầu tư phát triển trong lâm nghiệp

 Khái niệm đầu tư trong lâm nghiệp

Đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại

để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai, mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động

Những kết quả của đầu tư đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật, của người dân) Các kết quả đã đạt được của đầu tư đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội

Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó

Theo định nghĩa và phân loại của Liên hiệp quốc đã được nhiều nước

thừa nhận thì: “Lâm nghiệp là một ngành kinh tế bao gồm tất cả các hoạt động chủ yếu gắn sản xuất hàng hoá có liên quan đến gỗ (gỗ tròn cho công nghiệp, củi, than củi, gỗ xẻ, ván nhân tạo, bột giấy, giấy và đồ mộc), sản xuất, chế biến lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ từ rừng”

Trang 10

10 Như vậy, theo định nghĩa trên, lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng đối với các đóng góp cho nền kinh tế quốc dân bằng các sản phẩm được sản xuất và chế biến từ rừng và dịch vụ môi trường

Tuy nhiên, đối với thực tiễn Việt Nam hiện nay thì cần phải có một quan

niệm đầy đủ hơn về lâm nghiệp, đó là: “Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như các hoạt động gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến nguyên liệu lâm sản và cung cấp các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành lâm nghiệp cũng gắn bó mật thiết đến bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần xoá đói giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng”

Lâm nghiệp có tính đặc thù nổi bật là:

- Chu kỳ sản xuất lâm nghiệp dài, phụ thuộc vào tự nhiên, tính rủi ro cao

- Phạm vi địa bàn sản xuất rộng, tái sản xuất tự nhiên là chủ đạo, giữa khai thác và tái sinh tự nhiên có mối quan hệ hữu cơ và mang tính thời vụ

- Lâm nghiệp có tính xã hội sâu sắc, có mối quan hệ mật thiết đến vấn

đề đất đai, tài nguyên, kinh tế - xã hội tại các vùng khó khăn, xa xôi, nơi có đồng bào các dân tộc sinh sống, dân trí thấp

Như vậy, đầu tư trong lâm nghiệp là hoạt động tổng hợp có nhiệm vụ

sử dụng tiền vốn và các nguồn tài nguyên khác, không ngoài khái niệm đầu tư nói chung nhưng khi triển khai sử dụng tiền vốn và các nguồn tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng trong một thời gian tương đối dài nhằm bảo tồn gen và

đa dạng sinh học, đem lại những lợi ích kinh tế, nguồn nước, môi trường, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng

 Phân loại đầu tư trong lâm nghiệp

* Phân loại đầu tư theo thời gian:

- Đầu tư ngắn hạn thường áp dụng cho dự án có thời gian thực hiện 1 - 2 năm

Trang 11

11

- Đầu tư dài hạn thường áp dụng cho dự án có thời gian thực hiện từ 2 năm trở lên

* Phân loại đầu tư theo mục đích đầu tư:

- Đầu tư lâm sinh, là các hoạt động đầu tư vào các khâu: trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi tái sinh có tác động, nuôi dưỡng rừng, cải tạo rừng tự nhiên, làm giàu rừng, xây dựng nguồn giống cây rừng

- Đầu tư bảo vệ rừng là hoạt động đầu tư vào phòng chống cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại, phòng chống khai thác rừng trái phép và bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ hệ sinh thái rừng

- Đầu tư nghiên cứu khoa học bao gồm đầu tư nghiên cứu cơ bản về rừng và đầu tư ứng dụng như: nghiên cứu tạo giống cây lâm nghiệp, nghiên cứu xây dựng qui trình sử dụng rừng, trồng rừng, khai thác, chế biến sản phẩm rừng

- Đầu tư khuyến lâm gồm các hoạt động chuyển giao công nghệ, đào tạo, phổ biến khoa học kỹ thuật, giáo dục cộng đồng liên quan đến lâm nghiệp

- Đầu tư chế biến lâm sản gồm các hoạt động chế biến nguyên liệu từ rừng thành sản phẩm, bán thành phẩm, đáp ứng yêu cầu sử dụng của con người và các ngành kinh tế

Trong các hoạt động đầu tư trên đều bao gồm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ bảo vệ và phát triển rừng như: hệ thống đường giao thông, công trình phòng trừ sâu bệnh hại, công trình phòng chống cháy rừng, trạm bảo vệ, cọc mốc, biển báo, trụ sở làm việc, nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị khác

* Phân loại đầu tư theo nguồn vốn:

- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương, ngân sách địa phương),

Trang 12

12

- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu

tư phát triển của Nhà nước;

- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;

- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn

* Dự án đầu tư:

Một dự án là công việc đầu tư có kế hoạch, là việc thực hiện công tác quản lý, hoặc là một đề xuất cho các hoạt động mới có liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định và có thể được đánh giá một cách độc lập

Một dự án có thể là một nhà máy nghiền bột gỗ nguyên liệu giấy hay đầu tư trồng rừng 10 ha rừng trồng lấy củi Một dự án bao giờ cũng tạo nên một cơ sở nhất định cho việc đánh giá các lựa chọn và đưa ra các quyết định

có tính kinh tế

* Nguồn lực:

Nguồn lực bao gồm nhiều không chỉ nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, mà quan trọng nhất đó là nguồn tài chính Lâm nghiệp là một ngành đòi hỏi tương đối nhiều vốn Khái niệm vốn được sử dụng ở đây để chỉ những đầu tư về các nguồn tài nguyên cố định (bao gồm cả đất đai), là những loại tài nguyên đòi hỏi phải được nuôi dưỡng và phải có sự hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế, mà thường thì các hoạt động này có chu kỳ kinh tế lớn hơn 1 năm hay

1 giai đoạn thị trường nhất định Trong khi đó, các chi phí như diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối ngắn Các khoản chi từ vốn thường là các loại chi phí trọn gói góp phần duy trì sản xuất trong một vài hoặc nhiều giai đoạn Các nhà máy cưa xẻ gỗ, nhà máy sản xuất bột giấy, thậm chí đơn giản hơn là các thiết bị cần thiết để khai thác và vận chuyển gỗ đến nơi buôn bán, cũng cần phải có những khoản vốn đầu tư đáng kể Ngoài ra, đối với vốn đầu tư để

Trang 13

13

khai thác và chế biến lâm sản, còn có một đặc trưng mang tính đặc thù riêng,

đó là tỷ lệ cao giữa lượng vốn tích luỹ (sự tích luỹ để phát triển rừng trong cả một giai đoạn của chu kỳ) với khối lượng sản xuất hàng hoá hàng năm Giá trị tiềm tàng của lượng vốn được tích luỹ này là một dạng vốn có tính chi phí cơ hội cao, và phải được tính đến trong khi quyết định về đầu tư vào rừng và đưa

ra quyết định quản lý tài nguyên rừng Để thu hút vốn trong ngành lâm nghiệp, các ngành công nghiệp rừng phải có khả năng sinh lãi đủ để trang trải mọi chi phí và phải có lợi nhuận tương đối khá Chỉ có như vậy, giá trị của gỗ

và rừng mới có thể tăng lên được

* Sự khan hiếm của vốn - chi phí thời gian của đầu tư

Hầu hết vốn ở các nước đều khan hiếm đặc biệt là nước đang phát triển Điều này đòi hỏi về vốn của các dự án có khả năng thực thi về mặt kỹ thuật thường vượt quá khả năng cung cấp vốn có sẵn của các tổ chức Do đó, những nhà ra quyết định cần phải lựa chọn giữa các dự án khác nhau có tính cạnh tranh để phân bổ các nguồn quỹ có hạn này cho các dự án Các dự án đầu tư này phải có tính khả thi về mặt kinh tế, người ra quyết định phải có đủ các căn

cứ và có đủ thông tin tin cậy để so sánh và phân hạng các dự án theo lợi nhuận thực được dự tính trước Do đó, để tối đa hóa lợi nhuận, nhất thiết phải

so sánh tất cả các khả năng của dự án và việc đầu tư, và phân hạng chúng theo phần đóng góp tương ứng của các dự án và việc đầu tư

* Xác định tính khả thi của dự án đầu tư

Việc xác định tính khả thi là một trong những nhiệm vụ cơ bản của các nhà kinh tế lâm nghiệp là xác định giá trị các dự án đầu tư của ngành lâm nghiệp và định rõ các lựa cho ̣n, giải pháp về quản lý rừng Mục tiêu cơ bản của xác định giá trị kinh tế là, xác định xem liệu lợi nhuận có nhiều hơn chi phí hay không để có thể đưa ra một quyết định thực thi một cách chắc chắn,

có căn cứ Như đã chỉ rõ, khi các chi phí và lợi nhuận không đồng thời xảy ra,

Trang 14

14

thì ứng dụng các phép phân tích thống kê chưa đủ để đánh giá dự án Lợi nhuận tích luỹ được ở giai đoạn cuối của một dự án đầu tư trồng rừng phải được so sánh với các chi phí trồng rừng đã được chi từ nhiều năm trước Nếu

so sánh trực tiếp tổng chi phí và tổng thu mà không tính đến thời gian, tức là

đã bỏ qua giá trị của quỹ thời gian và chi phí cơ hội của các tài nguyên đã được dùng để đầu tư trồng rừng

* Phân tích tài chính thông qua chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại thuần)

Trồng rừng vì mục đích thương mại là một quyết định đầu tư có tính chất cơ bản của nghề rừng (mà chủ yếu là rừng sản xuất) Có rất nhiều loài cây có khả năng để đầu tư trồng rừng và mỗi loài, mỗi khu rừng lại có khả năng phát triển và cho năng suất riêng Cây có thể được trồng theo kiểu quảng canh bằng các phương pháp tự nhiên và với chi phí tiền tệ thấp Các khu rừng cũng có thể được trồng và quản lý theo lối thâm canh, có sử dụng các kỹ thuật gieo hạt và các phương pháp lâm sinh như tỉa thưa, xén cành trước khi thu hoạch Mỗi hoạt động này đều góp phần làm cho rừng phát triển nhanh hơn, với khối lượng tăng trưởng lớn hơn hoặc chất lượng gỗ được nâng cao Nhưng từng hoạt động nói trên cũng sẽ đòi hỏi các chi phí

Các quyết định đầu tư thường được phê duyệt thông qua các phép phân tích giá trị hiện tại thực, mà nhờ đó các chi phí và lợi nhuận tương ứng được điều chỉnh theo phép so sánh tại một thời điểm chung Có một điểm quan trọng cần phải nhớ, đó là các chi phí thực và các sự kiện thực luôn xảy theo thời gian Giá trị hiện tại thực là tổng thực của các chi phí và lợi nhuận đã được khấu trừ Quá trình tính toán giá trị hiện tại thực bao gồm 4 bước sau:

- Xác định và định lượng tất cả các đầu vào, đầu ra

- Xác định thời gian của các đầu vào và đầu ra

- Ước tính giá trị của các đầu vào và đầu ra

- Khấu trừ tất cả các giá trị cho hiện tại và xác định giá trị hiện tại thực

Trang 15

15

Đầu vào có thể bao gồm là: diện tích trồng (số ha), số lượng gieo trồng trên mỗi 1ha, số ngày công lao động cần thiết để trồng 1ha rừng, các công cụ dụng cụ có liên quan và các phương tiện chuyên trở lao động, vật liệu Cần phải xác định rõ các loại lao động, dụng cụ và phương tiện vận tải có liên quan tới việc dẫy cỏ và khai thác

Đầu ra, là sản phẩm thu từ gỗ và các lợi ích từ rừng, nhưng đối với rừng sản xuất thì điều đầu tiên là cần phải dự tính được chất lượng gỗ

Ta có công thức:

Trong đó: : là khoản thu của năm i

: là khoản chi phí của năm i

n : là số năm

r : là tỷ suất chiết khấu đươ ̣c cho ̣n

 Đặc điểm của đầu tư trong lâm nghiệp

* Thời gian kéo dài:

Trồng rừng là cả một quá trình tiêu tốn nhiều thời gian theo chu kỳ dài,

có loài cây phải mất đến 70-80 năm mới được khai thác, còn trung bình là

30-40 năm như trồng Lim, Táu, Dẻ, Sao…và ít nhất cũng phải mất 7-8 năm như trồng Bạch đàn, keo lá Tràm, tai tượng… Do vậy mà rừng chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố biến động của thiên nhiên và con người dẫn đến những rủi ro trong đầu tư Mặt khác chi phí đầu tư cao, và bao gồm nhiều loại chi phí:

- Chi phí cho trồng và chăm sóc cây con đến khi rừng đạt chu kỳ kinh doanh

- Xây dựng cơ sở vật chất, bao gồm xây dựng hệ thống đường lâm nghiệp, đầu tư phòng chống cháy rừng hệ thống vườn rừng được bảo vệ

Trang 16

16

- Chi phí những rủi ro ngoài ý muốn của người trồng rừng như sâu bệnh, lửa rừng, mưa bão, hạn hán, chặt trộm, thủ tục vay vốn, cấp giấy phép khai thác, vận chuyển, tiêu thụ quá phức tạp…

Ngoài ra còn phải đầu tư rất nhiều sức lực để chăm sóc và bảo vệ rừng trong cả một quá trình đầu tư dài hạn Thế nên chi phí đầu tư ban đầu cao mà lại phải chờ sau vài trục năm sau mới được thu hoạch sẽ không thu hút được các nguồn đầu tư nhất là đầu tư tư nhân Mặt khác những tư nhân và hộ gia đình vùng rừng núi thì thiếu điều kiện về vốn, lao động, kỹ thuật lâm sinh để đầu tư Các tư nhân ở thành phố hay ở nơi đã hội tụ đầy đủ các điều kiện phát triển đầu tư, thường không thích đầu tư vào rừng vừa lâu lại vừa rủi ro cao, lợi nhuận thấp, khó đánh giá được, thậm chí nhiều khi hết cả cuộc đời mà không được khai thác cây, không thu lại được vốn Chính vì vậy từ lâu nay nguồn vốn đầu tư trồng rừng chủ yếu là nguồn vốn ngân sách nhà nước Do

đó việc bảo vệ và phát triển rừng trong giai đoạn tới đòi hỏi nhà nước phải có chiến lược phát triển đồng bộ cũng như chiến lược thu hút nguồn vốn từ các thành phần khác tham gia đầu tư vào lâm nghiệp

* Khả năng sinh lợi thấp; thời gian thu hồi vốn lâu:

Trồng rừng trong khoảng thời gian dài không những gây tâm lý không muốn đầu tư là vì vốn đầu tư khê đọng lớn nên chịu nhiều sự biến động nền kinh tế và tự nhiên xã hội mà còn khả năng sinh lời của vốn đầu tư rất thấp Bởi rừng trồng ở những nơi có đất xấu khô cằn, vị trí địa lý, địa hình phức tạp, giao thông kém phát triển Nơi có điều kiện kinh tế kém phát triển, người dân sống chủ yếu dựa vào rừng, sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp Do đó vốn rừng trồng không những không được đầu tư mà còn bị khai thác bừa bãi đến khi đến tuổi khai thác thì sản lượng gỗ thấp giá trị kinh tế không cao (Keo, Bạch Đàn trong ba năm chi phí khoảng 3,8-5 triệu/ha sau 8-10 năm mới cho thu hoạch được từ 80-100 m3/ha khai thác Nếu đơn giá gỗ nguyên liệu bán ở

Trang 17

17

cửa rừng thì cũng chỉ bán được 300-550.000đồng/m3 như thế doanh thu chỉ đạt: 30-55 triệu đồng/ha trừ chi phí trồng và chăm sóc và công khai thác mất khoảng 8-10 triệu thì người trồng rừng được lời 3,7 triệu đồng đến 5,6 triệu đồng/ha/năm là thấp mà thời gian thu hồi vốn là quá lâu Đó là chưa tính đến những rủi ro như cháy rừng, sâu bệnh, bão lụt, hạn hán tàn phá

Do thời gian trồng rừng lâu nên thiếu vốn Do định kiến mà ngân hàng cho vay vốn để trồng rừng cũng chỉ là vay trung hạn ít được vay dài hạn Lãi suất vay trồng rừng hiện vẫn áp dụng là 8%/năm, nghĩa là sau 10 năm người vay trồng rừng phải trả gần gấp đôi cả vốn và lãi, hiệu quả lại thấp như nói ở trên nên hiện nay không ai dám vay để trồng rừng Người ta đánh giá rất thấp nghề trồng rừng, mà họ thường đổ xô đi vào trồng cao su, cà phê, tiêu và các cây ăn quả, tạo ra một sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nông nghiệp với sản xuất lâm nghiệp

Hơn nữa các nhà đầu tư thường nhìn nhận và đánh giá vai trò cũng như sắp xếp vị trí của các ngành theo tiền thuế doanh thu hay GO của ngành đó đối với nền kinh tế, do vậy mà ngành Lâm nghiệp bị xếp vào hàng kém, bị coi nhẹ và rất khó được các công ty nước ngoài - công ty liên doanh tham gia góp vốn đầu tư

Một điển hình cho một liên doanh trồng rừng ở Việt Nam bị thất bại là liên doanh trồng rừng giữa Việt Nam và Đài Loan ở Kiên Giang giữa công ty Nông lâm sản Kiên Giang với công ty lâm nghiệp Taipei (Đài Bắc) Sau 9 năm trồng rừng đã phải giải thể toàn bộ sản lượng gỗ Bạch Đàn của hơn 20.000ha rừng Bạch Đàn đã trồng tính giá trị trên lý thuyết chỉ đạt khoảng 19 triệu USD trong khi mọi chi phí bỏ ra đã lên tới 24-25 triệu USD và nhà nước Việt Nam đã đồng ý phải cho công ty quốc tế trồng rừng Kiên Tài (Kiên Giang - Đài Loan) được phép giải thể và bồi thường cho phía Đài Loan hàng trục triệu USD

Trang 18

18

* Hiệu quả kinh tế xã hội lớn:

Đầu tư trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội rất cao, nhưng thực

tế lại rất khó phân tích tổng hợp đánh giá được những con số về giá trị xã hội của nó, như bảo vệ môi sinh môi trường, tài nguyên thiên nhiên, chống xói mòn, lũ lụt, cung cấp nước cho sinh hoạt, cho thuỷ lợi, và phát điện Đầu tư trồng rừng mang lại những giá trị văn hoá, lịch sử to lớn, có khi để lại cho hàng nghìn năm sau những khu rừng rừng có giá trị về bảo tồn quỹ gien, bảo

vệ một động thực vật quý hiếm của rừng nhiệt đới như vườn Quốc gia Cát Tiên, Cúc Phương Đầu tư trồng rừng còn tạo điều kiện là tổ ấm cho những loài động vật hoang dại và động vật quý hiếm sinh sống và phát triển tránh được sự tuyệt chủng đang xảy ra ở nhiều nơi trên toàn thế giới

cả phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, không có một công thức phát triển chung cho quá trình đầu tư phát triển trong lĩnh vực lâm nghiệp đối với tất cả các nước Mỗi nước có cách đi riêng, tùy theo những đặc điểm, điều kiện cụ thể của mình, dưới đây là kinh nghiệm đầu tư phát triển lâm nghiệp ở Châu Á :

* Đầu tư phát triển lâm nghiệp ở Trung Quốc:

Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới Do đó, nền nông nghiệp Trung Quốc đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận

Trang 19

19

dụng nguồn lao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao Kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa đến nay, nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo hướng hiện đại hóa và bền vững Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cũng như hiệu quả lao động cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa Nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã có những bước thay đổi to lớn và đạt được những thành tựu đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện từng bước, một bộ phận dân cư đã có đời sống khá giả

Theo số liệu thống kê năm 1994, diện tích trồng rừng quốc gia để trồng rừng gỗ đạt 2.504.000 ha, chiếm 41,8% diện tích trồng rừng tổng cộng của Nhà nước của năm đó, nhưng 11% ít hơn so với các khu vực trồng rừng gỗ thành lập năm 1993, trong đó có 0,463 triệu ha đã được phát triển nhanh và cao sản lượng gỗ rừng trồng, 8,32% ít hơn so với năm 1993

Để đảm bảo sự phát triển rừng trồng gỗ mịn, Nhà nước đã sử dụng các kênh sau đây để đảm bảo tài chính cần thiết cho phát triển trồng rừng gỗ:

- Đầu tư theo quy hoạch của Nhà nước Trong những năm gần đây, Bộ Lâm nghiệp đã phân bổ 20-30 triệu nhân dân tệ để hỗ trợ thành lập doanh nghiệp của rừng trồng có năng suất cao và phát triển nhanh của Bộ và các địa phương Từ 1980-1986, 83.000.000 nhân dân tệ đã được đầu tư và 100.000 ha rừng trồng

- Địa phương đầu tư Một số tỉnh / khu tự trị và quận bố trí kinh phí hàng năm từ tài chính địa phương để thiết lập các đồn điền gỗ Ví dụ, ở tỉnh Quảng Đông, Sở Tài chính tỉnh đã phân bổ 12.910.000 nhân dân tệ mỗi năm trong những năm gần đây thành lập cơ sở trồng; ở tỉnh Hồ Bắc, RMB 13.000.000 nhân dân tệ (5 triệu USD từ các tỉnh, Ủy ban Quy hoạch và 8 triệu USD từ các tỉnh Sở Tài chính) đã được phân bổ giữa 1980-1985 để trồng rừng phát triển nhanh và năng suất cao

Trang 20

20

- Lâm nghiệp vay vốn từ các ngân hàng Nhà nước Gần đây trong năm nhiều tỉnh, huyện đã bố trí từ các khoản vay nông nghiệp một số tiền nhất định của quỹ là các khoản vay, lâm nghiệp và các lĩnh vực lâm nghiệp trả quyền lợi bằng cách sử dụng các quỹ cải tạo rừng tập thể và các khoản trợ cấp trồng rừng của Nhà nước Thực hành này đã được thông qua tại Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Liêu Ninh và Hồ Bắc Tỉnh Quảng Đông phát hành 10.000.000 nhân dân tệ của các khoản vay hàng năm và lâm nghiệp tỉnh Hồ Bắc đã phát hành 20.000.000 nhân dân tệ của các khoản vay lâm nghiệp giảm giá hàng năm từ năm 1984 Từ năm 1986, Nhà nước đã quyết định phát hành giảm giá các khoản vay trị giá 300 triệu nhân dân tệ cho các dự án lâm nghiệp trong đó 42% là dành cho thành lập các đồn điền trồng có năng suất cao

- Bộ sưu tập tiền hoàn lại cho các quỹ tái sinh Trong tỉnh Phúc Kiến 20-50% giá đăng nhập được khấu trừ của ngành lâm nghiệp như quỹ tái sinh này sẽ được trả lại cho người nộp sau khi tái sinh được hoàn tất Trong Tam Minh Địa, nơi thực hành đã chứng tỏ thành công, 80% tài trợ trồng rừng được cung cấp bởi các đơn vị sản xuất từ việc bán hàng đăng nhập của họ Trong Quận của tỉnh Giang Tây, 10 nhân dân tệ mỗi mét khối là trích từ nhật ký bán hàng là Quỹ tái sinh của chủ rừng được gửi vào tài khoản ngân hàng đặc biệt

và sự quản lý của Lâm quận Station cho các mục đích kỹ thuật lâm sinh Sử dụng sai là bị cấm Kể từ khi hệ thống như vậy được thông qua, về nhân dân

tệ 1,2-1.500.000 RMB có thể bị thu hồi mỗi năm quỹ lâm sinh

Đầu tư bằng gỗ đòi hỏi các ngành Kể từ năm 1980 một số gỗ đòi hỏi các vùng, lĩnh vực đã thực hiện các hoạt động trồng rừng liên doanh với tập thể nông thôn bằng các biện pháp đền bù thương mại nông lâm nghiệp hoặc liên doanh Trong hầu hết trường hợp, ngành gỗ yêu cầu cung cấp đầu tư và

kỹ thuật trong khi tập thể đóng góp lao động nông thôn; các gỗ do đó sản xuất phải cung cấp chủ yếu là các nhà đầu tư Đây là một thực hành cùng có lợi mà

Trang 21

dự án mà còn cung cấp một cơ hội tốt cho các Bộ Lâm nghiệp để tích lũy kinh nghiệm trong quản lý sự tham gia của nhiều tỉnh trong dự án của Hiệp hội Phát triển Quốc tế

Trong tháng sáu, năm 1988, chính phủ Trung Quốc yêu cầu Ngân hàng Thế giới cung cấp tài trợ và hợp tác để giới thiệu kỹ thuật tiên tiến để thành lập các đồn điền gỗ phát triển nhanh và năng suất cao ở 16 tỉnh/khu tự trị Quy mô trồng rừng trong giai đoạn đầu của dự án là 985.000 ha với tổng vốn đầu tư 2.357 triệu nhân dân tệ trong đó Ngân hàng Thế giới cho vay là

300 triệu USD Năm 1989, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, trong tài liệu của nó được mã hóa Nongjing (1989) số 245, phê duyệt đề xuất của Bộ Lâm nghiệp Liên quan đến các giai đoạn đầu của Dự án Xây dựng 6,7 triệu hecta của tăng trưởng nhanh và năng suất rừng trồng cao Căn cứ khi sử dụng Ngân hàng Thế giới và Quỹ đối tác vay trong nước Vào tháng 5, năm 1990, các cuộc đàm phán kỹ thuật đã được tiến hành giữa hai bên và sự đồng thuận đã đạt được Ngày 29 tháng 5 năm 1990, Ban Giám đốc Điều hành Ngân hàng Thế giới chấp thuận trên sẽ dự án Trồng rừng Quốc gia Trung Quốc (CR 2145-CHA) Trong tháng mười hai năm 1991, Bộ Lâm nghiệp gửi Ngân hàng Thế giới, theo các ý kiến và kiến nghị của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, các

đề xuất để phát triển tài nguyên rừng và bảo vệ dự án (FRDPP) Bộ lâm

Trang 22

22

nghiệp tổng hợp các nghiên cứu khả thi của phát triển tài nguyên rừng và bảo

vệ dự án và đệ trình vào tháng Hai năm 1994 đến Ủy ban Kế hoạch Nhà nước phê duyệt Quy mô của FRDPP là 900.000 ha với thời gian dự án của 6 năm (trong đó có 2 năm để chăm sóc cây mới trồng) và đầu tư tổng cộng 2.900 triệu nhân dân tệ trong đó Ngân hàng Thế giới cho vay là 200 triệu USD Nó chứng minh rằng cơ sở của gỗ rừng trồng tăng trưởng nhanh và năng suất cao

là một thước đo thực tế và chiến lược xây dựng nguồn tài nguyên rừng, giảm

từ nguồn tài nguyên và khủng hoảng kinh tế, giảm thiểu không phù hợp giữa nhu cầu gỗ và cung cấp, duy trì và cải thiện hệ sinh thái và môi trường nói chung

Mục tiêu tổng thể phát triển trồng rừng gỗ ở Trung Quốc có những vùng rừng hiện có và các quận lâm nghiệp làm cơ sở trọng điểm, ưu tiên chuyển đổi, tái tạo và cải thiện chất lượng thấp đứng hiện có, khoanh nuôi tái sinh kết hợp với chăm sóc cây mới trồng non tuổi và trung bình, thông qua phương pháp tiếp cận quản lý chuyên sâu và định hướng Vùng có điều kiện thuận lợi được lựa chọn để được nhanh chóng phát triển và năng suất cao gỗ rừng trồng Quy mô tổng thể theo kế hoạch sẽ được 40.350.000 ha rừng trồng

gỗ, trong đó có 27.660.000 ha rừng trồng tăng trưởng nhanh và năng suất gỗ cao Việc nhanh chóng phát triển mới và gỗ rừng trồng có năng suất cao chương trình phát triển sẽ được thực hiện trong 3 giai đoạn:

- Trong kế hoạch năm năm lần thứ IX giai đoạn (1996-2000), 3.340.000 ha được quy hoạch trong đó trồng mới được 1.550.000 ha, trồng và chăm sóc cây từ 1 đến 2 tuổi 1.130.000 ha, khoanh nuôi tái sinh của các vùng

đã lựa chọn được 0,66 triệu ha;

- Từ năm 2001 đến năm 2010, 6.390.000 ha được quy hoạch, trong đó mới phát triển nhanh và gỗ rừng trồng có năng suất cao được 3.450.000 ha, chuyển đổi rừng hiện có vào và năng suất cao được trồng phát triển nhanh 1.060.000 ha và trồng rừng phát triển nhanh và năng suất cao được 1.880.000 ha;

Trang 23

23

1.1.2.2 Đầu tư phát triển lâm nghiệp ở Việt Nam

Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Chính phủ

đã quan tâm đến đầu tư cho lâm nghiệp, nhất là thời kỳ hoà bình sau năm

1954 Đất nước trải qua 3 giai đoạn chiến tranh, phục hồi đất nước sau chiến tranh và đổi mới đến nay Mỗi thời kỳ đều có đầu tư, trong chiến tranh chủ yếu tập trung khai thác gỗ phục chiến tranh, sau hoà bình vừa khai thác gỗ cho xây dựng vừa khôi phục lại rừng đã mất Nhưng trong gần 20 năm đổi mới, lâm nghiệp đã được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư lớn nhất, nhiều chương trình, dự án (327, 661 và nguồn hỗ trợ ODA) đã mang lại những kết quả khả quan trên các lĩnh vực bảo vệ rừng, tạo rừng mới và đổi mới nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến việc quản lý và phát triển rừng

Đã phủ xanh phần lớn diện tích đồi trọc, tạo ra một số vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản góp phần bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế miền núi Đầu tư phát triển lâm nghiệp đã tác động chung đến những lĩnh vực đầu tư cụ thể sau:

Về quản lý và bảo vệ rừng: Đã bố trí quản lý bảo vệ trên 12.461 triệu

ha diện tích rừng hiện có, trong đó trực tiếp giao khoán bảo vệ rừng 2,4 triệu

ha, còn lại do các doanh nghiệp, ban quản lý, các khu rừng đặc dụng, chính quyền các cấp và lực lượng kiểm lâm bố trí quản lý Các địa phương đã tích cực triển khai công tác phòng chống cháy rừng, diện tích rừng bị cháy đã giảm Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, khai thác rừng còn xảy ra chưa được giải quyết cơ bản, từ năm 2001- 2003 diện tích rừng bị phá, cháy 57.482 ha (tài liệu kiểm toán nhà nước báo cáo 25/01/2005)

Hệ thống rừng đặc dụng quốc gia đã cơ bản hình thành, 126 khu rừng (28 vườn quốc gia) với 2.541.675 ha đã được xác định ranh giới trên bản đồ

và thực địa và hình thành 81 ban quản lý để bảo vệ và triển khai đầu tư nhằm

Trang 24

24

bảo tồn thiên nhiên và nguồn gen quý hiếm Tồn tại lớn nhất của hệ thống rừng đặc dụng là trách nhiệm quản lý còn chồng chéo, đầu tư thấp và có 20 khu chưa có chủ quản lý

Xây dựng rừng:Từ những đổi mới về chính sách lâm nghiệp, năm 2004

và những năm gần đây, ngành lâm nghiệp đã có những tiến bộ đáng kể Hoạt động lâm nghiệp đã thực sự chuyển từ lấy quốc doanh làm chính sang phát triển lâm nghiệp xã hội với nhiều thành phần kinh tế tham gia Đã áp dụng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, tiến độ trồng rừng cả nước trước đây bình quân 50.000 ha/năm, gần đây bình quân 200.000 ha/năm Tính đến 31/12/2009 diện tích rừng cả nước là 13,3 triệu ha,( theo Quyết định số 2140/QĐ-BNN-TCLN) góp phần nâng độ che phủ của rừng cả nước từ 37,7% ( năm 2005), lên 39,1% năm 2009 Vùng Tây Bắc từ 39,3% (năm 2005) lên

42 % (năm 2009)

Đầu tư lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản xuất khẩu:Cả nước có khoảng

169.000 cơ sở chế biến gỗ, trong đó có 1.200 doanh nghiệp và trên 300 doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thu hút trên nửa triệu lao động, tạo ra hàng vạn việc làm và góp phần xuất khẩu trên 1 tỷ USD năm 2004 và khả năng năm 2005 đạt 1,5 tỷ USD Đầu tư cho chế biến chủ yếu huy động nguồn vốn tư nhân và FDI, Nhà nước chỉ đầu tư một số cơ sở công nghiệp lớn như nhà máy Giấy, ván MDF, ván dăm Riêng ngành công nghiệp giấy Việt Nam

đã có những bước phát triển đáng kể, mức tăng trưởng về tiêu dùng giấy và các sản phẩm giấy vượt so với dự báo và mức tăng trưởng sản lượng các sản phẩm giấy cũng vượt so với kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ giao, thể hiện qua các số liệu sau :

Về công suất và sản lượng giấy toàn ngành:

- Năm 2000 đạt 408.000 tấn, vượt 108.000 tấn so với mục tiêu là 300.000 tấn

Trang 25

Các lĩnh vực khác:Trước thời kỳ đổi mới, Nhà nước cấp vốn đầu tư cho

mở đường lâm nghiệp phục vụ vận chuyển lâm sản, khai thác gỗ và trồng rừng Từ 1964 đến hết năm 1993, hơn 6.000 km đường được mở vào vùng sâu, vùng xa tạo thành mạng lưới giao thông để hiện nay Nhà nước tiếp tục đầu tư nâng cấp và nối với các xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135

Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, khai thác gỗ giảm nên việc đầu tư mở đường lâm nghiệp không còn như trước, chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (327) và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng chỉ cho 5% vốn của dự án cho đầu tư hạ tầng Tuy nhiên, các dự án vay ODA, đường tuần tra bảo vệ trong các khu rừng đặc dụng, đường chống cháy rừng trong dự án trồng rừng đang được đầu tư phục vụ lâm nghiệp và dân sinh miền núi Nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, giống lâm nghiệp đang được nhà nước quan tâm đầu

tư, tạo thành hệ thống lâm nghiệp trong cả nước

Về vốn đầu tư: Trong 5 năm gần đây (2001-2005), mức đầu tư lâm

nghiệp có tăng nhưng chưa đáp ứng, ngân sách đạt khoảng 70% nhu cầu, vốn tín dụng đầu tư trồng rừng sản xuất thấp do chưa có cơ chế đầu tư hợp lý

Ước tổng số vốn thực hiện của dự án là: 8.987 tỷ đồng

Ngân sách TƯ: 2.913 tỷ đồng, bằng 32,5,% tổng mức

Ngân sách địa phương: 6.074 tỷ đồng, bằng 67,5% tổng mức

Việc quản lý vốn và cấp phát vốn đầu tư ngân sách được thực hiện khá chặt chẽ Sau khi có Nghị định 106/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 của Chính phủ thì trồng rừng sản xuất không được đưa vào đối tượng vay qua Quỹ phát triển đầu tư, sang năm 2005 mới được Chính phủ bổ sung

Trang 26

26

Xu hướng đầu tư lâm nghiệp trong thời gian tới Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn đang tiến hành xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp đến năm 2020, hướng đầu tư lâm nghiệp sẽ tập trung vào những lĩnh vực sau:

- Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,2 triệu

ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích có rừng ổn định là 14,3 triệu ha, đảm bảo nâng độ che phủ của rừng lên mức 43%

- Quy hoạch hợp lý, quản lý và sử dụng có hiệu quả hệ thống rừng phòng hộ trên dưới 6 triệu ha và rừng đặc dụng 2,3 triệu ha Hai loại rừng này

sẽ xây dựng bản đồ chi tiết, cắm mốc ngoài thực địa, xây dựng Atlat Bố trí để mỗi khu rừng đều có ban quản lý, có dự án đầu tư, nguồn đầu tư chủ yếu từ ngân sách, ngoài ra sẽ thu từ một phần khai thác lâm sản từ rừng phòng hộ, du lịch và môi trường từ rừng đặc dụng để tái đầu tư lại Đầu tư trồng rừng khoảng 390.000 ha, đầu tư từ 2006 - 2010 khoảng 3.961 tỷ đồng

- Dự kiến tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp (bao gồm cả công nghiệp chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường) từ 4 đến 5% hàng năm

Để đạt chỉ tiêu này cần ổn định 2,4 - 2,6 triệu ha diện tích rừng trồng sản xuất, 4 triệu ha rừng tự nhiên và trồng 200 triệu cây phân tán mỗi năm, tạo ra 20 triệu m3/năm, đạt kim ngạch xuất khẩu lâm sản 4 tỷ USD, đầu tư từ 2006-2010 khoảng 33.864 tỷ đồng (trong đó lâm sinh 23.436 tỷ đồng, chế biến 10.428 tỷ đồng)

- Cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng thông qua xã hội hoá và đa dạng hoá các hoạt động lâm nghiệp Tạo công ăn việc làm, nâng cao nhận thức, năng lực và mức sống của người dân, đặc biệt chú ý đồng bào các dân tộc ít người, các hộ nghèo và phụ nữ ở các vùng sâu, vùng xa để từng bước tạo cho người dân làm nghề rừng có thể sống được bằng nghề rừng, góp phần xoá đói giảm nghèo và giữ vững an ninh quốc phòng

Trang 27

27

- Tập trung nghiên cứu một số lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ sinh học, công nghệ tinh chế lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng cao sản, nông lâm kết hợp và một số nghiên cứu cơ bản cho rừng tự nhiên Đào tạo chính quy bình quân mỗi năm khoảng 5.000 sinh viên, nâng số lao động lâm nghiệp được đào tạo nghề lên 50%

- Bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học nhằm đóng góp

có hiệu quả cho phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển và đô thị, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường

1.2 PHƯƠNG PHÁP NHIÊN CỨU

1.2.1 Các câu hỏi đặt ra mà luận văn cần giải quyết

- Sau 5 năm (2005 – 2009) đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp của 4 tỉnh Tây Bắc Bộ đã đạt được kết quả như thế nào? (tốc độ tăng trưởng;

cơ cấu vốn của ngành và của 4 tỉnh Tây Bắc Bộ; những vấn đề nào còn tồn tại, hạn chế …)

- Những nguyên nhân nào đưa đến kết quả trên và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế?

- Đặc thù và thế mạnh của lâm nghiệp 4 tỉnh Tây bắc Bộ hiện nay là gì?

- Hướng phát triển của lâm nghiệp 4 tỉnh Tây Bắc Bộ trong những năm tới là gì?

- Những giải pháp nào là quan trọng để thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp?

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.2.1 Cho ̣n đi ̣a điểm nghiên cứu

Vù ng Tây Bắc bao gồ m có 4 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, Điê ̣n Biên, là các tỉnh miền núi biên giới, địa hình cao dốc, chia cắt phức tạp Nơi thượng nguồn các con sông lớn: sông Đà, sông Mã, sông Nâm Rốm, sông Bôi

Trang 28

28 với tổng diện tích tự nhiên là 3.744,5 nghìn ha Trong đó diện tích đồi núi của tiểu vù ng Tây Bắc chiếm tới 80% tổng diện tích tự nhiên

1.2.2.2 Thu thập số liệu

a - Thu thập số liệu đã công bố

Thu thập và tính toán từ những số liệu đã công bố của các cơ quan thống kê Trung ương, các báo chí chuyên ngành và những báo cáo khoa học

đã được công bố, các số liệu đã công bố của Cục Thống kê các tỉnh, các số liệu của các sở Nông nghiệp và PTNT, sở Kế hoạch và Đầu tư 4 tỉnh trên địa bàn nghiên cứu

b - Thu thập số liệu mới

Được thực hiện qua các phương pháp sau:

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Đi thực tế để đánh giá thực trạng, thu thập những thông tin qua những người dân và cán bộ ở vùng nghiên cứu, thu thập những tài liệu, thông tin đã có tại nơi nghiên cứu

- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Trực tiếp tiếp xúc với người dân tại nơi nghiên cứu, tạo điều kiện và thúc đẩy sự tham gia của người dân vào những vấn đề cần nghiên cứu, đàm thoại với họ để thu thập những thông tin nhằm nắm được thực trạng sản xuất, những khó khăn, mong muốn, của người dân trong việc phát triển sản xuất, tăng thu nhập của hộ,

1.2.2.3 Phương pháp phân tích

- Phương pháp duy vật biện chứng:

Phương pháp chung và tổng quát cho toàn bộ luận văn là sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các lý luận kinh tế học Với các phương pháp phân tích, tổng hợp, suy diễn và quy nạp sẽ giúp xem xét, đánh giá các sự việc, hiện tượng trong mối liên hệ hệ thống có liên quan,

có tác động ảnh hưởng đến nhau trong quá trình chuyển biến và phát triển, từ

Trang 29

29

đó rút ra những kết luận có tính chất quy luật, thực chất và bản chất của từng vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở các lý luận, phạm trù kinh tế học hiện nay, luận văn còn sử dụng các quan điểm về lợi thế, tiềm năng, nguồn lực, các yếu tố đầu vào, đầu ra, năng suất, sản lượng, chi phí và kết quả, hiệu quả kinh tế,

- Phương pháp thống kê kinh tế:

Phương pháp này giúp cho việc thu thập điều tra được những tài liệu mang tính đại diện cao, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, nghiên cứu các chỉ tiêu được đúng đắn, khoa học và khách quan, phản ánh đúng nội dung kinh tế cần nghiên cứu Các phương pháp phân tổ, số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân trong thống kê được vận dụng như là những phương pháp chủ yếu để nghiên cứu, học tập

- Phương pháp chuyên gia:

Được sử dụng nhằm tranh thủ ý kiến đánh giá của các chuyên gia về kinh tế, kỹ thuật, thông qua các tài liệu nghiên cứu và ý kiến trực tiếp của học làm căn cứ cho việc đánh giá tiềm năng, định hướng và những giải pháp cho đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp 4 tỉnh

1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

1.2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh phân bổ và hiệu quả sử dụng vốn

- Giá trị vốn đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc

- Giá trị vốn của nguồn vốn đầu tư phát triển lâm nghiệp của 4 tỉnh

- Giá c trị vốn đầu tư vào các lĩnh vực đầu tư (Lâm sinh; Cơ sở hạ tầng;

Sự nghiệp lâm nghiệp …)

- Giá trị vốn đầu tư theo chức năng rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất)

- Giá trị vốn đầu tư vào lĩnh vực lâm sinh (trồng, chăm sóc,bảo vệ và khoanh nuôi rừng…)

Trang 30

30

1.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển lâm nghiệp

- Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của từng tỉnh và vùng

- Diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo chức năng rừng

- Diện tích rừng trồng tập trung và trồng cây phân tán

- Diện tích đất có rừng và độ che phủ của rừng

- Trữ lượng các loại rừng …

Trang 31

31

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀO LĨNH VỰC LÂM

NGHIÊ ̣P VÙNG TÂY BẮC GIAI ĐOẠN 2005 - 2009

2.1 ĐIỀU KIÊ ̣N TỰ NHIÊN VÙNG TÂY BẮC

2.1.1 Vị trí địa lý:

4 tỉnh Tây Bắc Bô ̣ Viê ̣t Nam gồm tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Điê ̣n Biên là vùng núi cao biên giới phía Tây Bắc có toa ̣ đô ̣ đi ̣a lý: 21051’ -

22049’ vĩ đô ̣ Bắc và 102019’ - 105002’ kinh đô ̣ Đông

- Phía Bắc: Giáp với nước CHND Trung Quốc

- Phía Nam: giáp với tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, CHDCND Lào,

- Phía Đông: giáp với Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nội

- Phía Tây và Tây Nam: giáp CHDCND Lào

2.1.2 Địa hình, địa thế:

4 tỉnh Tây Bắc Bộ Viê ̣t Nam (vùng Tây Bắc) là vùng núi cao, biên giới phía Tây Bắc của Việt Nam, nơi thượng nguồn ba con sông lớn: sông Đà, sông Mã, sông Nâm Rốm, với tổng diện tích tự nhiên là 3.744,5 nghìn ha Trong đó diện tích đồi núi của vùng Tây Bắc chiếm tới 80% tổng diện tích tự nhiên Có kiểu địa hình về núi cao và núi trung bình, gồm nhiều dãy núi chạy dài và nghiêng dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam theo dòng chảy của sông

Mã và sông Đà Vùng Tây Bắc được bao bọc bởi những hệ dông cao, hiểm trở với đặc thù riêng biệt, độ cao bình quân toàn vùng từ 800 - 1.000 m, độ dốc bình quân > 300 Đây là một trong những trở ngại lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội trong đó có lâm nghiệp trên địa bàn Nhưng có hai cao nguyên tương đối bằng phẳng và rộng lớn đó là Mộc Châu và Nà Sản Các cao nguyên này tương đối thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiêp, cây

ăn quả, cây lâm nghiệp và phát triển đàn gia súc

Trang 32

32

2.1.3 Khí hậu:

Vùng Tây Bắc nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, từ tháng 4 đến tháng 9, mùa đông lạnh, khô hanh, mưa ít, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

Vù ng Tây Bắc có mùa đông lạnh, khô có gió Tây khô nóng và sương muối (ở các thung lũng), mùa hè đến sớm hơn các vùng khác, nóng ẩm, mưa nhiều Nhiê ̣t đô ̣ trung bình năm 21,4oC (nhiệt đô ̣ trung bình cao nhất là 27oC, nhiệt đô ̣ trung bình thấp nhất là 16oC) Lượng mưa dao động từ 1.108mm (Yên Châu) đến 3.000mm/năm (Mường Tè)

Nhìn chung khí hậu vùng này thích hợp để phát triển một số tập đoàn cây trồng, vật nuôi phong phú, nhất là phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp Tuy nhiên hoạt động sản xuất Lâm nghiệp cần phải bố trí sản xuất cho phù hợp để tránh các yếu tố bất lợi của khí hậu thời tiết gây ra đối với cây trông; đồng thời phải coi trọng công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô, nhất là cuối mùa khô và đầu mùa gió Lào

2.1.4 Thuy ̉ văn, sông ngòi:

Vù ng Tây Bắc có hệ thống sông lớn chính chảy qua: sông Đà, sông Mã, sông Nậm Rốm, sông Bôi Bên ca ̣ch các con sông lớn, Tây Bắc còn có hê ̣ thố ng sông suố i lớ n nhỏ, phân bố khắp vùng Sông suối vùng Tây Bắc có độ dốc lớn, trắc diện hẹp nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn Trên địa bàn vùng có gần 200 điểm xây dựng được thuỷ điện vừa và nhỏ với tổng công suất 134.000KW, trong đó có 21 công trình có công suất trên 1.000KW Đặc biệt trên sông Đà sẽ hình thành công trình thuỷ điện Sơn La với công suất 2.400

MW, Thuỷ điê ̣n Lai Châu 1.200MW Trong tương lai trên địa bàn sẽ hình thành công trình thuỷ điện Nâm Nhùn - Nậm Na với công suất 300-1.000MW Bên cạnh đó còn có rất nhiều hồ chứa (chưa kể hồ thuỷ điện Hoà Bình), và tài nguyên nước ngầm chứa trong các kẽ nứt đá như nước ngầm

Trang 33

33

Kasstơ, đây là nguồn nước quan trọng cung cấp nước cho sản xuất và một phần cho sinh hoạt Nguồn tài nguyên nước ở vùng Tây Bắc rất dồi dào và phong phú nhưng chưa được khai thác sử dụng được nhiều để đóng góp cho nền kinh tế của vùng và đất nước

2.1.5 Đất đai, thổ nhươ ̃ng:

Đất ở vùng Tây Bắc đa dạng và phức tạp Trong vùng có 6 nhóm và 24 loại đất Phổ biến ở đây là các nhóm đất đỏ vàng, mùn vàng đỏ trên núi và đất mùn trên núi cao Các nhóm đất còn lại: đất đèn, đất phù sa, đất dốc tụ thung lũng chiếm diện tích rất nhỏ so với diện tích đất tự nhiên của vùng

Nhìn chung đất đai trên địa bàn vùng Tây Bắc còn tương đối tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả…tạo cho tỉnh có lợi thế về tập đoàn cây trồng phong phú Song, do tỉnh có địa hình cao dốc, lại nằm trong vùng mưa nhiều, lượng mưa tập trung, trong khi độ che phủ của thảm thực vật thấp, nên đất đai bị xói mòn, rửa trôi mạnh Vì vậy cần phải có biện pháp hữu hiệu để đẩy nhanh tiến độ phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường, bảo vệ đất

Đất lâm nghiệp

Đất chuyên dùng

Trang 34

34

Từ bảng số liệu cho thấy đất chưa sử dụng vùng Tây Bắc có diện tích 1.241,8 nghìn ha chiếm 33,16% tổng diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp có diện tích là 1.845,3 nghìn ha chiếm 49,28% đất tự nhiên, thực trạng sử dụng đất đó là do hiện nay đất của các hộ nông dân đang chiếm dụng là hợp pháp hay không hợp pháp Ngành địa chính hiện nay cũng bất cập trước yêu cầu này, tỷ lệ đất đồi núi được giao cấp giấy chứng nhận còn thấp; đất hoang hóa mênh mông không làm gì, nhưng sờ vào đâu cũng có chủ, cũng có người hiện giữ lại: nào là đất của ông tôi để lại, nào là tôi sẽ làm (trong hoàn cảnh nương rẫy) Tình trạng nương rẫy cũ, sản xuất manh mún xen kẽ cũng phổ biến Như vậy “đất của một hộ” mà luôn luôn họ muốn giữ lại đó bao nhiêu không ai biết Sự chiếm hữu không hợp pháp hay hợp pháp đó cũng chưa bao giờ được giải quyết Trong 4.508,6 nghìn ha (cả nước) đất trống đồi núi trọc hiện nay nếu phân chia theo sự chiếm hữu này thì từng loại hình một như chiếm giữ hợp pháp, bất hợp pháp bao nhiêu, còn lại của công cũng phải được làm rõ trong giao đất giao rừng thì mới nói triển khai trồng rừng theo qui hoạch kế hoạch được Đây là thách thức không nhỏ trong đầu tư phát triển cho lâm nghiệp trong vùng những năm tới

BẢNG 2.2 CƠ CẤU SỬ DU ̣NG ĐẤT

Đơn vi ̣:%

Đơn vi ̣ hành

chi ́nh

Tổng diện tích

Đất nông nghiệp

Đất lâm nghiệp

Đất chuyên dụng

Nguồn Niên giám thống kê 4 tỉnh

Theo cơ cấu hiện trạng sử dụng đất cho thấy đất lâm nghiệp trong toàn

bộ diện tích đất tự nhiên Tây Bắc chiếm tỷ trọng cao nhất, đặc biệt là Điện

Trang 35

35

Biên 65,12%, thấp nhất là Lai Châu 43,75% Nhưng cả vùng đều có diện tích đất lâm nghiệp cao so với tất cả các loại đất khác, gấp hơn hai lần đất nông nghiệp Điều đó chứng tỏ rừng lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của người dân nơi đây

2.1.6 Ta ̀i nguyên rừng

Vù ng Tây Bắc có tổng diê ̣n tích tự nhiên là 3.744,5 nghìn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiê ̣p có rừng là 1.572,5 nghìn ha Diê ̣n tích rừng tự nhiên

là 1.422,4 nghìn ha, rừng trồng là 150,1 nghìn ha

Rừ ng vùng Tây Bắc có số lươ ̣ng đô ̣ng thực vâ ̣t phong phú đa da ̣ng, nhiều loại lâm sản có giá tri ̣, mô ̣t số loài đă ̣c hữu có trong sách đỏ cần được

bảo vê ̣ và đang được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước rất quan tâm Phần lớ n tài nguyên rừng có giá tri ̣ nằm trong những khu rừng tự nhiên thuô ̣c

các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia như: Khu bảo tồ n Hang Kia -

Pà Cò, Xuân Nha, Mường Nhé

Tây Bắc là vùng kinh tế tro ̣ng điểm của vùng Trung du và miền núi phía bắ c, nên công tác phát triển lâm nghiê ̣p có vai trò quan tro ̣ng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hô ̣i, bảo vê ̣ môi trường sinh thái cho toàn vùng Tây Bắc

cò n được coi như mái nhà của vùng đồng bằng Sông Hồng và thủ đô Hà Nô ̣i

2.2 ĐIỀU KIÊ ̣N KINH TẾ - XÃ HỘI

2.2.1 Điều kiê ̣n kinh tế:

Từ năm 2006 đến nay, các 4 tỉnh vùng Tây Bắc đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm liên tục, GDP bình quân giai đoạn 2006- 2009 đạt 16,2%/năm Năm 2009 đạt 9.863,8 tỷ đồng, tăng gấp 1,54 lần so năm 2006 Kinh tế của các tỉnh phát triển tương đối toàn diện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp - thuỷ sản Đến năm 2009, 4 tỉnh vùng Tây Bắc có cơ cấu công nghiệp xây dựng 23,7%, Dịch vụ 33,7% và Nông lâm nghiệp thuỷ sản 42,6%

Trang 36

36

GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 3,6 triệu đồng, tăng 1,5 lần so năm 2006 (giá so sánh năm 1994), tính theo giá thực tế năm 2009 đạt 9,74 triệu đồng, thấp hơn mức trung bình cả nước là 19,79% (GDP bình quân đầu người năm 2009 của cả nước là 19.278 nghìn đồng)

Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm tăng nhanh, năm 2009 đạt 2.445,6 tỷ đồng, gấp 2,43 lần so năm 2006

Thu ngân sách của các tỉnh tăng nhanh và mức độ tích luỹ trong dân cư khá đã tạo điều kiện huy động các nguồn vốn vào đầu tư cho sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn

Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh được đầu tư mạnh mẽ:

hệ thống đường giao thông từ quốc lộ đến giao thông nông thôn được nâng cấp, cải tạo; Hệ thống điện được đầu tư mới đã nâng cao công suất cung cấp điện, đáp ứng đầy đủ cho sản xuất và tiêu dùng; Hệ thống trường học, trạm y

tế, chợ, thuỷ lợi đê điều, các công trình trụ sở của các cơ quan Nhà nước từ tỉnh đến cơ sở được xây dựng mới, đã làm thay đổi bộ mặt tỉnh lỵ và vùng nông thôn miền núi các tỉnh vùng Tây Bắc, tạo điều kiện phát triển sản xuất

và nâng cao đời sống của nhân dân

Trang 37

BQ (%)

1 Gia ́ tri ̣ tăng thêm trên đi ̣a bàn

theo gia ́ thực tế

Tỷ đồng 13.440,8 16.883,1 21.860,8 26.655,0 25,7

- Công nghiê ̣p - xây dựng nt 2.820,1 3.547,3 5.072,2 6.316,2 31,1

- Di ̣ch vu ̣ nt 4.547,8 5.990,4 7.279,7 8.994,3 25,6

- Nông lâm nghiê ̣p, thuỷ sản nt 6.072,9 7.345,4 9.508,9 11.344,6 23,2

2 Gia ́ tri ̣ tăng thêm trên đi ̣a bàn

theo gia ́ so sánh năm 1994

Tỷ đồng 6.397,8 8.009,2 7.925,2 9.863,8 16,2

- Công nghiê ̣p - xây dựng nt 1.558,4 1.888,4 2.313,1 2.713,3 20,3

- Di ̣ch vu ̣ nt 1.636,2 2.811,8 2.226,7 3.623,3 37,9

- Nông lâm nghiê ̣p, thuỷ sản nt 3.203,2 3.309,0 3.385,4 3.527,3 3,3

3 Cơ cấu kinh tế (giá thực tế) % 100,0 100,0 100,0 100,0

- Công nghiê ̣p - xây dựng % 21,0% 21,0% 23,2% 23,7%

- Nông lâm nghiê ̣p, thuỷ sản % 45,2% 43,5% 43,5% 42,6%

4 Tổng thu ngân sa ́ ch trên đi ̣a bàn đồng Tỷ 1.003,4 1.374,4 1.760,8 2.445,6 34,7

5 Tổng chi ngân sa ́ ch đi ̣a phương đồng Tỷ 7.219,5 9.850,6 11.911,1 13.029,0 22,2

- Giá so sánh năm 1994 nt 2,36 2,91 2,94 3,60 15,5

Nguồn: Niên giám thống kê 4 tỉnh

2.2.2 Điều kiê ̣n xã hô ̣i

2.2.2.1 Dân tộc, dân số:

Dân tộc và tập quán: Trên địa bàn vùng Tây Bắc có hơn 30 dân tộc

cùng chung sống xen kẽ hoà thuận Nhưng xét về mặt địa hình có thể phân thành 3 nhóm:

Vùng thấp là nơi cư trú của người Kinh, Thái, Mường…

Trang 38

38

Vùng giữa là các dân tộc Hà Nhì, Khơ Mú…

Vùng cao là nơi cư trú của các dân tộc H’mông, Dao, Lô lô…

Những năm gần đây thực hiện đường lối đổi mới, sản xuất nông nghiệp chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hoá, đồng bào các dân tộc đã nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò của rừng đối với sản xuất và đời sống Nhiều dân tộc đã chuyển từ phá rừng làm nương trước đây sang nhận đất để trồng rừng, làm trang trại, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc, đời sống từng bước được cải thiện Tuy nhiên, hiện vẫn còn một bộ phận đồng bào các dân tộc vùng cao còn sống du canh du cư như dân tộc: H’Mông, Dao,

La Hủ…

Trên vùng cao có nhiều dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam cùng sinh sống Mỗi dân tộc có một quá trình lịch sử hình thành và tích luỹ ý thức hệ riêng nên đã hình thành những phong tục, lễ nghi, lối sống riêng khá đặc trưng Bên cạnh những nét đẹp truyền thống trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng làng bản, lễ hội, ca hát cần tiếp tục được phát huy, vẫn còn nhiều tập tục lạc hậu trong ma chay, cưới xin, kiêng kỵ gây lãng phí lớn cả tiền của và sức lao động, do vậy nó phải nhanh chóng được cải tiến và đổi mới cho phù hợp với sự phát triển xã hội và nếp sống văn minh tiến bộ

Dân số: Tổng dân số ở vùng Tây Bắc 2.737,2 nghìn người năm 2009

Tỷ lệ tăng dân số hàng năm của toàn vùng là 0,79%, trong đó cao nhất là Lai Châu là: 2,97% Mật độ dân số bình quân: 85 người/Km2, trong đó tỉnh có mật độ dân số thấp nhất toàn quốc đó là Lai Châu, cụ thể là huyện Mường Tè bình quân 14 người/km2.Tuy nhiên, sự thiếu đói cùng với sự tăng dân số cao; như cầu gỗ, lâm sản và chất đốt (tập quán sử dụng) của đồng bào các dân tộc vùng cao đang là sức ép đối với rừng và đất trên địa bàn

Trang 39

39

2.2.2.2 Lao động:

Tổng số lao động của vùng Tây Bắc năm 2009 là 1.597,8 nghìn người chiếm 58,3% tổng số dân số, trong đó lao động trong ngành nông lâm nghiệp chiếm 78,8% tổng lao động Đây là lực lượng lao động dồi dào có thể huy động tham gia xây dựng và phát triển rừng trên địa bàn Nếu cân đối đủ lao động cho nông lâm nghiệp và các ngành khác thì hàng năm có thể huy động

từ 80.000- 100.000 lao động Song ở đây chủ yếu là lao động giản đơn, lao động có trình độ kỹ thuật, tay nghề vẫn thiếu nhiều

BẢNG 2.4: DÂN SỐ, LAO ĐỘNG VÙNG TÂY BẮC PHÂN THEO CÁC

TỈNH GIAI ĐOẠN 2005 - 2009

Lao động NLN 1.162,7 1.184,9 1.208,1 1.223,4 1.256,3

Nguồn: Niên giám thống kê 4 tỉnh

Trang 40

40

2.2.2.3 Cơ sơ hạ tầng và xã hội:

* Giao thông:

Đường bộ: Ngoài các tuyến quốc lộ 6, 12, 32, 4D nối Tây Bắc với các

Tỉnh là có chất lượng khá tốt Các tuyến khác, cầu cống đều hư hỏng, chất lượng kém, mật độ đường bình quân đạt 0,1 km/ km2 Đặc biệt một số khu vực không có đường dân sinh, chỉ có đường mòn

Nhìn chung đường bộ ở vùng Tây Bắc thuộc loại xấu, một phần do địa hình, một phần ít được sự quan tâm đầu tư của nhà nước Do vậy rừng núi xa trung tâm, xa đường giao thông, điều này gây khó khăn cản trở trong việc phát triển lâm nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung

Đường thuỷ: Tây Bắc có hệ thống sông Đà, sông Nậm Rốm, sông Mã

Tuy nhiên, hiện nay chỉ có đường thủy trên sông Đà từ Hòa Bình lên Sơn La, còn hầu hết sông, suối có địa hình dốc cao, hiểm trở có nhiều thác ghềnh, chưa được khai thác và sử dụng

Đường hàng không: Vùng Tây Bắc có sân bay Điện Biên Phủ với năng

lực vận chuyển 40.000-50.000 khách/ năm Song mới phát huy ở mức độ thấp, chủ yếu đóng vai trò quốc phòng an ninh Ngoài ra còn có sân bay Nà Sản được xây dựng từ thời Pháp thuộc, hiện đang được ngành hàng không sửa chữa nâng cấp, máy bay dân dụng có thể lên xuống bình thường

Nhìn chung hệ thống giao thông trên địa bàn còn kém phát triển, đặc biệt là giao thông nông thôn miền núi, đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh trong đó có phát triển lâm nghiệp

* Y tế: Trên địa bàn vùng Tây Bắc hiện có 40 bệnh viện, 72 phòng

khám, 613 trạm xá Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở xã, bản đã được củng cố phát triển, 100% xã có trạm xá và cán bộ y tế Các cơ sở y tế này càng ngày càng khang trang, từng bước đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Các mục tiêu chương trình y tế quốc gia thực hiện đạt kết quả tốt Tuy nhiên,

Ngày đăng: 19/09/2017, 09:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Cơ cấu vốn đầu tư lâm nghiệp giai đoạn 2005 – 2009 - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
Hình 2.1 Cơ cấu vốn đầu tư lâm nghiệp giai đoạn 2005 – 2009 (Trang 44)
BẢNG 2.6: TỔNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP VÙNG - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.6 TỔNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP VÙNG (Trang 45)
Hình 2.2: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc. - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
Hình 2.2 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc (Trang 46)
BẢNG 2.7: NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CỦA CÁC TỈNH GIAI ĐOẠN 2005-2009 - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.7 NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CỦA CÁC TỈNH GIAI ĐOẠN 2005-2009 (Trang 47)
Hình 2.3: Cơ cấu vốn đầu tư của 4 tỉnh vùng Tây Bắc (2005-2009) - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
Hình 2.3 Cơ cấu vốn đầu tư của 4 tỉnh vùng Tây Bắc (2005-2009) (Trang 50)
BẢNG 2.8: TỔNG VỐN ĐẦU TƯ THEO LĨNH VỰC ĐẦU TƯ - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.8 TỔNG VỐN ĐẦU TƯ THEO LĨNH VỰC ĐẦU TƯ (Trang 58)
Hình 2.4: Cơ cấu vốn đầu tư cho các lĩnh vực - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
Hình 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư cho các lĩnh vực (Trang 61)
BẢNG 2.10: VỐN ĐẦU TƯ LÂM SINH PHÂN THEO CHỨC NĂNG - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.10 VỐN ĐẦU TƯ LÂM SINH PHÂN THEO CHỨC NĂNG (Trang 68)
BẢNG 2.11: TỔNG VỐN ĐẦU TƯ LÂM SINH GIAI ĐOẠN 2005-2009 - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.11 TỔNG VỐN ĐẦU TƯ LÂM SINH GIAI ĐOẠN 2005-2009 (Trang 74)
BẢNG 2.12: DIỆN TÍCH RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP 4 TỈNH TÂY BẮC - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.12 DIỆN TÍCH RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP 4 TỈNH TÂY BẮC (Trang 79)
BẢNG 2.13: DIỆN TÍCH RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP PHÂN THEO - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.13 DIỆN TÍCH RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP PHÂN THEO (Trang 81)
Hình 2.7: Cơ cấu các loại rừng theo chức năng rừng 4 tỉnh vùng Tây Bắc. - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
Hình 2.7 Cơ cấu các loại rừng theo chức năng rừng 4 tỉnh vùng Tây Bắc (Trang 82)
BẢNG 2.15: DIỆN TÍCH ĐẤT CÓ RỪNG VÀ ĐỘ CHE PHỦ RỪNG - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.15 DIỆN TÍCH ĐẤT CÓ RỪNG VÀ ĐỘ CHE PHỦ RỪNG (Trang 84)
BẢNG 2.18: DIỆN TÍCH RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP PHÂN THEO CHỦ QUẢN LÝ - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.18 DIỆN TÍCH RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP PHÂN THEO CHỦ QUẢN LÝ (Trang 92)
BẢNG 2.19: KẾT QUẢ KHAI THÁC, CHẾ BIẾN SẢN XUẤT LÂM - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển vào lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh tây bắc bộ việt nam
BẢNG 2.19 KẾT QUẢ KHAI THÁC, CHẾ BIẾN SẢN XUẤT LÂM (Trang 95)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w