Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi 2004 đã được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 6 thông qua trong đó qui định cộng đồng dân cư thôn bản là một trong những đối tượng được Nhà nước giao rừ
Trang 1
ĐỖ VĂN ÁNH
ĐÁNH GIÁ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH SƠN LA
VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU TRONG QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI BẢN LẰN, XÃ MƯỜNG DO, HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS VŨ NHÂM
HÀ NỘI, 2011
Trang 33
Thu nhËp CN 38%
Thu nhËp NN 37%
10%
Thu nhËp CN 30%
Thu nhËp NN 43%
Thu nhËp kh¸c 12%
Thu nhËp LN 15%
Thu nhËp LN 30%
Thu nhËp kh¸c 17%
Thu nhËp NN 36%
Thu nhËp CN 17%
Trang 4Hình 4.3: Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình người Mông
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành nghiên cứu đề tài tôi đã được PGS.TS Vũ Nhâm, các thầy cô giáo, Giáo sư, Tiến sỹ; Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp Trường Đại hoạc Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ để đề tài tiến hành thuận lợi Sự thành công của đề tài không thể tách rời sự giúp đỡ và hợp tác có hiệu quả của chính quyền và nhân dân các thôn, bản, xã tham gia Dự án Chương trình thí điểm Lâm nghiệp Cộng đồng huyện Mai Sơn và huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La nơi đề tài tiến hành điều tra, khảo sát và thu thập số liệu hiện trường trong thời gian qua
Nhân dịp này tôi xin bảy tỏ sự biết ơn tới: PGS, TS Vũ Nhâm - Người thầy trực tiếp, hướng dẫn chỉ bảo những kiến thức chuyên môn thiết thực và chỉ dẫn khoa học quý báu Xin trân thành cảm ơn sự quan tâm Ban giám hiệu Trường Đại Học Lâm nghiệp, Khoa đào tạo sau Đại Học; Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm, Trung tâm Lâm nghiệp Tây Bắc, Ban quản lý rừng Phòng hộ cơ sở tỉnh; Các phòng, ban của UBND huyện Mai Sơn, Phù Yên
- Lãnh đạo UBND xã Nà Ớt, xã Phiêng Cằm huyện Mai Sơn; xã Mường
Do, xã Mường Lang huyện Phù Yên; Ban quản lý bản và người dân của bản đã giúp đỡ trong việc điều tra nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn do điều kiện hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính Mặt khác đây cùng là lĩnh vực nghiên cứu mới
ở một tỉnh, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn
bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 6 tháng 9 năm 2011
Tác giả
Đỗ Văn Ánh
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Nhận thức chung về quản lý rừng cộng đồng 4
1.2 Trên thế giới 5
1.2.1 Khái niệm về cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng 5
1.2.2 Quản lý rừng cộng đồng ở một số nước 9
1.2.3 Một số ấn phẩm chủ yếu có liên quan đến Lâm nghiệp cộng đồng 11
1.3 Ở Việt Nam 13
1.3.1 Khái niệm cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng 13
1.3.2 Một số hoạt động có liên quan đến quản lý rừng cộng đồng 16
1.3.3 Các văn bản chính có liên quan đến Quản lý rừng cộng đồng 19
1.3.4 Hưởng lợi từ quản lý rừng cộng đồng 20
1.3 Thảo luận 27
Chương 2: MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 29
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 29
2.1.2 Mục tiêu cụ thể: 29
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 29
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu 29
Trang 72.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1 Hiện trạng quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La 30
2.3.2 Phân loại các mô hình quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Sơn La 30
2.3.3 Tác động của chính sách đến quản lý rừng cộng đồng 30
2.3.4 Kinh nghiệm địa phương trong quản lý rừng cộng đồng 30
2.3.5 Các giải pháp phát triển hình thức rừng cộng đồng 30
2.3.6 Các hoạt động quản lý rừng cộng đồng tại bản Lằn, xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp kế thừa 31
2.4.2 Phương pháp, công cụ thu thập số liệu hiện trường 31
2.4.3 Phương pháp lập Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, xây dựng Quy ước và Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng 36
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 37
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tê-xã hội tỉnh Sơn La 37
3.1.1 Vị trí địa lý, gianh giới 37
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 39
3.2 Một số thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Phù Yên 42
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
4.1 Hiện trạng quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La 48
4.1.1 Tiến trình hình thành và phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam 48
4.1.2 Quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La 53
4.1.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển lâm nghiệp cộng đồng 69
4.2 Các hoạt động chủ yếu trong quản lý rừng cộng đồng tại bản Lằn, xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La 81
Trang 84.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội bản Lằn 81
4.2.2 Lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng bản Lằn 84
4.2.3 Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng dân cư thôn 102 4.2.4 Xây dựng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng dân cư thôn (Quỹ thôn) 109
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 116
1 Kết luận 116
2 Tồn tại 119
3 Kiến nghị 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ BIỂU
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
để bảo vệ và phát triển rừng
Trang 10CHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Tổng hợp diện tích rừng và đất lâm nghiệp 40 3.2 Hiện trạng tài nguyên rừng và tình hình sử dụng đất 44 4.1 Các yếu tố ảnh hưởng công tác quản lý rừng cộng đồng 55 4.2 Mối quan tâm của các bên liên quan đến công tác quản lý rừng 57 4.3 Nguyện vọng tham gia quản lý bảo vệ rừng cộng đồng của
cộng đồng dân cư thôn
58
4.4 Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 59 4.5 Tiêu chí phân loại các hình thức QLR cộng đồng 63 4.6 Hiệu quả các hình thức quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La 67 4.7 Đề xuất khai thác, sử dụng bền vững một số loại lâm sản 77 4.8 Đề xuất một số cây trồng, vật nuôi dưới tán rừng cộng đồng 78 4.9 Hiện trạng tài nguyên rừng cộng đồng bản Lằn 83
4.11 Kế hoạch khai thác rừng năm 2009 của bản Lằn 88
4.14 Tổng hợp các chỉ tiêu khai thác năm 2009 93 4.15 Bố trí khai thác lâm sản ngoài gỗ hàng năm 95
Trang 12DANH MỤC HÌNH
4.1 Cộng đồng xác định rừng cộng đồng trên bản đồ 86
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại như một xu thế mang tính khách quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong quản lý tài nguyên rừng Ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và văn hoá của các cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng Thực tế ở nhiều địa phương đã cho thấy có rất nhiều cộng đồng thôn, bản hiện đang quản lý bảo vệ rừng hiệu quả mà không đòi hỏi nhiều về đầu tư kinh phí của Nhà nước Rừng cộng đồng thường được quản lý tốt ở những cộng đồng có truyền thống quản lý rừng lâu đời, có hương ước nội bộ và
có sự tham gia tích cực của các thành viên cộng đồng
Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi (2004) đã được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 6 thông qua trong đó qui định cộng đồng dân cư thôn bản là một trong những đối tượng được Nhà nước giao rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển nhằm giúp người dân sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng được hưởng lợi thành quả của
họ từ trong công tác bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng thôn bản
Để có cơ sở giúp cho việc quản rừng cộng đồng được chặt chẽ, có hiệu quả điều cần thiết là phải cụ thể hoá Luật bảo vệ và phát triển rừng mà trong đó có việc xây dựng lại các văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý rừng cộng đồng
Trong phần Mở đầu cuốn sách “Quản lý tài nguyên rừng công cộng” do Tổ chức Lương, Nông Liên hợp quốc xuất bản năm 1993 tại Rome, sau khi khái quát các kết quả nghiên cứu về Quản lý tài nguyên rừng công cộng tại Châu Á, Châu Phi
và Châu Mỹ La tinh tác giả : Donald A Messerschmidt đã đưa ra khung “Phạm trù quản lý rừng cộng đồng” như sau :
Tập thể sử dụng hay nhóm người sử dụng rừng (Cộng đồng nói chung), bao gồm :
- Quản lý theo Cộng đồng (các nhóm dựa trên thân quen)
- Quản lý thôn bản (các nhóm chính trị, kinh tế hoặc tôn giáo)
Ở một số nước quản lý rừng cộng đồng đã phát triển thành lâm nghiêp cộng đồng và trở thành một nghề tạo thu nhập ổn định cho cộng đồng dân cư sống trong
và gần rừng Lâm nghiệp cộng đồng đã được các nước đó thừa nhận là một hình
Trang 14thức quản lý rừng và người đại diện cho cộng đồng quản lý rừng có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự và kinh tế
Quản lý tài nguyên rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương thức quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện vọng của cộng đồng, hướng đến việc nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác chia sẻ kinh nghiệm cho cộng đồng và bên liên quan nhằm quản lý các nguồn tài nguyên bền vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá của các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng Xu hướng phát triển rừng cộng đồng là yếu tố quan trọng trong phát triển lâm nghiệp ở nhiều quốc gia nhằm định hướng thu hút sự quan tâm của các cộng đồng để đóng góp vào tiến trình quản lý rừng bền vững
Thời gian trước đây dân số ít, nhu cầu sinh kế của người dân chưa lớn, chưa
đa dạng vì thế nguồn tài nguyên rừng về cơ bản có thể đáp ứng được Bên cạnh đó, trong các cộng đồng dân tộc thiểu số việc quản lý tài nguyên rừng có sự trợ giúp đắc lực của các định chế, luật tục truyền thống trong cộng đồng và trong một thời gian dài trước đây chúng đã phát huy hiệu quả tốt do vậy mà tài nguyên rừng được bảo vệ một cách tương đối tốt Nhưng hiện nay, nhu cầu của người dân tăng cao, sự phát triển mạnh về dân số, vấn đề di dân tự do, khai phá đất rừng trồng cây công nghiệp đã làm suy giảm cả về số lượng và chất lượng tài nguyên rừng Chính điều
đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, các tác dụng có lợi khác của tài nguyên rừng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, cách đối xử của người dân với tài nguyên rừng
Thực tế cho thấy ở nhiều nơi trên thế giới, các khu rừng cộng đồng được quản lý tương đối tốt với nhiều hình thức và hệ thống quản lý khác nhau Ở Việt Nam, rừng của cộng đồng là rừng của thôn/hoặc dòng tộc, dòng họ đã được quản lý theo truyền thống trước đây (quản lý theo các luật tục truyền thống), rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã đuợc giao cho các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý Những diện tích rừng này có thể Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng, song trên thực tế,
Trang 15mặc nhiên cộng đồng đang tự tổ chức quản lý sử dụng và hưởng lợi từ những khu rừng đó Như vậy, thực chất “quản lý rừng cộng đồng” là cộng đồng dân cư thôn quản lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng, được hình thành do các cộng đồng tự công nhận, hoặc thông qua chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Các cộng đồng địa phương (thôn bản, nhóm hộ, vv ) có quyền sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng được công nhận trên thực tế hoặc về mặt pháp lý Những cộng đồng này chịu trách nhiệm quản
lý các nguồn tài nguyên rừng (trong khuôn khổ luật định) Trọng tâm không chỉ là
gỗ mà còn là các sản phẩm ngoài gỗ Lợi ích thu được thuộc về người dân địa phương và được sử dụng cho phát triển nông thôn Cách quản lý rừng ở đây ít tính chất khoa học hơn mà được hình thành trên cơ sở kiến thức bản địa của người dân địa phương
phần dân tộc khác nhau, cùng với đó là sự khác nhau về truyền thống, văn hóa, phong tục tập quán, kinh nghiệm bản địa đã dẫn đến có sự đa dạng trong quản lý rừng cộng đồng Sự khác nhau đó làm cho tính phác tạp của vấn đề quản lý rừng cộng đồng trở lên rõ ràng và vì thế không thể áp dụng một cách cứng nhắc các quy định nhà nước vào quản lý rừng cộng đồng cho tất cả các địa phương cũng như khó
có thể áp dụng nguyên bản các kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng của địa phương này vào địa phương khác
Sơn La là địa phương có nhiều hình thức quản lý rừng cộng đồng Tuy nhiên không phải hình thức quản lý nào cũng mang lại hiệu quả cao Mỗi một hình thức quản lý rừng cộng đồng lại có những ưu, nhược điểm khác nhau Câu hỏi đặt ra ra
là Thực trạng quản lý rừng cộng đồng tại Sơn La như thế nào ? và các hoạt động chủ yếu trong quản lý rừng cộng đồng tại địa phương ra sao? Để đi tìm câu trả lời
cho câu hỏi đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: Đánh giá lâm nghiệp cộng đồng tại tỉnh Sơn La và các hoạt động chủ yếu trong quản lý rừng cộng đồng tại bản Lằn,
xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La./
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức chung về quản lý rừng cộng đồng
Hiện nay trên thế giới, rừng là ngôi nhà cho hơn 300 triệu người và là nguồn sinh kế chính cho hơn 1,2 tỷ người nghèo Trong nhiều thập kỷ qua, rừng ngày càng
bị suy giảm mạnh, 1/2 tài nguyên rừng toàn cầu bị phá hoại và 30% năng suất bị suy giảm Theo IUCN, chỉ tính trong khoảng thời gian ngắn từ 1990 – 1995, hơn 11 triệu ha rừng đã bị biến mất; trong đó rừng nhiệt đới mất nhiều nhất, trung bình mỗi ngày có 100 loài tuyệt chủng Trước tình trạng đó, đã có nhiều mô hình quản lý rừng được đưa ra và mô hình được đánh giá thành công nhất đối với vấn đề bảo tồn
là mô hình quản lý rừng (QLR) dựa vào cộng đồng
Theo Đinh Ngọc Lan (2000), QLR cộng đồng là sự hội tụ đầy đủ các phương tiện xã hội kỹ thuật và kiến thức bản địa Đây là hệ sinh thái nhân văn nằm trong mối tương tác giữa hệ xã hội - cộng đồng và hệ tự nhiên, hệ sinh thái rừng Vì vậy quản lý rừng cộng đồng phải được xem xét trên cơ sở lý thuyết hệ thống về cộng đồng, bản địa, sở hữu và quyền hưởng dụng tài nguyên rừng
Theo tác giả Nguyễn Bá Ngãi (2004), cộng đồng quản lý rừng là một thực tiễn dù được thể chế hoá hoặc không thừa nhận thì nó vẫn tồn tại Do đó việc thừa nhận cộng đồng là là một chủ thể có pháp nhân luôn có lợi cho công tác QLR, khuyến khích và phát triển hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội và thị trường của từng vùng, đó là QLR cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế và tiếp cận sản xuất hàng hoá
Có rất nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, rừng cộng đồng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của người dân miền núi, đặc biệt là dân nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái (Messerschmitt et al (1996), Đinh Ngọc Lan (2002), Lê Thị Diên (2003)
Kết quả nghiên cứu quản lý rừng cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc Việt Nam cho thấy QLR cộng đồng là một phương thức quản lý rừng có hiệu quả, góp phần đáng kể vào bảo vệ và phát triển rừng, tăng thu nhập,
Trang 17xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nghiên cứu của Trần Đức Viên (1999) trong vấn đề giảm nghèo và rừng ở Việt Nam cho thấy những dân tộc thiểu số nghèo hơn thích quản lý rừng cộng đồng hơn, chủ yếu muốn đảm bảo an toàn lương thực, trong khi đó người Kinh và người Thái muốn giao cho hộ gia đình Tác giả Tessien (2002) trong tác phẩm "Giảm nghèo và rừng ở Việt Nam" cũng có nhận xét tương tự
Chính sách giao đất rừng ở tỉnh Đắc Lắc là một trong những ví dụ thể hiện
sự tiến bộ nhất ở Việt Nam trong việc chuyển hướng sang lâm nghiệp cộng đồng Luật Đất đai 2003 và Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 đã tạo hành lang pháp lý
cơ bản cho quản lý rừng cộng đồng Do đó nhiều vấn đề như xác lập quyền quản lý
và sử dụng đất đai và rừng cộng đồng, lập kế hoạch quản lý rừng truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số với quy định của chính sách hiện hành cần được cụ thể hoá trên thực tiễn Hiện nay, mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được nhân rộng ở nhiều nơi
+ Thuật ngữ “cộng đồng” theo FAO (1996) “Cộng đồng là những người sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”
b) Lâm nghiệp cộng đồng:
- Thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng” (Community Forestry) theo FAO (1999) “Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”
Trang 18- Theo J.E-Michael Arnold (1999) thuật ngữ Lâm nghiệp cộng đồng được sử dụng với nghĩa hẹp hơn “Là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm người địa phương”
- Ở Nepal, thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng chỉ được hiểu như là "một nhóm sử dụng rừng (Forest use Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng”
Như vậy thuật ngữ “lâm nghiệp cộng đồng” đã được đề cập ở nhiều quốc gia trên thế giới Nó hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền vững Mặt khác người dân đang sống phụ thuộc vào rừng, những giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống người dân từ hoạt động lâm nghiệp
Từ quan điểm đó đã hình thành các phương thức, các chương trình hoạt động quản
lý rừng cộng đồng
Từ các định nghĩa trên đối chiếu với Luật bảo vệ và phát triển rừng và tình hình quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam hiện nay, thấy rằng quan niệm về Lâm nghiệp cộng đồng của J.E-Michael Arnold thích hợp hơn
c) Khái niệm quản lý rừng cộng đồng (Community Forest CFM)
Management-Là một phương thức nhằm duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn
đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân gốc rễ làm suy giảm tài nguyên rừng ở các quốc gia
Quản lý rừng cộng đồng dựa trên quan điểm “Con người trước và lâm nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên rừng (DENR)
Quan điểm này cho thấy quản lý rừng cộng đồng nhắc đến việc phân cấp quản lý rừng một cách mạnh mẽ trong đó nhấn mạnh đến giao quyền quản lý các khu rừng và cơ hội cho người dân cộng đồng có được hưởng lợi từ rừng Khi mà các vấn đề đói nghèo và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng thôn, bản sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ, quản lý rừng, điều này đã được nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận
Trang 19thức rõ ràng và từ đó đã thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở nhiều cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng
Trong một số năm gần đây để khẳng định hơn tính sở hữu và làm chủ trong quản lý tài nguyên rừng, khái niệm quản lý rừng cộng đồng đã được phân định rõ hơn “Quản lý rừng cộng đồng là bao gồm tất cả các hoạt động, tổ chức thu hút cộng đồng tham gia quản lý rừng và được chia sẻ lợi ích từ nguồn tài nguyên”
Tuy mỗi tác giả, mỗi nước có quan điểm, có cách hiểu về các phạm trù khái niệm khác nhau phù hợp với điều kiện của từng nước, song nó lại là cơ sở và kinh nghiệm tốt để Việt Nam học hỏi và tham khảo đưa ra những cơ sở lý luận đúng cho thực tiễn quản lý rừng ở Việt Nam
d) Phân biệt về quản lý rừng tập thể, quản lý rừng cộng đồng và quản lý rừng thôn bản
Khi nghiên cứu về quản lý rừng công cộng thuộc 3 vùng : Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh trên phương diện toàn cầu phát hiện có một số lẫn lộn trong quan niệm giữa sở hữu “tập thể”, “cộng đồng ” và “thôn bản” Các hình thức “cộng đồng” và “thôn bản” về mặt quản lý đều là những hình thức “tập thể” nhưng giữa chúng có những khác biệt rõ và quan trọng Một cộng đồng được định nghĩa như
là “những người sống tại chổ trong một tổng thể” (Từ điển Oxford) hoặc là “một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung” (Từ điển Webster) Ý tứ về tính chất tổng thể hoặc cùng nhau gắn bó là gốc ngữ nghĩa trong thuật ngữ cộng đồng Nó giúp ta trả lời ai là người nằm trong một hệ quản lý tập thể đặc biệt Trong khi từ “cộng đồng” ẩn dụ một nhóm người “tổng thể” sống tại một
vị trí hoặc cùng với nhau theo cách nào đó, thì từ “thôn xã” có nghĩa là giữa những nhóm khác nhau trong một cộng đồng Nói tới cộng đồng là nói tới toàn bộ thôn bản thường có ranh giới trong không gian, còn thôn xã lại ẩn dụ những thành viên có hạn chế, những việc phân bổ lợi ích hoặc hưởng thụ cho các bộ phận của cộng đồng tách rời nhau về mặt xã hội Sự phân biệt giữa cộng đồng và thôn bản khá quan trọng khi tiến hành nghiên cứu những ai có quyền tham gia hưởng thụ tài nguyên rừng, và sản phẩm được phân bố như thế nào Các chế độ quản lý rừng cộng đồng được đề cập đến ở đây dựa trên giả thiết sẽ có một sự phân bổ công bằng về tài nguyên rừng được giao giữa các thành viên trong toàn bộ nhóm Còn việc quản lý
Trang 20rừng theo thôn bản, thì mặc dù việc phân bổ là tương đối công bằng trong từng nhóm cụ thể, nhưng vẫn có sự không công bằng trong cộng đồng, bởi vì những
“người ngoài cuộc” bị loại ra tuy họ vẫn sống trong cùng cộng đồng như là bạn bè hoặc xóm giềng, hay người họ hàng, nếu đơn vị thôn bản là một nhóm kinh tế hoặc chính trị không dựa vào cơ sở người thân Mức độ nội vi/hoặc ngoại vi về mặt xã hội đề ra cũng phân rõ ranh giới giữa quản lý cộng đồng với quản lý thôn bản Trong điều kiện tư hữu công cộng vấn đề tham gia hưởng thụ công cộng hoặc tài nguyên mở rộng hoặc hạn chế đối với người dân là vấn đề tương đối Trong cách quản lý theo thôn bản quyền đó có tính chất hạn hẹp hơn, chỉ dành cho những thành viên trong cùng nhóm, không cho các nhóm khác Trái lại, khi thực hiện quản lý rừng theo cộng đồng, thì quyền tham gia hưởng thụ được mở rộng hơn, bao gồm cả tổng thể nhiều hơn, tức là tất cả thành viên của cộng đồng, kể cả những hội, đoàn nhỏ cá thể nằm tại cộng đồng cũng có quyền hưởng thụ theo những quy tắc các bên
đã cùng nhau thỏa thuận cả về mặt thời gian và các kiểu sử dụng
Các phạm trù quản lý rừng cộng đồng được thực hiện theo các hình thức dưới đây :
Tập thể sử dụng hay nhóm người sử dụng
Cộng đồng nói chung
Quản lý theo thôn, xã do những nhóm riêng rẽ, chỉ là một số hoặc một bộ phận của một cộng
Trang 211.2.2 Quản lý rừng cộng đồng ở một số nước
1) Ấn Độ : Năm 1951, Ấn Độ tiến hành quốc hữu hoá các tài nguyên rừng và thực hiện luật cải cách ruộng đất Vào đầu những năm 70, chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển trên đất không lâm nghiệp Do các chương trình LNXH không mang lại kết quả như mong đợi, từ năm 1988, chính phủ ban hành chính sách mới về lâm nghiệp cộng quản lý trên đất lâm nghiệp Mục tiêu cơ bản là lôi kéo và khuyến khích người dân và cộng đồng của họ tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên rừng trên đất lâm nghiệp của Nhà nước Người dân và các cộng đồng của họ được hưởng các sản phẩm phụ và một phần sản phẩm gỗ tuỳ theo điều kiện của các bang
Chương trình Lâm nghiệp xã hội (LNXH) được thực hiện trên đất của làng bản và tư nhân Mục tiêu của chương trình nhằm giảm sức ép đối với các khu rừng công nghiệp do chính phủ quản lý Chính phủ huy động nông dân, trường học và các tổ chức xã hội tham gia vào trồng rừng gỗ nhiên liệu
Chương trình rừng cộng quản (JSM) do chính phủ và cộng đồng cùng quản
lý các khu rừng trên đất lâm nghiệp của nhà nước Nhân dân được sử dụng các sản phẩm phụ từ rừng, 25% giá trị sản phẩm gỗ được giữ lại cho cộng đồng Tuy nhiên
cơ chế đầu tư và chia sẻ lợi ích khác nhau theo các bang
2) Ở Philippin: Đã hình thành Chương trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng
và không phải là Chương trình tự phát mà là Chương trình được xác lập có hệ thống, chặt chẽ và đang được tiến hành mạnh mẽ Chương trình đã tập trung giải quyết các vấn đề chính thức sau: Cải tạo canh tác nương rẫy ở miền núi, khôi phục rừng sau nương rẫy Thành công của Chương trình là đã giải quyết được một cách hợp lý, hài hòa giữa lợi ích cá nhân, lợi ích cộng đồng địa phương và lợi ích của toàn xã hội Sự tham gia tích cực của người dân đã đảm bảo cho các dự án tồn tại lâu dài và không phải dự án kết thúc là các hoạt động kết thúc, nó tạo ra sự tin cậy, cùng chịu trách nhiệm trong việc duy trì và phát triển các thành quả của dự án trong tương lai Thành công của dự án Lâm nghiệp cộng đồng đã đưa đến một viễn cảnh như sau:
Trang 22- Định hướng được đúng đắn các dịch vụ, bảo đảm tin cậy, công bằng xã hội và đáp ứng thỏa đáng những nhu cầu trong cuộc sống của người dân tham gia dự án
- Nâng cao được mức sống, mức thu nhập trong lâm nghiệp vùng cao góp phần giảm nhẹ sự đe dọa của nạn đói, cuộc sống nghèo khổ Tái tạo, giữ gìn và cải tiến cuộc sống văn hóa trong cộng đồng
- Tạo ra sự hợp tác nghiên cứu về rừng giữa các trường Đại học, các hoạt động cá nhân với cộng đồng dân cư quản lý rừng
- Hệ thống giáo dục, huấn luyện được hình thành đã sản sinh ra nhân tài, vật lực có trình độ, kỹ năng và lương tâm phục vụ trong toàn bộ hệ thống lâm nghiệp cộng đồng
- Hoàn thành tổ chức mạng lưới thông tin tốt, chu đáo, tạo cơ hội thuận tiện cho người dân trong cộng đồng phát triển dân trí và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm 3) Ở Thái Lan: Vua Ghumbol Adulvadey của Thái Lan đã từng nói: “… Ngành lâm nghiệp không có đủ tiền vốn và năng lực bảo vệ giữ gìn rừng Sự nghiệp đó phải là của người dân, những người đóng vai trò phục hồi rừng, bảo vệ và nhận từ rừng những lợi ích cho chính mình Đây chính là thực thể của lâm nghiệp cộng đồng.”
Năm 1989, Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã đề ra chính sách phát triển Lâm nghiệp cộng đồng Trong đó chủ yếu giành quyền hạn nhiều hơn cho các địa phương trong quản lý tài nguyên rừng Tăng cường hệ thống khuyến lâm để hỗ trợ cộng đồng tự quản lý rừng Dưới sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong đó có Tổ chức hợp tác phát triển Thụy Sỹ (SDC), Thái Lan đã hình thành Trung tâm đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) thuộc trường Đại học Kasesat, sau tách ra thành Trung tâm đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng vùng Trung tâm này đã tổ chức được nhiều khóa học ngắn hạn với các chủ đề đào tạo có liên quan đến phát triển lâm nghiệp cộng đồng cho tất cả các hội viên trong nước cũng như nước ngoài Điều đáng quan tâm đối với Lâm nghiệp cộng đồng ở Thái Lan là ở một vài nơi đã tự xây dựng vùng Lâm nghiệp cộng đồng bằng việc trồng cây trước khi có quyền sử dụng đất Họ tin rằng việc trồng cây trên đất canh tác của họ cũng như các khu đất của cộng đồng, của nhà nước họ sẽ có lý do đòi hỏi mạnh mẽ hơn về vấn đề
Trang 23đất đai dành cho phát triển Lâm nghiệp cộng đồng Đây cũng là cách giải quyết những khó khăn cho bất kỳ những ai muốn lấy đất đai để trồng cây hàng hóa như trồng Bạch đàn thuần loài và nhiều cây kinh doanh khác
4) Ở Indonesia: Ngay từ năm 1967, Chính phủ Indonesia đã ban hành các sắc lệnh về phát triển kinh tế, xã hội của các cộng đồng; xây dựng các chương trình phát triển nông thôn, bản và định canh định cư cho các vùng có liên quan đến khu vực lâm nghiệp Năm 1995 Indonesia tiến hành xây dựng Chương trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng Đến năm 1996 Bộ Lâm nghiệp Indonesia xây dựng dự án giao 10.000 ha rừng cho các cộng đồng quản lý
5) Ở Nê-pan năm 1978, chính phủ Nê-pan đã giao cho người dân địa phương quản lý rừng để thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp cộng đồng Từ năm
1998, Nhà nước đã công nhận quyền pháp nhân cho các nhóm sử dụng rừng và để tăng cường hỗ trợ các cộng đồng trong sử dụng rừng; năm 1993, Nhà nước đã thay đổi chức năng của Phòng Lâm nghiệp từ chức năng cảnh sát sang chức năng hỗ trợ thúc đẩy
6) Ở Trung Quốc: Có thể nói Trung Quốc là một nước điển hình về quan tâm
và ủng hộ các tổ chức Lâm nghiệp cộng đồng Mặc dù theo pháp luật hiện hành của nước này đất đai vốn thuộc quyền quản lý của Nhà nước nhưng cây cối và sản phẩm trên đó thuộc quyền sở hữu của người trồng trọt Điều này bảo đảm bằng hợp đồng giữa Chính phủ và người trồng trọt và hợp đồng có thể được tiếp tục lâu dài, kế tiếp 7) Ở Hàn Quốc: Rừng cộng đồng chiếm 8%, rừng tư nhân chiếm 70% nhưng một số chủ rừng tư nhân đã hoạt động trong những nhóm sở hữu rừng mang tính cộng đồng và 140 nhóm sử dụng rừng đã được thành lập
8) Ở Cộng hòa liên bang Đức, các hoạt động quản lý lâm nghiệp không chỉ do Nhà nước trực tiếp quản lý mà còn do cộng đồng địa phương tiến hành Ngoài ra các cá nhân quản lý rừng còn tập hợp thành các nhóm sở hữu rừng
1.2.3 Một số ấn phẩm chủ yếu có liên quan đến Lâm nghiệp cộng đồng
Lâm nghiệp cộng đồng tuy là một loại hình tổ chức quản lý mới được hình thành, nhưng cũng đã xuất hiện một số tài liệu công bố các kết quả nghiên cứu về
Trang 24lĩnh vực này Gần đây có 3 ấn phẩm đề cập đến những vấn đề chủ yếu của Lâm nghiệp cộng đồng; đó là các ấn phẩm “Giới thiệu về Lâm nghiệp cộng đồng” (Introducing community forestry) của tác giả : Nancy Lee Deluss, Matt Turner và Louise Rortmann, xuất bản ở Rome năm 1997, ấn phẩm “Xây dựng thể chế cho Lâm nghiệp cộng đồng” (Crafting institutional arrangement for community forestry) của các tác giả James T.Thomson và Karen Shoonmaker Freudenbenger, xuất bản ở Rome năm 1997; và ấn phẩm “Phụ nữ trong Lâm nghiệp cộng đồng” (Women in community forestry), xuất bản ở Rome năm 1989
- Ấn phẩm “Giới thiệu về Lâm nghiệp cộng đồng” đã trình bày rõ khái niệm
về Lâm nghiệp cộng đồng – Đó không chỉ việc trồng cây của cộng đồng dân cư mà còn bao gồm cả việc sử dụng và quản lý rừng tự nhiên và cung cấp các sản phẩm lâm nghiệp từ các nguồn khác nhau… Ngoài ra tài liệu này còn đề cập đến các lĩnh vực khác có liên quan đến Lâm nghiệp cộng đồng như: Tìm hiểu cách sử dụng rừng của dân; mục đich chính của Lâm nghiệp cộng đồng là tạo ra lợi nhuận cho dân địa phương và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến phát huy thế mạnh của Lâm nghiệp cộng đồng…
- Ấn phẩm “Xây dựng chế độ cho Lâm nghiệp cộng đồng” đã xác định rõ tầm quan trọng của việc xây dựng thể chế cho tất cả những hoạt động có liên quan đến Lâm nghiệp cộng đồng để hỗ trợ người dân trong việc quản lý rừng bền vững Trong ấn phẩm này cũng đã giới thiệu các tài liệu có liên quan đến quản lý cây và rừng; liên quan đến các hoạt động của Lâm nghiệp cộng đồng; các hình thức khuyến khích việc thực hiện thể chế; hướng dẫn tiến hành phân tích thể chế; đánh giá sự gắn kết của lâm nghiệp cộng đồng; những đặc trưng của lâm nghiệp cộng đồng và những qui định có hiệu lực trong các dự án Lâm nghiệp cộng đồng
- Ấn phẩm “Phụ nữ trong Lâm nghiệp cộng đồng” đã khẳng định rằng: “Nếu chương trình về Lâm nghiệp cộng đồng muốn thành công, chúng phải được xây dựng sao cho thích ứng với những nhu cầu của phụ nữ…”; vì vậy cần phải “… hiểu được phụ nữ; định ra những câu hỏi phù hợp với phụ nữ; thực hiện mọi hoạt động đều có sự tham gia của phụ nữ”
Trang 25Tóm lại, Lâm nghiệp cộng đồng đã được nhiều nước trên thể giới chú trọng nghiên cứu phát triển nhất là đối với các nước đang phát triển vì đã thu được nhiều kết quả khả quan trong quản lý rừng bền vững Hiện nay các nước này vẫn đang tiếp tục tổng kết kinh nghiệm từ các mô hình xây dựng rừng cộng đồng để rút ra những kết luận làm cơ sở đề xuất xây dựng và điều chỉnh các chính sách hỗ trợ, củng cố và phát triển loại hình quản lý rừng này
1.3 Ở Việt Nam
1.3.1 Khái niệm cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng
1) Khái niệm cộng đồng
Theo các nhà xã hội học, nhân chủng học ở Việt Nam Xét về mặt ngôn ngữ
“cộng đồng” là sự kết hợp của hai từ “cộng” và “đồng” Từ “cộng” được hiểu là cộng vào, gộp vào, thêm vào, kết hợp vào, còn từ “đồng” có nghĩa là cùng, cùng nhau, giống nhau, chung nhau về một số đặc điểm: nhân chủng học, lãnh thổ, phong tục tập quán, sở thích… Từ ý nghĩa trên “cộng đồng” được hiểu là “Toàn thể những người sống thành tập thể hay một xã hội mà có những đặc điểm giống nhau, gắn bó với nhau thành một khối và giữa họ có sự liên hệ, hợp tác với nhau để cùng nhau hoạt động hàng ngày, cùng nhau thực hiện những lợi ích của mình và lợi ích chung của toàn xã hội”
Với sự đa nghĩa của khái niệm cộng đồng đã làm cho chúng ta không được hiểu rõ ràng, mặt khác cộng đồng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành như: Nhân văn, Xã hội học, Nhân chủng học… Mỗi ngành nghiên cứu một đối tượng khác nhau nên sẽ có các cách hiểu khác nhau Vì vậy thuật ngữ “cộng đồng” đã tạo nên sắc nghĩa khác nhau
Trong ngành lâm nghiệp, ở lĩnh vực hoạt động quản lý tài nguyên rừng cộng đồng khái niệm “cộng đồng” được hiểu:
- Cộng đồng được phân ra làm hai loại: Cộng đồng dân tộc và cộng đồng làng bản
Trang 26+ Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, tập quán truyền thống và hệ thống sản xuất
+ Cộng đồng làng bản: Hiện nay nước ta có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp lại trong khoảng 9.000 xã Từ xưa mỗi làng bản được coi là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặc điểm rất riêng như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, trong khi thôn bản ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ sắc tộc, nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Theo thống kê và từ những đặc điểm nêu trên cho thấy khái niệm “cộng đồng” sử dụng trong quản lý rừng cộng đồng ở nước ta là “cộng đồng thôn bản”
- Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau, thường có ranh giới không gian trong một làng bản
- Điều 9, luật đất đai (2003) “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng một địa bàn thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất”
Có rất nhiều khái niệm về cộng đồng nhưng phần lớn các tác giả đều cho rằng thuật ngữ “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, buôn, phum, ấp, sóc… (gọi tắt là cộng đồng thôn bản) Cho nên khái niệm “cộng đồng” trong đề tài được hiểu là:
+ “Cộng đồng là cộng đồng dân cư thôn, bản Cộng đồng dân cư thôn, bản là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp… hoặc một đơn vị tương đương”
2) Lâm nghiệp cộng đồng
Hiện nay ở Việt Nam có những ý kiến khác nhau về lâm nghiệp cộng đồng,
có thể khái quát thành ba loại ý kiến chính như sau:
Trang 27+ Thứ nhất: Lâm nghiệp cộng đồng là một hoạt động lâm nghiệp của một cộng đồng mà hình thức thể hiện của nó là các khu rừng của cộng đồng, vườn ươm của cộng đồng, các đám cây gỗ của cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng có thể nhận biết qua các hoạt động chủ yếu sau đây:
* Cộng đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đám cây gỗ của
họ từ lâu đời
* Cộng đồng tổ chức quản lý những khu rừng nhà nước giao cho cộng đồng
* Các hoạt động mang tích chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức, phục
vụ lợi ích trực tiếp cho cộng đồng
Như vậy theo quan điểm này, lâm nghiệp cộng đồng có tên gọi khác lâm nghiệp làng bản, phản ánh các hoạt động ở phạm vi cụ thể như một bản một làng
+ Thứ hai: Lâm nghiệp cộng đồng là hoạt động lâm nghiệp có sự tham gia của một thôn, bản, dòng họ hay bộ tộc Do đó lâm nghiệp làng bản chỉ là một dạng của lâm nghiệp cộng đồng
Theo quan điểm này cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là các thành viên trong cộng đồng cùng tham gia quản lý những khu rừng thuộc quyền quản lý theo truyền thống
+ Thứ ba: Lâm nghiệp cộng đồng là hoạt động lâm nghiệp có sự tham gia của cá nhân, hộ gia đình đến toàn thể cộng đồng của họ
3) Quản lý rừng cộng đồng
- Quản lý rừng cộng đồng là cộng đồng quản lý rừng thuộc sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản được quản lý theo truyền thống trước đây, rừng trồng của các hợp tác
xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý
- Quản lý rừng cộng đồng (2006): Quản lý rừng cộng đồng là một hình thức quản lý rừng trong đó cộng đồng với tư cách là chủ rừng tham gia vào các hoạt động giao rừng, lập kế hoạch quản lý rừng và thực hiện kế hoạch đó, thực hiện nghĩa
vụ và quyền lợi, giám sát, đánh giá rừng do nhà nước giao cho cộng đồng
Trang 28Tóm lại: quản lý rừng cộng đồng chính là nói tới các hoạt động mà cộng đồng dân cư thôn, bản tác động vào rừng và đất rừng đã được giao theo quy định của pháp luật
Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004) chỉ thừa nhận cộng đồng dân cư thôn bản là chủ thể trong quản lý rừng, có quyền được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng; nhưng không được phân chia rừng cho các thành viên trong thôn; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, giá trị quyền sử dụng rừng được giao
1.3.2 Một số hoạt động có liên quan đến quản lý rừng cộng đồng
- Xây dựng thể chế và thiết lập các mô hình quản lý rừng cộng đồng Xây dựng thể chế và thiết lập các mô hình quản lý rừng cộng đồng đã được lồng ghép trong các chương trình, dự án có liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng
Có thể nói sự tham gia của cộng đồng dân cư nói chung và thôn, bản nói riêng trong quản lý rừng đã được các chương trình, dự án có liên quan đến bảo vệ
và phát triển rừng hết sức quan tâm như dự án Quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng
hạ lưu sông Mê Kông (SMRP); dự án Lâm nghiệp xã hội sông Đà (SFDP); chương trình Phát triển nông thôn miền núi Việt Nam (ADB/FSD); dự án Quản lý rừng đầu nguồn có sụ tham gia của người dân huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh (GCP NIE/023/BEL) và dự án Lâm sản ngoài gỗ (NTFP) Các hoạt động chính có liên quan đến quản lý rừng cộng đồng của các chương trình, các dự án là: đưa ra thể chế
hỗ trợ cộng đồng dân cư trong quản lý rừng trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết các kinh nghiệm được rút ra từ các mô hình quản lý rừng cộng đồng trong các khu vực quản
lý của chương trình, dự án
Ví dụ như: nghiên cứu quản lý rừng cộng đồng ở hai tỉnh Hà Giang và Yên Bái được thực hiện trong chương trình hỗ trợ trồng rừng và bảo vệ rừng hiện còn ở những vùng đầu nguồn xung yếu vùng cao của Việt Nam Nghiên cứu cũng đã nhận được sự hỗ trợ của chương trình Phát triển nông thôn miền núi (MRDP) và việc xây
Trang 29dựng kế hoạch xã, làng Sự hỗ trợ của tổ chức Phát triển quốc tế Thụy Sỹ (SIDA) trong dự án Hỗ trợ phát triển đồng bào thiểu số của Hà Giang và Yên Bái Mục tiêu chính của chương trình nghiên cứu này là cung cấp cơ sở cho việc xây dựng thể chế
và xây dựng kế hoạch hành động trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng được rút ra từ những nghiên cứu điển hình tại 10 xã thuộc tỉnh Hà Giang và Yên Bái
- Tổng kết đánh giá các mô hình quản lý rừng cộng đồng và hỗ trợ thực hiện các chính sách của tổ Công tác quốc gia về Lâm nghiệp cộng đồng (NWG-CFM)
Từ năm 1999, thông qua một số chương trình nghiên cứu, hội thảo, đi hiện trường, lấy ý kiến chuyên gia, tổ Công tác quốc gia về Lâm nghiệp cộng đồng đã có những đóng góp quan trọng trong việc đề xuất cơ sở pháp lý cho vấn đề quản lý rừng cộng đồng Kết quả có được một số tài liệu, văn bản pháp luật sửa đổi tập trung chính vào vấn đề phân cấp quản lý, trao thêm trách nhiệm cho các cấp dưới và tăng cường khả năng tiếp cận nguồn rừng cho các cộng đồng sống gần rừng hoặc trong rừng Và sau khi có được những nội dung mới trong các văn bản pháp luật, tổ Công tác quốc gia
đã chuyển từ thu thập ý kiến sang hỗ trợ thực hiện các chính sách đã sửa đổi Các hoạt động này bao gồm: một là, cung cấp các thông tin cơ sở để Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể phát triển thành các nghị định, thông tư
và quyết định; hai là, cố vấn cho các đơn vị quản lý cấp tỉnh và các dự án ODA trong việc tăng cường hơn nữa quản lý Lâm nghiệp cộng đồng theo đúng hướng đi
sẽ được chỉ ra trong nghị định và quyết định sắp tới và dựa vào các khung cũng như các thủ tục đã được hài hòa hóa; Ba là, trợ giúp Chính phủ và các nhà tài trợ trong việc phát triển các hệ thống hỗ trợ phù hợp như: đào tạo và phát triển năng lực và hơn nữa là các cơ chế hỗ trợ tài chính đầy đủ như, Quĩ phát triển cộng đồng
- Tập hợp các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm Quản lý rừng cộng đồng thông qua các hội thảo quốc gia Từ năm 2000 đến nay đã có 5 cuộc hội thảo quốc gia được tổ chức xoay quanh vấn đề quản lý rừng cộng đồng Kết quả của các cuộc hội thảo và các ấn phẩm được công bố sau hội thảo thực sự là những tài liệu rất hữu ích
Trang 30về mặt lý luận cũng như thực tế cho việc sửa đổi, bổ sung các chính sách có liên quan và các công trình nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực Quản lý rừng cộng đồng + Hội thảo lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 6 năm 2000, trong đó tập trung vào chủ đề “Những kinh nghiệm và tiềm năng quản lý rừng cộng đồng” nhằm xác định những yếu tố chủ chốt trong Quản lý rừng cộng đồng, xem xét đánh giá và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực này cũng như xác định vai trò của các tổ Công tác về Quản lý rừng cộng đồng cấp quốc gia và địa phương trong tương lai Có thể nói hội thảo này là bước đột phá và là hội thảo đầu tiên mà lâm nghiệp cộng đồng là chủ điểm chính của hội thảo
+ Hội thảo lần thứ hai được tổ chức vào tháng 11 năm 2001 tập trung vào phân tích “Khuôn khổ chính sách hỗ trợ rừng cộng đồng” Vấn đề đặt ra là Quản lý rừng cộng đồng đã và đang tồn tại và phát triển, mặc dù khung pháp lý cho sự phát triển của loại hình quản lý rừng này vẫn chưa được Nhà nước thiết lập Vai trò của hình thức quản lý rừng này trong toàn bộ hệ thống quản lý rừng của Việt Nam như thế nào? Những thay đổi trong chính sách gần đây có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của rừng cộng đồng? Những thách thức và vướng mắc nảy sinh trong quá trình phát triển Quản lý rừng cộng đồng? Có nên khuyến khích sự phát triển của Quản lý rừng cộng đồng hay không? Cần phải có những pháp lý như thế nào để khuyến khích các cộng đồng tham gia tích cực trong việc bảo vệ và phát triển rừng… Kỳ vọng của hội thảo là sẽ giúp cho lãnh đạo và những nhà hoạch định chính sách ở các cấp thấy được nhu cầu cấp thiết của quản lý rừng do cộng đồng thôn, bản đảm nhiệm, từ đó đề xuất những thay đổi và điều chỉnh hoặc xây dựng chính sách mới nhằm khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và phát triển rừng
+ Hội thảo lần thứ ba được tổ chức vào tháng 11 năm 2004 sau khi Luật Đất đai được sửa đổi và ban hành và Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã được chỉnh sửa Hội thảo lần thứ ba tập trung vào chủ đề “Hướng dẫn thực hiện Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” Hội thảo nhằm mục đích trao đổi và thảo luận các khuôn khổ hướng dẫn về: thể chế và quản lý rừng cộng đồng; chính sách hưởng lợi trong quản
Trang 31lý rừng cộng đồng và đánh giá tài nguyên và khai thác rừng cộng đồng để cụ thể hóa Luật Bảo vệ và phát triển rừng giúp cho việc quản lý rừng cộng đồng được chặt chẽ và có hiệu quả
+ Hội thảo lần thứ tư được tổ chức vào tháng 6 năm 2006 Hội thảo tập trung vào chủ đề chia sẻ tri thức và các bài học kinh nghiệm trong 5 năm thực hiện dự án:
Hỗ trợ phương thức quản lý và sử dụng tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng, phổ biến những ý tưởng đổi mới và kinh nghiệm bản địa; xây dựng quan hệ đối tác và mạng lưới để nâng cao năng lực cho quần chúng nhằm phát huy quyền làm chủ của người dân địa phương
+ Hội thảo lần thứ năm được tổ chức vào tháng 7 năm 2007 Hội thảo tập trung vào việc chia sẻ kinh nghiệm và đóng góp ý kiến cho việc hình thành những tài liệu hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng trên cơ sở tập hợp các kết quả, các ấn phẩm của các chương trình, dự án đề tài nghiên cứu
1.3.3 Các văn bản chính có liên quan đến Quản lý rừng cộng đồng
- Luật Đất đai: Luật Đất đai được công bố ngày 10 tháng 12 năm 2003 đã chính thức công nhận “Cộng đồng dân cư thôn gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất”
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng công bố ngày 14 tháng 12 năm 2004 ngoài quyền được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định lâu dài, cộng đồng dân cư thôn còn được khai thác sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho các thành viên trong cộng đồng được sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp kết hợp theo qui định cuả Luật Bảo vệ và phát triển rừng
và Qui chế quản lý rừng; được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích từ các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng theo qui định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng và các qui định khác có liên quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng
Trang 32Luật Đất đai và Luât Bảo vệ và phát triển rừng đã chính thức công nhận cộng đồng dân cư có quyền được sử dụng đất, quyền được sử dụng rừng như các đối tượng khác là sự thay đổi lớn tạo cơ hội cho cộng đồng dân cư thôn phát huy hết được những lợi thế tham gia vào công cuộc bảo vệ và phát triển rừng của đất nước Tuy vậy, cho đến nay cộng đồng dân cư nói chung và cộng đồng dân cư thôn, bản nói riêng vẫn chưa được luật pháp công nhận là chủ thể có tính pháp nhân trong quan hệ dân sự và kinh tế Vấn đề này ít nhiều đã làm hạn chế đến sự phát triển của cộng đồng dân cư trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng
1.3.4 Hưởng lợi từ quản lý rừng cộng đồng
1.3.4.1 Nhận thức vấn đề hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng
Vấn đề hưởng lợi rừng trong quản lý rừng cộng đồng đã trở thành một vấn
đề “nóng” trong nhiều cuộc hội thảo về quản lý rừng cộng đồng và cũng là vấn đề đòi hỏi phải có những đột phá về nhận thức, xây dựng cơ chế chính sách và quản lý Những kinh nghiệm từ thí điểm hưởng lợi rừng do cộng đồng quản lý ở một số nơi
ở Tây Nguyên cần được nghiên cứu và điểu chỉnh trong chính sách hưởng lợi rừng Hai định hướng hưởng lợi rừng trong quản lý rừng cộng đồng cần được quan tâm và nghiên cứu để mở rộng và thể chế hoá, đó là: Thứ nhất, thừa nhận và thể chế hoá khai thác thương mại và cơ chế hưởng lợi sản phẩm rừng thương mại từ rừng cộng đồng; Thứ hai, dần tiến tới cơ chế hưởng lợi rừng từ dịch vụ môi trường
Tổ chức quản lý rừng cộng đồng được Hội thảo thống nhất một số điểm quan trọng là khuyến khích sáng kiến của cộng đồng trong hình thành các tổ chức quản lý rừng cộng đồng Kiểu tổ chức nửa Nhà nước trong quản lý rừng cộng đồng là khá phù hợp Cần xác lập cơ chế hợp tác và đối tác giữa các tổ chức bên trong và ngoài cộng đồng trong quản lý rừng Để xác lập vị trí pháp lý và tính pháp nhân của cộng đồng trong quản lý rừng cộng đồng việc hình thành các chủ thể kinh tế đại diện cộng đồng để có đủ pháp nhân quản lý rừng cộng đồng và vấn đề mới cần khuyến khích nghiên cứu, thí điểm
Kết quả Hội thảo cho thấy việc xác lập cơ sở pháp lý một cách rõ ràng về quản lý và chia sẻ lợi ích từ cộng đồng là rất cần thiết vì:
Trang 33- Cộng đồng cùng tham gia quan lý rừng là một thực tiễn không thể phủ định, dù được thể chế hoá hoặc không thừa nhận thì nó vẫn tồn tại bởi đây là đặc trưng cơ bản của văn hoá và quan hệ cộng đồng vùng cao đã có từ lâu đời Do đó việc thừa nhận cộng đồng là một chủ thể có pháp nhân luôn có lợi cho công tác quản lý rừng Vấn đề này cần được nghiên cứu và bổ sung vào các bộ luật để từng bước khẳng định cộng đồng dân cư thôn có đủ pháp nhân trong quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng
- Sử dụng một phần rừng cho mục đích chung của cộng đồng như cung cấp
gỗ làm nhà, giữ nguồn nước, đáp ứng nhu cầu tâm linh, vv…phải được xem là một hình thức hưởng lợi của cộng đồng cần được thể chế hoá một cách rõ ràng Sử dụng rừng cho mục đích chung của cộng đồng cần là rất cần thiết trong bối cảnh tương lai
và hiện tại khi kinh tế hộ , kinh tế trang trại, sản xuất hàng hoá phát triển có thể là những nguy cơ làm ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng và hưởng dụng tài sản chung của cả cộng đồng như đã xuất hiện ở nhiều nơi Thực tế ở nhiều nơi cho thấy cộng đồng hết đất công để dùng cho mục đích chung, không có rừng để bảo vệ nguồn nước của cộng đồng, không có quỹ công để thực hiện phúc lợi
- Cần có đủ cơ sở pháp lý cho cộng đồng dân cư thôn có tư cách pháp nhân quản lý, sử dụng lâm sản thương mại, nhất là rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng quản lý Những quy định về kỹ thuật trong phương án kinh doanh rừng của cộng đồng cũng cần được sửa đổi sao cho phù hợp với điều kiện của cộng đồng
Kết quả hội thảo là những khuyến cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp Việt Nam trong quá trình hoạch định cơ chế và chính sách và quản lý phương thức quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
- Khuôn khổ pháp lý và chính sách liên quan đến quản lý rừng cộng đồng hiện nay, cộng đồng quản lý rừng là một thực tiễn Thực tiễn này đang chỉ ra nhiều hình thái và cách thức cộng đồng tham gia quản lý rừng, trong khi các khía cạnh về mặt pháp lý và chính sách về cơ chế hưởng lợi cho đối tượng cộng đồng dân cư thôn quản lý rừng đáng được từng bước cải thiện nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa rõ
Trang 34ràng Khuôn khổ luât pháp và chính sách của Chính phủ dần được hình thành và tạo
ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển
Cho đến nay các văn bản pháp luật về đầu tư và tín dụng không quy định cộng đồng dân cư thôn và nhóm hộ là đối tượng được vay vốn đầu tư và hưởng ưu đãi theo luật khuyến khích đầu tư trong nước khi tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp
Các chính sách về hưởng lợi đã được đề cập ít nhiều trong các văn bản liên quan đến giao đất giao rừng trước đây như Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 01 năm
1994, Nghị định 01/CP ngày 04 tháng 1 năm 1995, Nghị định 163/1999 NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999, Quyết định ngày 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001 Tuy nhiên, các văn bản chính sách này không quy định các quyền hưởng lợi cho cộng đồng quản lý rừng
Hai văn bản quan trọng quy định chi tiết quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê và được nhận khoán rừng và đất lâm ngiệp
là quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 về quyền hưởng lợi nghĩa vụ của hộ gia đình cá nhân được giao, được thuê, nhận khoá rừng và lâm nghiệp (sau đây gọi tắt là quyết định 178) và thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN- BTC của Bộ NN&PTNT và Bộ Tài chính ngày 03 tháng 9 năm 2003 về hướng dẫn thực hiện quyết định 178/2001/QĐ-TTg (sau đây gọi tắt là Thông tư 80) Gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp cộng đồng dân cư nhóm hộ và các tổ chức trong cộng đồng không thuộc phạm vi điều chỉnh của hai văn bản trên
Từ các văn bản trên cho thấy, mặc dù cộng đồng được coi là một chủ thể với trách nhiệm rõ ràng trong quản lý rừng, tuy nhiên các văn bản dưới Luật lại chưa quy định rõ việc hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng Ở thực tế hầu hết các cộng đồng thôn bản đều có quy chế/hoặc luật tục quy định việc sử dụng và chia sẻ lợi ích từ việc khai thác tài nguyên từ các khu rừng cộng đồng Các quy chế này thường tự do cộng đồng đề ra (có thể không tham khảo các văn bản pháp quy) hoặc được xây dựng dưới sự hướng dẫn của chính quyền địa phương, kiểm lâm hoặc cán
bộ lâm nghiệp thuộc các chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng hay dự
Trang 35án hỗ trợ của nước ngoài Trong đó thường quy định loại tài nguyên (gỗ, tre nứa, lâm sản ngoài gỗ) và hạn mức khai thác của mỗi loại Ví dụ ở các thôn thuộc xã Yang Mao (Tỉnh Đak Lak) mỗi hộ được phép khai thác không quá 10 m3/năm và cộng đồng được hưởng 100 % sản phảm từ rừng trồng Còn ở một số nhóm cộng đồng thuộc Tỉnh Thừa Thiên - Huế lại quy định lượng khai thác không được vượt quá 50 % lượng tăng trưởng Đối với tre nứa và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) hầu như người dân thường được khai thác tự do
Hoạt động giao đất, giao rừng tự nhiên cho cộng đồng dân cư thôn bản để bảo vệ, phát triển nhằm sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng tại nước ta được thực hiện trong một số năm gần đây Rừng và đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài Đối với những diện tích rừng và đất rừng giao cho cộng đồng, các thành viên của cộng đồng cùng đầu tư, quản lý và hưởng lợi, hoàn toàn dựa trên nguyên tắc
tự nguyện và cùng có hưởng lợi giữa các thành viên của cộng đồng
1.3.4.2 Cơ sở pháp lý tác động đến quyền hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng
- Luật Dân sự được quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2005, quy định: Cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cả cộng đồng Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng theo thỏa thuận vì lợi ích của cộng đồng
- Luật Đất đai đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam sửa đổi, thông qua và ban hành tháng 11 năm 2003 (Gọi tắt là Luật Đất đai 2003) Một nhân tố mới trong quá trình quản lý bảo vệ và phát triển rừng đó chính là cộng đồng dân cư thôn được Luật Đất đai năm 2003 công nhận là một đối tượng được giao, công nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và chính cộng đồng dân cư thôn là một nhân tố tích cực, quan trọng trong hệ thống quản lý rừng.Tuy nhiên Nhà nước cũng chỉ giao rừng cho cộng đồng quản lý và họ cũng chỉ có vai trò của người chủ rừng hạn chế trong quản lý rừng có nghĩa là cộng đồng dân cư thôn không được chuyển đổi,
Trang 36chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà chỉ được bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng được giao
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi, được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua và ban hành tháng 12 năm 2004 (Gọi tắt là Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004) quy định:
Nhà nước giao rừng phòng hộ, rừng sản xuất không thu tiền sử dụng đất cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài với tư cách là chủ rừng Việc cộng đồng dân cư thôn được công nhận là một chủ thể pháp lý hợp pháp trong việc quản lý rừng và đất rừng đã tạo ra một hành lang pháp lý đảm bảo cho hoạt động quản lý và bảo vệ rừng
Điều 30 quy định: Cộng đồng dân cư thôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao rừng được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng; được khai thác sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho các thành viên trong cộng đồng; được sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp kết hợp theo quy định; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao; được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn và được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư khi Nhà nước có quyết định thu hồi
- Các quyết định của Chính phủ có liên quan đến hưởng lợi từ quản lý rừng cộng đồng:
+ Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg về Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao rừng Trong quyết định này không đề cập đến cộng đồng dân cư thôn
+ Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg,về phê duyệt đề án giao rừng, khoán bảo
vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân cộng đồng trong buôn làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên Quyết định này chỉ giành cho các cộng đồng dân cư thuộc vùng Tây nguyên
Trang 37+ Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN về Ban hành bản hướng dẫn rừng cộng đồng dân cư thôn Quyết định này chưa phân định được rõ và cụ thể việc hưởng lợi giữa các cộng đồng được các dự án hỗ trợ với các các cộng đồng không được các dự án
hỗ trợ; chưa phân định rõ được việc hưởng lợi giữa các cộng đồng được giao rừng được khai thác gỗ với các cộng đồng được giao rừng chỉ để bảo vệ và phát triển
+ Văn bản số 2324/ BNN-LN ngày 21 tháng 8 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng
Nhìn chung các cơ sở pháp lý trên đây đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam, trong đó cơ bản thể hiện được quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý rừng được giao Các cơ sở pháp lý trên đã góp phần rất tích cực trong việc hỗ trợ và tạo ra một hành lang pháp
lý đảm bảo cho các hoạt động quản lý rừng cộng đồng
1.3.4.2 Những chương trình, dự án về quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến vấn đề hưởng lợi
đã cho biên dịch tài liệu về Lâm nghiệp cộng đồng và Sổ tay cẩm nang của Lâm nghiệp cộng đồng do tổ chức nông lương liên hiệp quốc (FAO-UNDP) xuất bản về các vấn đề cơ bản có liên quan đến Lâm nghiệp cộng đồng, như: “Khái niệm, phương pháp, công cụ phục vụ luận chứng, kiểm tra, đánh giá có sự tham gia của người dân trong LNCĐ”; “Thẩm định nhanh quyền hưởng dụng đất và cây rừng của cộng đồng…” rất hữu ích cho việc nghiên cứu phát triển LNCĐ ở Việt Nam trong giai đoạn tiền phát triển Theo các tài liệu này thì Lâm nghiệp cộng đồng là mọi hoạt động lâm nghiệp được những cá nhân trong cộng đồng thực hiện nhằm tăng các lợi ích mà họ cho là có giá trị
- Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển đã cho xuất bản các tài liệu rất hữu ích cho quản lý rừng cộng đồng như: “Điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân, xây dựng kế hoạch ở thôn bản”, “Phát triển Quỹ thôn bản”
Trang 38- Dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà, chương trình hợp tác với Cộng hòa liên bang Đức trong tài liệu giới thiệu về “Lâm nghiệp cộng đồng” có đề cập đến hưởng dụng đất và cây rừng ở cấp cộng đồng xác định rằng “Trong quản lý lâm nghiệp cộng đồng, hưởng dụng là một nhân tố quan trọng vì nó điều tiết sự kiểm soát và sự tiếp cận với tài nguyên rừng” Cần phân biệt giữa hưởng dụng trên thực tế và hưởng dụng theo quy định Quyền sử dụng một tài nguyên được địa phương công nhận là
cơ sở cho hưởng dụng trên thực tế Nếu quyền sử dụng một tài nguyên được pháp luật công nhận và nhà nước ủng hộ thì được gọi là hưởng dụng theo quy định Một nguồn tài nguyên nào đó có thể thuộc về hưởng dụng theo quy định của nhà nước,
có thể các nhóm sử dụng địa phương vẫn coi đó là tài nguyên của mình và đòi quyền cũng như trách nhiệm trong việc quản lý tài nguyên đó
Một hệ thống hưởng dụng là một tập hợp các dạng thức hưởng dụng trong một xã hội nhất định Thường có một số dạng hưởng dụng khác nhau trong mỗi hệ thống hưởng dụng cho các mục đích sử dụng khác nhau và những đối tượng sử dụng khác nhau nhưng tất cả các dạng hưởng dụng này phải là một hệ thống liên hoàn, bổ sung cho nhau
Có rất nhiều hình thức hưởng dụng Nhiều nông dân canh tác trong các hệ thống hưởng dụng bản địa Những hệ thống này đã phát triển để đáp ứng nhu cầu cụ thể của các dân tộc trong các môi trường khác nhau và sử dụng các kỹ thuật nhất định Các hình thức hưởng dụng này rất đa dạng và khó có thể khái quát được
- Chương trình tài trợ các dự án nhỏ quản lý bền vững rừng nhiệt đới (SGP- PTF/UNDP) cho xuất bản Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng năm 2007 trong đó có phân tích và hướng dẫn chi tiết về những điều kiện cơ bản trong quản lý rừng cộng đồng; những cơ sở pháp lý và luật tục tác động đến quản lý rừng cộng đồng và các hoạt động trong quản lý rừng cộng đồng
- Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác xuất bản tài liệu “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương trình Lâm nghiệp cộng đồng” năm 2006 Trong
đó có trình bày khái quát kinh nghiệm về lâm nghiệp cộng đồng của một số nước Châu Á, tại Việt Nam cẩm nang này cũng đã trình bày, phân tích về các khái niệm,
Trang 39đặc trưng, các tiêu chí nhận biết lâm nghiệp cộng đồng, hiện trạng phát triển, các hình thức quản lý rừng cộng đồng, kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng, khuôn khổ pháp lý và hưởng lợi từ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
- Dự án “Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng” do Cục Lâm nghiệp chủ trì đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý hỗ trợ 40 xã trong 10 tỉnh thuộc vùng dự án trong Quản lý rừng cộng đồng Trong các văn bản này có nhiều quy định có liên quan đến hưởng lợi và cơ chế hưởng lợi từ dự án cũng như từ rừng
- Dự án KfW pha 3 QUICK WIN, trong học phần “Nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật quản lý rừng cộng đồng cho cán bộ quản lý Dự án cấp cơ sở và cán bộ cộng đồng dân cư thôn” trong khuôn khổ của Dự án đã rất chú ý đến các nội dung hưởng lợi và cơ chế hưởng lợi cũng từ hỗ trợ của dự án và từ rừng
Các nghiên cứu về rừng cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng trên thế giới cũng như ở Việt Nam tương đối nhiều, cung cấp đa chiều các kiến thức cũng như các bài học kinh nghiệm để các Quốc gia, địa phương có cơ sở khoa học và thực tiễn trong quản lý rừng cộng đồng Việt Nam đã xây dựng và tạo lập một khuôn khổ gồm nhiều các chính sách nhằm quản lý rừng cộng đồng có hiệu quả Tuy nhiên đối với từng địa phương có những đặc thù về tài nguyên rừng khác nhau, các vấn đề kinh tế xã hội khác nhau sẽ dẫn đến việc thực thi và áp dụng các chính sách rừng
Trang 40cộng đồng sẽ có sự khác nhau đáng kể Đối với tỉnh Sơn La một số vấn đề cần được nghiên cứu để việc quản lý rừng cộng đồng đem lại hiệu quả như là:
Đánh giá quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La
Những tác động của chính sách vĩ mô đến quản lý rừng cộng đồng tỉnh Sơn La Những mô hình quản lý rừng cộng đồng đang tồn tại ở Sơn La và những kinh nghiệm bản địa được sử dụng
Trên cơ sở đề tài kế thừa, tổng hợp những phương pháp đã đề xuất trước đây, đánh giá lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Sơn La và các hoạt động quản lý rừng cộng đồng tại xã Mường Do huyện Phù Yên Từ đó đề tài tiếp tục nghiên cứu hỗ trợ để cộng đồng bản lập được Kế hoạch quản lý rừng, xây dựng được Quy ước và Quỹ bảo vệ phát triển rừng cộng đồng để họ có thể quản lý tốt được tài nguyên rừng đã được giao