1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lý luận về giá trị hàng hóa sức lao động của các mác, và sự vận dụng này trong cải cách chính sách tiền công( tiền lương) ở Việt Nam hiện nay

13 2,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 109,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hòa nhịp cùng với tiến trình phát triển của thế giới bộ mặt đất nước ta càng ngày càng đổi thay.Với sự gia nhập vào các tổ chức ASEAN, APEC, WTO.... đem lại cho đất nước ta rất nhiều cơ hội để xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, cùng với đó là vô vàn khó khăn, thử thách. Một trong những khó khăn nhất của nước ta hiện nay đó chính là đưa ra được những chính sách tiền lương hợp lí vì: Tiền lương là động lực thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, nâng cao năng suất, hiệu quả, chất lượng lao động, là phương tiện để giúp người lao động cải thiện, nâng cao đời sống. Một chính sách tiền lương phù hợp sẽ tăng hiệu quả quản lí nhà nước, ổn định sản xuất, kinh doanh.Tìm hiểu vềlý luận về giá trị hàng hóa sức lao động củaC.Mác giúp chúng ta hiểu được thế nào là hàng hóa sức lao động, giá trị hàng hóa sức lao động, bản chất của tiền công, tiền công danh nghĩa, tiền công thực tế để từ đó giải quyết được chính sách tiền công ở Việt Nam hiện nay là một điều rất quan trọng

Trang 1

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN TIỀN CÔNG CỦA C.MÁC TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

1 Hàng hóa sức lao động

2 Giá trị hàng hóa của sức lao động.

3 Tiền công trong chủ nghĩa tư bản

3.1 Bản chất kinh tế của tiền công

3.2 Các hình thức cơ bản của tiền công

4 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế

II CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN CÔNG (TIỀN LƯƠNG) Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Thực trạng chính sách tiền công ở Việt Nam

2 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế

3.Giải pháp

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Hòa nhịp cùng với tiến trình phát triển của thế giới bộ mặt đất nước ta càng ngày càng đổi thay.Với sự gia nhập vào các tổ chức ASEAN, APEC, WTO đem lại cho đất nước ta rất nhiều cơ hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, cùng với đó là vô vàn khó khăn, thử thách Một trong những khó khăn nhất của nước ta hiện nay đó chính là đưa ra được những chính sách tiền lương hợp lí vì: Tiền lương

là động lực thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, nâng cao năng suất, hiệu quả, chất lượng lao động, là phương tiện để giúp người lao động cải thiện, nâng cao đời sống Một chính sách tiền lương phù hợp sẽ tăng hiệu quả quản lí nhà nước, ổn định sản xuất, kinh doanh.Tìm hiểu vềlý luận về giá trị hàng hóa sức lao động củaC.Mác giúp chúng ta hiểu được thế nào là hàng hóa sức lao động, giá trị hàng hóa sức lao động, bản chất của tiền công, tiền công danh nghĩa, tiền công thực tế để

từ đó giải quyết được chính sách tiền công ở Việt Nam hiện nay là một điều rất quan trọng Vì vậy em xin chọn đề tài: “Lý luận về giá trị hàng hóa sức lao động của các mác, và sự vận dụng này trong cải cách chính sách tiền công( tiền lương) ở Việt Nam hiện nay” Bài làm còn nhiều thiếu xót, mong các thầy cô góp ý để em hoàn thành bài tốt hơn

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN TIỀN CÔNG CỦA C.MÁC TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

1 Hàng hóa sức lao động

Sức lao động là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích

Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa Thực

Trang 3

tiễn lịch sử cho thấy, sức lao động của người nô lệ không phải là hàng hóa vì bản thân người nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô nên anh ta không có quyền bán sức lao động của mình Người thợ thủ công tự do tuy được tuỳ ý sử dụng sức lao động của mình, nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải là hàng hóa, vì anh ta có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình, chứ chưa buộc phải bán sức lao động để sống Sức lao động để trở thành hàng hoá cần phải có những điều kiện nhất định

Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá:

Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do vệ thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa

Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và

tư liệu sinh hoạt Họ trở thành người “vô sản” Để tồn tại buộc họ phải bán sức lao động của mình để sống

Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện quyết định để tiền biến thành

tư bản Tuy nhiên, để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ phải phát triển tới một mức độ nhất định

Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó các hình thái sản xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trở nên có tính chất phổ biến và đã báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội - thời đại của chủ nghĩa tư bản

Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng háo sưc lao động cũng có hai thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng

Trang 4

2 Giá trị hàng hóa của sức lao động.

Giá trị hàng hóa sức lao động: Cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Muốn sản xuất ra năng lực đó, người công dân phải tiêu dùng một lượng tư liệu vật chất nhất định về ăn mặc, ở, học nghề, ngoài

ra người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu về gia đình và con cái anh ta nữa Chỉ có như vậy sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất liên tục

Giá trị hàng hóa sức lao dộng bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử, nhưng đối với mỗi nước nhất định và trong một thời kì nhất định, thì quy mô nhũng tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ phạn sau đây hợp thành:

Một là, giá trị những tư liệu về sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của người công nhân

Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân

Để biết được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kì nhất định cần nghiên cứu hai loại nhân tố tác động đối lập với nhau đến sự biến đổi của giá trị sức lao động Một mặt, sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hóa và dịch

vụ, về học tập và nâng cao trình độ lành nghề đã làm tăng giá trị sức lao động; mặt khác, sự tăng năng suất lao động xã hội sẽ làm giảm giá trị sức lao động

3 Tiền công trong chủ nghĩa tư bản

3.1 Bản chất kinh tế của tiền công

Trang 5

Người công nhân bán sức lao động cho nhà tư bản trong một thời gian nào đó, sản xuất ra một số lượng hàng hóa hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó cho nhà tư bản

thì nhận được một số tiền nhất định, gọi là tiền công Bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá trị hay giá cả của lao động.

Hình thức biểu hiện đó lại gây ra sự nhầm lẫn do những thực tế sau đây :

Thứ nhất, đặc điểm của hàng hoá sức lao động là không bao giờ tách khỏi

người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động

Thứ hai, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để

có tiền sinh sống, do đó bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra là để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động

Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng

sản phẩm sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động

Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công

và lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản

3.2 Các hình thức cơ bản của tiền công

Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiềncông tính

theo sản phẩm.

Trang 6

Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó tỉ lệ

thuận với thời gian lao động của công nhân Tiền công tính theo thời gian thường

áp dụng đối với các công việc khó tính được số lượng sản phẩm cụ thể do đó phải căn cứ vào độ dài ngày lao động, cường độ lao động, trình độ lành nghề để trả công Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian

Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó tỷ lệ

thuận với số lượng sản phẩm hay chi tiết sản phẩm mà công nhân đã chế tạo ra tùy theo số lượng công việc đã hoàn thành Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hoá của tiền công tính theo thời gian

4 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế

Tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm mới chỉ là biểu

hiện của tiền công danh nghĩa, do đó chúng ta cần phân biệt tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế.

Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản Còn tiền công thực tế là tiền công được biểu

hiện bằng số lượng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình

Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động của quan hệ cung - cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa không thay đổi, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hoặc giảm xuống, thì tiền công

Trang 7

thực tế sẽ giảm xuống hay tăng lên Như vậy, tiền công thực tế tỷ lệ thuận với tiền công danh nghĩa và tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hóa, dịch vụ và phụ thuộc vào các khoản thuế mà công nhân phải đóng cho nhà nước

II CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN CÔNG (TIỀN LƯƠNG) Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Đối với tất cả các quốc gia, chính sách tiền lương là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất trong hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, có liên quan chặt chẽ đến động lực phát triển và tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu lực

và hiệu quả quản lý nhà nước, khai thác và phát huy tiềm năng vô hạn từ người lao động Tiền lương là động lực thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, nâng cao năng suất, hiệu quả, chất lượng lao động, là phương tiện để giúp người lao động cải thiện, nâng cao đời sống Một chính sách tiền lương phù hợp sẽ tăng hiệu quả quản

lí nhà nước, ổn định sản xuất, kinh doanh

1 Thực trạng chính sách tiền công ở Việt Nam

Trải qua hơn hai chục năm thực hiện cải cách chính sách tiền lương với khá nhiều Nghị quyết của Đảng và Nhà nước Bên cạnh những nhiều ưu điểm và tiến

bộ so với hệ thống tiền công trong thời kỳ bao cấp.Tuy vậy, cuộc sống luôn luôn biến động trong khi tiền công lại chủ yếu nằm trong trạng thái tĩnh, ít có thay đổi trong cả hệ thống thang bảng lương, cho nên chế độ tiền lương hiện hành vẫn bộc

lộ nhiều hạn chế, bất cập

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế của nước ta đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, thể hiện qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, đầu tư phát triển giáo dục đào tạo, phát triển y tế nâng cao sức khỏe cho nhân dân… Song thực

tế cho thấy, chính sách tiền lương của nhà nước còn chậm đổi mới so với sự phát

Trang 8

triển chung của tình hình kinh tế – xã hội Chính sách tiền lương còn nhiều bất hợp

lý được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, về mức lương tối thiểu Mặc dù đã qua nhiều lần điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu, nhưng cho tới nay, mức lương tối thiểu vẫn quá thấp không bảo đảm tái sản xuất giản đơn sức lao động của bản thân người lao động Nếu so sánh chỉ số lương tối thiểu với hệ nhu cầu cần đạt được (gồm các yếu tố: ăn, ở, mặc, đi lại, học tập, văn hóa, giao tiếp xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp), thì chỉ số này rất thấp Mức lương tối thiểu hiện nay (1,05 triệu đồng/tháng) chỉ bằng 37,5% nhu cầu tối thiểu Thời gian và mức độ điều chỉnh tiền lương danh nghĩa Ở nước ta, trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát hằng năm khá cao, vì thế, về nguyên tắc, để tiền lương thực tế của người lao động không bị giảm cần phải điều chỉnh tăng mức lương danh nghĩa ít nhất ngang bằng với tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên, trên thực tế, việc điều chỉnh lương chưa được thực hiện kịp thời, không theo kịp với đà tăng giá

Thứ hai, hệ số phụ cấp Tiền lương có một chức năng cực kỳ quan trọng là điều tiết quan hệ cung – cầu về sức lao động trong nền kinh tế thị trường Hệ số phụ cấp trong chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay mới chỉ có loại phụ cấp tham gia điều tiết cung – cầu sức lao động theo vùng là phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ Sự chênh lệch mức lương giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp chưa đủ để khuyến khích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thậm chí còn có tình trạng “chảy máu chất xám”

Thứ ba, tỷ lệ tiền lương trong thu nhập Tiền lương chỉ trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự hoạt động tích cực của người lao động khi nó chiếm phần lớn trong thu nhập của họ Với chính sách tiền lương hiện hành, tiền lương của cán bộ công nhân, viên chức hiện nay chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng thu nhập của người hưởng lương (khoảng 30%- 50%), làm cho tiền lương không phản ánh đúng thang giá trị lao động, ảnh hưởng lớn tới quan hệ tiền lương trên thực tế Hiện nay, có

Trang 9

một tình trạng là, do tiền lương quá thấp, trong khi quỹ tiền thưởng được Nhà nước quy định, khống chế không vượt quá 50% quỹ tiền lương thực hiện nên một số đơn

vị đã tìm mọi cách để tăng phần trả ngoài lương, trong đó chủ yếu là tiền thưởng cho người lao động từ 1 đến hơn 1 lần lương chính thức

2 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế

Hiện trạng bất cập trong chế độ tiền lương ở nước ta hiện nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Một trong số đó là nhận thức chưa đầy đủ về tính chất hàng hóa của sức lao động cũng như về bản chất của tiền lương Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chúng ta không coi sức lao động là hàng hóa cả trong khu vực sản xuất, kinh doanh, cũng như khu vực nhà nước, vì vậy tiền lương không phải là giá

cả của sức lao động, không dựa trên cơ sở giá trị sức lao động Trong khu vực kinh

tế nhà nước, nhà nước bao cấp tiền lương, việc trả lương trong doanh nghiệp không gắn với hiệu quả sản xuất, kinh doanh, chính sách biên chế suốt đời được áp dụng Kết quả là, biên chế lao động ngày càng lớn, ngân sách thâm hụt nặng nề do phải bao cấp tiền lương, mà tiền lương lại không đủ tái sản xuất sức lao động Sản xuất – kinh doanh mất động lực nên hiệu quả sút kém

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặc dù chúng ta đã có những thay đổi lớn trong nhận thức về tính chất hàng hóa của sức lao động, cũng như về bản chất của tiền lương, nhưng trên thực tế, việc cải cách tiền lương không đồng bộ với việc đổi mới các lĩnh vực có liên quan nên kết quả không cao Cải cách hành chính trong khu vực nhà nước diễn ra chậm, đặc biệt việc tinh giảm biên chế còn thiếu cương quyết Tiền lương chưa thực sự được coi là đầu tư cho người lao động, đầu

tư cho nguồn nhân lực mà chỉ coi đó là một khoản chi cho tiêu dùng cá nhân Khi tiến hành cải cách tiền lương chưa có cơ chế để tạo nguồn mà chỉ nặng về cân đối ngân sách Chính vì thế khi xây dựng mức lương tối thiểu, Nhà nước dường như bị ràng buộc nặng nề bởi sự eo hẹp của ngân sách nên thường đưa ra những mức giá

tư liệu sinh hoạt thấp xa so với mức thực tế Do đó, tiền lương luôn đứng trước mâu

Trang 10

thuẫn là thấp so với nhu cầu của người lao động nhưng lại cao so với khả năng của ngân sách Trong quá trình thực hiện chính sách, chưa kết hợp được việc cải cách hành chính và đổi mới phương thức hoạt động, cơ chế trả lương cho các ngành sự nghiệp Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong hoạch định và thực hiện chính sách còn hạn chế Công tác quản lý tiền lương và thu nhập còn nhiều bất cập

Những bất cập của chính sách tiền lương đã gây nên những hệ lụy, như chất lượng lao động của công chức nhà nước thấp, tham nhũng trở thành “quốc nạn”…, cản trở công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước.Cơ quan nhà nước các cấp chưa quyết tâm, chưa đầu tư công sức, thời gian để nghiên cứu, lắng nghe, trang bị kiến thức và đủ tầm hiểu biết để xem xét, giải quyết vấn đề tiền lương, không ít quyết định vẫn mang tính chủ quan, kinh nghiệm, nặng về chính trị theo nhiệm kỳ cho dù không ít các chuyên gia, các nhà khoa học, nghiên cứu đưa ra các đề xuất phù hợp; ngại đụng chạm, thiếu quyết tâm chính trị làm mạnh mẽ Cũng không thể phủ nhận một thực tế, không ít cán bộ, công chức có cuộc sống đầy đủ, sung túc không phải bằng tiền lương mà là từ những vụ hối lộ và tham nhũng, họ không thực sự quan tâm đến vấn đề tiền lương mà chỉ quan tâm đến vị trí công việc hoặc chức vụ lãnh đạo

3.Giải pháp

Cải cách chính sách tiền lương là một trong những thách thức rất lớn đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển, ngân sách dành cho quỹ lương còn hạn chế Các giải pháp cải cách tiền lương phải hướng đến một mức lương tối thiểu chung cho toàn xã hội do Chính phủ công bố hoặc chỉ có lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp, làm cơ sở để người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận tiền lương Còn đối với khu vực nhà nước thì xây dựng mức tiền lương cơ bản tương ứng mức lương trung bình khá trong xã hội để trả cho cán

bộ công chức- loại lao động công vụ, lao động đặc thù thực hiện chức năng quản lý nhà nước Mức lương tối thiểu của cán bộ, công chức cần và phải không thấp hơn

Ngày đăng: 19/09/2017, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w