1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nâng cao chất lượng hoạt động thiết chế văn hóa cơ sở ở Thanh Hóa giai đoạn 2015 2020

67 319 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 22,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởilẽ, đây chính những tụ điểm sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân dân, giữ vaitrò nòng cốt trong việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, xã hội tại địa phương, là

Trang 1

-ĐỀ ÁN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG

THIẾT CHẾ VĂN HÓA CƠ SỞ Ở THANH HÓA

GIAI ĐOẠN 2015- 2020

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

Lớp: Cao cấp lý luận Chính trị tỉnh Thanh Hóa

Trang 2

1 Lý do xây dựng đề án……… …… 1

2 Giới hạn của đề án 2

3 Mục tiêu của đề án 3

B NỘI DUNG 4

1 Căn cứ xây dựng đề án 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý 9

1.3 Cơ sở thực tiễn 12

2 Nội dung thực hiện của đề án 15

2.1 Bối cảnh thực hiện đề án 15

2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án 20

2.3 Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện 28

2.4 Các giải pháp thực hiện đề án 31

3 Tổ chức thực hiện đề án 41

3.1 Phân công trách nhiệm thực hiện đề án 41

3.2 Tiến độ thực hiện đề án 42

3.3 Kinh phí thực hiện đề án 42

4 Dự kiến hiệu quả của đề án 43

4.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề án 43

4.2 Đối tượng hưởng lợi của đề án 43

4.3 Những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện và tính khả thi của đề án 44

C KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 45

1 KIẾN NGHỊ 45

2 KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 3

Đề hoàn thành bản Đề án này, trước tiên tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu

sắc tới giảng viên hướng dẫn: Th.s Lưu Khương Hoa PhóTrưởng khoa Văn

hóa & Phát triển, Học viện Chính trị khu vực I đã trực tiếp hướng dẫn, đónggóp ý kiến cho Đề án

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Văn hóa tỉnhThanh Hóa và các đồng nghiệp đã quan tâm, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do xây dựng đề án

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chính là làm cho văn hóa thấm sâuvào toàn bộ đời sống, vào các mối quan hệ của con người, vào mọi lĩnh vựcsinh hoạt và hoạt động của con người và xã hội loài người Trên tinh thần đó,

văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: cần

tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội…tạo ra chất lượng mới của cuộc sống; xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, việc nâng cao chấtlượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa là vô cùng quan trọng Bởilẽ, đây chính những tụ điểm sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân dân, giữ vaitrò nòng cốt trong việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị,

xã hội tại địa phương, là điều kiện cần và đủ trong phong trào "Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hóa" và "Chương trình xây dựng nông thôn mới"

Trong suốt thời gian qua hệ thống thiết chế văn hóa đã giữ vai trò nòngcốt trong việc xây dựng và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân trên địabàn toàn tỉnh Nhà văn hóa đã góp phần tổ chức các hoạt động tuyên truyềnnhiệm vụ chính trị, xã hội tại địa phương, là điều kiện cần và đủ trong Phongtrào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và chương trình xâydựng nông thôn mới

Nhằm điều tra, khảo sát lại toàn bộ hệ thống thiết chế Nhà văn hóathôn, bản, phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, phân tích, đánh giá thực trạng,tìm ra những mặt hạn chế, khó khăn và đưa ra một số giải pháp nâng cao chấtlượng hoạt động của thiết chế Nhà văn hóa thôn, bản, phố, nhằm đáp ứng nhu

Trang 5

cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa của nhân dân, góp phần thúc đẩy phong tràoxây dựng đời sống văn hóa tỉnh Thanh Hóa ngày một phát triển.

Xuất phát từ nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí và tầm quan trọng đặcbiệt của văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng hộinhập quốc tế như hiện nay, việc tổ chức xây dựng đời sống văn hóa, đặc biệt

là việc nâng cao chất lượng hệ thống thiết chế văn hóa đang đặt ra nhiều vấn

đề bức thiết cần phải giải quyết, nhất là chất lượng hoạt động của các thiết chếvăn hóa ở các đơn vị cơ sở nhằm đáp ứng mục tiêu đặt ra Đây cũng chính làmột chủ trương lớn của Đảng nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Giai đoạn 2015 - 2020 chúng

ta đang tiếp tục triển khai và thực hiện cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết

xây dựng đời sống văn hóa”, " xây dựng nông thôn mới", v.v , tạo sự chuyển

biến căn bản trong nhận thức của cán bộ và nhân dân về vị trí, vai trò của vănhóa trong đời sống xã hội; hoàn thiện các thiết chế văn hóa - thể thao; nângcao mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tệnạn xã hội Chính vì lẽ đó, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu, nâng caochất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa trong giai đoạn hiện nay là hếtsức cấp bách và cần thiết Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi lựa chọn đề

tài “ Nâng cao chất lượng hoạt động thiết chế văn hóa cơ sở ở Thanh Hóa

giai đoạn 2015 - 2020” làm đề án tốt nghiệp chương trình cao cấp LLCT- HC

của mình với mong muốn góp phần từng bước đưa hệ thống thiết chế văn hóa

cơ sở ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong việc xây dựng đời sống vănhóa cơ sở trong giai đoạn 2015 - 2020

2 Giới hạn của đề án

2.1 Đối tượng nghiên cứu: hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở,

bao gồm: nhà văn hóa thôn, bản, phố

2.2 Không gian nghiên cứu: các quận, huyện, xã, phường trên địa bàn

tỉnh Thanh Hóa

2.3 Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2015 – 2020

Trang 6

3 . Mục tiêu của đề án

3.1 Mục tiêu chung.

Nâng cao chất lượng hoạt động của thiết chế Nhà văn hóa thôn, bản,phố, nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa củanhân dân ở các thôn, bản, phố Thông qua đó, góp phần thúc đẩy hiệu quảcủa phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa ngày mộtphát triển bền vững và đạt chất lượng cao

- Điều tra, khảo sát lại toàn bộ hệ thống thiết chế Nhà văn hóa thôn,bản, phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

- Phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra những mặt hạn chế, khó khăn vàđưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cuả cácthiết chế văn hóa thôn, bản, phố

Trang 7

B NỘI DUNG

1 Căn cứ xây dựng đề án

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Quan niệm về xây dựng và phát triển đời sống văn hóa

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi

mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.

Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khíacạnh của đời sống Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sốngcũng mang những dấu hiệu văn hóa Chính vì sự bao trùm của văn hóa đốivới từng khía cạnh của đời sống xã hội, nên mọi hoạt động và sinh hoạt xãhội đều ẩn chứa giá trị văn hóa

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã chỉ ra rằng: “Phải

đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, công trường, nông trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan trường học, bệnh viện, cửa hàng mỗi

xã, hợp tác xã phường đều có đời sống văn hoá”.

Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triểnvăn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã được thể hiện từ rất sớm.Trong giai đoạn đổi mới được cụ thể hóa và nhấn mạnh ở Nghị quyết Hội nghịlần thứ năm BCHTW Đảng khóa VIII và Nghị quyết số 33 - NQ/TW ngày9/6/2014 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển vănhóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, không chỉ bao gồm các sinh hoạtvăn hóa của cộng đồng dân cư mà bao gồm cả cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết

Trang 8

chế văn hóa, cũng như các thành tố của văn hóa: văn hóa gia đình, thôn, làng,khu phố ; văn hóa xã, phường ; văn hóa cơ quan, công sở; nếp sống văn hóatrong việc cưới việc tang và lễ hội do đó đòi hỏi phải có sự quan tâm của

cả hệ thống chính trị và toàn xã hội

Xây dựng, phát triển hệ thống thiết chế văn hóa nằm trong nội dungcông tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, chính việc phát triển hệ thốngthiết chế văn hóa là thành tố góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1.1.1.2 Quan niệm về thiết chế văn hóa cơ sở

Danh từ “thiết chế” dùng cho nhiều lĩnh vực Nhưng thiết chế văn hóahiểu trong lĩnh vực văn hóa bao gồm: thư viện, bảo tàng, nhà thi đấu thể thao,nhà văn hóa, cung văn hóa, câu lạc bộ…

Thiết chế văn hóa, cho đến nay khi nói cũng như ngay trong các vănbản chính thức vẫn có nhiều nhầm lẫn Nhiều người chỉ đơn giản nghĩ đó là

cơ sở vật chất Sự nhầm lẫn này đã dẫn đến sự phiến diện trong đầu tư hoặccác hoạt động khác có liên quan đến thiết chế văn hóa

Vậy thực chất thiết chế văn hóa là gì? Có thể tìm thấy nhiều khái niệmkhác nhau về thiết chế văn hóa Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụngrộng rãi trong ngành văn hóa ở Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ XX.Tuy nhiên, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam - Tập 1, NXB từ điển Bách

khóa - 1996 thì “Thiết chế văn hóa là một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ

các yếu tố, cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa”.

Có thể nói, thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hoá hội tụ đầy đủ cácyếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồnkinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hoá chưa đủ để gọi là thiếtchế văn hoá Đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ, cũng là những thiết chế văn

Trang 9

hóa gắn với đời sống tâm linh (được coi như thiếu chế văn hóa cũ) Trongphạm vi nghiên cứu của đề án, chúng tôi chỉ tập trung vào nâng cao chấtlượng hoạt động của các thiết chế văn hóa mới là nhà văn hóa (khu phố,thôn , bản ), không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, v.v

Cơ sở vật chất của thiết chế văn hóa: Là những cơ sở, điều kiện cần có

tối thiểu cho các hoạt động văn hóa, nhất là các sinh hoạt cộng đồng diễn ra.Trong đó quan trọng nhất chính là không gian sinh hoạt cộng đồng

Bộ máy tổ chức nhân sự: Là tổ chức sự nghiệp được thành lập theo

quy định hoặc tổ chức tự quản do nhân dân lập ra một cách không chínhthức( phi thể chế ), những người tham gia là theo cơ chế tự nguyện hoặc theo

sự phân công của cộng đồng

Quy chế hoạt động: Được xây dựng theo quy định của pháp luật hoặc

do nhân dân xây dựng theo nguyên tắc thỏa ước, tự quản

Kinh phí hoạt động: Từ ngân sách hoặc do nhân dân đóng góp một

cách tự nguyện và các nguồn tài trợ, hỗ trợ hợp pháp khác

Đối với thiết chế nhà văn hóa thôn, bản, phố thì cơ sở vật chất là những

cơ sở, điều kiện cần có tối thểu cho các hoạt động văn hóa, nhất là các sinhhoạt cộng đồng diễn ra, trong đó quan trọng nhất chính là không gian sinhhoạt cộng đồng

1.1.1.3 Vai trò, vị trí của thiết chế văn hóa cơ sở

Thiết chế văn hóa cơ sở như ngôi nhà tinh thần của một cộng đồng.Nếu không có ngôi nhà ấy thì người ta khó có thể ổn định đời sống tinh thần.Ngôi nhà tinh thần này chứa trong đó hầu hết các hoạt động của cơ sở Thiếtchế văn hóa cơ sở là một trong những công cụ của Đảng và Nhà nước để lãnhđạo quần chúng, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.Thông qua hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở để xây dựng đời sống văn

Trang 10

hóa cho nhân dân, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế-xãhội của đất nước.

Xây dựng đời sống cho nhân dân, việc quan trọng là xây dựng hệ thốngthiết chế văn hóa thông tin cơ sở, đây là cơ sở vật chất hạ tầng thiết thực và cótầm quan trọng đặc biệt đối với công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.Thiết chế được hiểu là thiết lập tạo dựng lên; là sự chế định và luật lệ đặt ra(thành văn hoặc không thành văn) của mỗi cộng đồng quốc gia Bất kỳ mộtthời đại nào, chế độ xã hội nào cũng cần có những thiết chế văn hóa đểchuyển tải văn hóa chính thống của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân,đồng thời tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với yêu cầu chuẩn mực, đạođức, lối sống, phong tục tập quán của thời đại đó Trong cuộc sống hiện đangtồn tại thiết chế văn hóa truyền thống bên cạnh sự phát triển không ngừng củathiết chế văn hóa thông tin mới Ngày xưa đình, chùa một mặt đáp ứng nhucầu văn hóa tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân; mặt khác cũng là nơi diễn racác hoạt động văn hóa như lễ hội, sinh hoạt văn hóa dân gian, giao lưu cố kếtcộng đồng, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống để trao truyền cho các thế

hệ tiếp nối Thiết chế văn hóa mới là Nhà văn hóa; Câu lạc bộ; Phòng truyềnthống; Thư viện; Trung tâm giáo dục cộng đồng…Các thiết chế này phục vụnhu cầu hiện tại và đòi hỏi mới về văn hóa tinh thần của nhân dân Xã hộicàng văn minh, nhu cầu hưởng thụ của con người càng cao, thiết chế văn hóa

cơ sở ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng

Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế thị trường nhiều thànhphần, nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa tinh thần của nhân dân ngàycàng gia tăng Điều đó đòi hỏi lãnh đạo các cấp không chỉ chăm lo đời sốngvật chất phát triển mà còn phải chăm lo đời sống tinh thần bền vững, lànhmạnh Điều này muốn thực hiện được phải thông qua hoạt động của hệ thốngthiết chế văn hóa trực tiếp phục vụ cuộc sống của nhân dân Đó là thiết chếvăn hóa cơ sở, cầu nối gần gũi giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là nơi tổ

Trang 11

chức các hội thi, liên hoan, tập hợp giao lưu truyền giữ các làn điệu dân ca,dân vũ truyền thống đậm đà bản sắc…Đây cũng là địa điểm sinh hoạt của các

tổ chức đoàn thể như: Chi bộ; Hội người cao tuổi; Hội cựu chiến binh, Hộiphụ nữ; Đoàn thanh niên…, tổ chức các hoạt động khuyến học tương thân,tương ái, gắn kết tình đồng chí, nghĩa đồng bào đoàn kết và trách nhiệm cộngđồng trong ngôi nhà chung; là tụ điểm vui chơi thể thao, dưỡng sinh, là nơicất giữ các trang thiết bị, công cụ phục vụ hội họp, sinh hoạt văn nghệ, thôngtin ở cơ sở Thiết chế văn hóa cơ sở phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành cácnhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương Nó là công cụ chuyển tảihiệu quả tư tưởng văn hóa của Đảng và chính quyền các cấp đến tầng lớpnhân dân

1.1.1.4 Chức năng của thiết chế văn hóa cơ sở

Chức năng giáo dục: Là chức năng giáo dục mang tính toàn diện, bao

gồm Đức - Trí - Thể - Mỹ, là chức năng cơ bản, bao trùm, là thuộc tính, bảnchất của các hoạt động diễn ra tại Trung tâm Văn hóa, Nhà văn hóa Và nộidung giáo dục ở đây chính là giáo dục cộng đồng, giáo dục quần chúng…

Chức năng giao tiếp, tuyên truyền: Là chức năng giáo dục đặc thù, chủ

yếu vì tại đây các hình thức giao tiếp được thể hiện rất độc đáo, thông qua môhình hoạt động của các Câu lạc bộ, đội, nhóm Trong một thiết chế Nhà văn hóabất kỳ sẽ có nhiều Câu lạc bộ, đội, nhóm cùng hoạt động do vậy các hình thứcgiao tiếp như diễn đàn, hội thảo, tọa đàm…sẽ được khởi xướng và tổ chức

Chức năng phát triển năng lực sáng tạo của quần chúng: Những hoạt

động sáng tạo ở các Nhà văn hóa cơ sở thường mang tính nghiệp dư Tại đâydiễn ra sự sáng tạo ở nhiều lĩnh vực, tuy nhiên phổ biến nhất là những sángtạo trong văn hóa nghệ thuật để phục vụ nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo củaquần chúng Mục đích hướng tới trong hoạt động sáng tạo là để phát huy, kíchthích tiềm năng sáng tạo của mỗi người dân trong cộng đồng

Trang 12

Chức năng đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí: Thiết chế văn hóa cơ sở

là nơi có điều kiện thuận lợi nhất để tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí,nghỉ ngơi của nhân dân, các hoạt động mang tính tập trung theo chủ trươngchung của chính quyền địa phương, các đoàn thể, tổ chức Đây cũng là nơikhởi xướng, tổ chức nhiều loại hình, nhiều hoạt động bổ ích, đặc biệt là nơigóp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng môitrường văn hóa lành mạnh, định hướng tư tưởng và dư luận trong mỗi ngườidân, từng bước giảm dần các tệ nạn xã hội…

1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng cộng sảnViệt Nam đã rất coi trọng côngtác văn hóa, xác định công tác văn hóa là một bộ phận của cách mạng ViệtNam Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng thực sự là văn kiệnlớn có giá trị lịch sử, đánh dấu quan điểm của Đảng ta về văn hóa văn nghệ.Năm 1998, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, họp Hội nghị lần

thứ 5 đã đề ra Nghị quyết chuyên đề về “ Xây dựng và phát triển nền văn hóa

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Là một trong bốn nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa

VIII), phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã thật sự đi

vào cuộc sống và tạo được sự chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trongnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương nói riêng và trên cả nướcnói chung

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã chỉ rõ: “ Phát triển và không

ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm tầm quốc gia Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa, nghệ thuật”.

Hoạt động của các thiết chế văn hóa thể thao dược căn cứ trên những cơ sởpháp lý sau:

Trang 13

* Những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về xây dựng, phát triển

hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở

- Quyết định số 271/2005/QĐ - TTg ngày 31 tháng 10 năm 2005 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế vănhóa cơ sở đến năm 2010

- Quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới

- Quyết định số 581/QĐ - TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 đã xácđịnh: Xây dựng, hoàn thiện, củng cố hệ thống thiết chế văn hóa từ Trung ươngđến địa phương Chú trọng đổi mới nội dung hoạt động của hệ thống nhà vănhóa, phục vụ tốt nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân Tổ chức bộ máy quản

lý và hoạt động theo nguyên tắc chuyên nghiệp hóa tất cả các bộ phận trong cơcấu của một thiết chế văn hóa

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành một số văn bản, thông tưhướng dẫn về tổ chức và hoạt động của hệ thống nhà văn hóa như sau:

- Thông tư số 03/2009/TT-BVHTTDL ngày 28 tháng 01 năm 2009 của Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Văn hóa tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương;

- Thông tư số 11/2010/TT-BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về quy định tiêu chí của Trung tâm Vănhóa - Thể thao quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;

- Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về quy định tiêu chí của Trung tâm Vănhóa - Thể thao xã;

- Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 08 tháng 3 năm 2011 của Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về quy định mẫu tổ chức hoạt động vàtiêu chí của nhà văn hóa, khu thể thao thôn

Trang 14

* Những chủ trương và công tác tham mưu, chỉ đạo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa.

- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu trình Chủ tịch UBND tỉnh

ra quyết định số 222/QĐ-UBND ngày 17/01/2012 về việc phê duyệt kế hoạchthực hiện chương trình phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa” tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 983/QĐ-UBND ngày 10/4/2012 về việc phê duyệt Quychế tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xâydựng đời sống văn hóa” tỉnh Thanh Hóa;

- Quyết định số 2177/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 về việc bổ sung, thaythế thành viên Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa” tỉnh Thanh Hóa; Xây dựng và thực hiện kế hoạch phối hợp với cácngành thành viên Ban chỉ đạo tỉnh kiểm tra đánh giá chất lượng phong trào tạicác địa phương trên địa bàn tỉnh năm 2012;

- Công văn số 1667/CV-BCĐ ngày 02/10/2012 của Trưởng Ban chỉ đạotỉnh về việc đề nghị các thành viên Ban chỉ đạo báo cáo kết quả 12 năm thực hiệnphong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, giai đoạn 2000 -

2012 theo tinh thần nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) “Xây dựng và pháttriển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và kết quả thựchiện phong trào năm 2012

- Giám đốc Sở kiện toàn Ban chỉ đạo xây dựng nếp sống văn hóa Sởgiao chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước cho 05 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở(Thành viên Ban chỉ đạo xây dựng nếp sống văn hóa Sở) và 27 huyện, thị xã,thành phố về đăng ký xây dựng làng, bản, khu phố văn hóa, xã đạt chuẩn vănhóa nông thôn mới

Trang 15

- Hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện phong trào xâydựng đời sống văn hóa cơ sở gắn với thực hiện các nội dung như tiếp tục đẩymạnh “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và chương trìnhxây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 - 2012; Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày06/7/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc thực hiện kết luận số 51/KL-TWngày 22/7/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 27/CT-TW ngày12/11/1998 của Bộ Chính trị về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới,việc tang và tổ chức lễ hội;

- Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21/01/2011 của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việccưới, việc tang và tổ chức lễ hội

- Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ côngnhận danh hiệu “Gia đình Văn hóa”; “Thôn văn hóa”; “Làng văn hóa”; “ấp vănhóa”; “Bản văn hóa”; “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương;

- Thông tư liên tịch số 31/2006/TTLT/BTC/BVHTT ngày 07/4/2006 của

Bộ tài chính, Bộ Văn hóa Thông tin hướng dẫn, quản lý và sử dụng kinh phí hoạtđộng của Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa”; Kế hoạch thực hiện tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa và tiêu chí số 16

về văn hóa trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới và thực hiệnchương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012 - 2015

- Cấp phát trang thiết bị, kinh phí chương trình mục tiêu Quốc gia về vănhóa năm 2012 cho cơ sở theo quyết định số 2092/QĐ-UBND ngày 06/7/2012của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa

1.3 Cơ sở thực tiễn

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “Tiếp tục đưa các

hoạt động văn hóa thông tin về cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát động phong trào toàn dân đoàn kết tham gia thực hiện nếp

Trang 16

sống văn minh, gia đình, làng, bản văn hóa, tiến tới hoàn chỉnh hệ thống thiết chế văn hóa bằng nguồn lực Nhà nước và mở rộng xã hội hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu vực dân cư”.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhQuyết định số 271/2005/QĐ - TTg ngày 31/10/2005 phê duyệt Quy hoạch hệthống thiết chế văn hóa cơ sở đến năm 2010 Trong đó, bao gồm: Trung tâmVăn hóa Thông tin hoặc Nhà Văn hóa Trung tâm cấp tỉnh; Trung tâm Vănhóa, Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện; Nhà Văn hóa cấp xã; Nhà Vănhóa thôn, làng, ấp, bản

Căn cứ Quy hoạch thiết chế văn hóa đã được Thủ tướng phê duyệt, gần

50 tỉnh, thành phố trong cả nước đã xây dựng và phê duyệt Quy hoạch thiếtchế văn hóa của địa phương, nhiều tỉnh đã ban hành Nghị quyết, Quy chế,Quy định cụ thể và có Đề án tổ chức hoạt động Đã có những kết quả rất quantrọng trong cả nước về lĩnh vực này

Tính đến năm 2010, toàn quốc có 71 thiết chế văn hóa cấp tỉnh, gồm 59Trung tâm Văn hóa, 03 Nhà Văn hóa Trung tâm, 04 Trung tâm Thông tin Triển lãm

và 05 thiết chế văn hóa có tên gọi khác như Nhà Triển lãm, Trung tâm Triển lãm,Hội chợ, Quảng cáo - Triển lãm…

Cả nước có 414/682 Trung tâm Văn hóa, Nhà Văn hóa cấp huyện, đạttỷ lệ 60,7 % (chỉ tiêu quy hoạch là 80%); 4161/9823 xã, phường, thị trấn cóNhà Văn hóa, đạt tỷ lệ 42 % (chỉ tiêu quy hoạch là 80 %), một số địa phươngnhư Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thái Bình… có 100 % Nhà Văn hóa xã;38.543/89.681 làng, thôn, ấp, bản, tổ dân phố có Nhà Văn hóa, đạt tỷ lệ 43 %(chỉ tiêu quy hoạch là 70 %)

Về tên gọi: đây là vấn đề thiếu thống nhất cả 4 cấp thiết chế, đặc biệt là

cấp xã và thôn, bản, chức năng, nội dung hoạt động giống nhau, nhưng tên gọimỗi nơi gọi mỗi khác: Nhà Văn hóa, Nhà Sinh hoạt cộng đồng, Trung tâm Vănhóa Làng, Hội quán Văn hóa, Nhà Thông tin, Nhà Gươl, Nhà Dài, Nhà Rông,Điểm sinh hoạt văn hóa khu dân cư…

Trang 17

Về đội ngũ cán bộ: cấp tỉnh được đào tạo cơ bản, có chuyên môn sâu,

đáp ứng được yêu cầu công tác; cấp huyện nhìn chung chưa đáp ứng đầy đủyêu cầu về cán bộ, còn nhiều khó khăn hạn chế (cán bộ có trình độ đại họcdưới 50%, Cao đẳng 12%, trung cấp 35%); cấp xã (đại học: 16%, trung cấp:71%), đội ngũ cán bộ phần lớn chưa được đào tạo về văn hóa, việc tổ chứchoạt động đang rất khó khăn; Nhà Văn hóa thôn, bản do Trưởng thôn, Tổtrưởng dân phố trực tiếp quản lý, điều hành

Về cơ chế tài chính: Trung tâm Văn hóa, Nhà Văn hóa cấp tỉnh, cấp

huyện do ngân sách nhà nước cấp Tuy nhiên, phần lớn các thiết chế văn hóacấp huyện rất khó khăn về kinh phí hoạt động, chỉ đủ chi lương và hành chínhphí, kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ và đầu tư cho cơ sở vật chất, phươngtiện thiết bị quá hạn hẹp Đối với cấp xã, một phần kinh phí hoạt động do ngânsách địa phương đảm nhiệm, nhưng chủ yếu là nguồn xã hội hóa: do nhân dânđóng góp và các tổ chức, cá nhân tài trợ Mọi chi phí của Nhà Văn hóa thôn,bản, tổ dân phố do nhân dân đóng góp theo cơ chế tự quản

Về tổ chức và hoạt động: Trung tâm Văn hóa, Nhà Văn hóa cấp tỉnh đã

thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ, tổ chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng,hiệu quả và có tác dụng tốt đối với cơ sở

Các Trung tâm Văn hóa cấp huyện phần lớn duy trì tổ chức khá tốt cáchoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, cổ động, tuyên truyền Tuy nhiên ở cáchuyện thuộc khu vực miền núi, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long hoạtđộng còn nhiều khó khăn, do cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị chưa đáp ứngđược yêu cầu

Các Nhà Văn hóa cấp xã chủ yếu tập trung vào các hoạt động thông tintuyên truyền, tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ, đọc sách báo, văn nghệ quần chúng,triển khai phong trào “Tòan dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”… Tuynhiên, mức độ tổ chức ở nhiều địa phương còn sơ sài, nghèo nàn do không cócán bộ nghiệp vụ, thiếu phương tiện thiết bị và kinh phí để hoạt động

Trang 18

Hoạt động xây dựng Nhà Văn hóa thôn, bản, ấp, tổ dân phố đã trởthành một phong trào rộng khắp trong toàn quốc, với nhiều phương thức tổchức hoạt động, gắn bó thiết thực với đời sống cộng đồng, là nơi sinh hoạtchính trị, xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí củanhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ

Đối với Thanh Hóa, việc xây dựng, phát triển hệ thống thiết chế Trung tâmVăn hóa, Nhà Văn hóa trên địa bàn tỉnh, trong nhiều năm nay đã được tập trungđầu tư xây dựng, đặc biệt là ở thôn, bản, phố

Năm 2013, các địa phương trong tỉnh đã đưa việc xây dựng thiết chế vănhóa cơ sở vào Nghị quyết, Chương trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Ủyban nhân dân các cấp đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tổ chức triển khai, tạo

cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tích cựctham mưu, phối hợp cùng các cấp, các ngành, đoàn thể ở địa phương xây dựng vàphát triển đời sống văn hóa ở cơ sở, từ xây dựng cơ sở vật chất, thiết chế vănhóa, tới trang bị phương tiện hoạt động và tổ chức các hoạt động văn hóa, thểthao Tuy nhiên, trong thực tế đã tồn tại những bất cập Có địa phương không

có Nhà Văn hóa cấp huyện như Bá Thước, Thường Xuân, có nơi rất ít hoặckhông có Nhà Văn hóa xã như Lang Chánh, Ngọc Lặc Có huyện đạt tỷ lệ

100 % Nhà Văn hóa, Nhà sinh hoạt cộng đồng Song đã xảy ra hiện tượngNhà Văn hóa xây dựng xong thì đóng cửa là chính, thỉnh thoảng mới có sinhhoạt văn hóa, biểu diễn văn nghệ, còn thường xuyên bỏ không, lãng phí

Đây là một thực trạng, cần phải tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc

phục để có hướng phát triển tốt hơn trong thời gian tới

2 Nội dung thực hiện của đề án

2.1 Bối cảnh thực hiện đề án

2.1.1 Tác động của yếu tố lịch sử, tự nhiên và xã hội của vùng đất Thanh Hóa

Trang 19

Về lịch sử: Thanh Hóa được khẳng định là một trong những vùng đất

khởi nguồn của người Việt cổ, là nơi đã phát hiện được các di chỉ khảo cổ họcthuộc hầu hết các thời đại khảo cổ học lớn của nước ta thời tiền sử và thời sơsử Với Núi Đọ, hang Con Moong, Đa Bút, Hoa Lộc mà đỉnh cao nhất làĐông Sơn - nền văn hóa tiêu biểu cho thời đại kim khí Các di chỉ khảo cổĐông Sơn được tìm thấy nhiều nhất trên đất Thanh Hóa, với các hiện vậtphong phú (đồ dùng sản xuất, đồ dùng sinh hoạt, nhạc khí, vũ khí, trangsức…) thể hiện trình độ phát triển cao trong kỹ thuật chế tác đồng thau củangười Việt cổ Văn minh Đông Sơn - Văn hóa Sông Mã - Văn hóa xứ Thanh

là dòng chảy xuyên suốt, vẫn đang hiện hữu trường tồn

Về hệ thống di sản văn hóa: Thanh Hóa là một vùng đất địa linh nhân

kiệt với nhiều đền, đình, chùa, lăng tẩm, thành quách và hệ thống các làn điệudân ca, dân vũ, trò chơi, trò diễn dân gian đa dạng và phong phú Đó là minhchứng lịch sử, là tài sản của ông cha, là nơi để gửi gắm tình cảm, ước vọng,tâm hồn, tính cách của biết bao thế hệ

Không những sở hữu hệ thống di tích dày đặc (trên 1.500 di tích) đượcmệnh danh là những “Bảo tàng di sản” khổng lồ lẫn khuất trong các làng, xã,thôn, bản, chúng còn kết tinh giá trị thẩm mỹ độc đáo, trở thành những biểutượng, niềm tự hào của người dân xứ Thanh

Về vị trí địa lý: Thanh Hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc vùng Duyên hải Bắc

Trung bộ, cách Thủ đô Hà Nội 153km về phía Bắc, về phía Nam cách Thànhphố Vinh tỉnh Nghệ An 138 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km.Thanh Hoá Nằm ở vị trí từ 19,18o đến 20,40o vĩ độ Bắc; 104,22o đến 106,40o

kinh độ Đông Có ranh giới như sau:

- Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La

- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An

- Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn

- CHDCND Lào

Trang 20

- Phía Đông giáp biển Đông.Thanh hoá nằm trong vùng ảnh hưởng củanhững tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùngtrọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ,

có hệ thống giao thông thuận lợi như: Đường sắt xuyên Việt, đường Hồ ChíMinh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217, cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệthống sông ngòi thuận lợi cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và

đi quốc tế Thanh Hoá có sân bay Sao Vàng và quy hoạch mở thêm sân bayThanh Hóa thuộc địa bàn 3 xã Hải Ninh, Hải An, Hải Châu huyện Tĩnh Giaphục vụ cho kinh tế Nghi Sơn và toàn tỉnh

Địa hình: Thanh Hoá có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều và

nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam: Phía Tây Bắc có những đồi núicao trên 1.000 m đến 1.500 m, thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía ĐôngNam; đồi núi chiếm trên 3/4 diện tích tự nhiên của cả tỉnh Địa hình ThanhHoá có thể chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi và trung du, vùng đồng bằng vàvùng ven biển với những đặc trưng như sau:

Trang 21

- Vùng núi và trung du: Gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núiTrường Sơn phía Nam, bao gồm 11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá,

Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, CẩmThuỷ, Thạch Thành, có tổng diện tích là 7064,12 km2, chiếm 71,84% diện tíchtoàn tỉnh Độ cao trung bình vùng núi từ 600-700 m, độ dốc trên 250 Ở đây cónhững đỉnh núi cao như Tà Leo (1.560 m) ở phía hữu ngạn sông Chu, Bù Ginh(1.291 m) ở phía tả ngạn sông Chu Vùng trung du có độ cao trung bình từ 150-

200 m, độ dốc từ 150 - 200 chủ yếu là các đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải Đây

là vùng có tiềm năng, thế mạnh phát triển lâm nghiệp, cây ăn quả, cây côngnghiệp dài ngày, cao sau, mía đường của tỉnh Thanh Hóa

- Vùng đồng bằng: Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên đạt 1906,97

km2, chiếm 17,11% diện tích toàn tỉnh bao gồm các huyện: Thọ Xuân, YênĐịnh, Thiệu Hoá, Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Hà Trung,

TP Thanh Hoá và thị xã Bỉm Sơn Đây là vùng được bồi tụ bởi 4 hệ thốngsông chính là: Hệ thống sông Mã, sông Bạng, sông Yên, sông Hoạt Vùng này

có độ dốc không lớn, bằng phẳng, độ cao trung bình dao động từ 5 - 15 m sovới mực nước biển Tuy nhiên, một số nơi trũng như Hà Trung có độ cao chỉkhoảng 0 - 1 m Đặc điểm địa hình vùng này là sự xen kẽ giữa vùng đất bằngvới các đồi thấp và núi đá vôi độc lập Đây là vùng có tiềm năng, thế mạnhphát triển công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa

Trang 22

- Vùng ven biển: Vùng ven biển gồm 06 huyện, thị xã chạy dọc ven bờbiển với chiều dài 102 km từ huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn,Quảng Xương đến Tĩnh Gia Diện tích vùng này là 1.230,67 km2, chiếm 11,05%diện tích tự nhiên toàn tỉnh, địa hình tương đối bằng phẳng; Chạy dọc theo bờbiển là các cửa sông Vùng đất cát ven biển có địa hình lượn sóng chạy dọc bờbiển, độ cao trung bình 3 - 6 m Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triểnnông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, nuôi trồng thủy sản), đặc biệt vùngnày có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến(Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợicho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp (Nghi Sơn), dịch

vụ kinh tế biển

Về địa giới hành chính và dân số: Thanh Hóa bao gồm 1 thành phố cấp II

trực thuộc tỉnh, 02 thị xã và 24 huyện với 637 xã, phường, thị trấn, 6042 làng,thôn, bản, khu phố Và số dân tính đến năm 2009 là 3.400.239 người Thanh Hóa

là tỉnh có 7 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ trọng lớnnhất (84,75%); Mường (8,7%), Thái (6,0%) và các dân tộc khác như H’Mông,Dao, Thổ, Khơ Mú các dân tộc ít người sống chủ yếu ở các huyện vùng núi cao

và biên giới

2.1.2 Tác động của Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng Thanh Hóa

Một trong những tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới làquan tâm đến quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó xây dựng các thiếtchế văn hóa, thể thao là tiêu chí cần thiết và cấp bách đang được các ngành,các cấp đặc biệt quan tâm Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước vềphát triển văn hóa nông thôn với mục tiêu nâng cao nhận thức và ý thức chấphành pháp luật và các quy định về văn hóa của người dân ở nông thôn Xâydựng, củng cố và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở tạo điềukiện cho người dân nâng cao mức hưởng thụ, tham gia hoạt động sáng tạo vănhóa, nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, thôn làng

Trang 23

văn hóa, xây dựng con người, môi trường văn hóa nông thôn lành mạnh,phong phú, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, tạo động lực thúc đẩy phát triểnnông nghiệp và nông thôn mới.

Mặc dù điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, nhưng nhằm đưa phongtrào văn hóa của địa phương phát triển bền vững Những năm qua, nhất là từkhi có chủ trương xây dựng nông thôn mới, tỉnh Thanh Hóa đã ban hànhnhiều cơ chế, chính sách đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống các thiết chế văn hóa.Ngày 1/3/2013 Chủ tịch UBND tỉnh đã ra quyết định 728 về việc ban hànhquy chế, chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới đến năm 2015; trong đó

ưu tiên hỗ trợ các địa phương chưa có Trung tâm văn hóa xã hoặc đã cónhưng hư hỏng, xuống cấp không thể sử dụng được với mức hỗ trợ là 4,5 tỷđồng với các xã thuộc huyện 30a, xã 135, xã bãi ngang ven biển; hỗ trợ 4 tỷđồng đối với các xã miền núi; hỗ trợ 3,5 tỷ đồng với các xã còn lại Sở Vănhóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa cũng đã kịp thời ban hành các văn bảnchỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện các thông tư của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch, đồng thời thường xuyên phối hợp với các Sở, ban, ngànhcấp tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn Phòng văn hóa thông tin các huyện, thị, thànhphố triển khai thực hiện tiêu chí số 6 và số 16 về xây dựng cơ sở vật chất vànếp sống văn hóa nông thôn mới (Quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16 tháng

4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia

về Nông thôn mới)

Xuất phát từ sự quan tâm đó mà trong công tác xây dựng, hoàn thiệnthiết chế văn hóa cơ sở nói chung, nhà văn hóa nói riêng đã đạt được những kết

quả đáng ghi nhận Cả tỉnh có 6.042 làng, thôn, bản, khu phố thì đã xây dựng được 4.679 nhà văn hóa trong đó có 1.685 nhà văn hóa đạt chuẩn theo tiêu chí

nông thôn mới Hệ thống các thiết chế này đã tạo ra một diện mạo mới góp

phần nâng cao đời sống văn hóa của người dân trong giai đoạn hiện nay

2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án.

Trang 24

2.2.1 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của nhà văn hóa thôn, bản, phố ở Thanh Hóa.

Để đánh giá thực trạng thiết chế Nhà văn hóa thôn, bản phố bản thântôi đã cùng với một số đồng nghiệp tiến hành điều tra khảo sát 27 huyện, thị

xã, thành phố và chia nhóm đi thực tế điểm tại các, thôn, bản, phố thuộc khuvực miền núi, khu vực Trung du và đồng bằng, khu vực ven biển qua cáckênh khảo sát, phỏng vấn trực tiếp, thu thập tư liệu bằng hình ảnh

Từ thực tế cho thấy rằng hiện nay hệ thống thiết chế Nhà văn hóa tỉnhThanh Hóa phần lớn hoạt động khá hiệu quả điển hình như: Nhà văn hóaĐông Phú (Hoằng Lộc - Hoằng Hóa), Nhà văn hóa Vệ Yên (Phường QuảngThắng - TP Thanh Hóa), Nhà văn hóa Nhân Sơn, Thuần Hậu, Quang Trung(Nga An - Nga Sơn) Trước đây xã Xuân Trường huyện Thọ Xuân gặp nhiềukhó khăn trong việc quy hoạch xây dựng Nhà văn hóa do địa bàn dân cư chậtnhưng những năm gần đây xã đã đầu tư xây dựng Nhà văn hóa khang tranghơn nhờ đó mà các hoạt động cũng được tổ chức thường xuyên và tốt hơn

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều nơi “trắng” Nhà văn hóa đặc biệt là

ở khu vực miền núi như: Xã Mường Lý, Mường Chanh (huyện Mường Lát);

Xã Ban Công, Thành Lâm, Cao Lũng, Văn Nho, Thiết Kế, Kỳ Tân, Thiết ống(huyện Bá Thước); Xã Hoằng Giang (huyện Hoằng Hóa); Xã Yên Ninh(huyện Yên Định); Xã Thạch Lâm (huyện Thạch Thành); Xã Thanh Phong,Thanh Lâm, Thanh Sơn (huyện Như Xuân)…Nhiều Nhà văn hóa bị xuốngcấp và thiếu đồng bộ về trang thiết bị, đồng thời việc xây dựng về quy mô,kiểu dáng, vị trí còn tùy tiện Có địa phương thực hiện xây Nhà văn hóa cũngchỉ làm theo phong trào, mang tính hình thức mà không thật sự quan tâm đếnviệc sử dụng nó như thế nào, đưa vào hoạt động ra sao để góp phần thiết thựcvào công tác phong trào ở địa phương, nâng cao đời sống tinh thần của nhândân và duy trì hoạt động Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên đó là do cấp

ủy, chính quyền ở một số địa phương chưa nhận thức đầy đủ về vai trò Nhà

Trang 25

văn hóa trong cuộc sống tinh thần của người dân, chưa chú trọng quy hoạch

và xây dựng Nhà văn hóa Bên cạnh đó là sự phối hợp giữa các ban ngành,đoàn thể ở địa phương chưa chặt chẽ Một trong những nguyên nhân quantrọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Nhà văn hóa, đó là phần lớnnhững người trông coi Nhà văn hóa đều là Trưởng thôn, bản, phố và kiêmnhiệm nhiều công việc khác, họ không được đào tạo, tập huấn về chuyên mônnghiệp vụ, dẫn đến thiếu kỹ năng trong công tác quản lý và hoạt động

Như vậy vấn đề đặt ra là không chỉ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, màcần phải đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho Nhà văn hóa và có cơ chế thích hợpđối với cán bộ hoạt động trong lĩnh vực này, để Nhà văn hóa nơi sinh hoạtcộng đồng phải có những con người biết làm phong phú các nội dung và hìnhthức sinh hoạt gắn với nhu cầu văn hóa của nhân dân

2.2.2 Các số liệu thống kê về Nhà văn hóa:

Hiện nay, toàn tỉnh có 4679 Nhà văn hóa trên tổng số 6042 thôn, bản,phố đạt 77% Trong đó:

* Khu vực miền núi Nhà văn hóa/số thôn, bản, phố

- Huyện Mường Lát: 38/90 đạt 42%

- Huyện Quan Sơn: 42/99 đạt 42%

- Huyện Quan Hóa: 34/125 đạt 27%

- Huyện Bá Thước: 104/225 đạt 46%

- Huyện Lang Chánh: 48/100 đạt 48%

- Huyện Ngọc Lặc: 202/298 đạt 67.8%

- Huyện Thường Xuân: 101/145 đạt 69.6%

- Huyện Như Xuân: 85/183 đạt 46%

- Huyện Như Thanh: 175/195 đạt 94%

- Huyện Cẩm Thủy: 194/215 đạt 90%

- Huyện Thạch Thành: 213/243 đạt 87.6%

* Khu vực Trung du và đồng bằng

Trang 26

- Huyện Thọ Xuân: 272/404 đạt 67%

- Huyện Vĩnh Lộc: 104/132 đạt 78.7%

- Huyện Thiệu Hóa: 218/229 đạt 95%

- Huyện Triệu Sơn: 346/387 đạt 89.4%

- Huyện Đông Sơn: 124/141 đạt 87.9%

- Huyện Nông Cống: 279/336 đạt 83%

- Huyện Hà Trung: 167/202 đạt 82.6%

- Thành phố Thanh Hóa: 330/419 đạt 78.7%

- Thị xã Bỉm Sơn: 61/65 đạt 93.8%

* Khu vực ven biển

sở cũ như trường Mầm non, nhà truyền thống, hợp tác xã, trạm y tế…nguồn kinhphí xây dựng được hỗ trợ từ các dự án 0DA, ngân sách nhà nước và sự đóng gópcủa nhân dân theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Khoảng

1685 Nhà văn hoá đạt chuẩn, 36 % được đầu tư xây dựng mới

Dù các địa phương đã có nhiều nỗ lực, nhưng nhìn chung cơ sở vật chấtcủa hệ thống Nhà văn hóa còn nhiều hạn chế Đó là thiếu về số lượng, hạn chế

về chất lượng Số lượng nhà văn hóa đang tổ chức hoạt động có một tỉ lệ thấp

Trang 27

so với chỉ tiêu quy hoạch của Chính phủ, nếu căn cứ vào tiêu chí xây dựngnông thôn mới thì nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh chưa đạt tiêu chí về nhàvăn hóa (xem phụ lục 4) Ngoài một số nơi được xây dựng mới còn lại hầuhết được tận dụng từ các công trình cũ chuyển đổi chức năng sử dụng Do đótại một số địa phương Nhà văn hóa chỉ là một ngôi nhà cấp bốn hoặc tranh trenứa lá trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng không thể sử dụng được Diệntích khuôn viên Nhà văn hóa ở các huyện miền núi rộng nhất khoảng 4000 m2

và nhỏ nhất 12 m2; các huyện đồng bằng rộng nhất là 4531 m2 và nhỏ nhất là

12 m2; các huyện vùng ven biển rộng nhất là 3000 m2 vànhỏ nhất là 10 m2, địabàn Thành phố Thanh Hóa, diện tích chỉ đủ để xây dựng nhà văn hóa (hộitrường), không có quỹ đất để xây dựng các công trình đi kèm

- Trang thiết bị kỹ thuật: Trên toàn tỉnh có khoảng 73 nhà văn hóa trống

(ko có phương tiện gì bên trong); 695 nhà văn hóa không có phương tiện, thiết bị

âm thanh, nghe nhìn cần thiết; 416 nhà văn hóa không có bàn ghế

Do không được đầu tư cấp, bổ sung nên các trang thiết bị kỹ thuật hỗtrợ công tác chuyên môn rất thiếu, không đồng bộ và lạc hậu, đặc biệt là hệthống âm thanh, ánh sáng Nhiều Nhà văn hóa không có các thiết bị bên trong

mà chỉ là một ngôi nhà với một số thiết bị đơn giản như quạt máy, bàn, ghế,

có nơi còn không có bàn, ghế ngồi…Một số nhà văn hóa được trang bị từnguồn của chương trình mục tiêu quốc gia có khá hơn song cũng rất hạn chế,chủ yếu là do nhân dân tự đóng góp để mua sắm như: bộ tăng âm, ti vi, bộtrang trí khánh tiết (cờ tổ quốc, cờ Đảng, ảnh Bác, tượng Bác), một số bànghế, một tủ sách công cộng (nhưng rất ít), đèn chiếu sáng đơn giản đủ phục

vụ hội họp, tập huấn quy mô nhỏ, một số nơi có điều kiện đã mua sắm thêmcác dụng cụ thể thao phù hợp phục vụ phong trào tại địa phương như bóngbàn, cầu lông…

- Về chất lượng đội ngũ cán bộ: Trong những năm gần đây, mặc dù

chất lượng đội ngũ cán bộ của các đơn vị được được chú trọng, trình độ

Trang 28

chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp đến cao đẳng, đại học được nâng lên Tuynhiên vẫn còn thiếu và yếu nhất là đối với các huyện miền núi Đội ngũ cán

bộ phụ trách các Nhà văn hóa thôn, bản, tổ dân phố được đào tạo đúngchuyên ngành văn hóa quần chúng, quản lý văn hóa chiếm tỷ lệ khá thấp, cònlại hầu hết là trái ngành chưa qua các lớp đào tạo chuyên ngành văn hóa

- Về cơ chế quản lý: Đối với hệ thống Nhà văn hóa thôn, bản, phố công

tác quản lý ở hệ thống này hầu hết do Ban điều hành thôn, bản, tổ dân phốphụ trách, quản lý (thường là Trưởng thôn, Trưởng bản, Tổ trưởng dân phố)

và phối hợp với các đoàn thể trong địa phương tổ chức hoạt động Tuy nhiêntrên thực tế hiện nay vẫn còn nhiều Nhà văn hóa không có người quản lý, bị

bỏ hoang, không sử dụng Việc vận hành, quản lý của địa phương đối với cácNhà văn hóa chưa có quy chế rõ ràng dẫn đến sinh hoạt không được thườngxuyên, thiếu trách nhiệm, gây lãng phí về thời gian và tiền của

- Về cơ chế tài chính và tổ chức hoạt động: Hệ thống Nhà văn hóa

thôn, bản, phố gần như không có các nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách

mà chủ yếu là do nhân dân tự đóng góp Vì vậy để duy trì và tổ chức các hoạtđộng là rất khó khăn, thậm chí ở một số nơi không hoạt động do không cókinh phí

Sự hạn chế về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, cơ chế quản lý và nguồnkinh phí dẫn đến hạn chế về công tác tổ chức các hoạt động Nhà văn hóa thôn,bản, phố là một thiết chế văn hóa gắn liền với cộng đồng dân cư, nếu phát huyhết công năng sẽ mang lại hiệu quả cao, tạo ra một diện mạo mới trong đời sốngvăn hóa của nhân dân trên địa bàn Tuy nhiên trên thực tế, các địa phương chưakhai thác, sử dụng hết công năng của Nhà văn hóa Không ít Nhà văn hóa, trong

đó có những nhà xây dựng hàng tỷ đồng, thưa vắng người đến sinh hoạt, có nơi

bỏ không, dường như xây để trưng bày, chạy theo thành tích

Tổ chức được nhiều hoạt động văn hóa sinh động, thiết thực gần gũivới đời sống nhân dân là yếu tố sống còn của Nhà văn hóa Nhiều nhà văn

Trang 29

hóa đã mở rộng chức năng của mình không bó gọn trong phạm vi hẹp nhưtrước đây chỉ là nơi chủ yếu để sinh hoạt văn nghệ quần chúng Nhà văn hóa

đã là nơi sinh hoạt chính trị - văn hóa xã hội như: họp chi bộ Đảng, các đoànthể nhân dân ở thôn, bản, phố để quán triệt các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xãhội, phổ biến thời sự, khoa học, kỹ thuật, hướng dẫn xóa đói giảm nghèo,tuyên truyền triển khai, phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng, Nhà nước và tổ chức sinh hoạt các đoàn thể Thanh niên, Phụ Nữ, Cựuchiến binh, Hội nông dân… giáo dục về lối sống, thực hiện nếp sống vănminh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, triển khai các vấn đề về bảo vệ anninh, trật tự, xây dựng gia đình văn hóa, làng, thôn, bản văn hóa, tổ chức cáchội thi liên hoan, tập luyện, giao lưu văn hóa Tại một số nơi, các Nhà vănhóa đã tổ chức khá thường xuyên các hoạt động Câu lạc bộ văn hóa, vănnghệ, thể dục, thể thao, đọc sách báo Tiêu biểu như các đơn vị: Thành phốThanh Hóa, Hà Trung, Nga Sơn, Quan Sơn, Quan Hóa, Thiệu Hóa, QuảngXương, Hoằng Hóa…

Việc xây dựng và phát triển phong trào tập luyện thể thao (đặc biệt làcác môn thể thao dân tộc), tổ chức các trò chơi dân gian lồng ghép với các lễhội truyền thống cũng đã được chính quyền các địa phương quan tâm chỉ đạoNhà văn hóa thực hiện, song hoạt động còn cầm chừng, hạn chế và hình thức.Hầu hết các Nhà văn hóa vẫn chưa hình thành được các Câu lạc bộ, các khuvui chơi giải trí, vì vậy chưa tạo ra được sự sinh động trong tổng thể hoạtđộng của Nhà văn hóa

Một thực trạng hiện nay đối với hệ thống Nhà văn hóa ở thôn, bản, phố

là tình trạng lãng phí công trình do việc đầu tư xây dựng không hợp lý và khaithác sử dụng chưa thật sự hiệu quả

2.2.4 Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

2.2.4.1 Nguyên nhân của những kết quả đạt được

Trang 30

Đã có sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo tỉnh, của Bộ và các cơ quan liênquan thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; sự phối hợp, hỗ trợ của các ngànhchức năng, sự tập trung đầu tư của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương.

Lãnh đạo và cán bộ Ngành văn hóa, Thể thao và Du lịch (trong đó cócác Nhà văn hóa) đã nhiệt tình, trách nhiệm, khắc phục khó khăn trong chỉđạo và tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, tận tình chỉ đạo,

tổ chức và hướng dẫn cơ sở trong các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ

Sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân được phát huy Sự phối hợp, hỗtrợ, giúp đỡ, tài trợ của các tổ chức, doanh nghiệp và sự đóng góp của nhândân đã tạo điều kiện rất quan trọng cho việc xây dựng,phát triển và tổ chứchoạt động của Nhà văn hóa trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là cơ sở

Các hoạt động, phong trào được tổ chức phù hợp, đáp ứng được nhucầu, nguyện vọng của quần chúng nhân dân nên được nhân dân đồng tình,hưởng ứng

2.2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

Một số địa phương vẫn chưa thật sự quan tâm đến việc tổ chức triểnkhai thực hiện quy hoạch thiết chế văn hóa cơ sở, chưa nhận thức đúng vị trí,vai trò của hệ thống thiết chế Nhà văn hóa đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế

- xã hội ở địa phương; một số nơi cán bộ chuyên ngành về văn hóa thiếu chủđộng trong tham mưu tổ chức hoạt động Do đó, chưa có sự đầu tư đúng mứccho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và bố trí nguồn nhân lực chocác Nhà văn hóa nhất là ở cấp thôn, bản, phố

Sự phối hợp giữa các tổ chức, ban ngành, đoàn thể tại một số địaphương chưa tốt Tổ chức quản lý ở cấp cơ sở còn nhiều bất cập, đội ngũ cán

bộ cấp thôn, bản, tổ dân phố thường xuyên thay đổi, kiêm nhiệm nhiều việc.Mặt khác hầu hết cán bộ phụ trách Nhà văn hóa ở cơ sở không được đào tạo,tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ nên thiếu kỹ năng trong công tác quản lý

và tổ chức hoạt động

Trang 31

Thiếu quỹ đất hoạt động, nên khuôn viên, sân bãi chật hẹp, hạn chế,chưa đáp ứng được nhu cầu tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dụcthể thao cho người dân địa phương Công tác xã hội hóa các hoạt động vănhóa vẫn chưa được triển khai thực hiện tốt (vì chưa động viên được sự quantâm, ủng hộ của các cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn) nên kinh phí hoạtđộng rất khó khăn Nếu không làm tốt việc vận động nhân dân và các tổ chức,

cá nhân đóng góp, không có nguồn hỗ trợ từ các chương trình mục tiêu thìhoạt động của các thiết chế văn hóa sẽ tiếp tục khó khăn

2.2.5 Một số vấn đề rút ra từ thực trạng thiết chế Nhà văn hóa thôn, bản, phố ở Thanh Hóa.

Để hoạt động Nhà văn hóa ngày càng phát triển cả về chất và lượng, cáccấp, các ngành cần quán triệt sâu sắc và triệt để quan điểm, đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở gắn với xâydựng các thiết chế văn hóa trong lộ trình xây dựng và phát triển nền văn hóaViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nhận thức đúng giá trị, tầm quantrọng to lớn của nó để có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thựchiện đồng bộ và hiệu quả là một bài học rất sâu sắc và đặc biệt quan trọng

Phát huy hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng của các thiết văn hóa,nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa.Tăng cường tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng thiết thực, sát với cơ

sở, thường xuyên thay đổi các nội dung, hình thức sinh hoạt của các Nhà vănhóa, tránh sự nhàm chán, tạo sự mới mẻ, hấp dẫn, thu hút đông đảo các tầnglớp xã hội và lứa tuổi tham gia

Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở địa phương tích cực tham mưu

đề xuất, chủ động xây dựng Đề án, kế hoạch và các văn bản liên quan trìnhUBND, HĐND phê duyệt, phối hợp với các ngành liên quan, huy động sứcmạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân và các lực lượng xã hội tham giavào việc xây dựng các thiết chế văn hóa

Trang 32

Đưa các chỉ tiêu về phát triển văn hóa gắn với các tiêu chí phát triểncủa địa phương, có quỹ đất phù hợp để xây dựng thiết chế Nhà văn hóa theoquy định, đảm bảo diện tích, cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động đáp ứngyêu cầu của các hoạt động

Xây dựng thiết chế Nhà văn hóa cấp thôn, bản, phố cần nghiên cứu kỹ

để vận dụng sáng tạo các thiết chế đã có trên cơ sở gắn với mong ước, nguyệnvọng và những tập tục truyền thống tốt đẹp ở mỗi địa phương Làm tốt côngtác xã hội hóa, huy động được nguồn kinh phí để xây dựng các công trình vănhóa, khai thác và tổ chức các hoạt động bổ ích, phù hợp

2.3 Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện

Như chúng ta đã biết, thiết chế VH là tụ điểm sinh hoạt văn hóa, vuichơi giải trí cộng đồng, là bộ mặt phản ánh trình độ phát triển, nhận thức thẩm

mỹ ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, giữ vai trò nòng cốt và quan trọngtrong tổ chức các hoạt động tuyên truyền phục vụ chính trị, xã hội; là công cụtrực tiếp và đắc lực của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo quần chúng góp

phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa – xã hội phát triển.

So với trước đây, Nhà văn hóa trên địa bàn tỉnh được quan tâm, đầu tưnhiều hơn về số lượng và cả phương tiện trang thiết bị kỹ thuật Đội ngũ cán

bộ làm công tác văn hóa cơ sở thường xuyên được tham gia các lớp tập huấn

về nghiệp vụ văn hóa, nâng cao trình độ chuyên môn

Sau một thời gian lúng túng, hệ thống thiết chế Nhà văn hóa thôn, bản,phố đã bước đầu có những đổi mới về phương thức tổ chức và hoạt động, cơ

sở vật chất được tăng cường, một số công trình có quy mô tương đối lớn, kiếntrúc đẹp được hình thành, xu hướng chung của các thiết chế này là gần gũi,phục vụ sát yêu cầu của nhân dân ở cơ sở, trở thành bộ mặt văn hóa của địaphương Từng bước đã khẳng định là một thiết chế quan trọng và cần thiếttrong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Trang 33

Ở đâu có Nhà văn hóa, ở đó hoạt động phong trào trở nên sôi nổi, đờisống tinh thần của nhân dân được thay đổi rõ rệt Nhà văn hóa như một côngtrình kiến trúc tạo nên cảnh quan đẹp, sinh động ở mỗi địa phương và là mộttiêu chí quan trọng trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới Hoạt động củaNhà văn hóa đã thật sự có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển văn hóa, vănnghệ, thể dục, thể thao của từng địa phương, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thôngtin, nâng cao dân trí, thể chất, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa củanhân dân; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội của địa phương.

Việc duy trì các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao đã thuhút sự tham gia đông đảo của mọi đối tượng, mọi lứa tuổi quần chúng nhândân, tạo được sự đoàn kết trong cộng đồng dân cư, thúc đẩy phát triển kinh tế

xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng môi trường văn hóa lànhmạnh, giảm thiểu các tệ nạn xã hội, góp phần nâng cao chất lượng phong trào

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở cơ sở Góp phần tích cực

vào công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi địaphương thông qua việc tổ chức các lễ hội truyền thống, trò chơi, trò diễn dângian, liên hoan nghệ thuật quần chúng…Đây chính là nền tảng cho công tácxây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được triển khai và thực hiện có hiệu quả

Sự quản lý, tổ chức hoạt động còn nhiều bất cập, thiếu chủ động sángtạo do đó một số nơi dù cơ sở vật chất đã có vẫn không phát huy được hiệuquả Cơ chế quản lý thiếu thống nhất và thiếu sự phân định rõ ràng giữaPhòng văn hóa thông tin và Trung tâm Văn hóa cấp huyện về quản lý nhànước và quản lý sự nghiệp, do đó đôi khi còn vướng mắc, chồng chéo về chứcnăng, nhiệm vụ

Đối với Nhà văn hóa việc xây dựng về quy mô, kiểu dáng còn tùy tiện.Nhiều nơi xây dựng được trụ sở nhưng không được đầu tư trang thiết bị kỹ

Ngày đăng: 18/09/2017, 23:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w