1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương lãnh đạo cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước từ năm 2007 đến năm 2015

106 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 598 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINHHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I PHƯƠNG THỊ THU HÀ ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TỪ NĂM

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

PHƯƠNG THỊ THU HÀ

ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG

LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

Hà Nội, tháng 3 năm 2016

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

PHƯƠNG THỊ THU HÀ

ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG

LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TỪ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng, chính xác Những kết quả khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào.

Hà Nội, tháng 3 năm 2016

Học viên thực hiện Luận văn

Phương Thị Thu Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự cảm ơn trân trọng tới TS Doãn Hùng, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I; các thầy cô giáo Ban Quản lý đào tạo, bộ phận Sau Đại học, các thầy cô giáo Khoa Lịch sử Đảng, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, các bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã nhiệt

tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văntốt nghiệp

Học viên thực hiện luận văn

Phương Thị Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN……… ii

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

MỞ ĐẦU……… 1

Chương 1 CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA TRONG CÁC DNNN THUỘC ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG 7

TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010 7

1 Cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước là nhiệm vụ chính trị của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 7

1.1 Khái quát về Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương 7

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển: 7

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức: 8

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 11

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 11

1.2.2 Quan điểm của Đảng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 22

1.2.3 Khái quát tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trước năm 2007 25

2 Sự lãnh đạo của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 30

2.1 Những chủ trương của Đảng bộ Khối 30

2.2 Quá trình chỉ đạo triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 33

2.2.1 Công tác tư tưởng 33

2.2.2 Công tác tổ chức và cán bộ 34

2.2.3 Công tác kiểm tra, giám sát 41

2.2.4 Công tác dân vận và lãnh đạo các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội .44

2.3 Kết quả và hạn chế 51

2.3.1 Kết quả 51

2.3.2 Hạn chế 52

Trang 6

Chương 2 TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THUỘC ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015

58

1 Những yêu cầu mới đối với công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước .58

1.1 Bối cảnh lịch sử 58

1.1.1 Tình hình trong nước 58

1.1.2 Tình hình Quốc tế 59

1.2 Quan điểm của Đảng về cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước 61

2 Những chủ trương và giải pháp chỉ đạo của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương 69

2.1 Chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 69

2.2 Quá trình chỉ đạo 71

2.3 Kết quả và hạn chế 74

2.3.1 Kết quả 74

2.3.2 Hạn chế 80

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 82

1 Nhận xét 82

1.1 Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương đã quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng: 90

1.2 Chỉ đạo sâu sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc 89

2 Một số kinh nghiệm 91

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá qua các giai đoạn 26

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Luận văn

Từ thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN Hộinghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX nhận định:hiệu quả của DNNN chưa cao (vấn đề nợ công, công nghệ, lao động dôi

dư, tự chủ trong kinh doanh, trình độ quản lý, cơ cấu doanh nghiệp …)Nhiều DNNN có năng suất lao động thấp Tại hội nghị toàn quốc về đổimới doanh nghiệp tháng 3 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõnhững yếu kém của Khối DNNN là một thách thức lớn khi Việt Nam hộinhập quốc tế, sức cạnh tranh của DNNN rất yếu Các khoản nợ và việcchiếm dụng vốn giữa các doanh nghiệp với nhau rất lớn, Nhà nước lại phảiđứng ra lo trả nợ, mặc dù không thu về được vốn, để đảm bảo cho sự hoạtđộng bình thường của các DNNN Hơn nữa Nhà nước còn phải bảo hộDNNN bằng chính sách kinh tế vĩ mô: miễn giảm thuế, cấp vốn ưu đãi đầu

tư, bù lỗ… Do đó nhiều DNNN đã trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhànước, gây thiếu lòng tin về khả năng đóng góp lợi ích của khu vực này đốivới sự phát triển cân đối của nền kinh tế, đồng thời để lại những hậu quảnghiêm trọng về mặt xã hội

Trong quá trình đổi mới, Nhà nước không thể hành chính hóa nềnkinh tế, cũng như không thể thay thế được vai trò của thị trường và cácdoanh nghiệp Tuy nhiên, sự quản lý của nhà nước là điều kiện không thểthiếu trong nền kinh tế thị trường, dù thị trường có hiệu quả đến đâu thìcũng không thể thả nổi hoàn toàn nền kinh tế cho quy luật tự điều chỉnh củathị trường

Nhà nước hạn chế can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế và khônglàm thay các DNNN mà tăng cường vai trò quản lý của các cơ quan nhànước thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật, tạo hành langpháp lý chặt chẽ cho sự vận hành của thị trường và tăng cường tính chủđộng, trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của thị trường

Trang 10

Đổi mới DNNN là vấn đề mang tính phổ biến của nhiều nước trênthế giới Đặc biệt là các nước đảng phát triển, việc đổi mới DNNN đượcthực hiện bằng nhiều giải pháp khác nhau như: Cổ phần hóa, giao, bánkhoán, cho thuê, giải thể, phá sản trong đó cổ phần hóa DNNN là một giảipháp quan trọng Cồ phần hóa giúp DNNN tạo cho các doanh nghiệp cơchế hoạt động nhằm thoát khỏi tình trạng yếu kém mà vẫn duy trì hoạtđộng sản xuất; cho phép nhà nước kiểm soát được doanh nghiệp và giúpchuyển đổi DNNN hiện tại sang hoạt động theo cơ chế thị trường trên cơ sởvừa xác định rõ chủ sở hữu, vừa tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chủ trương lớn của Đảng

và Nhà nước đã được thực hiện trong cơ chế kinh tế thị trường, hội nhậpvới nền kinh tế thế giới Đặc biệt từ sau khi có Nghị quyết Trung ương 3khóa IX, việc sắp xếp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã thu đượckết quả rất tích cực Sau khi cổ phần hóa giá trị vốn của của nhà nướctrong doanh nghiệp được sử dụng có hiệu quả, đời sống của cán bộ, côngnhân viên và người lao động được cải thiện, gắn bó với doanh nghiệp vàtin tưởng vào chủ trương đổi mới doanh nghiệp của Đảng và Nhà nước

Tuy nhiên, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đangphát sinh những hiện tượng cần giải quyết kịp thời: vai trò của tổ chứcđảng, vai trò lãnh đạo của cấp ủy trong các doanh nghiệp nhà nước sau

cổ phần hóa, nhất là những doanh nghiệp nhà nước không nắm giữ cổphần chi phối; việc giải quyết chế độ đối với lao động dôi dư; sự chênhlệch thu nhập giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần; vềthực tế người lao động không có khả năng mua cổ phần với giá bìnhquân; những vướng mắc về giá trị đất đai, thương hiệu doanh nghiệp khichuyển đổi cơ chế quản lý; một số quy định của nhà nước chưa thốngnhất; doanh nghiệp sẽ khó khăn về vốn sản xuất kinh doanh Mặt khác,một bộ phận cán bộ quản lý doanh nghiệp chưa thống nhất cao, lo lắngquyền lợi bị ảnh hưởng nên gây khó khăn, cản trở thực hiện cổ phần hóa;một số cố tình gây thất thoát tài sản doanh nghiệp, làm chậm tiến trình

cổ phần hoá

Trang 11

Từ thực tế đó đòi hỏi Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ươngcần phải có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo các đảng ủy trực thuộc quyếtliệt lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nướcnhất là trong giai đoạn hiện nay.

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương lãnh đạo cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước từ năm 2007 đến năm 2015” làm luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử chuyên

ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận văn

Cổ phần hóa DNNN hiện nay là một vấn đề có tính thời sự đangđược quan tâm của rất nhiều các cấp, các ngành và xã hội Tính đến nay,chúng ta có nhiều năm thực hiện chính sách cổ phần hóa Đảng ta đã đưa

ra rất nhiều ý kiến chỉ đạo, Nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bảnpháp luật để hướng dẫn việc thực hiện cổ phần hóa và những vấn đề liênquan Các phương tiện thực hiện cổ phần hóa Bởi vậy, trong những nămgần đây có rất nhiều cơ quan, nhà khoa học, những người hoạt động thựctiễn quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, một số công trình, bài viết đãđược công bố như:

- Văn kiện Đại hội Đảng và các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban

Bí thư các khóa IX, X, XI về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển vànâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

- Các tác phẩm, bài viết đề cấp đến vấn đề cổ phần hóa doanhnghiệp nhà nước như: Phạm Đạo (2000), tổ chức đảng trong các công ty

cổ phần, Báo Nhân dân, 9 - 6 - 2000; Ngô Tùng Chinh (2005), củng cố

tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, Tạp chí Lý luậnchính trị, số 5 năm 2005; Nguyễn Phi Long (2005), Nâng cao hiệu lựclãnh đạo của tổ chức đảng trong các công ty cổ phần có vốn Nhà nước,Báo Nhân dân, ngày 29-3-2005; Lê Văn Hội (2006), Vai trò lãnh đạo của

tổ chức Đảng trong doanh nghiệp cổ phần có vốn Nhà nước, Tạp chí Xâydựng Đảng; Hội thảo khoa học: "Phát huy vai trò lãnh đạo của đảng đốivới tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước", Tạp chí cộng sản số

Trang 12

104 năm 2006; GS.TS Lê Hữu Nghĩa (2006), "Phát huy vai trò lãnh đạocủa đảng đối với tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước", Tạp chíCộng sản, (104); Phạm Việt Dũng (2011), Nâng cao hiệu quả doanhnghiệp nhà nước bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Tạp chícộng sản, số 824; Phạm Việt Dũng (2011), Tái cơ cấu doanh nghiệp nhànước, Tạp chí cộng sản số 830.

- Đặng Thuỳ Dương (2005), Nâng cao chất lượng tổ chức đảng trongcác doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá tại thành phố Hồ Chí Minhgiai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề Đảng ủy Khối Doanh nghiệpTrung ương lãnh đạo công tác cổ phần hóa DNNN tại các đảng ủy tậpđoàn, tổng công ty, ngân hàng trực thuộc Đảng bộ Khối Doanh nghiệpTrung ương ở nước ta hiện nay thì chưa có đề tài nghiên cứu nào mangtính chất toàn diện và sâu sắc

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của Luận văn

3.1 Mục tiêu

Nghiên cứu những chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng ủyKhối Doanh nghiệp Trung ương về công tác cổ phần hóa Doanh nghiệpNhà nước, đánh giá đúng thực trạng và rút ra một số kinh nghiệm nhằmnâng cao chất lượng công tác cổ phần hóa DNNN trong Đảng bộ KhốiDoanh nghiệp Trung ương

- Nghiên cứu thực trạng diễn biến về tổ chức, tư tưởng, nhận thức,lợi ích, nghĩa vụ, niềm tin của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người lao động

Trang 13

và việc giải quyết tâm tư, nguyện vọng nảy sinh trong trong quá trình cổphần hoá của các doanh nghiệp thuộc Khối Doanh nghiệp Trung ương.

- Đánh giá, phân tích tình hình, đề xuất khó khăn vướng mắc vànêu ra một số kinh nghiệm góp phần thúc đẩy hoàn thành thắng lợi chủtrương sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanhnghiệp nhà nước trước yêu cầu mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những chủ trương của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ươngtrong công tác lãnh đạo thực hiện cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước ở cáctập đoàn, tổng công ty, ngân hàng thuộc Khối Doanh nghiệp Trung ương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ tháng 4/2007 (thành lập Đảng bộ Khối Doanhnghiệp Trung ương) đến tháng 6/2015 (hết quý II/2015; thời gian đăng

ký tên đề tài luận văn thạc sỹ)

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu quátrình cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước của cấp uỷ Đảng tại các tậpđoàn, tổng công ty, ngân hàng thuộc Khối Doanh nghiệp Trung ương

5 Cơ sở lý luận, các phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về công tác lãnh đạo, trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệpNhà nước; đặc biệt là những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản

-về công tác cổ phần hóa từ năm 2007 đến năm 2015

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợpvới phương pháp logic, kết hợp với các phương pháp khác như thống kê,khảo sát

Trang 14

6 Những đóng góp mới của Luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, góp phần làm căn

cứ giúp Đảng uỷ Khối và các đảng uỷ tập đoàn, tổng công ty, ngân hàngthuộc Khối Doanh nghiệp Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả quátrình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

- Đánh giá đúng thực trạng công tác cổ phần hóa trong các doanhnghiệp nhà nước thuộc Khối Doanh nghiệp Trung ương

- Luận văn nêu lên một số kinh nghiệm chủ yếu trong quá trìnhlãnh đạo, chỉ đạo công tác cổ phần hóa trong các doanh nghiệp nhà nướcthuộc Khối Doanh nghiệp Trung ương

7 Kết cấu của Luận văn

Luận văn bao gồm: Phần Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo,Phụ lục và phần Nội dung

Phần Nội dung của Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA DNNN THUỘC

ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG TỪ NĂM 2007ĐẾN NĂM 2010

Chương 2: TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC CỔ PHẦN

HÓA DNNN THUỘC ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNGƯƠNG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

Trang 15

Chương 1 CÔNG TÁC CỔ PHẦN HÓA DNNN THUỘC ĐẢNG BỘ KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG

Khi thành lập, Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương bao gồm

31 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 29 đảng bộ tập đoàn, tổng công ty,đơn vị, 02 đảng bộ cơ quan, với 23 đảng bộ cấp trên cơ sở và trên 47.000đảng viên

Đến cuối năm 2009, Đảng bộ Khối bao gồm gồm 31 Đảng bộ trựcthuộc, trong đó có 25 đảng bộ cấp trên cơ sở, 6 đảng bộ cơ sở với trên52.000 đảng viên là các tập đoàn, tổng công ty lớn và tổng công ty hạngđặc biệt hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó cácthành viên gắn kết với nhau thông qua mối liên hệ về quyền sở hữu vốn,tính thống nhất về mục tiêu chiến lược kinh doanh, thị trường, thươnghiệu ; có 4 đảng bộ xuyên suốt toàn tập đoàn, tổng công ty; 25 đảng bộtập đoàn, tổng công ty là đảng bộ công ty mẹ hoặc đảng bộ công ty mẹ

Trang 16

mở rộng (gồm tổ chức cơ sở đảng ở công ty mẹ và tổ chức cơ sở đảng ởmột số công ty thành viên).

Đến tháng 5 năm 2010, thực hiện quy định của Ban Bí thư (số 196

- QĐ/TW), Đảng uỷ Khối đã tiếp nhận Đảng bộ Tập đoàn Phát triển Nhà

và Đô thị Việt Nam (HUD) và Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng ViệtNam (Tập đoàn Sông Đà), đưa tổng số đảng bộ trực thuộc Khối lên 33

với tổng số đảng viên lên trên 65.000

Hiện nay, Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương có 35 đầu mốiđảng bộ trực thuộc, trong đó có 09 đảng bộ tập đoàn, 17 đảng bộ tổngcông ty, 07 đảng bộ Ngân hàng và 02 đảng bộ Cơ quan với 1.300 đảng

bộ, chi bộ cơ sở trực thuộc các đảng bộ tập đoàn, tổng công ty, đơn vị,trên 08 vạn đảng viên ở khắp mọi miền của tổ quốc và cả ở nước ngoài.Đảng bộ Khối đã lập 05 ban tham mưu giúp việc đảng ủy, bố trí cán bộchuyên trách đảng cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giaiđoạn hiện nay Cán bộ chuyên trách ở Cơ quan Đảng ủy Khối và hầu hếtcác đảng bộ trực thuộc có trình độ học vấn khá cao, đã qua các vị trí lãnhđạo ở cơ sở, có kinh nghiệm, tâm huyết với công tác đảng Hiện nay,toàn Đảng bộ Khối có trên 900 cán bộ chuyên trách công tác Đảng

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức:

Cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của Đảng ủy KhốiDoanh nghiệp Trung ương theo Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày22/10/2007 của Bộ Chính trị:

- Với chức năng lãnh đạo, kiểm tra, giám sát các đảng bộ trựcthuộc chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Nghịquyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm

vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ; xây dựng doanh nghiệp, đơn vị,đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh; xây dựng đảng bộ trong sạch,vững mạnh Tham gia nghiên cứu, đề xuất với Trung ương về công tácđảng, công tác tổ chức, cán bộ và nhiệm vụ chính trị của các tập đoànkinh tế, tổng công ty, đơn vị thuộc Khối có vị trí then chốt trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Nhiệm vụ của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương

+ Lãnh đạo các đảng bộ trực thuộc thực hiện nhiệm vụ chính trị:

Trang 17

Quán triệt đường lối, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị của Đảng,pháp luật của Nhà nước và xây dựng chương trình hành động sát hợp vớidoanh nghiệp.

Lãnh đạo triển khai nhiệm vụ chính trị để các doanh nghiệp, đơn

vị tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh; kiểmtra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụđược giao

Đề xuất với các cơ quan đảng, nhà nước có thẩm quyền về cơ chế;chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả vàsức cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh

Lãnh đạo thực hiện các chủ trương của Đảng về kết hợp phát triểnkinh tế - xã hội với quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội và bí mật quốc gia

+ Công tác chính trị, tư tưởng:

Lãnh đạo các tổ chức đảng thường xuyên làm tốt công tác giáodục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, công nhân và người laođộng thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của doanh nghiệp,đơn vị

Giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng văn hóadoanh nghiệp, giữ gìn bản sắc dân tộc trong hội nhập kinh tế quốc tế

Bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực hoạt động thựctiễn, ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ, đảng viên

+ Công tác xây dựng tổ chức đảng:

Lãnh đạo việc xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh;thực hiện đúng Điều lệ Đảng và các quy định của Trung ương về nguyêntắc tổ chức sinh hoạt đảng và quản lý đảng viên; bồi dưỡng cấp ủy viên,cán bộ chuyên trách công tác đảng; thực hiện tốt công tác phát triển đảngviên; đánh giá chất lượng, khen thưởng, kỷ luật tổ chức đảng và đảngviên theo quy định của Trung ương

Đề xuất với Trung ương về hệ thống tổ chức đảng trực thuộc phùhợp với hệ thống tổ chức doanh nghiệp

Trang 18

Lãnh đạo đảng bộ thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.+ Công tác cán bộ:

Lãnh đạo, kiểm tra, hướng dẫn các đảng ủy trực thuộc trong việcthực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, quyết định về cán bộ

và công tác cán bộ Lãnh đạo các đảng ủy trực thuộc thực hiện việc nhậnxét, đánh giá, quy hoạch, đào tào, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bổnhiệm, miễn nhiệm, giới thiệu ứng cử đối với cán bộ theo phân cấp quản lý

Tham gia với các ban Đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng trongcông tác cán bộ và quản lý cán bộ đối với đảng viên là cán bộ thuộc diệnKhối quản lý Tham gia ý kiến về bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với đảngviên là ủy viên hội đồng quản trị của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty,đơn vị trong Khối và cán bộ thuộc diện hội đồng quản trị các tập đoànkinh tế, tổng công ty, đơn vị quyết định

Quyết định về tổ chức bộ máy và cán bộ chuyên trách công tácđảng thuộc thẩm quyền theo phân cấp quản lý Đề nghị với các cơ quan

có thẩm quyền về chế độ, chính sách đối với cán bộ chuyên trách côngtác Đảng

+ Công tác kiểm tra, giám sát:

Lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theoquy định của Điều lệ Đảng; giữ nghiêm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhànước; giữ vững đoàn kết nội bộ

Chống suy thoái về tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống; phòng,chống tham nhũng, lãng phí có hiệu quả

Chủ động phát hiện, kịp thời ngăn chặn tổ chức đảng, cán bộ vàđảng viên có biểu hiện vi phạm; xử lý nghiêm minh tổ chức đảng, cán

bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước

+ Công tác dân vận:

Chỉ đạo các đảng ủy trực thuộc về việc lãnh đạo các đoàn thểchính trị - xã hội, các tổ chức nghề nghiệp thuộc Khối theo quy định củaTrung ương

Lãnh đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, pháthuy quyền làm chủ của người lao động để thực hiện đúng đường lối, chủ

Trang 19

trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động, của nhà đầu tư.Động viên, khuyến khích, tạo điều kiện để các đoàn thể tham gia xâydựng Đảng và quản lý doanh nghiệp; đẩy mạnh phong trào thi đua hoànthành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của doanh nghiệp, đơn vị

Lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Khối Doanhnghiệp Trung ương về phương hướng, nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức vàcán bộ

- Tổ chức bộ máy và điều kiện hoạt động của Đảng ủy KhốiDoanh nghiệp Trung ương:

+ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương có các cơ quan thammưu, giúp việc: văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban dân vận, cơquan Ủy ban kiểm tra và Trung tâm bồi dưỡng chính trị Đảng ủy KhốiDoanh nghiệp Trung ương ban hành quyết định về chức năng, nhiệm vụ, tổchức bộ máy của các cơ quan tham mưu thuộc Khối theo hướng dẫn củaBan Tổ chức Trung ương; quyết định về cán bộ và công tác cán bộ chuyêntrách của Đảng ủy Khối (trừ các chức danh do Trung ương quản lý)

Ban Tổ chức Trung ương chủ trì thống nhất với Đảng ủy KhốiDoanh nghiệp Trung ương xác định biên chế chuyên trách trên cơ sởchức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và chức danh tiêu chuẩn cán bộ,công chức

+ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương có con dấu, tài khoảnriêng, được trang bị cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động theo quy định

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1.1 Khái niệm lãnh đạo và Đảng lãnh đạo

- Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trongkhoa học về tổ chức - nhân sự Đó là một quá trình ảnh hưởng mangtính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấpdưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức Lãnh đạo là quá trình gây ảnhhưởng và dẫn dắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tớimục tiêu của tổ chức

Trang 20

Lãnh đạo được miêu tả là một quá trình ảnh hưởng xã hội cái màmột người có thể tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ của những người khácnhằm đạt được thành công cho một mục tiêu chung (nguồn: Wikipedia,

Bách khoa toàn thư mở) Tất nhiên cũng xuất hiện nhiều cách lí giải

khác sâu hơn

Lãnh đạo là "tổ chức một nhóm những người để đạt mục tiêuchung" Người lãnh đạo có thể có hoặc không có quyền lực đặc biệt.Những nhà nghiên cứu về lãnh đạo đã đưa ra những lí thuyết bao gồmnhững đặc điểm, những sự tác động qua lại do các yếu tố bên ngoài,chức năng, ứng xử, tầm nhìn và giá trị, uy tín và trí thông minh, cùng vớinhiều thứ khác Người mà mọi người sẽ tuân theo phải có khả nănghướng dẫn hoặc định hướng cho người khác

- Khái niệm Đảng lãnh đạo: Trong quá trình hoạt động cách mạng,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng trong các bài viết, bài nói của mìnhcác khái niệm “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền” Việc nhận thức rõcác vấn đề đó trong tư tưởng của Người trong giai đoạn hiện nay là vấn

đề hết sức cần thiết, làm cơ sở cho Đảng ta tiếp tục đổi mới về phươngthức lãnh đạo Trong phương hướng, giải pháp xây dựng Đảng củanhiệm kỳ Đại hội X, Đảng ta đã xác định: “Nghiên cứu, tổng kết, tiếp tụclàm rõ quan điểm về Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền làm cơ sở đổimới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách cơ bản, toàn diện” (ĐảngCộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NxbChính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 306.) Tại Đại hội XI, trong phươnghướng, giải pháp xây dựng Đảng những năm tới, Đảng ta tiếp tục xácđịnh: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ

một số vấn đề về đảng cầm quyền” Đảng Cộng sản Việt Nam, (Văn kiện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2011, tr 255)

Với các luận điểm trên, nội hàm khái niệm “Đảng lãnh đạo” trongquan điểm của Hồ Chí Minh đã được làm rõ qua các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, “Đảng lãnh đạo” là một khái niệm chỉ sự tác động, ảnh

hưởng của Đảng (qua các tổ chức đảng và đảng viên) đối với quần chúngnhân dân Tức chủ yếu chỉ nói đến sự lãnh đạo của Đảng đối với quầnchúng nhân dân Hồ Chí Minh không bao giờ sử dụng các khái niệm

“Đảng lãnh đạo Nhà nước” hay “Đảng lãnh đạo Chính quyền”, kể cả sau

Trang 21

khi Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền Đảng lãnh đạoquần chúng nhân dân có nghĩa là Đảng phải làm sao trở thành lực lượngtiên phong trong dân chúng, vạch hướng, xác định được mục tiêu đúngđắn đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng cơ bản của đông đảo quầnchúng nhân dân; đồng thời phải có được uy tín cao do làm tốt sứ mệnh

“người đày tớ trung thành của nhân dân” từ đó mà vận động, thuyết phụcđược quần chúng nhân dân ủng hộ, đi theo Đảng

Thứ hai, Đảng lãnh đạo là một khái niệm không gắn với quyền

lực Tức Đảng không dựa vào quyền lực (quyền lực được hiểu theonghĩa có sự cưỡng bức, ép buộc) trong sự ảnh hưởng, trong quá trình tácđộng của chủ thể lãnh đạo là Đảng đến đối tượng lãnh đạo là quần chúngnhân dân Sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng nhân dân có đặcđiểm là sự vận động mang tính thuyết phục Đảng lấy uy tín của mình làmột Đảng có “đạo đức và văn minh” để thuyết phục quần chúng nhândân đi theo, ủng hộ, thực hiện các cương lĩnh, đường lối, nghị quyết củaĐảng Điều đó diễn ra cả trước và sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân giànhđược chính quyền

Thứ ba, khái niệm Đảng lãnh đạo được hiểu như một hình thức

của cuộc đấu tranh giai cấp cả trong cách mạng giải phóng dân tộc vàtrong xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính từ trong cuộc đấu tranh đó,Đảng đã tỏ ra là lực lượng “có sức hấp dẫn lớn”, được quần chúng nhândân tin yêu, ca ngợi, tự nguyện suy tôn là lực lượng giữ địa vị lãnh đạo.Sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, sự suy tôn đóđược kiểm chứng chủ yếu qua các đợt bầu cử dân chủ và khi mà có đa sốđảng viên của Đảng được bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước cáccấp Tuy nhiên, nhân dân tự nguyện suy tôn địa vị lãnh đạo của Đảngkhông có nghĩa là Đảng có thể giữ mãi địa vị đó nếu Đảng đánh mấtniềm tin của nhân dân, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nếu Đảng khôngchiến thắng được trong cuộc đấu tranh gian khổ chống chủ nghĩa cánhân Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ rằng: “Đảng không thể đòi hỏi Mặttrận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ ra là một bộ phậntrung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh

và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sáchđúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa

vị lãnh đạo” (Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t 3, tr 139); rằng: “Một dân

Trang 22

tộc, một đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫnlớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến

và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cánhân” (Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t 12, tr 557-558.)

Phương thức lãnh đạo của Đảng tại Đại hội lần thứ IX

Phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những lĩnh vực đòihỏi chủ thể lãnh đạo phải năng động và có nhiều sáng tạo Phương thứclãnh đạo của Đảng là phụ thuộc vào nội dung lãnh đạo của Đảng Nhìnlại lịch sử của Đảng ta, thì thấy ở mỗi thời kỳ, với những nhiệm vụ chínhtrị khác nhau, Đảng có những phương pháp lãnh đạo phù hợp với đặcđiểm của từng thời kỳ

Tại Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng lần thứ IX Đảng ta đãnhận định trong quá trình lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới, Đảng ta

đã kiên trì và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ theo chốt về xây dựngĐảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, chú trọng cơ sở và địabàn trọng yếu, nhờ đó đã đạt được một số kết quả tích cực Tuy vậy, nhìnchung cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phêbình trong các cơ quan, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra.Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống,bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, thamnhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còndiễn ra nghiêm trọng Nhiều tổ chức cơ sở đảng bị tê liệt, thiếu sức chiếnđấu và không đủ năng lực lãnh đạo và chỉ đạo để giải quyết những vấn

đề phức tạp nảy sinh Công tác tư tưởng còn nhiều bất cập và thiếu tínhthuyết phục, tính chiến đấu Công tác lý luận chưa làm sáng tỏ được một

số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới Công tác tổ chức và cán

bộ còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém Chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giámsát chưa cao

Nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sựnghiệp các mạng của nhân dân ta là phải dành nhiều công sức tạo đượcchuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng,bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng; xây dựngĐảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổchức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương

Trang 23

thức lãnh đạo khoa học có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất vànăng lực.

Phải nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng, kiênđịnh Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thựctiễn hoạt động của Đảng Nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận và đổimới công tác giáo dục lý luận chính trị, công tác tư tưởng trong Đảng,nhất là cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp

Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, nâng caochất lượng đội ngũ đảng viên, làm cho mỗi tổ chức cơ sở đảng có tráchnhiệm tổ chức và quy tụ được sức mạnh của toàn đơn vị hoàn thànhnhiệm vụ chính trị được giao, mỗi đảng viên thật sự tiên phong, gươngmẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật vànăng lực hoàn thành nhiệm vụ Phải kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sởđảng, thể chế hóa về mặt nhà nước vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cácloại hình tổ chức cơ sở đảng; gắn việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảngviên với việc nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng

Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng;tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; nâng cao chấtlượng và hiệu quả công tác kiểm tra Mọi cán bộ đảng viên có quyền bànbạc, tham gia quyết định công việc của Đảng, đồng thời có trách nhiệmthực hiện nghiêm chỉnh các nghị quyết của Đảng Lãnh đạo các cấp phảilắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và nhân dân Xây dựngquy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể; hoànthiện quy chế kiểm tra, giám sát trong Đảng; kết hợp giám sát trongĐảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân

Đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ: Sắp xếp, đổi mới tổchức, bộ máy của Đảng, đặc biệt là các ban đảng, đảng đoàn, ban cán sựđảng, đảng ủy khối ở Trung ương và cấp ủy các địa phương gắn với kiệntoàn tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, bảo đảm tinh gọn,hoạt động thiết thực, hiệu quả; khắc phục tình trạng chồng chéo, trùnglặp; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan vàngười đứng đầu không rõ Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấuhợp lý, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng

Trang 24

Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo,bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài, dù làđảng viên hay người ngoài Đảng Cụ thể hóa, thể chế hóa nguyên tắcĐảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ điđôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng dầu tổ chứctrong hệ thống chính trị về công tác cán bộ.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: trong đó tập trung đổimới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Đảng lãnh đạoNhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chếhóa, cụ thể hóa thành Hiến pháp, pháp luật; bố trí đúng cán bộ và thườngxuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện Đảng lãnh đạo nhưng không baobiện làm thay Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động,sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội Đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoànthể nhân dân, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể xác định đúngmục tiêu, phương hướng hoạt động; đồng thời phát huy tinh thần tự chủ,sáng tạo của Mặt trận và các đoàn thể trong xây dựng, đổi mới tổ chức

và hoạt động của mình

1.2.1.2 Doanh nghiệp Nhà nước:

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế do Nhà nướcđầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặchoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhànước giao Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướngXHCN ở nước ta, DNNN giữ vị trí then chốt, như bánh lái của nền kinhtế; một quốc gia có chế độ chính trị định hướng XHCN như Việt Namphải xây dựng một hệ thống doanh nghiệp có tính chất “xương sống” củanền kinh tế, hệ thống đó có vai trò định hướng chính trị - xã hội cho toàn

Trang 25

dùng, DNNN giữ vị trí chủ lực trên nhiều mặt, nhiều sản phẩm chủ yếutrực tiếp phục vụ đời sống hàng ngày của nhân dân.

Các DNNN còn đảm nhận những trách nhiệm, những nhiệm vụ xãhội to lớn, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các vùng kinh tế lạc hậu Vớimục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; tráchnhiệm xã hội đặt ra cho DNNN không chỉ rất nặng nề ngay trong mỗibước phát triển mà còn phải đảm nhận những mục tiêu xã hội, đầu tư vàonhững lĩnh vực lãi ít, hoặc chậm thu hồi vốn nhưng có ý nghĩa xã hộilớn Đặc biệt, trong những lĩnh vực công ích, những lĩnh vực có vai tròphục vụ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân như kết cấu hạ tầng, bảo vệmôi trường, bảo đảm an ninh quốc phòng, xoá đói giảm nghèo

Doanh nghiệp nhà nước còn có sứ mệnh rất lớn là tạo điều kiện vàthúc đẩy toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cácnhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nói rất nhiều đến vai trò quyết địnhcủa công nghiệp trong quá trình cải tạo, phát triển nông nghiệp và cácngành kinh tế khác Đặc biệt, ở nước ta hiện nay đang tiến hành côngnghiệp hoá từ điều kiện sản xuất nhỏ, lạc hậu, thì vai trò của các DNNNchính là con chim đầu đàn, thông qua các DNNN phát triển, Nhà nước

có thực lực về kinh tế để thực hiện các tác động quản lý đối với nền kinh

tế nói riêng, xã hội nói chung; đồng thời, những nguồn lực do Nhà nướclàm chủ sở hữu được đưa vào và biến thành tài sản dùng trong quá trìnhSXKD của các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân Từ đó, DNNN làlực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng vàđiều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần khắc phục những khiếmkhuyết của nền kinh tế thị trường

Trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ởnước ta hiện nay, các DNNN còn là công cụ trong tay Nhà nước, là hạtnhân, nòng cốt trong việc liên doanh, liên kết, lôi cuốn các thành phầnkinh tế khác vào quỹ đạo phát triển để xây dựng CNXH Đây là vai trò,

là sứ mệnh hết sức quan trọng của các DNNN Chủ trương mới, đúngđắn của Đảng và những biện pháp kịp thời của Nhà nước về phát triểnkinh tế thị trường định hướng XHCN đã kích thích, giải phóng sức sảnxuất ở các thành phần kinh tế phát triển Nhưng các thành phần kinh tếvới bản chất kinh tế vốn có của nó, nếu không có những tác động điềuchỉnh có hiệu lực bằng các biện pháp kinh tế, nếu không có thực lực,

Trang 26

những sức mạnh kinh tế để khống chế và điều tiết, thì khó có thể địnhhướng hoạt động kinh tế của toàn bộ xã hội Những sức mạnh, nhữngtrung tâm thực lực kinh tế cùng sống, cùng hoạt động trong một môitrường thị trường với các thành phần kinh tế trong SXKD chính là cácDNNN, đó là đội quân chủ lực mà Nhà nước sử dụng để tác động vàđiều khiển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

Như vậy, sự tồn tại DNNN trong nền kinh tế thị trường nước ta làmột yêu cầu tất yếu khách quan, cần phải tạo điều kiện cho nó phát triển.Nhưng sự phát triển của hệ thống các DNNN không có nghĩa là tăngmạnh về số lượng như trước đây mà phải tăng mạnh về chất lượng, nghĩa

là phải nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường Muốn làm được điều đó, cần phải kiên quyết sắp xếp,đổi mới DNNN, những DNNN nào giữ vai trò, vị trí quan trọng, hoạtđộng SXKD có hiệu quả, tiếp tục tạo điều kiện cho phát triển, ngược lạinhững DNNN hoạt động SXKD kém, không có hiệu quả cần tổ chức lại

bộ máy quản lý, sắp xếp lại, đổi mới hoặc bán, giải thể có như vậy mớinâng cao khả năng cạnh tranh và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tếnhà nước trong nền kinh tế thị trường

2.2.1.3 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước:

Cổ phần hóa DNNN là việc chuyển doanh nghiệp mà chủ sở hữu

là nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanhnghiệp đa sở hữu) Chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo LuậtDNNN sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong Luậtdoanh nghiệp

Doanh nghiệp nhà nước đã và đang chi phối được các ngành, lĩnhvực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu

để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triểnkinh tế- xã hội, tăng thế và lực của đất nước; chiếm tỷ trọng lớn trongtổng sản phẩm trong nước, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch xuấtkhẩu và công trình hợp tác đầu tư với nước ngoài Là lực lượng quantrọng trong thực hiện chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai vàđảm bảo được nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội,quốc phòng an ninh; ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường; năng lựcsản xuất tiếp tục tăng; cơ cấu ngày càng hợp lý hơn; trình độ công nghệ

Trang 27

và quản lý có nhiều tiến bộ; hiệu quả và sức cạnh tranh từng bước đượcnâng lên, đời sống của người lao động từng bước được cải thiện

Bên cạnh những thành tích đáng ghi nhận, còn bộc lộ những hạnchế, yếu kém cần phải đổi mới các DNNN, đó là: Chưa phát huy đầy đủvai trò chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế thị trường, đầu tư và lợi thếcủa Nhà nước dành cho DNNN, chưa thật sự là một công cụ kinh tế đặcbiệt trong hệ thống các công cụ kinh tế để Nhà nước thực hiện sự quản lýnhà nước đối với nền kinh tế quốc dân nói riêng, toàn xã hội nói chung

có hiệu quả; Chưa thể hiện rõ là con đường tích tụ và tập trung vốn banđầu cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân;chưa phát huy được vai trò hỗ trợ công dân lập nghiệp; chưa giữ vai trò

bổ sung thị trường khi cần thiết, thực hiện việc cung ứng cho thị trườngnhững hàng hoá và dịch vụ theo chủ trương và kế hoạch nhà nước nhằmvào các khoảng trống của cung trên thị trường; quy mô của các DNNNcòn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa tập trung vào những ngành,lĩnh vực then chốt của nền kinh tế

Hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanhtoán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn Trong một thờigian dài, các DNNN đã đóng vai trò nòng cốt trong việc sản xuất và cungứng cho xã hội những tư liệu sản xuất, sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ và làlực lượng chủ đạo trong sản xuất hàng xuất khẩu Song, trước yêu cầu củagiai đoạn mới, khi nền kinh tế chuyển sang phát triển theo cơ chế thịtrường, những mặt yếu kém của DNNN đã bộc lộ rõ như: Hiệu quả sửdụng máy móc thiết bị thấp; Mức tiêu hao năng lượng và nguyên liệu cao;Chất lượng sản phẩm thấp và khả năng cạnh tranh yếu; Hiệu quả hoạtđộng kinh doanh thấp; Nhìn chung, trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản

lý còn yếu kém, chưa thật sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong SXKD.Qua khảo sát các thiết bị dây chuyền sản xuất trong các DNNN, Bộ Khoahọc - công nghệ và Môi trường đã đưa ra kết luận: Công nghệ của chúng

ta lạc hậu so với các nước từ 10 - 20 năm, mà công nghệ tiên tiến là yếu tốquyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam

Những đóng góp của DNNN cho Ngân sách chưa tương xứng vớitiềm lực và đầu tư của Nhà nước Sức cạnh tranh của hàng hoá rất yếu,

có những mặt hàng như phân bón, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng

Trang 28

giá sản xuất cao hơn giá nhập khẩu từ 10- 20%, cá biệt có mặt hàng giásản xuất cao hơn giá nhập khẩu 40%.

Vì vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong tập đoàn, tổngcông ty là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta, là một trongnhững giải pháp quan trọng nhằm sắp xếp, đổi mới, phát triển và nângcao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước Đó là hình thức cụ thể của tiếntrình xã hội hoá sản xuất, nhờ sự xuất hiện công ty cổ phần mà vốn đượchuy động, tập trung nhanh chóng Thực hiện tốt cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nước trong các tập đoàn, tổng công ty sẽ làm tăng sức mạnhcủa kinh tế nhà nước, làm chỗ dựa cho nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ

mô Mặt khác, nó cũng là một giải pháp để tăng tính năng động trongkinh doanh và phát huy tính tích cực, tự chủ của DNNN

Cổ phần hóa là quá trình chuyển sang một hình thức quản lý hiệnđại hơn, bên cạnh vai trò chi phối của nhà nước trong các tập đoàn, tổngcông ty, có sự tham gia của các thành phần khác Đảng và Nhà nước takhẳng định cổ phần hoá không phải là tư nhân hóa vì cổ phần hoá hướngtới tháo gỡ khó khăn về vốn, về cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước,không nhằm thu hẹp sở hữu nhà nước trong nền kinh tế quốc dân

Từ năm 2001 đến nay, quan điểm của Đảng ta về cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước ngày càng sáng tỏ, phù hợp hơn với sự phát triểnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Những quan điểm, chủtrương của Đảng Cộng sản Việt Nam về cổ phần hóa doanh nghiệp nhànước được thể chế hoá thành các qui phạm pháp luật và được thực thitừng bước Đảng và Nhà nước coi cổ phần hoá là một giải pháp căn bảnkhông những giúp doanh nghiệp nhà nước thu hút vốn mà còn tạo điềukiện cho doanh nghiệp nhà nước nâng cao năng lực cạnh tranh, kinhdoanh hiệu quả

Đây là cả quá trình đổi mới về tư duy nhận thức, quan điểm vềdoanh nghiệp nhà nước; đổi mới về cơ chế, chính sách, phương thức tiếnhành và tổ chức chỉ đạo thực hiện Cổ phần hoá DNNN nhằm tạo ra loạihình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người laođộng, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, người laođộng và nhà đầu tư khác trong doanh nghiệp; từng bước đổi mới phươngthức quản trị doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy thị trường vốn và thịtrường chứng khoán phát triển

Trang 29

1.2.2 Quan điểm của Đảng về CPH doanh nghiệp nhà nước

Quá trình sắp xếp, đổi mới phát triển DNNN hướng tới việc tiếp tụchoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Đườnglối kinh tế của Đảng ta đã nêu rõ “Đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng nềnkinh tế độc lập, tự chủ, đưa đất nước ta trở thành nước công nghiệp; ưutiên phát triện lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuấtphù hợp theo định hướng XHCN…” Cương lĩnh của Đảng cũng khẳngđịnh: “Chế độ công hữu về các tư liện sản xuất chủ yếu là một trongnhững đặc trưng của chế độ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng”.Đường lối kinh tế mà Đảng ta đã vạch ra là kết tinh của Chủ nghĩa Mác– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể nền kinh tế xã hộinước ta Đường lối này đã được thời gian, thực tế kiểm nghiệm và toànĐảng, toàn dân thừa nhận, thực hiện mag lại hiệu quả kinh tế làm chonền kinh tế - xã hội phát triển ổn định với tốc độ cao

Cổ phần hóa DNNN không phải là tư nhân hóa, phải đảm bảo tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế NN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

- Trong khi năng lực của các thành phần kinh tế đang yếu, quy mônhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, thì thành phần kinh tế NN lại có ưuthế hơn hẳn Được thể hiện ở khả năng huy động vốn, tập trung sản xuấtquy mô lớn và ưu thế, tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại, pháttriển công nghệ nội sinh Vì thế, nó có khả năng trở thành đòn bẩy củanền kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển nền kinh tế quốc dân Hơn nữa,kinh tế nhà nước còn là công cụ có hiệu quả để Nhà nước phân bổ cácnguồn lực, dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN

- Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, thànhphần kinh tế NN là bộ phận có vai trò chủ đạo Điều đó không có nghĩalà: bắt buộc DNNN phải có mặt ở tất cả các ngành, lĩnh vực bao trùmtoàn bộ nền kinh tế quốc dân như quan niệm trước đây, mà quan trọng là

ở chỗ nó phải nắm những ngành, lĩnh vực kinh tế trọng yếu, then chốt cótác động quyết định sự phát triển của nền kinh tế Thực tế ở nước ta, docác DNNN phát triển tràn lan, không được tổ chức và quản lý tốt nênhoạt động kém hiệu quả Nếu tiếp tục để DNNN ở tình trạng như vậy, thìnền kinh tế sẽ dẫn đến hai hiệu ứng là bóp méo thị trường và tăng tính ápđặt chủ quan, kìm hãm sự phát triển kinh tế quốc dân Cần phải giảm bớt

Trang 30

số lượng DNNN trong những ngành, lĩnh vực mà NN không nhất thiếtphải nắm 100% vốn thông qua một số giải pháp.

- Cổ phần hóa DNNN như vậy rõ ràng không những không làmgiảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà còn làm cho vai trò đóđược tăng cường

Cổ phần hóa DNNN đảm bảo nâng cao vai trò làm chủ thực sự của người lao động, tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp.

- Vấn đề người lao động có sở hữu tại doanh nghiệp mà họ làmviệc là một biểu hiện mới của quá trình phát triển kinh tế xã hội gắn liềnvới sự phát triển của công ty cổ phần; là bước phát triển mới của tínhchất xã hội hóa về chế độ sở hữu thông qua vốn gắn liền với phân cônglao động xã hội tại doanh nghiệp; Đồng thời, là bước phát triển mới của

tổ chức doanh nghiệp và phân phối lợi nhuận tại doanh nghiệp mà nhânloại đã đạt được trong kinh tế thị trường hiện đại

- Thực chất của quan điểm này là đòi hỏi trong quá trình tiến hành

cổ phần hóa DNNN, phải có chính sách ưu đãi riêng để người lao động

có thể mua được cổ phiếu tại doanh nghiệp mà họ làm việc Hơn nữa,phải dựa vào mức sống của từng đối tượng (nhất là đối với người laođộng nghèo) trong từng lĩnh vực, từng vùng cụ thể để có giải pháp thíchhợp Trong chính sách phải tạo ra sự công bằng về chế độ mua cổ phiếugiữa những người lao động trong các DNNN cổ phần hóa Việc khuyếnkhích người ngoài doanh nghiệp (kể cả trong và ngoài nước) mua cổphiếu tại DNNN cổ phần hóa là cần thiết, song trước hết phải đảm bảo

ưu tiên để người lao động tại doanh nghiệp được mua trước ngoài số cổphiếu mà NN bán ưu đãi cho họ

- Tiến hành CPH DNNN là để phát triển doanh nghiệp vì lợi íchcủa người lao động của của toàn xã hội, chứ không phải đem DNNN ra

“chia chác” vì lợi ích cục bộ của một số người Đây là một quan điểm cótính nguyên tắc đảm bảo hữu sản hóa người lao dộng và từ đó đảm bảonâng cao vai trò làm chủ thật sự của người lao động tại DNNN sau khi

cổ phần hóa

Không cổ phần hóa toàn bộ DNNN mà chỉ CPH những DNNN không thuộc diện NN cần nắm giữ 100% vốn, từng bước đi của quá

Trang 31

trình CPH DNNN phải tích cực và vững chắc, đảm bảo tính hiệu quả của CPH.

- Quan điểm này đòi hỏi phải chủ động tiến hành CPH DNNN đểtạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển Chống lại tư tưởng chờ đợi,nghe ngóng, thụ động, thiếu kiên quyết đối với vấn đề CPH DNNN,hoặc khi tiến hành CPH gặp khó khăn, vướng mắc không tích cực tìmbiện pháp xử lý

- Quan điểm vững chắc cần phải được thể hiện trong cả quá trìnhCPH DNNN từ vấn đề nhận thức đến tổ chức triển khai và kết quả đạtđược Điều này đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức rõ ràng, đầy đủ vềtính bức xúc của CPH DNNN Đồng thời, phải nắm vững và vận dụnglinh hoạt, sáng tạo những kinh nghiệm CPH DNNN của các nước, nhất

là những nước có nền kinh tế chuyển đổi vào điều kiện cụ thể của quátrình CPH DNNN ở Việt Nam Phải coi CPH DNNN là một quá trìnhđiều chỉnh tương quan giữa NN và thị trường để nền kinh tế hoạt động

có hiệu quả và quá trình này phải được tiến hành thường xuyên, liên tụcchứ không phải thực hiện một lần trong một thời gian rồi chấm dứt

- Phải vừa tiến hành CPH vừa rút kinh nghiệm, đảm bảo nhữngbước sau vững vàng hơn bước trước, không thể chấp nhận thái độ vội vã,làm ẩu Phải lấy thước đo đánh giá là các doanh nghiệp hoạt động kinhdoanh có hiệu quả hơn trước khi cổ phần hóa

Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được làm thước đo đánh giá kết quả CPH DNNN

Muốn thực hiện tốt quan điểm này, đòi hỏi một mặt phải tăngcường vai trò quản lý nhà nước của Nhà nước trong toàn bộ quá trìnhCPH, từ trướng đến sau khi DNNN chuyển thành CTCP Mặt khác, đòihỏi phải phát huy cao độ tinh thần chủ động, ý thức sáng tạo của các nhàquản lý và người lao động trong các DNNN cổ phần hóa Phải có cơ chế,biện pháp ngăn ngừa và xử lý nghiêm khắc những tiêu cực có thể xảy ratrong quá trình tiến hành CPH DNNN

1.2.3 Khái quát tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trước năm 2007

1.2.3.1 Cổ phần hoá DNNN - quá trình và kết quả thực hiện

Trang 32

Cổ phần hoá là chuyển đổi sở hữu từ nhà nước sang sở hữu khác chủ yếu là sở hữu của tư nhân trong nước và sở hữu nước ngoài Vì vậyCPH là vấn đề nhạy cảm Do đó, quá trình CPH DNNN ở Việt Nam diễn

-ra rất thận trọng, cũng vì vậy, diễn -ra rất chậm Bắt đầu bằng Quyết định202-QĐ ngày 8/6/1992

Xét về yêu cầu và tính chất triển khai CPH có thể phân chia quátrình thực hiện CPH thành một số giai đoạn chính như sau:

- Giai đoạn thí điểm CPH từ năm 1992 đến giữa năm 1996 Quá

trình thí điểm bắt đầu từ Quyết định 202-CT (năm 1992) đến khi văn bảnpháp lý cao hơn là Nghị định 28/CP của Chính phủ được ban hành vàđưa vào thực hiện thay thế cho Quyết định 202-CT của Thủ tướng Chínhphủ Giai đoạn này chỉ có 5 doanh nghiệp (DN) được tiến hành CPH

- Giai đoạn mở rộng thí điểm CPH từ giữa 1996 đến khi ban hành

Nghị định 44/1998/NĐ-CP Trong giai đoạn này việc CPH được thựchiện theo Nghị định 28/CP và Nghị định 25/1997/NĐ-CP của Chính phủ.Tổng số có 25 DN đã hoàn thành CPH trong khoảng thời gian 2 năm

- Giai đoạn đẩy mạnh CPH từ giữa năm 1998 trở đi (khi ban hành

Nghị định 44/1998/NĐ-CP) Đây là giai đoạn có hàng loạt các DN và bộphận DN Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn được CPH, chuyểnthành các DN đa sở hữu có hoặc không có cổ phần nhà nước Trong giaiđoạn này nhiều văn bản quy phạm pháp luật (như các Nghị định64/2002/NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP, 109/2007/NĐ-CP và các thông tưhướng dẫn) đã được ban hành, được sửa đổi, bổ sung để tạo cơ sở pháp

Trang 33

khai, thì kết quả này đạt được là nhờ có các động lực CPH từ chủ trươngcủa Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, của Nghị quyết Hội nghị Trungương ba khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng caohiệu quả DNNN ban hành cuối năm 2001 Đặc biệt, các cơ chế chínhsách trong các Nghị định 28/CP, 44/1998/NĐ-CP, 64/2002/NĐ-CP thiên

về khuyến khích, động viên DNNN CPH (như xác định giá trị DN, xácđịnh giá trị đất đai, vị trí địa lý, uy tín, thương hiệu gắn với giá trị DNđược đơn giản hoá, dựa chủ yếu vào giá trị sổ sách, chưa gắn với thịtrường) đã tạo ra động lực mạnh thúc đẩy CPH ở những năm đầu của

giai đoạn này

Bảng 1.1: Số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá qua các giai đoạn

Giai đoạn

Số DN và bộ phận DN cổ phần hoá Giai đoạn thí điểm CPH (1992 – giữa 1996) theo

Giai đoạn mở rộng thí điểm CPH (giữa 1996

-giữa năm 1998) theo Nghị định 28/CP và Nghị

(Nguồn: Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, Bộ Tài chính)

1.2.3.2 Cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước

Việc CPH các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đối diệnvới những vấn đề chung của các DN CPH và cả những vấn đề riêng củaloại hình DN quy mô lớn

Vấn đề chung của các DN CPH là: cần xử lý các tồn tại và giảiquyết vấn đề mới phát sinh sau CPH Đó là tình trạng DN sau CPH vẫnchưa thoát ra khỏi phương thức hoạt động của DNNN cũ, vẫn chưa đột

Trang 34

phá mạnh về tư duy, hành động trong quản trị, điều hành, năng lực quản

lý, khả năng cạnh tranh, tính công khai, minh bạch, khó tìm được cổđông chiến lược, cách lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, vai trò cổ đôngnhà nước bị quá lạm dụng hoặc trong trình trạng chỉ giữ vai trò nhưngười giữ vốn nhà nước

Vấn đề có đặc thù riêng trong CPH TĐKT và TCT đó là:

- Thứ nhất, tập đoàn kinh tế và tổng công ty là những DN quy môlớn, có tài sản lớn, nhiều vốn nhà nước, nắm giữ những ngành, lĩnh vựckinh doanh thường được quan niệm là quan trọng, nhạy cảm, liên quanđến vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước, an ninh, quốc phòng, công ích.Tập đoàn kinh tế và tổng công ty cấu trúc phức tạp, đa dạng, nhiều tầngnấc, gồm nhiều DN thành viên, lợi ích không đồng nhất thậm chí đối lậpnhau Tập đoàn kinh tế và tổng công ty theo quan niệm trước đây vàthậm chí hiện nay vẫn còn được coi là nòng cốt, xương sống của DNNN

và kinh tế nhà nước Đây đều là những vấn đề gai góc, cần giải quyếttrong và sau CPH

- Thứ hai, về cách thức tiến hành CPH Hiện tại có 2 cách, một là,CPH toàn bộ tập đoàn kinh tế, tổng công ty, và hai là, chỉ CPH các DNthành viên để chuyển sang mô hình công ty mẹ-công ty con CPH tổngcông ty vẫn thiên về cách làm thứ hai: trước hết CPH các DN thành viên,sau đó mới CPH công ty mẹ Cách này chỉ thay đổi ở bên dưới, công tycon, cháu, công ty liên kết, chưa đụng đến DN phía trên đó là công ty

mẹ Vì vậy nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty không có chuyển biếnmạnh mẽ, sức ỳ vẫn lớn, nó chỉ phù hợp giai đoạn trước tái cơ cấu.Trước gia đoạn tái cơ cấu DNNN chưa có tập đoàn kinh tế nào đượcCPH theo cách thứ nhất, trừ Tập đoàn Tài chính bảo hiểm Bảo Việt vàTập đoàn Xăng dầu Việt Nam

Thứ ba, Nhà nước can thiệp quá sâu vào quyền của công ty mẹtrong CPH các DN thành viên như phê duyệt cả tỷ lệ % cổ phần Nhànước giữ lại ở công ty con, cháu, công ty liên kết Điều đó làm khó chocông ty mẹ thực hiện ý đồ chiến lược, sử dụng quyền của mình ở công tycon, công ty liên kết

1.2.3.3 Quản trị DN sau CPH

Trang 35

Mục tiêu CPH, ngoài việc đa dạng hoá sở hữu, giảm tính độc tôncủa sở hữu nhà nước, là chuyển DNNN thành DN cổ phần với cấu trúcquản trị hiện đại, đồng thời sau CPH tiếp tục cải thiện QTDN theo hướnghiện đại Tuy nhiên, trên thực tế QTDN tại các DN chuyển từ DNNNthành công ty cổ phần nhìn chung chưa có nhiều chuyển biến, thay đổi rõrệt Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.

Thứ nhất, nhận thức chưa đúng, thậm chí sai lệch về QTDN, coicải thiện QTDN là cải thiện quản lý điều hành sản xuất kinh doanhnhư cải thiện quản lý về tài chính, nhân sự, tiền lương, sản xuất, thươngmại, v.v Không ít DNNN khi được hỏi ý kiến đều nghiêng về nhận thứcnhư vậy và triển khai theo hướng này Trong khi đó cải thiện QTDN là

áp dụng các nguyên tắc QTDN hiện đại theo thông lệ kinh tế thị trường,

ví dụ như các quy tắc của OECD, đó là tạo điều kiện để cổ đông thựchiện quyền cổ đông và bảo vệ quyền của cổ đông; đối xử bình đẳng vớimọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số; các bên liên quan được tiếpcận các thông tin phù hợp, đầy đủ, tin cậy, kịp thời và thườngxuyên; tăng cường minh bạch hóa và công bố thông tin quan trọng củadoanh nghiệp; tăng cường trách nhiệm và tính giải trình củaHĐQT, đảm bảo để HĐQT hoạt động vì lợi ích cao nhất của doanhnghiệp và của cổ đông

Thứ hai, Nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến các DN sauCPH và QTDN của các DN này Đã có rất nhiều văn bản được ban hànhcùng với những nỗ lực thực hiện CPH Ngược lại, có rất ít văn bảnhướng dẫn và chỉ đạo triển khai, cũng như rất ít nỗ lực thực hiện nhằmcải thiện QTDN tại các DN có cổ phần chi phối hay kiểm soát của Nhànước ở giai đoạn sau CPH Nhiệm vụ đổi mới QTDN theo thông lệ kinh

tế thị trường đã trở thành vấn đề cấp thiết sau khi Việt Nam gia nhậpWTO (năm 2007)

1.2.3.4 Vấn đề thoái vốn nhà nước từ các DN sau CPH

Thoái vốn nhà nước trước đây đã được triển khai tại các DN đãCPH, chủ yếu tại các DN quy mô nhỏ của các địa phương và của Tổngcông ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) Thực tế, có 2 loạithoái vốn nhà nước: thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo chủ trương tái cơcấu DNNN, và thoái vốn nhà nước từ các DN đã CPH Thoái vốn đầu tưngoài ngành là giải pháp tái cơ cấu DNNN nhằm thu hẹp ngành, lĩnh vực

Trang 36

đầu tư để giải quyết tình trạng đầu tư dàn trải nhằm tập trung đầu tư vàongành, lĩnh vực kinh doanh chính Đây là hoạt động tái cơ cấu DNNN.Thoái vốn nhà nước từ các DN đã CPH là giảm bớt tỷ lệ cổ phần nhànước tại DN sau CPH Đây là tiếp tục quá trình CPH ở giai đoạn sauCPH, hay có thể gọi là CPH thứ cấp.

Thực tế hiện nay ở nước ta chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa 2loại thoái vốn này Cụ thể là, chưa xác định rõ tính chất, mục tiêu, thẩmquyền quyết định đối với từng loại thoái vốn Vẫn còn tình trạng đánhđồng giữa thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo chủ trương tái cơ cấuDNNN, và thoái vốn để tiếp tục CPH DN có vốn nhà nước ở giai đoạnsau CPH Hiện nay đang tồn tại nghịch lý trong thực hiện cả 2 loại thoáivốn này

Thứ nhất, thoái vốn đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính là việc

điều chỉnh vốn đầu tư, điều chỉnh hoạt động đầu tư tại DN và điều chỉnhhoạt động đầu tư tài chính tại DN khác Đó là việc sử dụng vốn kinhdoanh của DN, thuộc quyền của DN, do bộ máy quản trị DN quyết định.Tuy nhiên, hiện nay việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành đang diễn ra đồngloạt theo quy định hành chính của cơ quan nhà nước, bất kể thực trạnghiệu quả sử dụng vốn, triển vọng sử dụng vốn, tiềm lực vốn, năng lựcquản trị của DN Điều đó vừa can thiệp vào quyền kinh doanh của DN,vừa thiếu tính kinh tế vì chưa tính đến thực trạng và triển vọng đầu tưcủa DN trong ngành kinh doanh chính cũng như đầu tư của DN vào cácngành kinh doanh ngoài ngành kinh doanh chính

Thứ hai, thoái vốn nhà nước từ các DN đã CPH là điều chỉnh vốn

điều lệ, tức là điều chỉnh vốn chủ sở hữu nhà nước Đó là hoạt động sửdụng vốn chủ sở hữu, là thuộc quyền của cổ đông nhà nước - chủ sở hữunhà nước, không phải quyền của DN (trừ DN là công ty con của DNmẹ) Đối với nhiều nước, việc tăng, giảm vốn nhà nước tại DN được quyđịnh chặt chẽ vì đó là quyền chủ sở hữu nhà nước, quyền này thuộc vềNghị viện, Quốc hội Trong bối cảnh nước ta, hiện chưa có các quy định,các căn cứ hay tiêu chí để thoái vốn nhà nước từ DN đã CPH Quyềnquyết định thoái vốn nhà nước cũng không nhất quán với quyền quyếtđịnh cổ phần hoá Quyết định cổ phần hoá được căn cứ vào các tiêu chíđược Thủ tướng Chính phủ xét duyệt chặt chẽ (theo Quyết định ban hànhtiêu chí, danh mục phân loại DNNN) Cổ phần hoá xong thì không còn

Trang 37

tiêu chí để giảm hoặc tăng cổ phần nhà nước, thẩm quyền xem xét quyếtđịnh cũng “hạ cấp” giao cho Bộ, UBND cấp tỉnh Rõ ràng, đây là mộtvấn đề cần phải giải quyết để có cơ sở để giám sát quyền lực, nhất là tớiđây số lượng DN 100% vốn nhà nước sẽ giảm đi rất nhiều Số DN cóvốn nhà nước chi phối sẽ tăng lên nhiều, trong số này có nhiều DN lớngồm TĐKT, TCT ở ngay trong các ngành, lĩnh vực quan trọng.

2 Sự lãnh đạo của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương

về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

2.1 Những chủ trương của Đảng bộ Khối

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những hướngquan trọng của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước - bộ phận khôngthể thiếu trong thành phần kinh tế nhà nước Trong đổi mới kinh tế, mộtvấn đề lớn được đặt ra là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất vàtừng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ lực lượngsản xuất Để giải phóng lực lượng sản xuất, tất yếu phải phát triển mạnh mẽnền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêubao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường và xây dựng thể chế kinh tế thịtrường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóngvai trò chủ đạo Muốn vậy, phải đổi mới mạnh mẽ các doanh nghiệp nhànước Theo hướng đó, sau nhiều năm tìm tòi và thử nghiệm trong thực tế,Đảng ta đã lựa chọn cổ phần hóa như một phương thức có hiệu quả để đổimới các doanh nghiệp nhà nước như các Nghị quyết 3 và Nghị quyết 9 củaBan Chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ

Cổ phần hóa DNNN trong các tập đoàn, tổng công ty thuộc KhốiDoanh nghiệp Trung ương đã tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ

sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, bảo đảm hài hòa lợi íchcủa Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động và nhà đầu tư khác trongdoanh nghiệp; từng bước đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp,góp phần thúc đẩy thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển

Trong quá trình quản lý SXKD, các đơn vị đã chủ động sáng tạovượt qua khó khăn tiếp tục đứng vững và phát triển trong cơ chế thịtrường Đặc biệt nhiều đơn vị đã mạnh dạn đầu tư công nghệ tiên tiến tạo

ra những sản phẩm mới với chất lượng cao hơn so với những năm trước

và có đủ khả năng thay thế hàng ngoại nhập Liên doanh, liên kết với các

Trang 38

đơn vị trong và ngoài nước đã được đẩy mạnh nhằm thu hút vốn đầu tư,tăng năng suất và phát triển thêm thị trường.

Chủ trương về cơ chế, chính sách:

Giai đoạn 2007 - 2010 Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương

đã có ý kiến về sửa đổi, bổ sung hầu hết các văn bản liên quan đến sắpxếp, đổi mới DNNN như: cổ phần hóa; quy chế tài chính và quản lý laođộng, tiền lương trong công ty TNHH một thành viên là Nhà nước;hướng dẫn xử lý tài chính khi chuyển đổi công ty nhà nước thành công

ty TNHH một thành viên; tổ chức quản lý tổng công ty nhà nước, công

ty nhà nước hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con; quy chếgiám sát đối với DNNN kinh doanh thua lỗ, hoạt động không có hiệuquả; quy định chế độ tiền lương đối với công ty mẹ do Nhà nước làmchủ sở hữu và công ty con trong tập đoàn kinh tế; hướng dẫn một số nộidung về giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN Chính sáchđối với người lao động dôi dư cũng được sửa đổi, bổ sung phù hợp vớithực tế Hệ thống cơ chế, chính sách được hoàn thiện đã tăng cường tínhcông khai, minh bạch, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt độngSXKD của DNNN và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộcthành phần kinh tế khác trong cơ chế thị trường

Cơ chế, chính sách CPH DNNN đã được hoàn thiện nhằm tiếp tụcbảm đảm CPH theo nguyên tắc thị trường và giải quyết hài hòa lợi íchNhà nước, nhà đầu tư, người lao động và doanh nghiệp, góp phần ổnđịnh xã hội, phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế Chú trọng hơn việclựa chọn nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước; bổ sung phươngthức bảo lãnh phát hành và thỏa thuận trực tiếp khi bán cổ phần lần đầu;quy định doanh nghiệp có vị trí địa lý thuận lợi phải thuê các tổ chức cóchức năng định giá thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp; quyđịnh cụ thể hơn về xác định lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp, về sựcông khai, minh bạch thông tin và niêm yết trên thị trường chứng khoán;cải cách thủ tục hành chính, đề cao vai trò, trách nhiệm của các bộ, địaphương, tổng công ty nhà nước trong tổ chức thực hiện cổ phần hóa

Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương hướng dẫn các đảng ủytrực thuộc thực hiện các văn bản của Chính phủ đã thông qua như: Nghịđịnh sửa đổi, bổ sung Nghị định về giao, bán, khoán kinh doanh, chothuê công ty nhà nước với sự bãi bỏ hình thức khoán kinh doanh, cho

Trang 39

thuê vì thực tế cho thấy các hình thức sắp xếp này không hiệu quả,doanh nghiệp không đổi mới quản trị doanh nghiệp, không có điều kiện

để đầu tư, đổi mới công nghệ Quy chế quản lý tài chính của công ty nhànước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác cũng đượcnghiên cứu để sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo quyền chủ động về tàichính nhiều hơn cho doanh nghiệp; đồng thời nâng cao vai trò giám sátcủa nhà nước, kiểm soát việc đầu tư của các tập đoàn, tổng công ty nhànước vào lĩnh vực ngoài ngành, nghề kinh doanh chính của doanhnghiệp Nghị định về tổ chức hoạt động của các tập đoàn kinh tế cũngđang được hoàn thiện để hướng dẫn cụ thể về hình thành tổ chức, hoạtđộng của các tập đoàn

DNNN được rà soát lại theo tiêu chí phân loại mới để tiếp tục sắp xếp với các hình thức phù hợp, trọng tâm là cổ phần hóa: Để làm cơ sở

cho sắp xếp, đổi mới DNNN theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X,Chính phủ đã ban hành Quyết định về tiêu chí, danh mục phân loạidoanh nghiệp 100% vốn nhà nước thay thế tiêu chí, danh mục đã banhành năm 2004 theo đó giảm từ 28 ngành, lĩnh vực duy trì 100% vốnnhà nước xuống còn 19 ngành, lĩnh vực (khai thác, chế biến dầu mỏ, bánbuôn xăng dầu, lương thực; vận tải đường không, đường sắt)

Chủ trương quan tâm chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN: Ngay từ đầu năm 2007, khi Nghị định mới chưa được

ban hành, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương đã hướng dẫn thựchiện Nghị quyết của Chính phủ về đồng ý tiếp tục thực hiện chính sáchđối với lao động dôi dư, song có điều chỉnh về phạm vi áp dụng và chínhsách Đến tháng 6, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2007/NĐ-CP

về chính sách đối với người lao động dôi dự doanh nghiệp sắp xếp lạicông ty nhà nước

Trong thực hiện chính sách này Đảng ủy Khối có một số kiếnnghị như: đề nghị tổ chức công đoàn được quyền huy động vốn để mua

cổ phần ưu đãi và chuyển nhượng cổ phần này; bán cổ phần theo giá ưuđãi cho người lao động nghỉ hưu trước gần thời điểm cổ phần hóa; chínhsách bán cổ phần ưu đãi cho người quản lý phần vốn của công ty mẹ tạicông ty cổ phần hoặc công ty liên doanh

2.2 Quá trình chỉ đạo triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Trang 40

2.2.1 Công tác tư tưởng

Những năm qua TCCSĐ trong các DNNN đã CPH thuộc Khối đãquan tâm giáo dục, rèn luyện nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo đức lốisống và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ đảng viên Từ khi thựchiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động xây dựng, chỉnhđốn đảng Trong các DNNN đã và đang tiến hành CPH Đảng ủy Khốixác định CPH DNNN là nhiệm vụ chính trị chủ yếu trong các DNNN, vìvậy trong các đợt sinh hoạt chính trị đã quán triệt đến cán bộ, đảng viênnhững nội dung liên quan đến chủ trương của Đảng về CPH như: Tínhtất yếu của việc CPH DNNN; cơ chế, chính sách, kế hoạch triển khaiCPH; lợi ích của người lao động …

Công tác giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên đã được chútrọng thực hiện theo Quy định 54-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII)

về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng Hằng năm, đảng viên dự

bị được học chương trình lý luận dành cho đảng viên mới do Đảng ủyKhối tổ chức Các đảng bộ trực thuộc đã tổ chức 106 lớp bồi dưỡng kếtnạp đảng cho 12.280 quần chúng, 60 lớp bồi dưỡng đảng viên dự bị với5.387 học viên, 71 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng với 6.934học viên, tổ chức 10 lớp cao cấp lý luận chính trị với 1.100 học viên vànhiều lớp chuyên đề về kinh tế - xã hội, về xây dựng Đảng Toàn Đảng

bộ Khối đã triển khai sâu rộng Cuộc vận động “Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trên 400 TCCSĐ đã tổ chức thi kểchuyện với gần 1.000 báo cáo viên, có trên 300 đảng bộ cơ sở đã xâydựng chuẩn mực, tiêu chuẩn đạo đức theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh, xây dựng các bộ quy tắc ứng xử, văn hóa doanh nghiệp, văn hóacông sở

Bằng nhiều hình thức khác nhau các cấp ủy đã phổ biến, triểnkhai kịp thời đến cán bộ, đảng viên và người lao động các nghị quyết củaĐảng, các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của Đảng ủyKhối; tổ chức hội nghị học tập, quán triệt các Nghị quyết của Trungương, qua học tập cán bộ, đảng viên có nhận thức đầy đủ, rõ hơn tintưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, yên tâm với nghề nghiệp, có tráchnhiệm, tận tụy trong công việc, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống lànhmạnh; các cấp ủy, lãnh đạo đơn vị tăng cường nắm bắt tâm tư, nguyệnvọng của cán bộ, đảng viên, tạo sự nhất trí cao trong từng cán bộ, đảng

Ngày đăng: 18/09/2017, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w