1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ôn tập triết học, các vấn đề triết học, các cách làm bài tập tiểu luận triết, các đề tiểu luận triết và hướng làm bài

20 492 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 30,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác Lênin, là hạt nhân của phép biện chứng. Theo Lênin: “có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế, là nắm được hạt nhân của phép biện chứng…”. Phép biện chứng duy vật là học thuyết xem xét sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động, phát triển. Nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển của thế giới chính là mâu thuẫn. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vân động và phát triển. Theo quy luật này, nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chính là xuất phát từ mâu thuẫn khách quan, vốn có của nó:

Trang 1

Hạt nhân của Phép Biện chứng Duy vật là Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin, là hạt nhân của phép biện chứng Theo Lênin: “có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng

là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế, là nắm được hạt nhân của phép biện chứng…”

- Phép biện chứng duy vật là học thuyết xem xét sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động, phát triển Nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển của thế giới chính là mâu thuẫn Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vân động và phát triển Theo quy luật này, nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chính là xuất phát từ mâu thuẫn khách quan, vốn có của nó:

Tất cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau, tức những mặt đối lập trong sự tồn tại của nó Các mặt đối lập của sự vật vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của

sự vật Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng các khái niệm: mặt đối lập, mâu thuẫn biện chứng, sự thống nhất của các mặt đối lập, đấu tranh của các mặt đối lập để diễn đạt mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân sự vật – tạo thành nguồn gốc, động lực phổ biến của mọi sự vận động và phát triển của thế giới

VD: …

- Nắm vững nội dung của quy luật này là cơ sở để hiểu biết tất cả các phạm trù và quy luật khác của phép biện chứng duy vật Nó giúp chúng ta hình thành phương

Trang 2

pháp, tư duy khoa học, biết khám phá bản chất, nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng và giải quyết các mâu thuẫn để thúc đẩy sự phát triển

SỰ THỐNG NHẤT VÀ SỰ ĐỒNG NHẤT CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

- Phạm trù “mặt đối lập”: Mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong mỗi sự vật, hiện tượng Ví dụ như: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân hay trong sinh vật thì có

sự đồng hoá và dị hoá; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền… Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập

- Sự thống nhất của các mặt đối lập:

+ “Sự thống nhất của các mặt đối lập” là sự nương tựa vào nhau, ràng buộc, quy định lẫn nhau, không tách rời của các mặt đối lập, mặt này phải lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại

VD: … (bám vào các từ mô tả ở trên để lấy VD nhé)

+ Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, “đồng nhất” với nhau (nôm na là “giống hệt nhau”, “trùng khít nhau” đấy các bác, nói thế cho các bác dễ hiểu để lấy ví dụ thôi chứ đừng ghi vào văn viết người ta lại bẩu nà “làm tầm thường hóa khoa học”) Với nghĩa đó, sự thống nhất của các mặt đối lập cũng bao hàm sự đồng nhất của chúng

VD: …

Do có sự "đồng nhất" của các mặt đối lập mà trong sự vận động, phát triển của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau để giải quyết mâu thuẫn

Trang 3

Như vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập bao giờ cũng bao hàm trong nó sự đồng nhất, mặc dù thế, “sự thống nhất của các mặt đối lập” không đồng nhất với

“sự đồng nhất giữa các mặt đối lập”

SỰ THỐNG NHẤT CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀ

TRẠNG THÁI “ĐỨNG IM” CỦA SỰ VẬT, HIỆN TƯỢNG

- Phạm trù “mặt đối lập”: Mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong mỗi sự vật, hiện tượng Ví dụ như: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân hay trong sinh vật thì có

sự đồng hoá và dị hoá; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền… Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập

- “Sự thống nhất của các mặt đối lập” là sự nương tựa vào nhau, ràng buộc, quy định lẫn nhau, không tách rời của các mặt đối lập, mặt này phải lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại Sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ là tương đối, là tạm thời,

nó làm nên trạng thái đứng im của sự vật, hiện tượng

VD: …

- “Đứng im” là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng,

ổn định; vận động mà chưa làm thay đổi căn bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật Trạng thái đứng im của sự vật, hiện tượng chỉ là tương đối, là tạm thời

VD: …

>> Như vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập tương ứng với

trạng thái “đứng im” tương đối, tạm thời của sự vật, hiện tượng-là thời điểm mà có

sự thống nhất biện chứng giữa mặt “chất” và mặt “lượng” của sự vật, hiện tượng trong khoảng giới hạn của một “độ”-là thời điểm xác định sự vật, hiện tượng còn

Trang 4

đang là nó mà chưa chuyển thành cái khác.

Theo Lênin: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”

SỰ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀ SỰ VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA SỰ VẬT, HIỆN TƯỢNG

- Theo Ph.Ăngghen: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất-thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

- Phạm trù “mặt đối lập”: Mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong mỗi sự vật, hiện tượng Ví dụ như: Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân hay trong sinh vật thì có

sự đồng hoá và dị hoá; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền… Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập

- “Sự đấu tranh của các mặt đối lập” là sự tác động theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng Sự đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa giữa chúng, qua đó mâu thuẫn được giải quyết Nhờ sự đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ

VD: …

Trang 5

- Trong sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, sự thống nhất là tương đối, tạm thời còn sự đấu tranh là tuyệt đối, là vĩnh viễn Sự đấu tranh của các mặt đối lập làm nên sự vận động vĩnh viễn của thế giới vật chất

VD: …

Theo Lênin: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”; “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập” Bởi vậy, sự liên hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CỦA SỰ HÌNH THÀNH MỘT MÂU THUẪN

- Các phạm trù:

+ “Mâu thuẫn” là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất và đấu tranh,

chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

+ “Mặt đối lập” là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong mỗi sự vật, hiện tượng

+ “Sự thống nhất của các mặt đối lập” là sự nương tựa vào nhau, ràng buộc, quy định lẫn nhau, không tách rời của các mặt đối lập, mặt này phải lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại

+ “Sự đấu tranh của các mặt đối lập” là sự tác động theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập

Trang 6

- Qúa trình hình thành của mâu thuẫn:

+ Từ hai mặt khác nhau phát triển theo khuynh hướng trái ngược nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất của sự vật, hiện tượng thì xuất hiện hai mặt đối lập nhau

+ Trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, hai mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, đồng thời chúng đấu tranh với nhau; khi đến độ chín muồi và

có điều kiện thì chuyển hoá cho nhau, qua đó, mâu thuẫn được giải quyết

>> Như vậy, trong phép biện chứng duy vật, khái niệm “mâu thuẫn” đồng nghĩa với mâu thuẫn biện chứng và phân biệt với mâu thuẫn theo nghĩa thông thường Một mâu thuẫn được tạo thành KHÔNG phải chỉ bởi sự xuất hiện của hai mặt đối lập hay chỉ là sự đấu tranh của hai mặt đối lập Mâu thuẫn CHỈ ra đời khi có sự xuất hiện của ít nhất hai mặt đối lập; đồng thời các mặt đối lập đó phải vừa thống nhất, vừa đấu tranh rồi chuyển hóa cho nhau

CÁC TÍNH CHẤT CỦA MÂU THUẪN

* “Mâu thuẫn” là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất và đấu tranh,

chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

* Các tính chất chung của mâu thuẫn là tính khách quan, tính phổ biến, tính phong phú và đa dạng

- Mâu thuẫn có tính KHÁCH QUAN vì mâu thuẫn là cái vốn có trong sự vật, hiện tượng, là bản chất chung của mọi sự vật, hiện tượng

- Theo Ăngghen: “Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã chứa đựng mâu thuẫn, thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hưữ cơ đó lại càng phải chứa đựng mâu thuẫn…Sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng vừa là một cái khác Như vậy, sự sống cũng là một mâu thuẫn

Trang 7

tồn tại trong bản thân các sự vật và quá trình, một mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa

và cái chết xảy đến Cũng như chúng ta thấy rằng trong lĩnh vực tư duy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn; chẳng hạn như mâu thuẫn giữa năng lực nhận thức vô tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế, trong những năng lực nhận thức, mâu thuẫn này được giải quyết trong sự tiếp nối của các thế

hệ, sự tiếp nối đó ít ra đối với chúng ta trên thực tiễn, cũng là vô tận, và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận”

>> Như vậy, mâu thuẫn có tính KHÁCH QUAN, mâu thuẫn là cái tồn tại vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy con người Sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất biện chứng chứa đựng các mặt đối lập, tức là chứa đựng những mâu thuẫn tự thân của nó Do đó, mâu thuẫn tồn tại khách quan trong sự vật, hiện tượng chứ KHÔNG phải do con người GÁN cho sự vật, hiện tượng Sự tồn tại của mâu thuẫn hoàn toàn không phụ thuộc và ý thức của con người, bất kể hiểu biết của con người về chúng, bất kể suy nghĩ, tình cảm ý chí của con người như thế nào thì chúng vẫn tồn tại VD: …

Ngoài tính khách quan, mâu thuẫn còn có tính phổ biến, tính phong phú và đa dạng

VỊ TRÍ, VAI TRÒ, NỘI DUNG KHÁI QUÁT CỦA QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH

>> Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này chỉ rõ KHUYNH HƯỚNG cơ bản, phổ biến của mọi

sự vận động, phát triển diễn ra trong thế giới thông qua những chu kỳ “phủ định của phủ định” - đó là KHUYNH HƯỚNG ĐI LÊN

Trang 8

- Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là một mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn so với cái bị phủ định

- Phủ định của phủ định:

Qúa trình phủ định của phủ định diễn ra vô tận trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng tạo nên sự vận động, phát triển vô tận của thế giới vật chất Mỗi chu kỳ phát triển của sự vật, hiện tượng THƯỜNG trải qua hai lần phủ định biện chứng-tức là trải qua một quá trình phủ định của phủ định Sự phủ định của phủ định kết thúc một chu kỳ phát triển, đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ mới và được lặp lại vô tận

Sự phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà theo đường “xoắn ốc” Ở mỗi chu kỳ phủ định của phủ định, sự vật, hiện tượng THƯỜNG trải qua ba hình thái tồn tại cơ bản Trong đó, hình thái cuối chu kỳ dường như lặp lại những đặc trưng

cơ bản của hình thái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn về trình độ phát triển Trong chuỗi phủ định của phủ định, nhờ tính kế thừa của phủ định biện chứng, cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ, chỉ loại bỏ những yếu tố đã lỗi thời, lạc hậu, cản trở sự phát triển, đồng thời giữ lại và cải biến những yếu tố tích cực cho phù hợp với cái mới, nhờ đó, mỗi lần phủ định biện chứng đều tạo ra những điều kiện, tiền đề cho

sự phát triển tiếp theo của sự vật Trải qua nhiều lần phủ định biện chứng, tức “phủ định của phủ định” sẽ tất yếu dẫn tới sự vận động theo KHUYNH HƯỚNG ĐI LÊN của sự vật, hiện tượng

VD: …

>> Quy luật Phủ định của phủ định chỉ rõ KHUYNH HƯỚNG cơ bản, phổ biến của mọi sự vận động và phát triển - đó là khuynh hướng đi lên; Quy luật lượng - chất khái quát về CÁCH THỨC cơ bản, phổ biến; còn Quy luật mâu thuẫn khái

Trang 9

quát về NGUỒN GỐC, ĐỘNG LỰC cơ bản, phổ biến của mọi sự vận động và phát triển diễn ra trong thế giới

ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHỦ ĐỊNH BIỆN CHỨNG

- Thế giới vận động và phát triển không ngừng, vô cùng, vô tận Các sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn thay thế nhau Sự thay thế đó gọi là sự phủ định Có những sự phủ định chấm dứt sự phát triển - sự phủ định sạch trơn, phủ định siêu hình; nhưng cũng có những sự phủ định tạo ra điều kiện, tiền đề cho quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng-đó là sự phủ định biện chứng

>> Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là một mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn so với cái bị phủ định

VD: phủ định sạch trơn: …; phủ định biện chứng:

- Phủ định biện chứng có hai đặc trưng cơ bản là tính khách quan và tính kế thừa: + Tính khách quan thể hiện ở chỗ: nguyên nhân của sự phủ định nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng Đó là kết quả chuyển hoá của các mặt đối lập nhằm giải quyết những mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật, hiện tượng và của quá trình tích luỹ về lượng dẫn đến nhảy vọt về chất Qúa trình đó hoàn toàn không phụ thuộc vào ý thức của con người

+ Tính kế thừa thể hiện ở chỗ: phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn Ngược lại, với phủ định biện chứng, cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ, chỉ loại

bỏ những yếu tố đã lỗi thời, lạc hậu, cản trở sự phát triển của cái mới ở cái cũ, đồng thời giữ lại và cải biến những yếu tố tích cực cho phù hợp với cái mới từ cái cũ

>> Như vậy: CHỈ có phủ định biện chứng mới đồng thời có hai tính chất là tính khách quan và tính kế thừa Đặc biệt, tính kế thừa là đặc trưng cơ bản NHẤT của phủ định biện chứng Nó chính là đặc trưng quan trọng nhất để phân biệt phủ định

Trang 10

biện chứng với phủ định sạch trơn, phủ định siêu hình.

VD: …

HÌNH THỨC (CON ĐƯỜNG) PHÁT TRIỂN THÔNG

QUA “PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH”

- Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này chỉ rõ KHUYNH HƯỚNG cơ bản, phổ biến của mọi

sự vận động, phát triển diễn ra trong thế giới thông qua những chu kỳ “phủ định của phủ định” - đó là KHUYNH HƯỚNG ĐI LÊN

- Mặc dù khuynh hướng tất yếu của sự phát triển thông qua "phủ định của phủ định" là khuynh hướng đi lên, song sự phát triển lại không diễn ra theo hình thức (con đường) thẳng, mà phát triển diễn ra theo hình thức “xoáy ốc” Lênin đã khái quát con đường đó như sau: “Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát triển có thể nói là theo đường tròn xoáy ốc chứ không phải theo con đường thẳng…”

Khuynh hướng phát triển theo đường “xoáy ốc” thể hiện tính chất biện chứng của

sự phát triển, đó là tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc phản ánh quá trình phát triển vô tận từ thấp đến cao của sự vật, hiện tượng trong thế giới Trong quá trình phát triển của sự vật, phủ định biện chứng đã đóng vai trò là những “vòng khâu” của quá trình đó Ở mỗi chu kỳ phủ định của phủ định, sự vật, hiện tượng THƯỜNG trải qua ba hình thái tồn tại cơ bản Trong

đó, hình thái cuối chu kỳ dường như lặp lại những đặc trưng cơ bản của hình thái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn về trình độ phát triển Những chu kỳ "phủ định của phủ định" như vậy được lặp lại tạo nên hình thức "xoáy ốc" của sự phát triển VD: …

Ngày đăng: 18/09/2017, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w