DANH MỤC CÁC HÌNH 4.1 Biểu đồ tỷ lệ chất lượng cây tái sinh của các trạng thái rừng 52 4.2 Biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao 53 4.3 Mối quan hệ giữa độ phong phú loài và đai độ c
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học tại trường Đại học Lâm
nghiệp Việt Nam, gắn việc đào tạo với thực tiễn sản xuất, tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành và biến động tính đa dạng loài thực
vật rừng theo không gian tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng,
huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh”
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp,
Khoa sau Đại học, các thầy cô giáo, đặc biệt thầy PGS.TS Hoàng Kim Ngũ,
người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những
kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập cũng như
trong quá trình hoàn thành đề tài
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban lãnh đạo và cán bộ Khu Bảo
tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, UBND huyện Hoành Bồ, v.v cùng toàn
thể các đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Mặc dù đã làm việc với tất cả sự nỗ lực, nhưng về trình độ và thời gian
hạn chế, nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp, xây dựng quý báu của các nhà khoa học và bạn
Trang 2MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt và ký hiệu v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1:TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới 3
1.1.1 Tiến triển nghiên cứu về cấu trúc tổ thành rừng 3
1.1.2 Nghiên cứu về tính đa dạng loài trong các trạng thái rừng 4
1.1.3 Nghiên cứu về biến động tính đa dạng thực vật theo không gian 8
1.1.4 Về nguyên nhân biến động về phân bố tính đa dạng loài 9
1.2 Tình hình nghiên cứu ở việt nam 12
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 12
1.2.2 Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các trạng thái rừng 14
1.2.3 Biến động tính đa dạng thực vật theo đai độ cao 15
1.2.4 Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật trong KBTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng 15
Chương 2: MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.1.1 Mục tiêu chung 17
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 17
2.2 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu 17
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
Trang 32.2.2 Địa điểm nghiên cứu 17
2.3 Nội dung nghiên cứu 17
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành và tính đa dạng loài loài thực vật trong các trạng thái rừng của Khu BTTN 17
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm biến động tính đa dạng loài thực vật rừng (theo không gian, theo thời gian phục hồi rừng khác nhau) 18
2.3.3 Bước đầu đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên thực vật trong Khu BTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Phương pháp kế thừa tất cả những tài liệu có liên quan đến đề tài 18
2.4.2 Phương pháp điều tra sơ thám và chọn địa điểm lập ÔTC 18
2.4.3 Phương pháp xử lý & tính toán nội nghiệp 23
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 28
3.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới 28
3.1.2 Địa hình, địa thế 29
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 30
3.1.4 Khí hậu 31
3.1.5 Thuỷ văn 32
3.1.6 Tài nguyên rừng 33
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
3.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư 33
3.2.2 Cơ sở hạ tầng 34
3.2.3 Thực trạng các ngành kinh tế 35
3.2.4 Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực 35
Trang 4Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài thực vật trong các trạng thái rừng 38
4.1.1 Đặc điểm các trạng thái rừng trong khu vực nghiên cứu 38
4.1.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài thực vật trong các trạng thái rừng 42
4.1.3 Đặc điểm tính đa dạng loài thực vật rừng trong KBTTN 54
4.1.4 Hiện trạng loài thực vật qui hiếm ở KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 54
4.2 Đặc điểm biến động tính đa dạng loài thực vật rừng trong KBTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng 58
4.2.1 Đặc điểm biến động tính đa dạng loài thực vật rừng theo đai độ cao 58
4.2.2 Biến đổi tính đa dạng loài thực vật rừng theo thời gian phục hồi 64 4.3 Đề xuất một số giải pháp trong quản lý bảo vệ rừng và tính đa dạng loài vật theo hướng ổn định và bền vững 72
4.3.1 Sách lược duy trì và phục hồi tự nhiên tính đa dạng loài thực vật 72 4.3.2 Về nguyên tắc quản lý KBTTN 73
4.3.3 Về kinh tế 74
4.3.4 Về pháp luật và giáo dục 75
4.3.5 Về kỹ thuật lâm sinh 75
KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Tồn tại 81
3 Khuyến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CTTT Công thức tổ thành
D 1.3 Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m
ĐHLN Đại học Lâm nghiệp
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐTQHR Điều tra quy hoạch rừng
GPS Máy định vị toàn cầu
N/ha Mật độ cây trên ha
TSTN Tái sinh tự nhiên
UNEP Chương trình môi trường liên hợp quốc
WWF Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới
[1] Số thứ tự tài liệu tham khảo
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
4.1 Tổ thành loài cây cao của các trạng thái rừng 43 4.2 Tổ thành loài cây tái sinh của rừng phục hồi IIA, IIB 46 4.3 Tổ thành loài cây tái sinh của trạng thái IIIA1, IIIA2 47 4.4 Mật độ cây tái sinh của các trạng thái rừng 49 4.5 Chất lượng cây tái sinh của các trạng thái rừng 50 4.6 Tổng hợp mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao 53 4.7 Thành phần thực vật bậc cao có mạch ở KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 54 4.8 Danh lục các loài thực vật qui hiếm KBTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng 55 4.9 Mô hình quan hệ giữa độ phong phú loài và đai độ cao 60 4.10 Hệ số tương quan r2 và giá trị P giữa độ phong phú loài và đai độ cao 61 4.11 Chỉ số tính tương đồng sorensen ở các trạng thái rừng theo chiều nằm ngang 63 4.12 So sánh tính thích hợp của 5 mô hình quan hệ “Loài – diện tích” 66 4.13 Tính đa dạng loài ở các trạng thái rừng thứ sinh KBTTN 71
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
4.1 Biểu đồ tỷ lệ chất lượng cây tái sinh của các trạng thái rừng 52 4.2 Biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao 53 4.3 Mối quan hệ giữa độ phong phú loài và đai độ cao trong các kiểu rừng 61 4.4 Mối quan hệ giữa tính đồng đều Sorensen và cự ly theo chiều ngang/km
Trang 850 năm, rừng nhiệt đới đã mất đi đến gần 1/2 (so với năm 1945) Xét trên phạm
vi toàn cầu, do diện tích rừng nhiệt đới bị khai thác rất lớn nên đã khiến cho tính đa dạng sinh vật giảm thiểu, khí hậu biến đổi, môi trường suy thoái, xói mòn rửa trôi đất và nước, đất đai bị thoái hóa, tài nguyên cạn kiệt dần và xuất hiện một loạt vấn đề sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện sinh sống của con người và sự phát triển bền vững của xã hội Trong những năm qua có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này và đã thu được nhiều thành quả rất đáng trân trọng Nhưng để bảo vệ, lợi dụng, phục hồi và phát triển bền vững rừng tự nhiên nhiệt đới, đồng thời để giải quyết những vấn đề sinh thái trọng đại mang tính toàn cầu cần thiết phải tiến hành triển khai những nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc và chức năng QXTVR nhiệt đới, trong đó có nội dung nghiên cứu để duy trì tính đa dạng thực vật rừng nhiệt đới ở mức tương đối cao là vấn
đề trọng điểm Những năm gần đây, có nhiều nghiên cứu đã quan tâm đến việc duy trì tính đa dạng thực vật, nhưng do mặt bằng nghiên cứu, phương pháp và thời gian nghiên cứu còn hạn chế ở một số mặt cho nên chưa giải quyết được trọn vẹn những vấn đề về động thái và các quá trình sinh thái từ đó ảnh hưởng
Trang 9đến việc bảo vệ tổ thành loài và tính đa dạng loài thực vật trong các quần xã thực vật rừng
Tính đa dạng loài là trung tâm và là cơ sở nghiên cứu tính đa dạng sinh vật Do tính khác chất về các nhân tố sinh thái và sự can thiệp của con người
ở mức độ khác nhau theo thời gian và không gian mà phát sinh hiện tượng sai khác rõ rệt về tính đa dạng loài thực vật trong cảnh quan rừng Nắm vững động thái theo thời gian và không gian của tính đa dạng loài thực vật không chỉ có ý nghĩa lý luận quan trọng đối với việc lý giải sự hình thành và duy trì
cơ chế của tính đa dạng loài tại KBTTN, mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc thực thi các biện pháp bảo tồn và kinh doanh tính đa dạng thực vật
Do rừng tự nhiên nhiệt đới là HST phong phú về loài và có bố cục phức tạp, trong duy trì chức năng sinh thái và bảo tồn tính đa dạng sinh vật tại khu vực và trên toàn cầu nó có tác dụng đặc biệt quan trọng Vì vậy nghiên cứu và phân tích qui luật sai khác về tính đa dạng thực vật theo thời gian và không gian là vô cùng quan trọng Vấn đề này cho đến nay còn ít được nghiên cứu ở nước ta, đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu tại KBTTN Đồng Sơn
- Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Để góp phần giải quyết vấn đề tồn tại trên, chúng tôi đã tiến hành thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu dặc điểm cấu trúc tổ thành và biến động tính đa dạng loài thực vật rừng theo không gian tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh”
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới
1.1.1 Tiến triển nghiên cứu về cấu trúc tổ thành rừng
* Về cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Sự phong phú của hệ thực vật rừng mưa nhiệt đới được nhiều nhà khoa học ghi nhận Theo Schimper (1935) ở rừng Bắc Mỹ, trên diện tích 0,5 ha có đến 25÷30 loài cây gỗ lớn; Brown (1941) cũng cho biết ở rừng mưa châu Âu hoặc Bắc Mỹ trong trường hợp cực đoan, rừng có thể bao gồm 20÷25 loài cây gỗ
Theo Richards P.W (1952)[33] trong rừng mưa nhiệt đới trong mỗi hecta không có mấy khi ít hơn 40 loài cây gỗ lớn, mà có trường hợp còn đến trên 100 loài Nhiều loài cây gỗ lớn sinh trưởng hỗn hợp với nhau theo tỷ lệ khá bằng nhau, nhưng cũng có khi chỉ có một hoặc hai loài chiếm ưu thế
Ở châu Á, trong rừng thứ sinh nhiệt đới vùng Shanxin - Trung Quốc, Zeng và cộng sự (1998) đã thống kê khoảng 280 loài cây dược liệu, 80 loài cây có dầu và 20 loài cây có sợi cũng như một số loài cây gỗ có giá trị khác (dẫn theo Zaizhi Z)
* Nghiên cứu về tổ thành lớp cây tái sinh rừng
Theo quan điểm của các nhà lâm học, hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Vai trò của tái sinh rừng hết sức quan trọng, nó quyết định sự tồn tại của thảm thực vật, tái sinh rừng là tiền đề cho quá trình diễn thế rừng đảm bảo rừng luôn trong trạng thái vận động Do vậy, có thể nói những nghiên cứu về tái sinh rừng đã góp phần làm sáng tỏ các quy luật tồn tại và phát triển của rừng
cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa
Trang 11thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã
ít nhiều bị biến đổi Van Steenis (1956)[59] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh
phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy tầng cây gỗ và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng, thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến cây tái sinh Những lâm phần thưa bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho cây bụi, thảm tươi phát triển mạnh Trong điều kiện đó chúng là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của các cây tái sinh Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng cây bụi thảm tươi phát triển chậm tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn lên (Xannikow 1967; Vipper 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm (1992))[35]
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích ô
đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau
1.1.2 Nghiên cứu về tính đa dạng loài trong các trạng thái rừng
Loài là do cơ thể sinh vật tiến hóa mà thành, do nó chiếm được 1 không gian nhất định, quần thể loài có sẵn số lượng cá thể nhất định trong thực tế hoặc
bị thay đổi khi cách ly
Tính đa dạng loài là hình thức biểu hiện của tính đa dạng sinh vật chung,
nó là độ lượng về tính phức tạp của cấu trúc và chức năng quần xã, bao gồm những hàm ý sau:
Trang 12Tính đa dạng loài của 1 khu vực địa lý nhất định là tính đa dạng loài nghiên cứu trong phạm vi khu vực đó; Là tổng số loài trong khu vực, chủ yếu theo góc độ phân loại học, hệ thống học và địa lý học đối với việc nghiên cứu tình hình loài động, thực vật trong 1 khu vực Cũng còn được gọi là tính đa dạng loài khu vực
Tính đa dạng loài động thực vật của quần xã - Là nghiên cứu cấu trúc theo chiều nằm ngang - theo góc độ sinh thái học; Ở đây chú trọng ý nghĩa sinh thái học của tính đa dạng loài; Là chỉ trình độ đồng đều về sự phân bố các loài trên phương diện sinh thái học Thường được nghiên cứu trên một bộ phận diện tích của quần xã hoặc trên các OTC, ODB Tính đa dạng loài cũng còn được gọi là tính đa dạng sinh thái hoặc tính đa dạng quần xã
Từ năm 1943, Wilianms đã đề xuất khái niệm về “Tính đa dạng loài vật”
và Fisher đề xuất khái niệm về chỉ số tính đa dạng loài, cho đến nay cũng đã không ngừng được hoàn thiện thêm về phương pháp xác định tính đa dạng loài của quần xã Đối với phương pháp xác định không chỉ có phương pháp Magurran - được đánh giá là tương đối tỉ mỉ và chính xác, mà còn có phương pháp của Whitaker - Xác định tính đa dạng loài của quần xã hoặc tính đa dạng HST Theo ông ta thì nên phân ra tính đa dạng α-, tính đa dạng β- , tính đa dạng γ
và các chỉ số của nó
Tính đa dạng loài của 1 hệ tiến hóa hoặc của 1 không gian tiến hóa nhất định, từ góc độ diễn hóa của sinh vật để xem xét thì qui luật biến hóa về tính đa dạng loài cũng tùy theo thời gian và không gian khác nhau mà có sự biến hóa không giống nhau, không chỉ bản thân loài vật, mà còn có cả nguồn gốc, sự phát triển, quá trình thoái hóa và tiêu vong chính là qui luật diễn hóa của một chỉnh thể tính đa dạng loài vật và nó cũng có đặc thù riêng
Xác định các chỉ số tính đa dạng loài sinh vật cũng tùy theo tính chất mà
có thể phân thành 4 loại chỉ số sau:
Trang 13- Chỉ số độ phong phú loài
- Chỉ số tính đa dạng loài
- Chỉ số độ đồng đều
- Chỉ số độ ưu thế sinh thái
Chỉ số độ phong phú loài chủ yếu là xác định mức độ phong phú về loài sinh vật được biển hiện về mặt số lượng loài vật trong một phạm vi không gian nhất định Thường sử dụng có các chỉ số như: Chỉ số Patrick, Chỉ số Margalef và Chỉ số Menhinick
Chỉ số tính đa dạng loài sẽ là hàm số của sự kết hợp giữa độ nhiều loài và
độ phong phú loài sinh vật mà thành Trong đó thường sử dụng Chỉ số Shannon- Weinerr, Chỉ số Simpson và chỉ số Pielou
Chỉ số độ đồng đều loài là sự kết hợp giữa độ phong phú và độ đồng đều
mà thành một lượng thống kê đơn nhất Số loài trong quần xã nghiên cứu và tổng số cá thể, khi số lượng cá thể bình quân của các loài, quần xã có sẵn tính đa dạng cao nhất - cực đại Chỉ số độ đồng đều thường được dùng là: Chỉ số Hurlrrt, chỉ số Pielou E1, chỉ số Sheldon E2, chỉ số Heip E3, chỉ số Hill E4 và chỉ số Hill E5) Trong đó có chỉ số Pielous và chỉ số Alatalo là ứng dụng có hiệu quả tương đối tốt (theo Alatalo) Chỉ số độ ưu thế sinh thái là do ứng dụng kết hợp với chỉ
số khác mà thành, có người sử dụng bằng cách so sánh tương đối
Hiện nay vấn đề ĐDSH và bảo tồn ĐDSH đã trở thành một chiến lược toàn cầu, có nhiều tổ chức ra đời để giúp đỡ, hướng dẫn và tổ chức đánh giá, bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới: Hiệp hội tổ chức Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP), Quỹ bảo tồn và bảo vệ thiên nhiên (WWF)…Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của chúng ta phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu nguồn tài nguyên đó giảm sút thì cuộc sống của nhân loại sẽ bị đe doạ Để tránh hiểm họa
đó chúng ta phải tôn trọng tài nguyên của trái đất, mọi sự phát triển đều phải
Trang 14theo hướng phát triển bền vững Theo hội nghị thưởng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh học tổ chức tại Rio de Janerio (Brazil - 1992)[22], 150 nước đã ký công ước về đa dạng và bảo vệ chúng Năm 1990 WWF đã xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của ĐDSH, IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới… tất cả các cuốn sách đó đều nhằm hướng dẫn và đề
ra các phương pháp bảo tồn ĐDSH, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và nền tảng trong tương lai (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn)
Ở vùng nhiệt đới, có lẽ Schimper (1918) là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Trong hệ thống này Schimper đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi Trong quần hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: Rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai; ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là: Thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới (theo Thái Văn Trừng)
Rubel, Ilinski, Burt, Aubreville chỉ căn cứ vào độ tán che trên mặt đất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành: Rừng thưa và trảng chuông (dẫn theo Thái Văn Trừng 1978).[42]
Theo WWF (1989), đã định nghĩa về ĐDSH: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật,
là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”
Việc nghiên cứu các hệ thực vật và thảm thực vật trên thế giới với nhiều bộ thực vật chí của các nước đã hoàn thành, những công trình nghiên cứu có giá trị xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX - XX như: Thực vật chí Hồng Kông (1981); Thực vật chí Australia (1866); Thực vật chí Ấn Độ (1872-1897); Thực vật chí Miễn Điện (1877); Thực vật chí Malayxia (1892-1925), Đây là những đóng góp quan trọng để đánh giá tính đa dạng sinh học của hệ thực vật trên thế giới
Bên cạnh đó có nhiều công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn
Trang 15cuộc hội thảo được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp luận và thông báo các kết quả đã đạt được ở khắp nơi trên toàn thế giới
1.1.3 Nghiên cứu về biến động tính đa dạng thực vật theo không gian
Biến động tính đa dạng thực vật theo không gian là nội dung nghiên cứu chính và rất quan trọng của bản luận văn này, trong đó bao gồm sự biến động tính đa dạng thực vật theo đai độ cao và theo cự ly nằm ngang, chủ yếu
là do tác động tổng hợp của điều kiện môi trường đến đặc tính sinh vật học loài cây và đến môi trường sống của chúng mà hình thành Sự phân hóa tính
đa dạng loài thực vật theo đai cao thường phụ thuộc vào: Đai độ vĩ, độ cao, độ phì và độ ẩm của đất, lượng mưa Quan sát tính đa dạng loài theo thang độ vĩ cũng đã được tiến hành nghiên cứu với thời gian hơn 200 năm, chủ yếu là nghiên cứu trên các OTC trong phạm vi khu vực Một số tác giả cho rằng thang độ vĩ của tính đa dạng sinh vật cũng là cách thức phân bố tính đa dạng chủ yếu nhất trên quả địa cầu, có thể dùng 2 luận thuyết để lý giải cơ chế hình thành của nó là: “Luận thuyết về thời gian và diện tích” và “Luận thuyết về tốc độ phân hóa” Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng có thể dùng hiệu ứng trung độ, năng lượng cung cấp, môi trường và sự sai khác về môi trường để xác định thang độ vĩ độ của tính đa dạng loài vật Nhiều nghiên cứu cho rằng đai độ cao có ảnh hưởng đến sự phân bố, sự hình thành và duy trì tính đa dạng loài Không chỉ vì có sự biến đổi các nhân tố nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng v.v…,
mà còn có cả sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố khác đến diễn biến tính
đa dạng loài, như tương quan giữa tính đa dạng quần xã thực vật và đai cao; Tương quan giữa tính đa dạng loài ở đai cao nhất, đai giữa và tính đa dạng loài ở đai thấp…Trong đó có sự phân bố loài chiếm ưu thế tuyệt đối và tương quan giữa 2 loài ưu thế với nhau…Chỉ tiêu thang độ dinh dưỡng đất, loại thổ nhưỡng là cơ chất sinh tồn của thực vật với sự tương đồng dạng về tính đa
Trang 16dạng loài cũng có quan hệ mật thiết Từ đó các nhà nghiên cứu đã đi đến 2 kết luận sau:
(1) Giữa tính đa dạng loài và độ phì đất theo chiều ngang có quan hệ chặt
chẽ, tính đa dạng loài thực vật ở quần xã cao được xuất hiện ở nơi trung gian
về độ phì và độ ẩm đất Có nghiên cứu chứng minh rằng độ phì và độ ẩm
cũng sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành phân bố không gian tính đa dạng loài Tính đa dạng loài và lượng mưa cũng có tương quan rõ, nơi ẩm mưa nhiều tính đa dạng cao hơn,…
(2) Nói chung sự phân bố và diễn biến tính đa dạng loài theo không gian được quyết định bởi nhiều nhân tố và thông thường các nhân tố lại có quan hệ
tác động lẫn nhau, từ đó lại ảnh hưởng tổng hợp đến tính đa dạng loài
Tóm lại sự hình thành tính đa dạng loài là do tính khác chất của môi
trường sống hoặc do con người can thiệp vào và là do tác động tổng hợp của
nhiều nhân tố sinh thái
1.1.4 Về nguyên nhân biến động về phân bố tính đa dạng loài
Để giải thích một loạt cơ chế hoặc dùng lý luận giải thích tính đa dạng loài thực vật ở rừng nhiệt đới tương đối cao hơn, trong bản luận văn này đã dùng 2 hiện tượng quan trọng về biến động tính đa dạng thực vật ở rừng nhiệt đới để phân tích và bình luận như sau:
(1) Lý luận địa lý sinh vật đảo (Island Biogeography)
Trong nghiên cứu sinh thái học hiện đại khi định hướng nghiên cứu quan trọng thường dùng rất nhiều lý luận, trong đó có lý luận địa lý sinh vật đảo (Island Biogeography) - là lý luận cơ bản nhất có liên quan đến số lượng loài sinh vật trên đảo Lý luận này cho rằng số lượng loài sinh vật trên đảo có liên quan với quan hệ cân bằng giữa 2 tham số là tốc suất sinh sản và tử vong; tốc suất nhập cư và di cư của các loài vật trên đảo Nếu dưới tình hình điều kiện khác của nó tương đồng, thì đảo cách đại lục gần so với đảo xa có tính đa
Trang 17dạng loài vật cao hơn và đảo có diện tích sinh cảnh càng lớn so với đảo có diện tích sinh cảnh nhỏ có tính đa dạng loài sinh vật càng lớn hơn Lý luận địa
lý sinh vật đảo cũng đã được duy trì nghiên cứu rất nhiều và cũng đã trở thành một nền tảng của lĩnh vực sinh thái học hiện đại Quan hệ giữa loài - diện tích đảo là một bộ phận tổ thành quan trọng của lý luận địa lý sinh vật đảo (Island Biogeography) Theo Macarthur and Wilson và Preston thì đối số của độ phong phú tương đối về loài vật, là phân bố chính thái, họ cho rằng mô hình quan hệ tuyến tính loài diện tích của khu vực đại lục ở trong khoảng giữa 0,12
- 0,19, còn ở trên đảo thì trong khoảng giữa 0,20 - 0,40 Họ cũng công nhận
rằng dưới tình hình diện tích đảo hay OTC độc lập, do xuất hiện số loài vượt quá nhiều sẽ dẫn đến không có tái sinh, số loài vật ở trên diện tích nhỏ sẽ trở nên lớn, góc độ đường tuyến tính Loài - diện tích sẽ giảm thấp xuống, nhưng vẫn chưa đến mức quá nhiều Trên cơ sở lý luận vượt quá nhiều loài MacArthur and Wilson (1967)[57] đã đề xuất lý luận cân bằng của học thuyết địa lý sinh vật đảo - Đó là hiện tượng ngang bằng khi mô tả quan hệ giữa Loài
và diện tích ÔTC, Ông cho rằng ở đảo xa lục địa hoặc là đảo độc lập sẽ có sẵn
độ nghiêng của đường quan hệ giữa Loài - diện tích càng dốc Đề xuất của ông là mô hình thường được áp dụng khi nghiên cứu về quan hệ giữa loài - diện tích và ứng dụng trong nghiên cứu về bố cục phân bố không gian của tính đa dạng loài vật theo chiều nằm ngang hay bãi bằng khi so sánh khu vực độc lập với khu vực không độc lập Có thể dùng mô hình quan hệ đối số tuyến tính loài - diện tích để biểu đạt trực quan về quan hệ độc lập giữa số loài sinh vật: Đường quan hệ Loài - diện tích đảo hoặc khu vực độc lập so với khu vực không độc lập sẽ có sẵn đưỡng nghiêng biểu diễn quan hệ càng dốc Nhưng theo nghiên cứu của MacArthur and Wilson (1967)[57] thì chưa thể có đủ căn cứu để đề xuất và duy trì học thuyết đó Các nghiên cứu của Hamilton and Armstrong; của Diamond and Mary thì theo sự gia tăng mức độ quan sát độc
Trang 18lập, đường nghiêng quan hệ loài - diện tích cũng đều giảm xuống Schoener
và Connor and McCoy cũng đã có những phân tích về vấn đề này và
Hamilton and Armstrong cũng có kết luận tương tự:Đường biểu diễn quan hệ
giữa loài - diện tích ở mức độ độc lập đã có tương quan rõ rệt Nhưng Connor
and McCoy cho rằng kết luận của Hamilton and Armstrong và Schoener là có
cải biên Tuy nhiên, nó chỉ phản ánh tình hình rất lâu Ở đảo cách đất liền
tương đối ngắn sẽ có tổ thành loài nghèo nàn và ngày càng nhiều nghiên cứu
đã chứng minh mô hình quan hệ giữa loài - diện tích là rất phù hợp Mà ở mô
hình Loài - diện tích đã có sẵn tính phân bố theo không gian và thời gian Vì
vậy phân bố theo chiều nằm ngang tất sẽ có sự khác nhau
(2) Lý luận đồng chất hóa sinh vật
Loài người đã mô tả giản đơn về đồng chất hóa sinh vật (Biotic
Homogenization,BH)khi xác định và mô tả giản đơn về phân bố tính đa
dạng loài vật, nó cũng dùng để xác định những loài sinh vật từ bên ngoài xâm
nhập vào HST và làm cho tính đa dạng loài của HST trên không gian bị suy
giảm Thông thường dùng nó để thuyết minh loài vật xâm nhập thay thế sau
khi loài bản địa bị hại trên sinh cảnh Đại đa số những loài xâm nhâp đều có
tính thích nghi với sinh cảnh mới đến là thấp, nhưng có một số ít loài thích
nghi với sinh cảnh này sẽ có khả năng sinh tưởng phát triển tại đây, làm biến
đổi sinh cảnh và thay thế các loài bản địa Do đó có ảnh hưởng đến tính đa
dạng loài vật của khu vực và nhiều loài có thể bị tuyệt chủng Như vậy trong
khu vực HST hay QXTVR càng tăng tính tương đồng về thực vật thì tính đa
dạng loài càng giảm thấp xuống, Điều này có thể thông qua phân tích tốc suất
thay thế các loài vật Species Turnover Rate)để giải thích hiện tượng này
Trang 191.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
1.2.1.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái, Thái Văn Trừng (1963, 1978, 1999)[42, 43] đã dựa trên số lượng và sinh khối nhóm loài ưu thế trong rừng nhiệt đới ẩm Việt Nam để phân tích các “ưu hợp”
và “phức hợp” Nhóm loài ưu thế trong các ưu hợp đề nghị không quá 10 loài, tỷ
lệ cá thể của mỗi loài ưu thế chiếm 5% và tổng số cá thể của 10 loài ưu thế đó phải chiếm 40÷50 % tổng số cá thể cây của các tầng lập quần trong quần thể trên đơn vị diện tích điều tra Trường hợp độ ưu thế của các loài cây không rõ ràng gọi là các phức hợp
Trong rừng tự nhiên hỗn loài ở Việt Nam, hiếm khi chỉ có một loài ưu thế duy nhất tạo thành các quần hợp như vùng ôn đới Theo Nguyễn Hồng Quân (1982)[32] trong rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng, trên diện tích một ha có khoảng
60 loài, nhưng các loài có tổ thành lớn nhất cũng không vượt quá 10% Nguyễn Văn Trương (1983)[41], cho rằng trong rừng tự nhiên hỗn loài, chỉ tính loài cây
gỗ từ trạng thái sào trở lên cũng có đến ba bốn chục loài trên một ha, nhưng trong đó loài cây gỗ lớn có thể vươn đến chiều cao 30 m chỉ từ 10÷20 % Nguyễn Ngọc Lung (1991)[23], qua điều tra các dạng rừng khí hậu ở Hương Sơn, Kon Hà Nừng và một số địa phương khác, cũng cho biết trên ô tiêu chuẩn diện tích một ha thường có từ 23÷ 25 loài, với số cây thấp nhất cũng đạt 317 cây
và cao nhất đến 859 cây trên một ha
1.2.1.2 Nghiên cứu cấu trúc lớp cây tái sinh rừng
Thái Văn Trừng (1963, 1978)[42] đã nêu hai cách tái sinh tự nhiên của các
xã hợp thực vật rừng nhiệt đới nguyên sinh hay thứ sinh là tái sinh liên tục dưới tán kín rậm của những loài chịu bóng và tái sinh theo vệt để hàn gắn các lỗ trống đầu tiên với các loài cây tiên phong Qua đó tác giả cũng khẳng định ánh sáng là
Trang 20nhân tố sinh thái đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên
Về ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng đến quá trình tái sinh, theo Nguyễn Hồng Quân (1984) do những cây có đường kính 12÷30 cm với chiều cao khoảng 11÷20 m, tạo nên tầng tán chính của rừng, tầng này không bị tác động qua khai thác, gây nên sự ứ đọng tán, không cho ánh sáng lọt xuống gây ảnh hưởng đến tái sinh của loài cây ưa sáng
Theo Vũ Tiến Hinh (1991)[17] trong rừng tự nhiên thứ sinh hỗn loài khác tuổi ở lâm trường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, cây rừng tái sinh liên tục và càng
ở tuổi nhỏ số cây càng nhiều; hệ số tổ thành của tầng tái sinh và tầng cây cao có mối liên hệ chặt chẽ Vũ Văn Nhâm (1992)[24] qua nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên ở vùng Đông Bắc thấy rằng trên các lâm phần có diễn thế rừng ổn định, hệ
số tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh thống nhất, còn ở lâm phần có diễn thế không ổn định thì có sự sai khác rõ rệt
Nguyễn Vạn Thường (1991)[38] đã tổng kết và đưa ra kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của những loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ Sự phân bố cây tái sinh rất không đồng đều, số cây mạ chiếm
ưu thế rõ rệt so với số cây ở cấp tuổi khác
Trần Ngũ Phương (1970)[29] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”
Trang 211.2.2 Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các trạng thái rừng
Công trình đầu tiên, hoàn chỉnh nhất trong nghiên cứu thực vật ở Việt
Nam là công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của cố GS.TS Thái Văn
Trừng (1963-1978)[42] Dựa trên các công trình đã có trước đây kết hợp với nghiên cứu riêng của mình, tác giả đã thống kê được ở Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ Đồng thời, tác giả cũng đã khẳng định ưu thế ngành hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (90,9%), 1727 chi (93,4%), và 239 họ (82,7%) trong tổng số các taxon mỗi bậc Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2004)[36] vấn đề nghiên cứu đa dạng sinh học
ở Việt Nam cũng như trên thế giới được bắt đầu từ những công trình phân loại
về động vật, thực vật, nấm đã được bắt đầu từ rất sớm
Nguyễn Nghĩa Thìn(2000)[37] cùng các tác giả khác đã công bố nhiều bài báo về đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hòa Bình, KBT Na Hang, vùng núi Sapa, vùng ven biển Nam Trung Bộ, vùng núi Quảng Ninh, lưu vực Sông Đà và các vườn quốc gia khác như: Cát Bà, Bến En, Cát Tiên, Pù Mát, Phong Nha, Ba Bể, Yôk Đôn, Hoàng Liên Sơn Qua quá trình nghiên cứu tác giả đã công bố cuốn cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các KBTTN và KBT trong cả nước
Viện Điều tra quy hoạch rừng Việt Nam (1971-1988)[47] đã công bố 7 tập
“Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh họa
nhằm phục vụ cho khai thác tài nguyên rừng
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật ở Việt Nam giai đoạn nửa đầu và cuối thế kỷ 20 chỉ dừng lại ở việc thống kê thành phần loài trên phạm vi một vùng, khu vực nào đó Việc nghiên cứu ĐDSH, nhất là đa dạng thực vật bằng phương pháp định lượng còn là vấn
đề rất mới mẻ ở nước ta, tới nay chưa có công trình nào nổi bật Một phần bởi
Trang 22đây là vấn đề phức tạp, hơn nữa lại chưa có hệ thống lý luận hoàn chỉnh được đưa ra
1.2.3 Biến động tính đa dạng thực vật theo đai độ cao
Nguyên Quốc Trị (2007)[39] với đề tài luận án tiến sỹ đẵ nghiên cứu về tổ thành thực vật và sự biến động của chúng theo đai cao tại VQG Hoàng Liên tỉnh Lào Cai, đã có những kết luận có thể tham khảo như sau:
- Trạng thái rừng và rú nguyên sinh chỉ gặp ở đai cao trên 1500m
- Các trạng thái rừng thứ sinh chỉ gặp ở đai cao dưới 2000m
- Về số cây cao trên đơn vị diện tích 1 ha có xu hướng tăng lên theo cấp độ cao tăng lên
- Về tổ thành loài cây theo độ cao tăng lên thì có xu hướng giảm dần xuống, và với những loài qui hiếm thì cũng có dạng tương tự
Nguyễn Văn Đại (2008)[14] “Với đề tài luận văn thạc sỹ “Phân tích và
đánh giá tính đa dạng thực vật của một số kiểu rừng tự nhiên thứ sinh tại Khu bảo tồn thiên nhiên COPIA, Sơn La”.Qua kết quả tính toán các chỉ số đa dạng
cho thấy: mức độ phong phú loài, tính đa dạng loài thực vật trong các OTC (các kiểu rừng) và trong các hoàn cảnh sống có sự khác nhau và tuân theo quy luật phân bố số loài thực vật theo các độ cao là khác nhau rõ rệt Kết quả là các chỉ số giảm dần theo đai độ cao, điều đó khẳng định: càng lên cao thì số
số loài thực vật và số lượng cá thể của mỗi loài càng giảm, độ đồng đều về loài cũng cao hơn
1.2.4 Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật trong KBTTN Đồng Sơn –
Kỳ Thượng
Dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng tháng 10 năm 2001 của Phân Viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ do Đới Văn Thọ chủ nhiệm công trình Kết quả điều tra thành phần loài thực vật thân gỗ trong KBTTN bước đầu đã phát hiện được 485 loài thực vật rừng thuộc 280 chi, 101
Trang 23họ, ở 2 ngành thực vật Báo cáo cũng đã khẳng định rằng nơi đây là khu hệ có sự phong phú về số loài, đa dạng về các chi thực vật và đa dạng về các họ thực vật Báo cáo kết quả điều tra đánh giá thành phần loài thực vật thân gỗ trong KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, Tháng 10 năm 2010 của Phân Viện Điều tra quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ, do Nguyễn Phúc Trường chủ nhiệm công trình Kết quả điều tra thành phần loài thực vật thân gỗ trong KBTTN đã xác định được 546 loài thực vật rừng thuộc 332 chi, 97
họ, ở 2 ngành thực vật Báo cáo cũng đã khẳng định rằng nơi đây là khu hệ có sự phong phú về số loài, đa dạng về các chi thực vật và đa dạng về các họ thực vật
Báo cáo[2] “Kết quả đánh giá nhanh đa dạng sinh học trong KBTTN
Đồng Sơn - Kỳ Thượng huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” Tháng 01 năm 2011
của Trường ĐHLN việt Nam và Trường ĐHNL Thái Nguyên, Kết quả điều tra thành phần loài thực vật thân gỗ trên 4 tuyến với 35 ÔTC trong KBTTN theo các độ cao khác nhau, cuối cùng đã xác định được 837 loài thực vật rừng thuộc
489 chi, 150 họ, ở 6 ngành thực vật Báo cáo cũng đã khẳng định rằng nơi đây là khu hệ có sự phong phú về số loài, đa dạng về các chi thực vật và đa dạng về các
họ thực vật
Trang 24Chương 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật và tính đa dạng loài thực vật rừng tại KBTTN Đông Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các trạng thái rừng tự nhiên nhiệt đới thuộc KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh có diện tích 20.364,0 ha
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành và tính đa dạng loài loài thực vật trong các trạng thái rừng của Khu BTTN
(1) Các trạng thái rừng chủ yếu trong KBTTN Đông Sơn - Kỳ Thượng
Trang 25(2) Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài trong các trạng thái rừng tự nhiên (3) Đặc điểm về tính đa dạng loài thực vật rừng trong KBTTN
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm biến động tính đa dạng loài thực vật rừng (theo không gian, theo thời gian phục hồi rừng khác nhau)
(4) Biến động tính đa dạng loài thực vật rừng theo không gian
(5) Biến động số loài theo thời gian phục hồi rừng
2.3.3 Bước đầu đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên thực vật trong Khu BTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tất cả những tài liệu có liên quan đến đề tài
Kế thừa các tài liệu, số liệu điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu, các tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước
2.4.2 Phương pháp điều tra sơ thám và chọn địa điểm lập OTC
Thiết lập các tuyến điều tra và chọn vị trí lập các OTC để tiến hành nghiên cứu quan sát và đánh giá tổ thành loài và tính đa dạng thực vật rừng trong KBTTN, chủ yếu có loại sau:
1) Căn cứ vào các trạng thái rừng khác nhau thiết lập các OTC điển hình tạm thời trên các tuyến điều tra từ thấp lên cao và từ cao xuống thấp theo các diện tích nhỏ 500(m2)/1OTC và ODB 4m2, 25m2
2) Thiết lập OTC điển hình tạm thời với diện tích lớn 1000m2 và 2500m2
3) Trong phạm vi khu vực thiết lập các OTC điển hình tạm thời với diện
tích nhỏ trong diện tích rất lớn: > 1,0 ha, chỉ cần số lượng diện tích tăng lên sao cho đủ thoả mãn được yêu cầu phân tích theo toán thống kê sinh học, có thể phản ảnh được qui luật biến động về bố cục phân bố không gian của tính
đa dạng thực vật trong khu vực
Trang 26Tuy nhiên, trên góc độ cảnh quan, còn kết hợp nghiên cứu sự biến động
về bố cục phân bố không gian của tính đa dạng thực vật rừng trong quá trình phục hồi rừng sau nương rẫy và sau khai thác chọn với cường độ khác nhau
và nghiên cứu cơ chế duy trì nó
Trên cơ sở số liệu thu thập được sẽ tính toán độ phong phú và mô tả hiện trạng tính đa dạng loài thực vật quí hiếm ở khu bảo tồn, từ đó tìm ra biện pháp
và phương thức tối ưu để quản lý và kinh doanh rừng tự nhiên trong KBTTN Đồng thời cũng là căn cứ khoa học rất cần thiết để thúc đẩy việc phục hồi rừng tự nhiên và nâng cao việc xây dưng kho chứa Carbon của ngành lâm nghiệp, cũng góp phần nâng cao việc xây dựng sinh thái và công trình bảo tồn
thiên nhiên
2.4.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoại nghiệp
1) Phương pháp điều tra thực địa
Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp với điều tra trên các OTC: Số liệu được kế thừa tất cả là 45 OTC có diện tích 1000m2 của các dự án đã tiến hành điều tra trong 2 năm gần đây và đề tài có điều tra bổ sung thêm 9 OTC ở 4 trạng thái rừng chủ yếu trong khu vực Trên mỗi một trạng thái rừng tiến hành lập 2-3 OTC điển hình tạm thời có diện tích 1000 m2/ô,
từ 2-3 OTC tính bình quân ra thành một OTC để phân tích và đánh giá
Như vậy tất cả tài liệu để tính toán cho đề tài này là 54 ÔTC Các bước tiến hành cụ thể như sau:
* Lập ô tiêu chuẩn (OTC)
40m
25m
Trang 27* Điều tra tầng cây cao
Trong các OTC mô tả các chỉ tiêu như vị trí, độ dốc, hướng phơi, độ cao, lịch sử canh tác nương rẫy, thời gian bỏ hoá, sau đó xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao, nếu loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định:
- Đường kính ngang ngực (D1,3, cm) được đo bằng thước kẹp kính với độ chính xác đến mm, đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân
- Chiều cao vút ngọn (HVN, m) và chiều cao dưới cành (HDC, m) được đo bằng thước độ chính xác đến dm, HVN của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, HDC được xác định từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng
- Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước dây có độ chính xác đến
dm, đo hình chiếu tán lá trên mặt phằng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây cao
Kết quả ghi vào mẫu biểu mẫu sau (Biểu 01,02,03, 04…)
Biểu 01: Phiếu điều tra tầng cây cao
OTC:
Vị trí:
Độ dốc:
Diện tích:
Ngày diều tra:
Người điều tra:
ĐT (cm)
NB (cm)
TB (cm)
vn (m)
dc (m)
ĐT (m)
NB (cm)
TB (m)
1
2
Trang 28* Xác định độ tàn che:
Dùng phương pháp vẽ trắc đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934) [], biểu diễn trên giấy kẻ ô ly với dải rừng có diện tích 500m2 (10 x 50m) tỷ lệ 1/200, sau đó tính diện tích tán che trên giấy kẻ ly, tính tỷ lệ %
* Điều tra cây tái sinh:
Trên OTC, lập 5 ODB có diện tích 25m2 phân bố đều trên OTC Thống kê tất cả cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:
- Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định
- Đo chiều cao cây tái sinh bằng thước sào
- Chất lượng cây tái sinh:
+ Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh
+ Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh
- Điều tra khoảng cách giữa các cây tái sinh: Trên OTC, chọn cây tái sinh bất kỳ, đo khoảng cách từ cây tái sinh đã chọn đến cây tái sinh gần nhất bằng thước dây với độ chính xác đến cm Mỗi trạng thái đo 30 khoảng cách, kết quả ghi vào phiếu điều tra khoảng cách cây tái sinh
Trang 29Kết quả điều tra được ghi vào biểu mẫu như sau (Biểu 02)
Biểu 02: Phiếu điều tra cây tái sinh
Ngày điều tra:
Người điều tra:
<0,5 0,5-1 1-1,5 1,5-2 >2 Chồi Hạt Tốt
(A)
TB (B)
Xấu (C)
* Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi:
Lập 5 ODB có diện tích 25m2 (5m x 5m) được bố trí đều trên 2 đường chéo của OTC
- Điều tra cây bụi (shrubs), điều tra thảm tươi (ground cover vegetation)
theo các chỉ tiêu: tên loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ, tình hình sinh trưởng trên ODB
5m
5m
Trang 30Kết quả điều tra được ghi vào biểu mẫu như sau (Biểu 03)
Biểu 03: Phiếu điều tra tầng cây bụi thảm tươi
Ngày điều tra:
Người điều tra:
ODB Tên loài cây
chủ yếu
HTB
(m)
Độ che phủ (%)
Tình hình sinh trưởng
* Phương pháp điều tra dạng sống của thực vật
Tiến hành thống kê tất cả các loài thực vật bắt gặp trên các OTC của khu vực nghiên cứu
* Điều tra đất
Mỗi Đai độ cao đào 3 phẫu diện với kích thước (1.2 x 0.8 x 1.0m), phẫu diện đào tại trung tâm OTC Mô tả phẫu diện đất: loại đất, độ dày tầng
đất, tỷ lệ đá lẫn, thành phần cơ giới, độ ẩm, theo hướng dẫn trong "Sổ tay
điều tra quy hoạch rừng" (1995)[66]
Lịch sử can thiệp: Sử dụng tài liệu, báo cáo hàng năm của Hạt kiểm lâm Hoành Bồ, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Đồng-Kỳ Thượng, Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ninh về diễn biến tài nguyên rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, công tác quản
lý bảo vệ rừng
2.4.3 Phương pháp xử lý và tính toán nội nghiệp
2.4.3.1 Xác định các kiểu trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu
Các kiểu trạng thái rừng tự nhiên chủ yếu
2.4.3.2 Phân tích cấu trúc tổ thành của các trạng thái rừng
* Cấu trúc tổ thành
+ Xác định tỷ lệ tổ thành (Chỉ số quan trọng: Important Value)
Trang 31Để xác định tổ thành tầng cây cao, đề tài sử dụng phương pháp tính tỷ lệ
tổ thành theo phương pháp của Daniel Marmillod (Đào Công Khanh, 1996)
2
% G
% N
%
IVi i i
(2-1) Trong đó: IVi% là tỷ lệ tổ thành (chỉ số quan trọng) của loài i
Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng
Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng Theo Daniel M., những loài cây có IV% 5% mới thực sự có ý nghĩa
về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó > 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV% của những loài có trị
số này lớn hơn 5%, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV% đạt 50%
* Nghiên cứu đặc điểm cây tái sinh
- Tổ thành cây tái sinh
* Xác định số cây trung bình theo loài dựa vào công thức:
m
ni n
m 1 i
(2-2) Trong đó: n là số cây trung bình theo loài
m là tổng số cá thể điều tra
ni là số lượng cá thể loài i Xác định tỷ lệ tổ thành và hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức:
ni
ni m 1 i
ni: Số lượng cá thể loài i
Trang 32m: Tổng số cá thể điều tra
- Mật độ cây tái sinh: Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một
đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:
S
n10.000
(2-5)
Với S là tổng diện tích các ODB điều tra tái sinh (m2) và n là số lượng cây
tái sinh điều tra được
- Chất lượng cây tái sinh
Nghiên cứu tái sinh theo cấp chất lượng tốt, trung bình và xấu đồng thời
xác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng
Tính tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu theo công thức:
100 N
n N% (2-6) Trong đó: N%: tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, xấu
n: tổng số cây tốt, trung bình, xấu
N: tổng số cây tái sinh
2.4.3.3 Xác định tính đa dạng trong các trạng thái rừng
a Chỉ tiêu tính đa dạng α: Xác định các chỉ số độ phong phú loài, chỉ
số tính đa dạng và chỉ số độ đồng đều của loài, tức là trực tiếp thống kê
trong mỗi OTC số loài cây cao có đường kính từ D1.3 > 6, 0 cm,
+ Chỉ số Shannon - Wiener: H = -pi 2 ln(pi) (2-9
Trong đó: ni là số cá thể của loài thứ i; i chạy từ 1 đến S
N là tổng số cá thể của tất cả các loài trong quần xã
Trang 33- Xác định chỉ số độ đồng đều của loài:
+ Chỉ số Pielou: JPSW = (1 -∑pi lnPi)/ln.N (2-11)
+ Chỉ số Sheldon: ES = exp (-∑pi logPi)/S (2-12)
- Xác định chỉ số độ tương đồng về loài:
2.4.3.4 Phân tích, đánh giá sự biến động tính đa dạng loài thực vật
Để phân tích sự biến động tính đa dạng loài thực vật rừng theo đai cao ở chương này sẽ phải tính 2 chỉ tiêu tính đa dạng là:
a Chỉ tiêu tính đa dạng α: Sử dụng chỉ số độ phong phú loài, tức là trực
tiếp thống kê trong mỗi OTC số loài cây (cả cây cao và cây tái sinh) có đường kinh từ D1.3 >1, 0 cm,
b Chỉ tiêu tính đa dạng β: Sử dụng chỉ số tính tương đồng (giống nhau)
giữa 2 OTC (hoặc giữa 2 quần xã) với công thức tính là:
Hệ số tính đa dạng β – Community dissimilarity (CD), CD=1-2c/(a+b)
Trong đó: c là số loài sống chung trong 2 quần xã (2ôtc); a, b là số loài sống riêng trong quần xa a và quần xã b Hoặc dùng công thức sau:
S1,2 / [0,5 (S1 + S2)] (2-13) Trong đó: - S1,2 là số loài sống chung ở cả 2 quần xã (cả 2 OTC)
- S1 , S2 là số loài sống riêng ở quần xã 1 và quần xã 2
Khi phân tích chỉ số Sorensen cần xem xét đến mức độ quan trọng của các loài khác nhau
Trên cơ sở xác định được các chỉ số: Chỉ số độ phong phú, chỉ số tính
đa dạng, chỉ số độ đồng đều và chỉ tiêu tính đa dạng β - Chỉ số tính tương đồng Sorensen, sau đó sẽ phân tích và đánh giá tính đa dạng loài thực vật trong các sinh cảnh khác nhau thuộc khu vực nghiên cứu
Trang 34(1) Lựa chọn mô hình để mô phỏng và phân tích phân bố tính đa dạng loài thực vật rừng theo đai cao
Vận dụng mô hình tuyến tính theo nghĩa rộng GLM (generalized linear model) về bố cục phân bố loài thực vật theo đai cao và mô hình tăng thêm theo nghĩa rộng GAM (generalized additive model) để mô phỏng độ phong phú loài thực vật Sau đó so sánh các mô hình, chọn ra mô hình tối ưu để phân tích và dánh giá sự phân bố tính đa dạng loài thực vật rừng theo đai cao;
(2) Phân tích tương quan giữa độ phong phú loài TVR và đai cao
Sử dụng mô hình GAM mô phỏng phân bố độ phong phú loài thực vật
theo đai cao
(3) Phân tích bố cục phân bố tính đa dạng loài thực vật rừng theo chiều nằm ngang
Sư dụng Chỉ số tính tương đồng sorensen ở các trạng thái rừng (4 trạng thái rừng) với 2 mức độ tác động và 2 thời gian phục hồi khác nhau để phân tích
(4) Phân tích biến đổi tính đa dạng loài theo thời gian phục hồi rừng
Áp dụng lý luận “địa lý sinh vật đảo”, Chỉ số tính tương đồng sorensen và
mô hình power- law: S= cA z để mô phỏng và so sánh đánh giá
(5) Phương pháp phân tích thống kê và phân tích phần mềm
Đề tài đã sử dụng các phương pháp thống kê cơ bản sau:
- Sử dụng phương pháp phân tích phương sai đơn nhân tố, phân tích tương quan (r2) …
- Sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính PCA (principle component analysis)
- Sử dụng phương pháp mô hình hồi qui đa nguyên: 3 MH:
a MH tuyến tính LM – linear model,
b MH tuyến tính theo nghĩa rộng GLM – generalized linear model,
c MH chung mở rộng thêm GLM – generalized additive model,
- Và sử dụng phần mềm vi tính để tính toán và xử lý số liệu
Trang 35Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới
Phía Tây: Từ đỉnh núi khe O theo hướng Tây Nam đến ngã ba suối chính lên dông theo hướng Tây Nam qua đỉnh 578,4m đến đỉnh 457,2m đi theo khe đến ngã ba nhỏ theo dông hướng Đông Nam lên đỉnh khe Ru 566,9m, từ đỉnh khe Ru theo đường phân thuỷ giữa hai khe Đồng Quặng, khe Cài đến đỉnh 574,4m trên đường ranh giới giữa hai xã Đồng Lâm và Sơn Dương
Phía Nam: Từ đỉnh 547,4m theo đường dông qua đỉnh 583,0m theo đường dông hướng Bắc cắt xen kẽ rừng sản xuất lên đỉnh 246,0m qua đỉnh 224,3m đến đỉnh 198,3m theo sườn hướng Bắc và Đông Bắc cắt qua khe lên đỉnh 333,1m đi theo sườn dông hướng Đông cắt qua sông Đồng Trà đến đỉnh 223,4m đi theo sườn dông xen kẽ với rừng sản xuất qua đỉnh 267,1m lên dông
Trang 36đến đỉnh 442,3m chạy dọc dông theo hướng Đông Nam đến đỉnh 472,2m tiếp tục theo dông hướng Nam qua các đỉnh 236,2m; 136,2m; 113,1m cắt qua sông Vũ Oai lên đỉnh 81,8m đi theo dông qua các khe nhỏ đến đỉnh 132,5m
Phía Đông: Từ đỉnh 132,5m đi theo hướng Đông Bắc qua các đỉnh 154,8m; 374,9m; 473,3m tiếp tục đi theo dông hướng Bắc, Tây Bắc đến đỉnh 852,5m
Tổng diện tích tự nhiên là 16.878,7 ha (nguồn dự án rà soát điều chỉnh rừng đặc dụng KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng)
3.1.2 Địa hình, địa thế
Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh nằm ở sườn Nam của dãy núi chính phân cách ranh giới giữa hai huyện Hoành Bồ và Ba Chẽ, trên địa bàn huyện Hoành Bồ, thuộc phía Đông của dãy núi hình cánh cung Đông Triều
- Hệ thống núi chính của khu bảo tồn nằm theo hướng Đông - Tây, bắt đầu từ đỉnh đèo Mo (947m) chạy qua nhiều đỉnh núi tới đỉnh núi đèo Gốc
- Các dải núi độc lập và các dãy núi phụ trong khu bảo tồn đa phần có hướng Tây Bắc - Đông Nam
- Hệ thống dông và núi trong khu bảo tồn có một số đỉnh cao đáng chú ý là đỉnh Thiên Sơn (1090m) Dông núi chạy từ khe Ru (826m) qua đèo Kinh (694m), Đồng Trà (889m), Am Váp (1501m) tới đèo Mo (974m) đã chia khu bảo tồn thành hai lưu vực, phía Bắc nước chảy về sông Ba Chẽ, phía Nam nước tập trung chảy về sông Man rồi chảy ra Vịnh Hạ Long
Độ cao tuyệt đối không quá cao nhưng độ chênh cao trong vùng khá lớn lên tới hàng ngàn mét Địa hình trong khu vực bị chia cắt mạnh bởi nhiều dông núi nhỏ và khe suối, độ dốc trung bình 20 ÷ 25° nhiều nơi có độ dốc
30 ÷ 40° xen kẽ, đôi chỗ có độ dốc 50 - 60° rất hiểm trở
Trang 37Hai lưu vực sông chính trong khu vực là Ba Chẽ và Sông Man có nhiều khe suối sâu, dốc bắt nguồn từ chân núi Am Váp, Thiên Sơn đã góp phần chia cắt địa hình khu vực
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam cho thấy địa chất của khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng hình thành từ kỷ Trias thuộc thời kỳ Đệ Tứ và các loại đá mẹ thuộc nhóm đá trầm tích chính: Phấn sa, Sa thạch, Sỏi cạn kết, Phù sa cổ, đôi chỗ
có đá Phiến thạch sét xen kẽ Trên các đỉnh núi, đá mẹ có nguồn gốc macma phun trào nhờ hoạt động tạo sơn Hymalaya thuộc kỷ Trias - judava tạo nên
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ dạng đất do Viện Điều tra Quy hoạch rừng xây dựng tháng 04 năm 2001, đã phát hiện trong khu vực có 22 dạng đất trong 4 nhóm đất chính sau:
- Đất Feralit có mùn trên núi (độ cao trên 700m) Đất khá nhiều mùn nên có màu nâu nhạt, phát triển trên đá Sa thạch khối, có tầng đất mỏng đến trung bình hoặc rất mỏng, có nhiều đá lộ đầu, phân bố rải rác nhưng tập trung chủ yếu trên núi cao Thiên Sơn, Am Váp, đèo Mo
- Đất Feralit màu nâu vàng, vàng nhạt vùng đồi núi phát triển trên đá Phiến thạch sét, Sa thạch, Phấn sa, Sạn kết Phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 700m Tầng đất dày đến trung bình, nơi đất mỏng thường là các đỉnh núi có
đá Sa thạch khối phân bố, thành phần cơ giới trung bình, phân bố chủ yếu ở Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng và quanh núi Thiên Sơn (Vũ Oai)
- Đất Feralit màu vàng đỏ đến đỏ vàng hay xám vàng phát triển trên Sa thạch, Sỏi kết của nền phù sa cổ thường phân bố trên các đồi thấp trong khu vực các xã Đồng Sơn, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hoà Bình Tầng đất mỏng đến trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, đất nghèo dinh dưỡng
- Nhóm đất thung lũng, đất đồng ruộng trên nền phù sa cổ và bồi tụ ven suối Nhóm đất này nhỏ, tầng đất dày, chủ yếu là đất cát pha, thành phần cơ giới
Trang 38nhẹ, phân bố chủ yếu dọc theo các sông suối, thung lũng hẹp của các xã trong và quanh Khu bảo tồn
Nhìn chung đất đai trong Khu bảo tồn là đất Feralit màu đỏ vàng, vàng
đỏ đến vàng nhạt có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp dễ thoát nước, tầng đất trung bình, khả năng kết dính kém đất dễ bị rửa trôi xói mòn nếu mất rừng Đất đai thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp nhưng đòi hỏi cần phải có phân bón
- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân là 2000 ÷ 2400mm, mưa tập trung vào các tháng 7,8 chiếm khoảng 80% lượng mưa trong năm Đặc biệt trong tháng 7 - 8 thường xảy ra lũ ở các suối trong khu vực Trong mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15 ÷ 20% lượng mưa trong năm nên mùa khô thường gây ra hiện tượng khô hạn kéo dài từ 2 - 3 tháng
- Chế độ ẩm: Độ ẩm bình quân là 80%, cao nhất vào các tháng 3 - 4 lên tới 89% và thấp nhất là 65% vào các tháng 1 - 2 Lượng bốc hơi bình quân
Trang 39năm là 1300mm Trong những tháng khô hạn có lúc độ ẩm xuống 40 ÷ 50% gây ra nóng bức và khô ảnh hưởng không tốt đến cây cối
- Chế độ gió: Đồng Sơn - Kỳ Thượng có 2 loại gió chính là gió Đông Bắc vào mùa khô hanh và gió Đông Nam vào mùa mưa Gió Đông Bắc lạnh thường vào các ngày khô hanh độ ẩm thấp thường gây thiệt hại cho cây cối
- Bão: Mặc dù khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng gần biển nhưng do Vịnh Hạ Long có nhiều đảo che chắn nên ít bị ảnh hưởng của bão lớn Tuy vậy hàng năm vẫn chịu ảnh hưởng trung bình từ 2 đến 3 cơn bão đổ bộ vào với tốc độ gió cấp 8, cấp 9 gây mưa lớn kéo dài, nhiều vùng bị lũ, lụt ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông lâm nghiệp
- Sương muối: Do đặc điểm địa hình nên tại các thung lũng thường xuất hiện sương muối Sương muối thường xảy ra vào các tháng 12, tháng 1 ảnh hưởng đến cây trồng đặc biệt là cây trồng nông nghiệp và cây trồng lâm nghiệp còn được chăm sóc ở vườn ươm
- Các nhân tố cực đoan: Mùa mưa hay có mưa lớn kéo dài và gây lũ cục
bộ Gần đây xuất hiện mưa axit Mùa đông thường xuất hiện sương muối Đây là yếu tố gây trở ngại không nhỏ đến đời sống, giao thông và sản xuất nông lâm nghiệp
Nhìn chung, khí hậu Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa (ở dưới thấp) và khí hậu á nhiệt đới núi thấp (ở trên đỉnh cao), chế độ nhiệt, mưa, ẩm, gió, bốc hơi, phân mùa của khu vực là thuận lợi cho cây sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên cũng gây không ít khó khăn đến việc tổ chức sản xuất, đi lại và sinh hoạt
3.1.5 Thuỷ văn
Khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng có hai hệ thống suối chính:
- Hệ thống suối tụ đổ về sông Ba Chẽ ở phía Bắc Khu bảo tồn
- Hệ thống suối tụ nước đổ về sông Man ở phía Nam Khu bảo tồn
Hai hệ thống suối này đều bắt nguồn từ các dãy núi và đỉnh núi trong
Trang 40Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng nơi còn khá nhiều rừng tự nhiên, tuy có
cạn về mùa khô nhưng các suối phần lớn có nước quanh năm, đáp ứng được
yêu cầu đời sống và sản xuất trong khu vực Những năm gần đây do ảnh
hưởng của nạn phá rừng tự nhiên, mở đường và san lấp đồng ruộng của các xã
quanh Khu bảo tồn dẫn đến nước trên hai hệ thống sông suối thường đục hơn,
nhiều cát trôi, nhiều lũ cuốn làm hại hoa màu, đời sống và cảnh quan
Hồ Cao Vân có diện tích 146,0ha, dung tích 5.000.000m3 đón được nước
chủ yếu từ các suối bắt nguồn phía Tây Nam núi Thiên Sơn để cung cấp nước
sạch cho huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long Tuy nằm ngoài Khu bảo tồ
nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn trong việc điều tiết khí hậu của Khu bảo tồn
3.1.6 Tài nguyên rừng
Có 837 loài thực vật bậc cao, có mạch thuộc 489 chi và 150 họ của 6
ngành thực vật Trong đó có nhiều loài được xếp trong Sách Đỏ Việt Nam:
Trầm hương Trung hoa, Vù hương, Lát hoa, Đại hải, Ba kích… là những loài
có giá trị cao trên thị trường trong nước và thế giới (Theo Trần Ngọc Hải -2011)
Hệ động vật rừng đã giám định thống kê được trong phạm vi khu rừng
bảo tồn có 249 loài thuộc 79 họ và 28 bộ của 4 lớp động vật là thú, chim, bò
sát và ếch nhái Đã phát hiện 30 loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam,
đặc biệt như các loài: Khỉ vàng, Báo gấm, Chó sói, Tê tê vàng, Công trĩ… có
giá trị bảo tồn gen rất cao đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
trong nước và trên thế giới
(Theo báo cáo năm 2009 khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng)
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư
3.2.1.1 Dân tộc và tập quán
Dân cư trong vùng gồm 4 dân tộc chính: Dao, Sán dìu, Kinh và Hoa,
người Dao chiếm tới 99% Do tập quán sản xuất chính là làm nương rẫy và
khai thác nên ảnh hưởng đến tài nguyên thực vật Khu bảo tồn