DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT UBND Uỷ ban nhân dân BTTN Bảo tồn thiên nhiên ĐS-KT Đồng Sơn - Kỳ Thượng BQL Ban quản lý ĐDSH Đa dạng sinh học ĐDTV Đa dạng thực vật OTC Ô tiêu chuẩn VQG Vườn qu
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG VĂN SÂM
Trang 2
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới TS Hoàng Văn Sâm - Trường Đại học Lâm nghiệp đã hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, khoa Đào tạo Sau đại học, khoa Quản lý tài nguyên rừng & Môi trường, các Giáo sư, Tiến sĩ hợp tác giảng dạy tại khoa Sau đại học, đặc biệt là các thầy cô công tác tại Trung tâm Đa dạng sinh học và Bộ Môn Thực vật rừng Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Xin cảm ơn Ban quản lý và cán bộ công nhân viên và đặc biệt là ông Ngô Quang Tuân, giám đốc khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn- Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ tôi trong việc điều tra nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Xin chân thành cảm ơn!
Hạ Long, ngày 10 tháng 9 năm 2011
Tác giả
Đỗ Xuân Trường
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nhận thức chung về đa dạng sinh học 3
1.2 Tổng quan nghiên cứu về đa dạng thực vật 4
1.2.1 Trên thế giới 4
1.2.2 Ở Việt Nam 5
1.2.3 Nghiên cứu thực vật tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng 7
Chương 2 9
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ 9
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu 9
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 9
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 9
2.2 Nội dung nghiên cứu 9
2.3 Phương pháp nghiên cứu 9
2.3.1 Phương pháp kế thừa 9
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thực vật 10
Chương 3 20
3.1 Đặc điểm tự nhiên 20
Trang 43.1.2 Địa hình địa thế 21
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 21
3.1.4 Khí hậu 23
3.1.5 Thuỷ văn 24
3.1.6 Vài nét về thực vật khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng khi thành lập 24
3.1.7 Thực trạng rừng, thực vật và trữ lượng rừng hiện nay của KBT 28
3.2 Dân sinh kinh tế - Xã hội 30
3.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư 30
3.2.2 Cơ sở hạ tầng 30
3.2.3 Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực 31
Chương 4 32
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Xây dựng danh lục 32
4.2 Đa dạng hệ thực vật ở bậc ngành 32
4.2.1 Mức độ đa dạng ngành 32
4.2.2 Các chỉ số đa dạng 33
4.2.3 Đa dạng ở bậc dưới ngành 33
4.2.4 Đa dạng về dạng sống 35
4.2.5 Đa dạng về nguồn tài nguyên thực vật 36
4.2.6 Đa dạng các loài cây gỗ có giá trị bảo tồn cao 39
4.2.7 Phân bố của một số số loài thực vật cây gỗ có giá trị kinh tế và bảo tồn cao tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng 52
4.3 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật ở Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 53
4.3.1 Nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư hiện đang sinh sống xung quanh khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng về bảo vệ sự Đa dạng sinh học 54
4.3.2 Phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng 54
4.3.3 Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng 55
4.3.4 Tăng cường chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn 55
Trang 54.3.5 Giải pháp về ổn định dân số 56
4.3.6 Giải pháp phục hồi bảo tồn rừng 56
4.3.7 Giải pháp xây dựng vườn cây mẫu và vườn sưu tập 57
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Tồn tại 59
3 Kiến nghị 59
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND Uỷ ban nhân dân
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
ĐS-KT Đồng Sơn - Kỳ Thượng
BQL Ban quản lý
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐDTV Đa dạng thực vật
OTC Ô tiêu chuẩn
VQG Vườn quốc gia
NĐ 32 Nghị định 32/2006/NĐ- CP ngày 30 tháng 3 năm 2006
Nxb Nhà xuất bản
SĐVN Sách đỏ Việt Nam
IUCN Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
UNEP Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc
UNESCO Tổ chức Văn hóa, Khoa học của Liên hợp quốc
MAB Chương trình Con người và Sinh quyển
WWF Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã Quốc tế
PRA Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân WCMC Trung tâm giám sát Bảo tồn Thế giới
CITES Công ước Quốc tế về buôn bán Động thực vật hoang dã nguy cấp
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Thang phân chia dạng sống theo Raunkiaer (1934) 17 2.2 Giá trị sử dụng các loài trong hệ thực vật; 18 3.1 Thống kê diện tích các loại đất đai khi mới thành lập của Khu BTTN
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính đa dạng các loài thực vật cây gỗ ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn -
Kỳ Thượng được xem là một khu vực điển hình của hệ sinh thái rừng kín thường xanh núi thấp có diện tích rừng tự nhiên tập trung lớn nhất vùng Đông Bắc Việt Nam với nhiều loài thực vật, động vật rừng qúi hiếm Tuy nhiên, sự đa dạng này đang bị đe dọa bởi một số tác động của con người như việc khai thác gỗ làm trụ mỏ,
sử dụng các loại lâm sản một cách quá mức phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân; các tác động này đang làm thay đổi tính đa dạng sinh học của hệ thực vật rừng trong đó có thực vật cây gỗ Thực tế cho thấy các loài xuất hiện trong Sách đỏ ngày càng nhiều, số lượng loài ngày càng giảm Trước tình hình này, công tác bảo tồn đa dạng các loài thực vật nói chung và cây gỗ nói riêng đang được quan tâm và đẩy mạnh Cụ thể là hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên ngày càng được
mở rộng như Vườn quốc gia, khu bảo vệ cảnh quan, khu dự trữ thiên nhiên, khu nghiên cứu khoa học Trước tình hình thực tế đó khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn -
Kỳ Thượng được thành lập theo quyết định số: 1672/QĐ-UB ngày 22/5/2002 của UBND tỉnh Quảng Ninh với diện tích tự nhiên 17.792 ha, nằm trọn trong địa phận 5
xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Vũ Oai và xã Hoà Bình sát với đường dông núi cao ranh giới với huyện Ba Chẽ và thị xã Cẩm Phả cho nên khu bảo tồn cao ở phía Tây Bắc và thấp dần về phía Đông Nam Khu bảo tồn nằm trong vùng núi đất,
có nhiều đỉnh núi cao và có nhiều thung lũng nhỏ lại bị chia cắt nhiều bởi hệ thống các dông núi phụ và các suối nước, khá thuận lợi cho khai thác trái phép các loài lâm sản trong những năm qua nên rừng trong Khu Bảo tồn không đồng nhất, bị chia cắt thành nhiều mảng, nhiều kiểu, nhiều trạng thái khác nhau Chỉ có đai cao dưới 1.090m nên Khu Bảo tồn chỉ có 2 kiểu rừng là rừng á nhiệt đới thường xanh núi thấp và rừng nhiệt đới thường xanh
Từ khi được thành lập Ban quản lý khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng đã hoạt động tích cực, đạt được nhiều thành tích trong công tác bảo vệ rừng diện tích rừng được phục hồi nhiều Tuy nhiên, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và sức ép gia tăng dân số, nên việc lấn chiếm đất rừng làm ruộng, rẫy ở một vài
Trang 9điểm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên, tình trạng khai thác làm dược liệu, gia dụng vẫn xảy ra, nguy cơ rừng bị tàn phá là tiềm ẩn
Để bảo vệ và phát triển Khu bảo tồn thiên nhiên góp phần bảo vệ cảnh quan, môi trường sống cho hôm nay và mai sau, ngoài việc làm tốt công tác bảo vệ diện tích rừng hiện còn Khu Bảo tồn cần thiết phải xây dựng riêng cho mình một chương trình bảo tồn và phát triển tính đa dạng sinh học đang bị hủy hoại vì điều đó không chỉ có ý nghĩa bảo tồn nguồn gen các loài thực vật quý hiếm cho Quảng Ninh, cho đất nước mà còn góp phần tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau
Nhằm mục tiêu đánh giá lại tính đa dạng hiện trạng tài nguyên thực vật làm
cơ sở đề xuất cho công tác bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên trong Khu Bảo
tồn, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu tính đa dạng thực vật cây gỗ tại
khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh"
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức chung về đa dạng sinh học
Từ xa xưa con người đã biết khai thác tài nguyên sinh vật để phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình; nhờ tiếp cận với tự nhiên họ đã biết phân loại sinh vật để nhận biết và khai thác chúng một cách có hiệu quả Ngày nay do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kinh tế và nhu cầu mà con người càng ham hiểu biết về thế giới tự nhiên Tuy nhiên, càng hiểu biết sâu về thế giới sinh vật con người càng khai thác tài nguyên sinh vật một tận diệt, vì thế nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ngày càng giảm sút Có thể nói vấn đề nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trên thế giới Tuy vậy những quan niệm về đa dạng sinh học cũng có những điểm chưa thống nhất, chưa đầy đủ và chưa rõ ràng
Trong chương trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam cũng nêu ra một
khái niệm về đa dạng sinh học: “Đa dạng sinh học là tập hợp tất cả các nguồn sinh
vật sống trên hành tinh gồm tổng số loài động vật và thực vật, tính đa dạng và sự phong phú trong từng loài tính đa dạng hệ sinh thái của cộng đồng sinh thái khác nhau, hoặc tập hợp các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau” Với định nghĩa này đã đề cập đến ba vấn đề về đa dạng sinh học là
đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái Tuy nhiên định nghĩa trên còn dài dòng, không rõ ràng và dễ dẫn đến nhầm lẫn giữa tính phong phú và tính đa dạng; còn một điểm không rõ nữa của định nghĩa trên là chỉ nhắc đến hai nhân tố động vật
và thực vật trong giới sinh vật mà bỏ quên quần xã sinh vật và các loài sinh vật khác như nấm, vi sinh vật…
Trong tác phẩm “Đa dạng cho sự phát triền – Diversity for development” của Viện tài nguyên gen thực vật quốc tế (IPGRI) [39] đa dạng sinh học được định nghĩa
như sau: “Đa dạng sinh học là toàn bộ những biến dạng trong tất cả cơ thể sống và
các phức hệ sinh thái mà chúng sống Đa dạng sinh học có ba mức độ: Đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền”
Trang 11Định nghĩa về đa dạng sinh học được sử dụng thông dụng, ngắn gọn và đầy
đủ nhất là định nghĩa về đa dạng sinh học trong công ước về bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro (1992) Định nghĩa đó như sau: “Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái nước khác,
sự đa dạng thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái” [47] Định nghĩa này tương đối đầy đủ và rõ ràng Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra được các nội dung của đa dạng sinh học là:
- Đa dạng di truyền - tức là sự đa dạng về gen và nhiễm sắc thể
- Đa dạng về loài
- Đa dạng về hệ sinh thái
1.2 Tổng quan nghiên cứu về đa dạng thực vật
Nghiên cứu về đa dạng thực vật là một môn nghiên cứu của đa dạng sinh học, ngày nay chúng ta đã có nhiều lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng thực vật; tuy nhiên có một số lĩnh vực nghiên cứu chính sau
1.2.1 Trên thế giới
Việc nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới có từ lâu, song những công trình có giá trị xuất hiện vào thế kỷ 19 – 20: Thực vật chí Honkong 1861 [34]; Thực vật chí Australia 1866 [35]; Thực vật chí rừng Tây Bắc và Trung tâm Ấn Độ 1874 [36] Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là giai đoạn mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachop A L [45] cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không
có sự phân hoá về mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể Tolmachop A.L đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 – 2000 loài
Các nhà sinh vật học Nga tập trung các nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể Việc xác định diện tích gồm những giai đoạn sau:
Trang 12- Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên để thấy mức độ tăng số lượng loài
- Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểu hiện tối thiểu
1.2.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam trước hết phải kể đến các công trình:
“Thực vật chí Nam bộ” của Leureiro [41]; Thực vật chí rừng nam bộ của các tác giả Pierre L [43] Một trong công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp Lecomte et al [40], kết quả của nghiên cứu này là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, trong kết quả nghiên cứu này theo Lecomte thì vùng Đông Dương có hơn 7000 loài Đây là
bộ sách có ý nghĩa lớn với các nhà thực vật học; hiện nay bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng Tiếp theo đó là bổ sung của Humbert H [38], đến nay là thực vật chí Lào, Campuchia và Việt Nam đã xuất bản từ 1960 và ở ta đã có đến tập 26
Sau này, Pocs T (1965) tuy không nghiên cứu hệ thực vật miền Bắc, nhưng dựa trên bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” đã thống kê 5190 loài Đồng thời tác giả còn phân tích cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật này [42]
Năm 1965 Pocs T trong công trình nghiên cứu về ngành rêu (Bryophyta) đã
công bố 556 loài rêu ở Việt Nam, trong đó miền Bắc có 198 loài [42] Đây là công trình khá tổng quát công bố về ngành rêu ở Việt Nam
Như vậy từ đầu thế kỷ đến khoảng giữa thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu
về hệ thực vật có giá trị ở Việt Nam đều do các tác giả người nước ngoài nghiên cứu Các công trình cũng mới chỉ dừng lại ở thống kê số lượng loài có trong một vùng diện tích lớn như miền Bắc Việt Nam (198.000 km2), Việt Nam có diện tích trên 330.000 km2 hoặc Đông Dương với diện tích khoảng 737 800km2 và rất ít chú
ý đến các khía cạnh khác Như những nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam phải kể đến hai công trình có giá trị là: “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963 – 1978) Tác giả tổng hợp các công trình đã có trước đây cùng
Trang 13với các nghiên cứu của mình công bố 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc
1850 chi và 189 họ ở Việt Nam Thái Văn Trừng [31] đã khẳng định ưu thế của các
ngành Hạt kín (Magnoliophyta) trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (90,9%),
1727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%) trong tổng số các Taxon mỗi bậc Các ngành thực vật khác nhìn chung chiếm một tỷ lệ không nhiều trong hệ thực vật Công trình nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương [24] đã tiến hành phân loại rừng miền Bắc Việt Nam Trong đó rừng miền Bắc được chia làm 3 đai, 8 kiểu; ngoài ra ông còn chia ra thành những kiểu phụ mà chỉ dùng loại hình thay cho kiểu, sau loại hình kiểu phụ
Cùng với những công trình nghiên cứu tại miền Bắc, trong thời gian này Phạm Hoàng Hộ [15] cũng cho ra bộ sách “Cây cỏ Nam Việt Nam” công bố với 5326 loài thực vật có ở miền Nam nước ta Trong đó thực vật bậc thấp có 60 loài, rêu 20 loài, còn lại là thực vật có mạch 5246 loài Đây là một công trình tổng hợp về hệ thực vật miền Nam, nhưng số loài các ngành công bố ở trên theo chúng tôi còn thiếu
Phan Kế Lộc [21] ở miền Bắc đã cung cấp số loài cây của các ngành thực vật bậc cao có mạch trong công trình “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam” Trong tác phẩm này Phan Kế Lộc đã thống kê được 5609 loài, còn các ngành khác chỉ có 540 loài Con số này theo bản thân tôi là khá đầy đủ
Qua những tác phẩm kể trên chúng ta có thể nhận thấy rằng chỉ trong vòng 7 năm từ năm 1966 đến 1973 đã có 4 công trình có giá trị cao về hệ thực vật Việt Nam do các tác giả trong nước nghiên cứu Tổng hợp các công trình này chúng ta
có số liệu khá đầy đủ về các hệ thực vật ở nước ta Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ chủ yếu thống kê số lượng các Taxon có trong hệ thực vật mà ít chú ý so sánh chúng với nhau hoặc chú ý vào các khía cạnh khác như tài nguyên, dạng sống… mặt khác các công trình nghiên cứu này chưa đề cập đến ngành rêu, trừ nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Hộ, 1970
Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể các tác giả khác đã xuất bản tập “Danh lục thực vật Tây Nguyên” công bố 3754 loài
Trang 14trình này khảo sát bao quát cả một hệ thực vật rừng phong phú vào bậc nhất nước ta nên rất có ý nghĩa [7]
Đi theo hướng nghiên cứu các hệ thực vật ở từng vùng, Phạm Hoàng Hộ (1985 ) đã xuất bản ra cuốn sách “Danh lục thực vật Phú Quốc” Công bố 793 loài thực vật cao có mạch trong một diện tích là 592 km2 [16 ]
Đối với ngành rêu (Bryophyta) từ trước dến nay, trong các công trình chung về
hệ thực vật bậc cao thường ít được xếp vào thành phần mà được nghiên cứu riêng Công trình nghiên cứu quy mô và tổng quát nhất là của Pocs T [42], sau đó các nghiên cứu này thường không tập trung, cho đến năm 1980 Trần Ninh với công trình nghiên cứu “Rêu của Việt Nam” đã thống kê công bố 170 loài rêu của Việt Nam
Nếu thống kê số loài, chi, họ ở miền Bắc thường theo con số của tác giả Phan
Kế Lộc cộng thêm ngành rêu nữa thì số loài thực vật ở miền Bắc là 5915 loài, số chi
là 1746 chi và số họ là 288 họ Thống kê số loài, chi, họ ở Việt Nam theo con số thống kê của Thái Văn Trừng [31] cộng thêm ngành rêu ở Việt Nam thì số loài ở Việt Nam là 7797 loài, 2032 chi, 349 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao
Gần đây nhất là năm (1991 – 1993) với 3 quyển “Cây cỏ Việt Nam” Phạm Hoàng Hộ đã mô tả 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam Tuy vậy Phạm Hoàng Hộ con số đó có thể lên tới 12.000 loài [15] Nhiều nhà thực vật Việt Nam làm việc ở trong nước cũng cho rằng số loài thực vật nước ta có khoảng 12.000 loài
1.2.3 Nghiên cứu thực vật tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng
Năm 2001 Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp với các chuyên gia thực vật của trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch rừng điều tra sơ bộ hiện trạng động thực vật rừng trong khu vực 5 xã Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng, Vũ Oai, Hoà Bình hoàn thành chuyên đề về thực vật tiến đến thành lập Khu Bảo tồn Kết quả của đợt điều tra này các chuyên gia đã tìm được 485 loài thuộc 280 chi và 101 họ thuộc 3 ngành Quyết thực vật, Hạt trần và Hạt kín
Tại khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào về dạng sống, công dụng, phân bố của hệ thực vật; qua các đợt điều tra, tìm hiểu về khu hệ thực vật tại Khu Bảo tồn đã thực hiện trước kia chỉ chú ý đến
Trang 15số lượng loài và lập ra một bản danh lục thực vật sơ bộ chưa đi sâu vào nghiên cứu thảm thực vật và đặc biệt là không có tiêu bản và bản đồ phân bố để chứng minh về
sự đa dạng đó
Nghiên cứu này là đề tài đầu tiên nghiên cứu, phân tích về tính đa dạng về thành phần loài, công dụng, dạng sống và phân bố một số cây gỗ quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam tại khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng và được áp dụng theo hệ thống của Tolmachop A L.(1974)
Trang 16Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được tính đa dạng loài cây gỗ tại khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, Quảng Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thực vật cây gỗ (cây sống nhiều năm, có thân sinh trưởng thứ cấp hóa gỗ, khi trưởng thành đường kính thân trên 6cm) tại khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn -
Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, xây dựng danh lục các loài thực vật cây gỗ tại khu vực nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá tính đa dạng sinh học về thành phần loài, dạng sống,
công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật cây gỗ tại khu Bảo tồn thiên nhiên
Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật có hiệu quả
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa
- Kế thừa các công trình có liên quan của các nhà khoa học đã nghiên cứu tại khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng trong những năm trước đây kể cả các văn bản, các cuộc hội nghị, hội thảo, các chương trình, kế hoạch hành động…
+ Tham khảo báo cáo:
- Dự án xây dựng Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, Tỉnh Quảng Ninh (2001)
- Dự án rà soát điều chỉnh đầu tư rừng đặc dụng giai đoạn 2009 - 2015 Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Trang 17- Báo cáo "Đặc điểm tài nguyên thực vật và danh lục thực vật" khu vực Yên
Tử tỉnh Quảng Ninh (Nguyễn Văn Huy, ĐHLN 2001)
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thực vật
2.3.2.1 Nghiên cứu thực địa
Điều tra đa dạng thành phần loài: Để điều tra ngoài thực địa xác định các loài thực vật cây gỗ, đề tài sử dụng hai phương pháp điều tra chính: điều tra theo tuyến
và điều tra theo ô tiêu chuẩn
+ Điều tra theo tuyến:
- Nguyên tắc lập tuyến: Tuyến điều tra được bố trí song song và vuông góc với đường đồng mức, tuyến thiết kế phân bố đều, đi qua nhiều trạng thái, sinh cảnh rừng trong Khu Bảo tồn
Đề tài chọn các tuyến điều tra khảo sát cho KBT như sau:
- Tuyến I: Đi từ Khe Rìa đến Thác Khe Rìa dài 6 km (Tiểu khu 56, 58, Đồng Sơn)
- Tuyến II: Từ đỉnh Đèo Dài tới bản Khe Táo dài 5 km (Tiểu khu 59, Đồng Sơn)
- Tuyến III: Đi từ Khe Nước tới suối Khe Lương dài 5 km (Tiểu Khu 60, 52B, Kỳ Thượng)
- Tuyến IV: Dọc suối Vũ Oai lên đỉnh Thiên Sơn dài 7 km (Tiểu khu 71, 79, Vũ Oai)
- Tuyến V: Từ Hồ Cao Vân đi tới núi Đèo Mo dài dài 7 km (Tiểu Khu 72, Hòa Bình)
Trang 18Trên các tuyến điều tra tiến hành quan sát phát hiện xác định loài và thống kê những chỉ tiêu cần điều tra về loài cây, xác định tọa độ vị trí gốc cây của các loài
có tên trong sách đỏ Việt Nam bằng GPS để làm cơ sở xây dựng bản đồ phân bố một số loài cây gỗ quý hiếm đang cần được bảo vệ của Khu BTTN như: Sao Hòn Gai, Mắc Niễng phát hiện các ưu hợp, phát hiện đá mẹ và định nhanh tên đất, những cây chưa xác định được tên cây, được thu mẫu về nhà giám định
+ Điều tra theo ô tiêu chuẩn:
Vị trí lập OTC: Lựa chọn vị trí lập OTC phải có tính đại diện và điển hình
cho từng sinh cảnh trên tuyến điều tra
Hình dạng: Tại mỗi điểm quan trắc, căn cứ vào đặc điểm cụ thể về điều kiện
địa lý, địa hình, diện tích từng kiểu rừng mà thiết lập 1 OTC điển hình, đại diện cho một kiểu rừng Hình dạng OTC chúng tôi chọn là hình vuông
Kích thước OTC: 2500 m2, 50m x 50m
Số lượng OTC: 30 ô tiêu chuẩn
Ô tiêu chuẩn được đánh số theo thứ tự từ 1- 30 để tiện theo dõi thống kê, tổ chức thực hiện
Vị trí của mỗi ô tiêu chuẩn được xác định tại thực địa bằng máy định vị GPS
Lập ô và thu thập số liệu trong ô tiêu chuẩn:
+ Xác định vị trí ô ở thực địa: Sử dụng máy định vị GPS xác định vị trí ô tiêu chuẩn trên thực địa
Trang 19+ Ô tiêu chuẩn được đóng mốc gỗ viết sơn tại 4 góc ô, tại mốc đầu tiên ghi rõ số hiệu ô tiêu chuẩn (Ô 1), mốc số 1 (M1), các mốc tiếp theo ghi M2, M3, M4 Mốc gỗ có
D = 4 - 6 cm, dài 40-50 cm
+ Điều tra trên ô tiêu chuẩn :
- Điều tra tầng cây cao
Xác định tên các loài thực vật của tất cả những cây trong ô có đường kính (D1.3 ) từ 6 cm trở nên Cây sau khi được xác định tên, được viết số thứ tự bằng sơn
đỏ từ 1 – n Số thứ tự viết tại cây đảm bảo thống nhất với phần ghi chép trong tài liệu để tiện cho việc lấy tiêu bản sau này
Đánh giá phẩm chất cây theo A, B, C (tốt, trung bình, xấu)
Trong ô đo đếm xác định tọa độ vị trí gốc cây của các loài có tên trong sách
đỏ Việt Nam bằng GPS để làm cơ sở xây dựng bản đồ phân bố các loài cây gỗ quý hiếm đang cần được bảo vệ của Khu BTTN
Dưới đây là mẫu biểu điều tra các tầng cây cao:
Phiếu điều tra tầng cây cao trong OTC Khu BTTN
Ô tiêu chuẩn số: Tuyến số: … Diện tích ô: 2500 m2
Tiểu khu: Xã: Vị trí ô (chân sườn, đỉnh);
Độ cao tương đối: Trạng thái rừng ;
Cây bụi: ; Thảm tươi:
Trang 20TT Tên cây
Tên phổ thông (Tiếng việt)
D1.3 (cm)
Phẩm chất (A, B, C)
Tọa độ gốc cây
- Điều tra tái sinh:
+ Lập 05 ô điều tra tái sinh ở các vị trí sau: 4 góc (01 ô tái sinh/góc) và vị trí trung tâm (lập 01 ô tái sinh) của ô tiêu chuẩn Ô tái sinh hình vuông có kích thước 5
x 5 m = 25 m2 Đánh dấu 4 vị trí góc ô tái sinh bằng mốc chữ thập
+ Số hiệu ô tái sinh trong ÔTC được đánh theo thứ tự sau: Ở vị trí trung tâm
ô tiêu chuẩn ô tái sinh có số hiệu là 1, các ô tiếp theo được đánh số thứ tự theo chiều kim đồng hồ từ 2 đến 5
+ Xác định tên cây, số lượng, phẩm chất cây gỗ tái sinh có triển vọng (H > 1,0 m ; D1,3 < 6cm) Nội dung thu thập theo loài, cấp chiều cao, phẩm chất (khoẻ,
trung bình, yếu), nguồn gốc (hạt, chồi), cấp chiều cao,
Phiếu điều cây tra tái sinh trong Khu BTTN Ô tái sinh số: Ô tiêu chuẩn số: Tiểu khu:
Xã: Diện tích ô: 25 m2, Vị trí ô (sườn, đỉnh);
Trạng thái rừng ;Loài cây bụi: ; Chiều cao cây bụi (m)
Loại thảm tươi: ;Chiều cao thảm tươi: Đặc điểm khác:
TT
Loài
Cây
TS
Chất
lượng Tổng
Cấp chiều cao (m)
< 0,5 0,6-1,0 1,1-1,5 1,6-2,0 2,1-3,0 3,1-5,0 >5,0 Nguồn
gốc
Nguồn gốc
Nguồn gốc
Nguồn gốc
Nguồn gốc
Nguồn gốc
Nguồn gốc
H Ch H Ch H Ch H Ch H Ch H Ch H Ch
Trang 21+ Thu hái tiêu bản
Dụng cụ thu mẫu: Cặp hay túi đựng mẫu, giấy báo, dây buộc, nhãn, kim chỉ, bút chì 2B, sổ ghi chép, cồn, kéo cắt cành và máy tính sách tay
Phương pháp thu mẫu: Để thu mẫu, hiện nay đề tài dùng túi polyetylen để đựng mẫu, không dùng kẹp gỗ như trước đây vừa cồng kềnh vừa khó bảo quản, cần
có sổ ghi chép riêng, nhãn hay băng dính giấy có thể viết được và kéo cắt cành
Nguyên tắc thu mẫu:
- Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là: cành, lá, hoa đối với cây gỗ lớn Mỗi cây nên thu từ 3 - 5 mẫu
- Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu mẫu Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thực địa như: đặc điểm
vỏ cây, kích thước cây, nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi sấy mẫu như: màu sắc, mùi vị…
Cách xử lý và bảo quản mẫu: Sau một ngày lấy mẫu cần đeo nhãn cho mỗi mẫu Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu của tác giả còn các thông tin khác sẽ ghi vào
sổ riêng hoặc trên nhãn ghi đầy đủ các thông tin như sau:
- Số hiệu mẫu
- Địa điểm (tỉnh, huyện, xã…) và nơi lấy (ven suối, thung lũng, sườn hay đỉnh núi hoặc đồi…)
- Ngày lấy mẫu
- Đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ cao, đường kính, màu lá, hoa , quả…
- Người lấy mẫu
+ Điều tra, phỏng vấn người dân: Phỏng vấn một số cán bộ và những người cao tuổi là người địa phương có nhiều năm tiếp xúc với rừng (cán bộ lâm nghiệp lâu năm, người nhiều kinh nghiệm, người làm thuốc nam), đồng thời chọn một số đối tượng hiểu nhiều về cây địa phương làm người đưa đường lên rừng xác định cây hay lấy mẫu cây theo cách gọi của địa phương để có thêm thông tin cho việc xác định loài…
Trang 22
2.3.2.2 Xử lý trong phòng thí nghiệm
Mẫu tiêu bản thu thập trong quá trình điều tra được mang về và xử lý tại phòng Khoa học - Ban Quản lý khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng Nội dung công việc gồm:
- Ép mẫu và sấy mẫu
- Phân loại mẫu theo họ và chi
- Giám định mẫu tiêu bản được thực hiện bởi tác giả với sự giúp đỡ của các chuyên gia về Phân loại Thực vật của Trung tâm Đa dạng sinh học, đồng thời đối chiếu mẫu nghiên cứu với bộ mẫu đang lưu trữ tại Trung tâm Đa dạng sinh học, tại phòng Khoa học của Ban Quản lý Khu BTTN
- Phân tích mẫu: Dựa trên một số nguyên tắc: Phân tích từ tổng thể đến chi tiết, từ cái lớn đến cái nhỏ, phân tích đi đôi với ghi chép
- Tra tên khoa học: Sau khi đã phân tích mẫu chúng tôi tiến hành tra tên khoa học dựa theo các khóa xác định
Trang 23
2.3.3.3 Xây dựng danh lục và đánh giá đa dạng hệ thực vật cây gỗ
Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục:
Tên đầy đủ của loài được áp dụng theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập I – 2001, tập II – 2002 và tập III – 2005) [6], [30], và trang web quốc tế về tên Thực vật www.ipni.org Hệ thống phân loại thực vật được áp dụng theo hệ thống của Brummitt (1992) [37]
Danh lục thực vật cây gỗ của khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng được sắp xếp theo thứ tự tiến hóa của các ngành, ở mỗi ngành, các họ được xếp theo hệ thống alphabet tên khoa học Danh lục còn có tên khoa học, tên Việt Nam và tên địa phương (nếu có) cùng với các thông tin giúp ích cho việc đánh giá đa dạng, đó là các thông tin về dạng sống, công dụng,…
Đánh giá đa dạng về phân loại: Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [26], bao gồm:
o Thống kê và đánh giá thành phần loài, chi, họ của các ngành
o Tính chỉ số đa dạng ở cấp họ (số loài trung bình của một họ), cấp chi (số loài trung bình của một chi)
o Đánh giá đa dạng các họ, chi: xác định tập hợp 10 họ, 10 chi giàu loài nhất, tiểu biểu cho hệ thực vật
Đánh giá sự đa dạng về dạng sống
Dạng sống là một đặc trưng nói lên bản chất sinh thái của hệ thực vật cũng như thảm thực vật của hệ sinh thái đó Mỗi hệ sinh thái là do các loài trong tương
Trang 24cá thể loài và các loài đó tập hợp nên những quần xã riêng biệt phản ánh môi trường sống nơi đó Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất
là hệ thực vật của vùng nhiệt đới người ta vẫn thường dùng hệ thống các dạng sống của Raunkiaer (1934) ( ghi theo Thái Văn Trừng, 1999) [44]
Bảng 2.1 Thang phân chia dạng sống theo Raunkiaer (1934)
(Thái Văn Trừng, 1999)
Nhóm cây chồi trên
Những cây gỗ, dây leo, thảo, bì sinh, ký sinh có chồi tồn tại
nhiều năm cách đất từ 25cm trở lên Gồm các dạng sống
Ph
Phananerophytes
Chồi trên to: là cây gỗ cao trên 25m Meg
Chồi trên vừa: là cây gỗ cao 8 – 25m Mes
Cây kí sinh, bán ký sinh sống lâu năm Pp
Cây thân thảo sống lâu năm cao trên 25cm Hp
Cây mọng nước sống lâu năm cao trên 25cm Suc
Dây leo sống lâu năm, leo cao trên 25cm Lp
Nhóm cây chồi sát đất
Gồm những cây có chồi cách mặt đất 0 – 25cm, mùa bất lợi
thường được lá khô che phủ
Ch
Chamaephytes
Nhóm cây chồi nửa ẩn
Cây có chồi nằm dưới, ngay sát mặt đất, mùa bất lợi thường
được lá khô che phủ
Hm
Hemicryptophytes
Nhóm cây chồi ẩn
Cây có chồi nằm sâu trong đất (hoặc trong bùn, nước), mùa
bất lợi phần khí sinh tàn rụi hết nhưng còn phần thân ngầm ở
dưới đất, sẽ tái sinh vào mùa thuận lợi sau đó
Cr
Cryptophytes
Nhóm cây chồi một năm
Cây chỉ sinh trưởng, ra hoa kết quả trong vòng một năm rồi
chết, chỉ còn hạt để duy trì sang mùa thuận lợi sau đó
Th
Therrophytes
Trang 25Trong dạng sống, sơ sở quan trọng nhất để sắp xếp các nhóm dạng sống đó là xem trong thời kỳ khó khăn cho cuộc sống loài đó tồn tại dưới dạng sống nào: Chỉ
là hạt nghỉ hay có cả chồi, nếu có chồi thì chồi nằm ở vị trí nào so với mặt đất, có được bảo vệ hay không… Chúng tôi chọn cách phân chia này để xây dựng phổ dạng sống cho hệ thực vật cây gỗ của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng
+ Đánh giá về tài nguyên thực vật
- Tài nguyên có giá trị sử dụng: Thống kê các loài có giá trị sử dụng từ
bảng danh lục thực vật Khu BTTN bằng các tư liệu chuyên ngành như “Những cây
thuốc và vị thuốc Việt Nam” [20]; “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” [11]; “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” [6] [30], [48,49]; “Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam” [23];
“Cây cỏ Việt Nam” [15]; “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam”[20] “Lâm
Sản Ngoài Gỗ Việt Nam” [25] … Các tiêu chuẩn để đánh giá giá trị tài nguyên thực
vật như: Nhóm cây cho dầu béo, tinh dầu thơm, nhựa, dược liệu,…
Bảng 2.2 Giá trị sử dụng các loài trong hệ thực vật
Trang 26- Nghiên cứu tài nguyên thực vật cây gỗ về mức độ nguy cấp của các loài quý hiếm:
Từ bảng danh lục, kiểm tra tên từng loài dựa vào các chỉ tiêu (danh lục đỏ): Sách Đỏ Việt Nam 2007; Nghị định 32/2006/NĐ- CP của Chính phủ; IUCN 2009 Red list Data và nhờ một số chuyên gia về thực vật xác định
- Xây dựng bản đồ phân bố của một số loài thực vật cây gỗ có giá trị kinh tế và bảo tồn cao của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng:
Sử dụng nền bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng của Khu bảo tồn kết hợp máy định vị GPS và quá trình khảo sát rừng trong Khu BTTN để có một số nhận xét và xây dựng bản đồ phân bố một số loài cây gỗ quý hiếm trong quá trình đi điều tra thực địa
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật:
Sau khi phân tích các khó khăn, tập hợp các giải pháp do người dân đề xuất
và tham khảo ý kiến các chuyên gia cùng chính quyền các cấp và đặc biệt là tham khảo ý kiến của cán bộ viên chức trong ban quản lý Khu Bảo tồn, đề tài đề xuất một
số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật có hiệu quả nhất
Trang 27Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính
- Phía Tây: Từ đỉnh núi khe O theo hướng Tây Nam đến ngã ba suối chính lên dông theo hướng Tây Nam qua đỉnh 578,4 m đến đỉnh 457,2 m đi theo khe đến ngã ba nhỏ theo dông hướng Đông Nam lên đỉnh khe Ru 566,9 m, từ đỉnh khe Ru theo đường phân thuỷ giữa hai khe Đồng Quặng, khe Cài đến đỉnh 574,4 m trên đường ranh giới giữa hai xã Đồng Lâm và Sơn Dương
- Phía Nam: Từ đỉnh 547,4 m theo đường dông qua đỉnh 583,0 m, theo đường dông hướng Bắc cắt xen kẽ rừng sản xuất lên đỉnh 246,0 m qua đỉnh 224,3 m đến đỉnh 198,3 m theo sườn hướng Bắc và Đông Bắc cắt qua khe lên đỉnh 333,1 m
đi theo sườn dông hướng Đông cắt qua sông Đồng Trà đến đỉnh 223,4 m đi theo sườn dông xen kẽ với rừng sản xuất qua đỉnh 267,1 m lên dông đến đỉnh 442,3 m chạy dọc dông theo hướng Đông Nam đến đỉnh 472,2 m tiếp tục theo dông hướng
Trang 28các đỉnh 236,2; 136,2, 113,1 m cắt qua sông Vũ Oai lên đỉnh 81,8 m đi theo dông qua các khe nhỏ đến đỉnh 132,5 m
- Phía Đông: Từ đỉnh 132,5 m đi theo hướng Đông Bắc qua các đỉnh 154,8; 374,9;473,3 m, tiếp tục đi theo dông hướng Bắc, Tây Bắc đến đỉnh 852,5 m
Tổng diện tích tự nhiên là 16.878,7 ha (nguồn Dự án rà soát điều chỉnh rừng
đặc dụng khu BTTB Đồng Sơn - Kỳ Thượng)
3.1.2 Địa hình địa thế
Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng nằm ở sườn Nam của dãy núi chính phân cách ranh giới hai huyện Hoành Bồ và Ba Chẽ, trên địa phận huyện
Hoành Bồ, thuộc phía Đông của dãy núi thuộc cánh cung Đông Triều
- Hệ thống núi chính của KBT nằm theo hướng Đông - Tây, bắt đầu từ đỉnh
đèo Mo (947m) chạy qua nhiều đỉnh núi tới đỉnh núi đèo Gốc
- Các dải núi độc lập và các dãy núi phụ trong Khu bảo tồn đa phần có hướng
Tây Bắc - Đông Nam
- Hệ thống dông và núi trong Khu bảo tồn có một số đỉnh cao đáng chú ý là đỉnh Thiên Sơn (1090m) Dông núi chạy từ khe Ru (826m) qua đèo Kinh (694m), Đồng Trà (889m), Am Váp (1051m) tới đèo Mo (974m) đã chia Khu bảo tồn thành hai lưu vực, phía Bắc nước chảy về sông Ba Chẽ, phía Nam nước tập trung chảy về sông Man rồi chảy ra vịnh Hạ Long
Độ cao tuyệt đối không quá cao nhưng độ chênh cao trong vùng khá lớn lên tới hàng ngàn mét Địa hình trong khu vực bị chia cắt mạnh bởi nhiều dông núi nhỏ
và khe suối, độ dốc trung bình 20-250 nhiều nơi có độ dốc 30-400 xen kẽ, đôi chỗ có
độ dốc 50-600 rất hiểm trở
Hai lưu vực sông chính trong khu vực là Ba Chẽ và Sông Man có nhiều khe suối sâu, dốc bắt nguồn từ chân núi Am Váp, Thiên Sơn đã góp phần chia cắt địa hình khu vực
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam cho thấy địa chất của khu vực Đồng Sơn -
Kỳ Thượng hình thành từ kỷ Triat thuộc thời kỳ Đệ Tứ với các loại đá mẹ thuộc nhóm
Trang 29đá trầm tích chính: Phấn sa, Sa thạch, Sỏi sạn kết, Phù sa cổ, đôi chỗ có đá phiến thạch sét xen kẽ Trên các đỉnh núi, đá mẹ có nguồn gốc macma phun trào nhờ hoạt động tạo sơn Hymalaya thuộc kỷ Trias - judava tạo nên
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ dạng đất do Viện Điều tra Quy hoạch rừng xây dựng tháng 04 năm 2001, đã phát hiện trong khu vực có 22 dạng đất trong 4 nhóm đất chính sau:
- Đất Feralit có mùn trên núi (độ cao trên 700 m) Đất khá nhiều mùn nên có màu nâu nhạt, phát triển trên đá Sa thạch khối, có tầng đất mỏng đến trung bình hoặc rất mỏng, có nhiều đá lộ đầu, phân bố rải rác nhưng tập trung chủ yếu trên núi cao Thiên Sơn, Am Váp, đèo Mo
- Đất Feralit màu nâu vàng, vàng nhạt vùng đồi phát triển trên đá Phiến thạch sét, Sa thạch, Phấn sa, Sạn kết Phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 700 m Tầng đất dày đến trung bình, nơi đất mỏng thường là sườn các đỉnh núi có đá Sa thạch khối phân bố, thành phần cơ giới trung bình, phân bố tập trung chủ yếu ở Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng và quanh núi Thiên Sơn (Vũ Oai)
- Đất Feralit màu vàng đỏ đến đỏ vàng hay xám vàng, phát triển trên Sa thạch, Sỏi kết của nền phù sa cổ thường phân bố trên các đồi thấp trong khu vực các
xã Đồng Sơn, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hòa Bình Tầng đất mỏng đến trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, đất nghèo dinh dưỡng
- Nhóm đất thung lũng, đất đồng ruộng trên nền phù sa cổ và bồi tụ ven suối Nhóm đất này nhỏ, tầng đất dày, chủ yếu là đất cát pha, thành phần cơ giới nhẹ, phân bố chủ yếu dọc theo các sông suối, thung lũng hẹp của các xã trong và quanh Khu bảo tồn
Nhìn chung đất đai trong Khu bảo tồn là đất Feralit màu đỏ vàng, vàng đỏ đến vàng nhạt có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp dễ thoát nước tầng đất trung bình, khả năng kết dính kém đất dễ bị rửa trôi xói mòn nếu mất rừng Đất đai thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp nhưng đòi hỏi phải có phân bón
Trang 30- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân năm là 2000-2400mm, mưa tập trung vào các tháng 7,8 chiếm khoảng 80% lượng mưa trong năm Đặc biệt trong tháng 7-
8 thường xảy ra lũ ở các suối trong khu vực Trong mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15-20% lượng mưa trong năm nên mùa khô thường gây ra hiện tượng khô hạn kéo dài từ 2 đến 3 tháng
- Chế độ ẩm: Độ ẩm bình quân năm là 80%, cao nhất vào các tháng 3-4 lên tới 89% và thấp nhất là 65% vào các tháng 1-2 Lượng bốc hơi bình quân năm là 1300mm Trong những tháng khô hạn có lúc độ ẩm xuống 40-50% gây ra nóng bức
và khô ảnh hưởng không tốt đến cây cối
- Chế độ gió: Khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng có 2 loại gió thịnh hành là gió Đông Bắc vào mùa khô hanh và gió Đông Nam vào mùa mưa Gió Đông Bắc lạnh thường xảy ra vào các ngày khô hanh độ ẩm thấp thường gây thiệt hại cho cây cối
+ Bão: Mặc dù khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng gần biển nhưng do vịnh Hạ Long có nhiều đảo che chắn nên ít bị ảnh hưởng của bão lớn Tuy vậy hàng năm vẫn chịu ảnh hưởng trung bình từ 2 đến 3 cơn bão đổ bộ vào với tốc độ gió cấp 8, cấp 9 gây mưa lớn kéo dài, nhiều vùng bị lũ, lụt ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông lâm nghiệp
+ Sương muối: Do đặc điểm địa hình nên tại các thung lũng thường xuất hiện sương muối Sương muối thường xảy ra vào các tháng 12, tháng 1 ảnh hưởng đến
Trang 31cây trồng đặc biệt là cây trồng nông nghiệp và cây trồng lâm nghiệp trong giai đoạn còn được chăm sóc ở vườn ươm
- Các nhân tố cực đoan: Mùa mưa hay có mưa lớn và kéo dài gây lũ cục bộ Gần đây xuất hiện mưa axit Mùa đông thường xuất hiện sương muối Đây là yếu tố gây trở ngại không nhỏ đến đời sống, giao thông và sản xuất nông lâm nghiệp
Nhìn chung khí hậu Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa (ở dưới thấp) và khí hậu á nhiệt đới núi thấp (ở trên đỉnh cao), chế độ nhiệt, mưa, ẩm, gió, bốc hơi, phân mùa của khu vực là thuận lợi cho cây rừng sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên cũng gây không ít khó khăn đến việc tổ chức sản xuất, đi lại và sinh hoạt
3.1.5 Thuỷ văn
Khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng có 2 hệ thống suối chính:
- Hệ thống suối tụ nước đổ về sông Ba Chẽ ở phía Bắc KBT
- Hệ thống suối tụ nước đổ về sông Man ở phía Nam KBT
Hai hệ suối này đều bắt nguồn từ các dãy núi và đỉnh núi trong Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng nơi còn khá nhiều rừng tự nhiên, tuy có cạn về mùa khô nhưng các suối phần lớn có nước quanh năm, đáp ứng được yêu cầu đời sống và sản xuất trong khu vực Những năm gần đây do ảnh hưởng của nạn phá rừng tự nhiên,
mở đường và san lấp đồng ruộng của các xã quanh Khu BTTN dẫn đến nước trên hai hệ thống suối thường đục hơn, nhiều cát trôi, nhiều lũ cuốn làm hại hoa màu, đời sống và cảnh quan
Hồ Cao Vân có diện tích 146 ha, dung tích 5.000.000 m3 đón nước chủ yếu
từ các suối bắt nguồn phía Tây Nam núi Thiên Sơn để cung cấp nước sạch cho huyện Hoành Bồ và TP Hạ Long tuy nằm ngoài Khu BTTN nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn trong việc điều tiết khí hậu của khu BTTN
3.1.6 Vài nét về thực vật khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng khi thành lập
a) Diện tích rừng khi xây dựng KBT
Theo Quyết định phê duyệt dự án xây dựng Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng số: 1672/QĐ -UB ngày 22/5/2002 của UBND tỉnh Quảng Ninh diện tích
Trang 32Bảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất đai khi mới thành lập của
Khu BTTN Đồng Sơn -Kỳ Thượng
cộng
Phân theo xã Đồng
Sơn
Kỳ Thượn
g
Đồng Lâm
Vũ Oai
Hoà Bình
(Theo Quyết định phê duyệt dự án xây dựng Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng)
Như vậy, với diện tích rừng tự nhiên là 12.355,1 ha, chiếm tỷ lệ 69,44%
so với diện tích tự nhiên, điều đó càng khẳng định khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng thực sự là nơi còn diện tích rừng tự nhiên lớn nhất trong điều kiện địa hình đồi núi thấp, không những đối với tỉnh Quảng Ninh mà còn đối với cả vùng Đông Bắc Việt Nam
b) Thảm thực vật rừng khi xây dựng KBT
Qua kết quả điều tra khi thành lập khu bảo tồn cho thấy Khu BTTN có 2 kiểu thảm thực vật rừng chính đó là: Rừng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp với diện tích 1.137 ha, chiếm 6,39% tổng diện tích các kiểu thảm thực vật
Rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới với diện tích 14.263 ha, chiếm 80,17% tổng diện tích các kiểu thảm thực vật điều này được thể hiện qua bảng 3.2
Trang 33Bảng 3.2 Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng khi thành lập Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng
2.1 Kiểu phụ rừng thứ sinh sau khai thác 13.781,8 2.1.1 Ưu hợp Dẻ, Trám, Trâm, Chẹo, Lim xanh 7.329,54 2.1.2 Ưu hợp Thành ngạnh, Sau sau, Dẻ, Trâm, Kháo 2.492,44 2.1.3 Ưu hợp Thẩu tấu, Me rừng, Sim, Mua, Cỏ lào 1.396,12 2.1.4 Ưu hợp Cỏ Lào, Lau, Lách, Chè Vè 2.563,7 2.2 Kiểu phụ rừng trồng thứ sinh nhân tác 481,2
(nguồn:Dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng)
c)Thành phần thực vật khi xây dựng KBT
Kết quả điều tra ban đầu đã phát hiện trong khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng
có 485 loài thực vật bậc cao, có mạch thuộc 280 chi và 101 họ của các ngành thực vật như bảng sau:
Bảng 3.3 Thành phần thực vật rừng Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng khi thành lập