5. Phân tích nguyên tắc hạn chế quyền lực và ngăn chặn tình trạng phân quyền cát cứ thể hiện trong tổ chức bộ máy hành chính địa phương sau cải cách của Lê Thánh Tông. Những ưu điểm và hạn chế có thể rút ra cho công tác quản lí hành chính địa phương hiện nay. Xu hướng chung của các triều đại phong kiến Việt Nam là quân chủ trung ương tập quyền, thể hiện qua hình ảnh nước Việt Nam thống nhất không phân chia suốt gần chục thế kỷ độc lập. Để được như vậy, không phải chỉ nhờ nét văn hóa đặc thù nảy sinh trên điều kiện tự nhiên, kinh tế và lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam mà còn nhờ vào việc các triều đại phong kiến xưa đều có những nỗ lực lớn lao trong việc duy trì quyền lực tập trung. Trong các triều đại đó thì triều đại của Lê Thánh Tông là một trong những triều đại rực rỡ và thành công nhất về mọi phương diện, tất nhiên là cả về tổ chức hành chính địa phương để duy trì quyền lực tập trung. Triều Lê sơ vốn hình thành sau cuộc chiến tranh giành độc lập, thế nên tổ chức hành chính nhà nước nặng về quân sự để phục vụ cho công tác quốc phòng và trị an, đặc biệt là trong các triều đại đầu tiên. Vì vậy, công tác tổ chức bộ máy hành chính ở địa phương được xây dựng theo hướng tập quyền, thể hiện qua việc hầu hết quyền hành tập trung vào tay một cơ quan đứng đầu bởi một cá nhân (như ở đạo là Hành khiển, ở phủ là tri phủ,…). Nhưng điều này nếu kéo dài thường dễ dẫn đến lạm quyền và tạo điều kiện cho các thế lực địa phương phát triển dẫn đến nguy cơ nội chiến hoặc ít ra là phản loạn. Điều này vẫn thường thấy xảy ra với các địa phận của dân tộc ít người do họ có quyền tự trị tương đối lớn (như loạn Nùng Trí Cao thời nhà Lý). Vì vậy, sau khi lên nắm quyền, Lê Thánh Tông bắt đầu tiến hành cuộc cải cách quy mô lớn về tổ chức bộ máy nhà nước, cả trung ương lẫn địa phương, để tăng cường uy quyền của nhà vua và hạn chế quyền lực của địa phương cũng như ngăn chặn các thế lực cát cứ. Đầu tiên là việc chia, tách, đổi lại các đơn vị hành chính. Biện pháp này không những có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức lại công tác quản lí thành một hệ thống quy củ và thống nhất mà còn có tác dụng xóa bỏ, thay đổi địa giới và địa phận cũ của các thế lực quý tộc phong kiến. Kế đến ở mỗi cấp hành chính, Lê Thánh Tông thực hiện việc phân tán quyền lực ra cho các cơ quan và cá nhân khác nhau để tránh tập trung quyền lực quá lớn vào tay một người. Cụ thể như ở cấp đạo, Tam Ty được thành lập để thay nhiệm vụ của quan Hành Khiển (dân sự) và quan Tổng quản (quân sự). Theo đó Thừa ty quản lí hành chính, Đô ty quản lí quân sự và Hiến ty quản lí tư pháp. Các cơ quan đều có chức năng và quyền lực riêng, từ đó giám sát và chế ức quyền lực của nhau, tránh sự lạm quyền. Đây là một bước tiến đáng kể mà so sánh với điều kiện hiện tại, chúng ta có thể thấy rằng bộ máy hành chính địa phương nước CHXHCN Việt Nam đã thừa kế những thành tựu đó khá tốt với cơ quan lập pháp là Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan hành chính là Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan tư pháp là Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Một biện pháp nữa được Lê Thánh Tông thực thi để tăng cường giám sát với cấp đạo là việc đặt ra các cơ quan giám sát của trung ương, cụ thể là các Ty ngự sử trực thuộc Ngự sử đài, có trách nhiệm đàn hặc và giám sát hoạt động của quan lại cũng như cơ quan nhà nước ở cấp đạo. Đây là một biện pháp tăng cường mạnh mẽ sự kiểm soát của trung ương với địa phương mà so sánh thực tế thì hiện nay chúng ta chưa có cơ quan nào thực sự có quyền hành như thế dù rằng Thanh tra nhà nước vẫn có nhiệm vụ và quyền hạn giám sát, thanh tra. Một ưu điểm nữa của Lê Thánh Tông là quy định quan lại chỉ được tại chức đến năm 65 tuổi, bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các công thần. Theo tôi điều này cũng góp phần hạn chế quyền hành của các đại thần, tránh tình trạng cả nhà làm quan. Chế độ Lưu quan, tức là luân chuyển quan lại quanh các địa hạt, tránh trình trạng cát cứ.
Trang 1Câu hỏi lịch sử môn Hành chính Nhà nước Việt Nam
1 Nhu cầu trị thủy, làm thủy lợi và chống ngoại xâm là hai trong những nhân
tố làm thúc đấy sự ra đời của nhà nước đầu tiên
Nhận định: đúng
Giải thích:
Nước ta là nước nông nghiệp gốc, vị trí hết sức nhạy cảm, phía Bắc là Trung Quốc, phía Nam là Chiêm Thành
Những nền văn minh phương Đông như chúng ta biết, hình thành từ lưu vực những con sông lớn, và là nền văn minh nông nghiệp Trong nền kinh tế nông nghiệp, thì yêu cầu trị thủy là một yêu cầu tối quan trọng Thêm nữa, do phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên các tộc người luôn có xu hướng tranh giành những vùng đất tốt, chiến tranh là điều thường xuyên và ko thể tránh khỏi đối với các nước phương Đông Nhu cầu trị thủy và chống ngoại xâm đặt ra là vấn đề sống còn với sự tồn tại của các tập đoàn người ở phương Đông
Công cuộc trị thủy và chống ngoại xâm đòi hỏi phải có sức mạnh đoàn kết vô cùng lớn Do vậy các tập đoàn người phải tập hợp lại với nhau mới có thể thực hiện được những công việc này Khi tập hợp lại như vậy, vai trò của nguời thủ lĩnh, người đứng đầu là rất quan trọng Người thủ lĩnh, người đứng đầu trở thành người
có quyền lực tối cao, có thể áp đặt ý chí của mình lên mọi người Cộng thêm với sức mạnh tư tưởng từ tôn giáo, vị trí của "vua" ngày càng được nâng cao Như vậy,
sự xuất hiện của "vua" chính là sự xuất hiện của NN, vì sau khi nắm quyền lãnh đạo, "vua" sẽ toàn quyền tự mình đặt ra bộ máy giúp việc, bộ máy cai trị, từ đó hình thành nên bộ máy NN
Trang 22 Công hữu về ruộng đất trong công xã nông thôn là nguyên nhân làm chậm
sự xuất hiện của nhà nước
Nhận định: đúng
Giải thích: công hữu về ruộng đất, là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, làm cho tư
hữu về tư liệu sản xuất ít chặt chẽ, mẫu thuẫn ít xảy ra, do đó có xung đột nhưng không gay gắt, không triệt để nên làm cho tư hữu và sự hình thành giai cấp đối kháng chậm phát triển, đó là hai nhân tố quan trọng để làm xuất hiện nhà nước
3 Nhu cầu trị thủy, làm thủy lợi và chống chiến tranh không phải là nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự ra đời của nhà nước.
Nhận định: đúng
Giải thích: Bản thân hai tác nhân trên không sản sinh ra nhà nước mà nguyên nhân
cơ bản dẫn đến sự ra đời của nhà nước vẫn thuộc về những nhân tố nội tại là sự phát triển kinh tế là xuất hiện chế độ tư hữu và sự hình thành các giai cấp đối kháng về mặt lợi ích
Câu 4: Nêu và phân tích vai trò của các yếu tố dẫn đến sự hình thành NN đầu tiên trong lịch sử VN?
Câu 5:Bạn hãy cho biết quá trình hình thành nhà nước đầu tiên ở Việt Nam
có gì khác biệt so với quá trình hình thành nhà nước đầu tiên ở phương Tây
và các quốc gia phương Đông khác?
Trang 3Câu 6: Phân tích những điểm đặc thù trong quá trình hình thành nhà nước của người Việt cổ?
B Thời kỳ Bắc thuộc và nhà nước Ngô – Đinh – Tiền Lê :
Câu 1 Chính sách cai trị trong thời kỳ Bắc thuộc mang tính thâm hiểm
Nhận định: đúng
Tăng cường chính sách cưỡng chế, đàn áp, bót lột và đồng hóa, ngu dân
Áp dụng chính sách quan lại thâm hiểm: dùng người Việt trị người Việt
Câu 2 Chính quyền Ngô – Đinh – Tiền Lê mang tính chất quân quản
Nhận định: đúng
Giải thích:
Nhu cầu thiết yếu bảo vệ chính quyền và thống nhất các thế lực
Tổ chức bộ máy nhà nước thực chất là tổ chức quân sự
Trang 4Hình thức nhà nước theo chính thể quân chủ tập quyền
Pháp luật mang tính thiết quân luật: đầy những cấm đoán và bắt buộc, pháp luật mang tính tàn khốc
Câu 3:Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (938 - 1009) tổ chức và hoạt động của nhà nước mang tính chất quân sự.
- Do hoàn cảnh lịch sử đất nước lúc bấy giờ : trong nước thì loạn lạc tình trạng các
cứ diễn ra khắp nơi, bên ngoài giặc ngoại xâm đang dòm ngó nhà Hán và Chiêm Thành
-Nhà nước thành lập trong điều kiện như vậy nên bắt buộc phải xây dựng một nhà nước mang nặng tính quân sự nhằm bảo vệ nhà nước non trẻ vừa thành lập
-Nhà nước được thành lập bằng con đường bạo lực
C Phần nhà Lý Trần Hồ :
Định nghĩa tập quyền:
Tập quyền là quyền lực tập trung vào Hoàng Đế Hoàng Đế giữ các quyền về lập pháp, hành pháp và tư pháp
Trang 5Tư pháp: quyền được xét xử, một khi Hoàng Đế xét xử thì bản án sẽ có giá trị chung thẩm
Hành pháp: Hoàng Đế không tự mình thực hiện quyền hành pháp mà thông qua việc thành lập các cơ quan giúp việc và bổ nhiện các quan lại Trực tiếp quản lý các chính sách về ruộng đất và tô thuế Là tổng tư lệnh tối cao của quân đội
Lập pháp: Hoàng Đế đứng trên pháp luật, ban hành tuyệt đối các văn bản pháp luật
1 Thể chế quân chủ nhà Trần mang tính tập quyền cao hơn nhà Lý
Nhận định: đúng
Giải thích
Hoàn cảnh ra đời của Nhà Trần khác hẳn nhà Lý Nhà Lý được sự ủng hộ của dân chúng còn Nhà Trần thực chất là sự chiếm đoạt bằng những cuộc hôn nhân chính trị
Có thêm chức danh mới là Thái Thượng Hoàng, người có quyền lực cao hơn nhà vua.Tính chất quý tộc thân vương được tăng cường Quan đại thần phải là người trong Hoàng tộc, còn nhà Lý thì các quan đại thần không nhất thiết phải có dòng máu Hoàng tộc
Trang 6Chính sách kết hôn nội tộc nhằm bảo đảm tính thuần nhất của dòng họ Rất ưu đãi cho các vương hầu quý tộc: phong cấp đất đai và nắm giữ những chức quyền quan trong triều đình hay các vị trí trọng yếu của quốc gia
Dùng chính sách hôn nhân để ràng buộc, lôi kéo các thổ quan vùng núi đứng về phía triều đình Pháp luật của nhà Trần thì tàn khốc hơn nhà Lý nhằm bảo vệ vương quyền một cách tuyệt đối Không có quan Tể tướng
2 Tổ chức chính quyền địa phương thời nhà Trần mang tính vùng miền
Nhận định: đúng
Giải thích:
Về tổ chức hành chính thì có sự phân biệt rõ ràng giữa miền xuôi và miền núi Dười cấp Lộ ở miền xuôi là Phủ, miền núi là Châu Bởi miền núi là những vùng biên giới nhạy cảm của Tổ quốc
Có sự linh hoạt trong chính sách quan lại ở địa phương: chính sách thổ quan ở miền núi để khai thác tính cục bộ vở miền núi và chính sách lưu quan ở miền xuôi
để hạn chế tính cục bộ ở miền xuôi
3.Bạn cho biết pháp luật thời Lý_Trần có những đặc điểm gì?
4.So sánh tổ chức BMNN ở TW thời Lý (1010-1225) với nhà Trần (1226-1400) Qua đó lý giải tại sao thời Trần tồn tại chế độ chính trị "Lưỡng đầu" (Vua và Thái Thượng Hoàng)?
D Thời kỳ nhà Lê :
Trang 7I Về nhà nước
1 Nho giáo ảnh hưởng như thế nào qua các triều đại:
Nhà Lý
Phật giáo là quốc giáo, ảnh hưởng rất sâu sắc đến bộ mặt đời sống xã hội Nho giáo chính ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy nhà nước
Nhà Trần
Nho giáo lấn áp Phật giáo và trở thành hệ tư tưởng chính trị quan trọng trong việc
tổ chức chính quyền
Nhà Lê:
Nho giáo có mặt trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội
Nho giáo là hệ thống chính trị chính thống
Cơ sở lý luận để xây dựng bộ máy nhà nước
Trang 8Chuyển hóa thành nội dung pháp luật: nho giáo trực tiếp hoặc gián tiếp đi vào pháp luật bằng những nội dung cụ thể
Nho giáo trở thành chủ để để thi cử
Điều chỉnh các quan hệ xã hội
2 Cuộc cải cách chính quyền của Lê Thánh Tông chủ yếu tập trung tăng cường quyền lực của nhà vua và khiến cho bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn.
Nhận định: đúng
Giải thích:
Chính quyền trung ương là cơ quan đầu não của đất nước, có xây dựng một chính quyền trung ương vững mạnh, thể hiện quyền lực nằm trong tay nhà vua và triều đình trung ương mới có thể thực hiện được các công việc của triều đình, của đất nước, tạo cơ sở để triển khai các công việc xuống các địa phương
3 Nguyên nhân và nguyên tắc cải cách chính quyền trung ương và địa
phương?
Nguyên nhân:
Bất ổn đã được loại bỏ, xây dựng chính quyền từ quân sự sang dân sự nhằm gắn liền lợi ích của nhà nước với lợi ích của nhân dân
Trang 9Khát vọng xây dựng nhà nước Đại Việt hùng cường
Lãnh thổ đã được mở rộng
Bộ máy nhà nước nặng tính quý tộc không còn phù hợp
Nguyên tắc cải cách
- Nguyên tắc tập quyền
- Nguyền tắc tản quyền
- Nguyên tắc pháp chế
4 Sự khác nhau của tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông
so với các triều đại trước đó.
Giai đoạn vua Lê Thánh Tông: 1460 – 1497 Trước khi lên ngôi, vua Lê Thánh Tông đã trải qua giai đoạn sống gần gũi với cuộc sống đời thường của dân chúng, ông đã hiểu được những điểm tốt, xấu cùng tồn tại trong xã hội Khi lên ngôi, Lê Thánh Tông thấy được những bất cập của bộ máy cầm quyền, những năm đầu thời
Lê sơ còn mang nặng “hơi hướng” của thể chế quân chủ quý tộc nhà Trần, việc trọng đãi các quý tộc hoàng tộc và các bậc “khai quốc công thần” Thêm nữa, cương vực nước Đại Việt đã mở rộng, yêu cầu xây dựng một nước Đại Việt hùng
Trang 10cường; những bài học của các triều đại trước về tổ chức chính quyền địa phương sao cho phát huy hiệu quả nhất Đo đó Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương, bên cạnh giữ lại những mặt tích cực của các triều đại trước đồng thời loại bỏ các điểm không tốt, chính từ những lý do đó mà tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông có những điểm giống và khác các triều đại trước
Giai đoạn vua Lê Thánh Tông có hai giai đoạn, thời kỳ 1460 – 1470 và thời kỳ
1471 đến 1497
Về tổ chức các cấp chính quyền địa phương:
Chia nước thành 12 thừa tuyên đạo, đến năm 1471 thì thêm đạo thừa tuyên thứ 13
Cả nước chia thành 3 cấp: cấp phủ, cấp huyện – châu, cấp xã
So với tổ chức các cấp của các triều đại khác thì như sau:
Thời các vua Lê trước Lê Thánh Tông: Chính quyền địa phương gồm các cấp: Đạo, lộ (trấn, phủ), châu, huyện và xã
Thời Hồ: cấp lộ, cấp phủ, cấp châu, cấp huyện và cấp xã
Thời Trần: cấp lộ, cấp phủ - châu, cấp xã
Thời Lý: cấp lộ - trại, cấp phủ châu, cấp hương – xã – sách
Trang 11Thời tiền Lê: cấp đạo, cấp hành chính cơ sở giáp, cấp xã.
Sự phân chia các cấp trong chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông so với các triều vua Lê trước và triều đại Lý - Trần (ngoại trừ nhà Hồ) vẫn giữ tính vùng miền Sự phân cấp này nhằm bảo đảm dễ quản lý và ngăn ngừa sự cát cứ Sự phân chia chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông nhằm thu hẹp quyền hành của chính quyền địa phương và tăng sự lệ thuộc vào chính quyền trung ương
Có sự phân công rõ rệt về chức năng nhiệm vụ trong từng cấp
Đối với cơ quan ở cấp đạo thì Ty Tuyên chính sứ (đứng đầu là Tuyên chính sứ) được lập ra ở cấp đạo từ năm 1464 thay thế cho quan Hành khiển Đứng đầu mỗi thừa tuyên đạo lúc đó gồm có hai cơ quan là Đô tổng binh sứ tuy phụ trách việc cai quản quân đội và Thừa chính sứ ty phụ trách việc hành chính và tu pháp Sự kiện này đánh dấu chuyển hình thức cai quản địa phương bởi một cá nhân, hơn nữa chỉ thiên về quản lãnh quân sự sang hình thức cai quản bằng một cơ quan có một quan chức đứng đầu và có sự phân công chức trách giữa các bộ phận trong ty Sự phân chia này nhằm xóa bỏ tình trạng lộng quyền dẫn đến xu hướng cát cứ ly tâm của quan lại địa phương đồng thời tạo ra sự thống nhất chỉ đạo từ trên xuoongsm gắn địa phương với trung ương để thống nhất các mặt hoạt động của đất nước Từ năm
1467, Lê Thánh Tông không chỉ trao quyền cho một cơ quan phụ trách mà quyền hành được chia đều cho 3 cơ quan:
Thừa ty phụ trách các công việc thuộc lĩnh vực hành chính, tài chính, dân sự
Đô ty phụ trách quân sự
Hiến ty có chức năng giám sát mọi công việc trong đạo để tâu lên vua
Trang 12Thực hiện giám sát nhau
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông cho đặt chứ Hiến sát sứ ở các đạo, sau đó lại đặt chức giám sát ngự sử ở 13 đạo để làm nhiệm vụ theo dõi, giúp đỡ các hiến ty, giám sát đàn hoặc các hành vi sai trái của quan lại các thừa tuyên, phủ, huyện
Ở cấp phủ: cũng giống như cấp phủ thời các vua Lê trước, chức năng là truyền luyện từ trên xuống cho các huyện – châu, đốc thúc và kiểm tra việc thi hành, thu nộp các loại thuế, các lao dịch, binh dịch
Ở cấp huyện – châu
Giống các triều vua Lê trước là ở miền núi gọi là châu, đông bằng gọi là huyện Ở cấp này đặc biệt có một điểm giống các triều trước là có tính vùng miền Đối với miền núi thì sử dụng các tộc trưởng, tù trưởng để giữ những chức vụ quan trọng nhằm tránh trình trạng chống đối triều đình hay có âm mưu phản loạn
Một điểm rất khác so với các triều đại khác là tổ chức cấp xã cấp xã.
Chia tách xã theo những qui định có tính qui cũ, xã có 3 loại: xã nhỏ, xã vừa và xã lớn tùy vào số hộ trong xã Qui định rõ chức vụ của những người đứng đầu xã tránh trình trạng lợi dụng quan hệ họ hàng thông gia để kéo bè kéo cánh Việc bầu
xã trưởng theo qui tắc dân chủ bầu trực tiếp Vua Lê Thánh Tông đã can thiệp trực tiếp sâu rộng vào trong chính quyền cấp xã, đây là điểm rất khác so với các triều đại trước, nhằm hạn chế nạn cường hào cũng như tình trạng cát cứ ở địa phương
Trang 13Về việc bổ nhiệm quan lại
Cũng như các triều đại khác thì quan lại bằng chế độ tập ấm, theo đó con cháu của hoàn thân quốc thích quan lại cao cấp được phong tước vị phẩm hàm thậm chí đươc trao một số cong việc triều chính tuy nhiên thời vua Lê Thánh Tông, những quan lại được tuyển chọn bằng hình thức này được quy định rất chặt chẽ bằng cách quy định rõ trong một số điều ở chương vi chế Bộ luật Hồng Đức nhằm loại trừ những tiêu cực đối với hình thức tuyển dụng này Một điểm khác với các triều đại khác là quan lại có thể được bổ nhiệm bằng con đường đề cử và việc này cũng được quy định một cách chặt chẽ So với các triều đại khác thì quan lại có thể được
bổ nhiệm bằng con đường thi cử tuy nhiên thời vua Lê Thánh Tông, việc này được rất chú trọng, bởi vì những hạnh hưởng sâu rộng của tư tưởng Nho giáo Một điểm khác so với các triều đại khác là các quan lại phải trai qua giai đoạn thử việc và sát hạch để kiểm tra năng lực Áp dụng chính sách luân chuyển công tác và chế độ hồi
ty để làm trong sạch đội ngũ quan lại chống trình trạng tham nhũng Qua đó cho thấy các cách thức đào tạo, tuyển dụng và sát hạch quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông tạo ra một đội ngũ quan lại trên nền tảng lập trường của kẻ sĩ theo Nho học
Như vậy với tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông, cả nước chia thành 13 thừa tuyên đạo, có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36
phường Nhà nước trực tiếp quản lý các địa phương thông qua hệ thống quan lại
Tóm lại, tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông là mô hình tiên tiến nhất của chế độ quan chủ phong kiến đương thời, thể hiện khá hoàn chỉnh tư tưởng chỉ đạo của Lê Thánh Tông: lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng kiềm chế nhau, địa phương gắn với trung ương Tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông có trình độ chuyên môn hóa cao hơn hẳn so với các triều đại khác và các nước khác ở vùng Đông Nam Á
5 Phân tích nguyên tắc hạn chế quyền lực và ngăn chặn tình trạng phân quyền cát cứ thể hiện trong tổ chức bộ máy hành chính địa phương sau cải cách của Lê Thánh Tông Những ưu điểm và hạn chế có thể rút ra cho công tác quản lí hành chính địa phương hiện nay.
Trang 14Xu hướng chung của các triều đại phong kiến Việt Nam là quân chủ trung ương tập quyền, thể hiện qua hình ảnh nước Việt Nam thống nhất không phân chia suốt gần chục thế kỷ độc lập Để được như vậy, không phải chỉ nhờ nét văn hóa đặc thù nảy sinh trên điều kiện tự nhiên, kinh tế và lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam mà còn nhờ vào việc các triều đại phong kiến xưa đều có những nỗ lực lớn lao trong việc duy trì quyền lực tập trung Trong các triều đại đó thì triều đại của Lê Thánh Tông là một trong những triều đại rực rỡ và thành công nhất về mọi phương diện, tất nhiên là cả về tổ chức hành chính địa phương để duy trì quyền lực tập trung
Triều Lê sơ vốn hình thành sau cuộc chiến tranh giành độc lập, thế nên tổ chức hành chính nhà nước nặng về quân sự để phục vụ cho công tác quốc phòng và trị
an, đặc biệt là trong các triều đại đầu tiên Vì vậy, công tác tổ chức bộ máy hành chính ở địa phương được xây dựng theo hướng tập quyền, thể hiện qua việc hầu hết quyền hành tập trung vào tay một cơ quan đứng đầu bởi một cá nhân (như ở đạo là Hành khiển, ở phủ là tri phủ,…) Nhưng điều này nếu kéo dài thường dễ dẫn đến lạm quyền và tạo điều kiện cho các thế lực địa phương phát triển dẫn đến nguy
cơ nội chiến hoặc ít ra là phản loạn Điều này vẫn thường thấy xảy ra với các địa phận của dân tộc ít người do họ có quyền tự trị tương đối lớn (như loạn Nùng Trí Cao thời nhà Lý) Vì vậy, sau khi lên nắm quyền, Lê Thánh Tông bắt đầu tiến hành cuộc cải cách quy mô lớn về tổ chức bộ máy nhà nước, cả trung ương lẫn địa phương, để tăng cường uy quyền của nhà vua và hạn chế quyền lực của địa phương cũng như ngăn chặn các thế lực cát cứ
Đầu tiên là việc chia, tách, đổi lại các đơn vị hành chính Biện pháp này không những có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức lại công tác quản lí thành một hệ thống quy củ và thống nhất mà còn có tác dụng xóa bỏ, thay đổi địa giới và địa phận cũ của các thế lực quý tộc phong kiến Kế đến ở mỗi cấp hành chính, Lê Thánh Tông thực hiện việc phân tán quyền lực ra cho các cơ quan và cá nhân khác nhau để tránh tập trung quyền lực quá lớn vào tay một người Cụ thể như ở cấp đạo, Tam
Ty được thành lập để thay nhiệm vụ của quan Hành Khiển (dân sự) và quan Tổng quản (quân sự) Theo đó Thừa ty quản lí hành chính, Đô ty quản lí quân sự và Hiến
ty quản lí tư pháp Các cơ quan đều có chức năng và quyền lực riêng, từ đó giám sát và chế ức quyền lực của nhau, tránh sự lạm quyền Đây là một bước tiến đáng
kể mà so sánh với điều kiện hiện tại, chúng ta có thể thấy rằng bộ máy hành chính địa phương nước CHXHCN Việt Nam đã thừa kế những thành tựu đó khá tốt với
cơ quan lập pháp là Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan hành chính là Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan tư pháp là Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp