[5] Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu của tác giả Lại Huy Hoài năm 2001 về “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm đa dạng loài, công dụng, dạng sống của cây thuốc tại khu vực Năm Mẫu – Uô
Trang 1-
NHỮ THỊ TÂM
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CÂY GỖ
TẠI RỪNG ĐẶC DỤNG YÊN TỬ - QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã ngành: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ VIẾT LÂM
Hà Nội, 2011
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Song song với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu thì tình trạng suy thoái tài nguyên rừng cũng diễn ra ngày càng nghiêm trọng Vì vậy, việc điều tra, đánh giá tính đa dạng thực vật nói chung và đa dạng cây gỗ nói riêng để xây dựng các biện pháp quản lý và bảo tồn chúng là rất cần thiết Được sự đồng ý của Khoa Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt là Tiến sĩ Lê Viết Lâm – Bộ Khoa học và Công nghệ, tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ tại rừng đặc dụng Yên Tử - Quảng Ninh” làm luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sỹ tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến
sỹ Lê Viết Lâm – người đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Tiến sỹ Hoàng Văn Sâm – Trung tâm
Đa dạng sinh học, trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian qua
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy Phùng Văn Phê –
Bộ môn Thực vật rừng, trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam; các lãnh đạo Ban quản lý rừng đặc dụng Yên Tử; các cán bộ kiểm lâm tại Yên Tử; cùng các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành chương trình đào tạo này
Mặc dù đã rất nỗ lực hoàn thành luận văn tốt nghiệp nhưng vì trình độ chuyên môn và thời gian có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Đề tài rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nôi, ngày 20 tháng 09 năm 2011 Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời nói đầu i
Mục lục ii
Danh mục các bảng v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Quan điểm về đa dạng sinh học 3
1.2 Tổng quan về nghiên cứu đa dạng thực vật 4
1.2.1 Trên thế giới 4
1.2.2 Ở Việt Nam 7
1.2.3 Ở Yên Tử 10
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Mục tiêu 13
2.2 Đối tượng nghiên cứu 13
2.3 Nội dung nghiên cứu 13
2.4 Phương pháp nghiên cứu 13
2.4.1 Nghiên cứu thực địa 13
2.4.1 Xử lý trong phòng thí nghiệm ………16
2.4.3 Xây dựng danh lục và đánh giá đa dạng hệ thực vật 16
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
3.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.1 Vị trí địa lý 21
3.1.2 Địa hình 21
3.1.3 Đất 22
Trang 43.1.4 Khí hậu thủy văn 22
3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 23
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 25
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Đa dạng về thành phần loài cây gỗ có trong khu vực nghiên cứu 26
4.1.1 Đa dạng về taxon ngành thực vật 26
4.1.2 Đa dạng về taxon dưới ngành 28
4.2 Đa dạng về dạng sống của cây gỗ tại rừng đặc dụng Yên Tử 31
4.3 Đa dạng về giá trị sử dụng tài nguyên cây gỗ ở Rừng đặc dụng Yên Tử 33
4.4 Đa dạng các loài cây gỗ có giá trị bảo tồn cao 36
4.4.1 Chò đãi 38
4.4.2 Gụ lau 40
4.4.3 Hồng tùng 41
4.4.4 Kim giao 43
4.4.5 Lim xanh 44
4.4.6 Sến mật 46
4.4.7 Thiên tuế 47
4.4.8 Thông tre lá ngắn 48
4.4.9 Tô hạp Trung hoa 49
4.4.10 Tô mộc 50
4.4.11 Trầm hương 51
4.4.12 Vù hương 53
4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật tại rừng đặc dụng Yên Tử có hiệu quả 54
4.5.1 Giải pháp kỹ thuật 54
4.5.2 Giải pháp về kinh tế - xã hội 55
4.5.3 Giải pháp về cơ chế, chính sách và thu hút nguồn vốn đầu tư 57
Trang 54.5.4 Tăng cường công tác thực thi pháp luật 58
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Tồn tại 61
3 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 62.2 Giá trị sử dụng các loài trong hệ thực vật 19
4.1 Phân bố của các taxon trong khu hệ cây gỗ tại Yên Tử 26 4.2 Phân bố của các taxon trong ngành Hạt kín (Angiospermae) 27
4.5 Cấu trúc tổ thành về dạng sống của các loài cây gỗ Yên Tử 31 4.6 Tổng hợp các nhóm công dụng của cây gỗ ở Yên Tử 33 4.7 Danh sách thực vật quý hiếm ở Rừng đặc dụng Yên Tử 37
Trang 7Đứng trước những hiểm họa do việc suy giảm đa dạng sinh học gây ra, những năm gần đây, nước ta cũng đã thay đổi và bổ sung nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học, tham gia vào các tổ chức thế giới
về bảo tồn đa dạng sinh học
Nghiên cứu về hệ thực vật rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu cho công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học Việc nghiên cứu về hệ thực vật giúp người ta hiểu rõ được thành phần và tính chất của hệ thực vật ở từng nơi, từng vùng nhằm xây dựng mô hình về khai thác, sử dụng, phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật một cách bền vững, không gây ảnh hưởng đến môi trường sống, phục hồi các hệ sinh thái
đã bị suy thoái, mang lại lợi ích lâu dài cho con người Ngày nay, mặc dù với sự phát triển vượt bậc của các ngành công nghiệp chế biến khác, phục vụ đời sống con người, nhưng nhu cầu về sử dụng các sản phẩm của cây gỗ vẫn ngày càng gia tăng Do đó việc tìm hiểu đa dạng về nhóm cây này vẫn phải được đề ra, một mặt phục vụ cho đời sống ngày càng cao của nhân dân, mặt
Trang 8khác phải bảo vệ, tôn tạo được nguồn tài nguyên cây gỗ đảm bảo cân bằng sinh thái, cải tạo nuôi trồng, giữ cho rừng luôn bền vững, cho năng suất cao Khu rừng đặc dụng Yên Tử là một trong những trung tâm đa dạng sinh học không chỉ của vùng Đông Bắc mà còn cho cả Việt Nam Bên cạnh đó tài nguyên rừng nơi đây còn mang giá trị to lớn trong việc nâng cao giá trị của khu Di tích Yên Tử Chính vì vậy việc nghiên cứu bảo tồn hệ thực vật nói chung và thực vật thân gỗ nói riêng là hết sức quan trọng
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng cây
gỗ tại rừng đặc dụng Yên Tử, Quảng Ninh”
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm về đa dạng sinh học
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và bảo vệ đa dạng sinh học cũng như nhận thức được tính đa dạng sinh học trở lên hết sức quan trọng trên toàn thế giới Từ xa xưa, con người đã biết khai thác tài nguyên sinh vật để phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kinh tế và nhu cầu mà con người ngày càng ham hiểu biết về thế giới tự nhiên Tuy nhiên, càng hiểu biết về thế giới
tự nhiên con người lại càng khai thác tận diệt tài nguyên, vì thế, nguồn đa dạng sinh học ngày càng suy giảm
Theo IUCN (1994) đã đưa ra định nghĩa ĐDSH như sau: “Đa dạng sinh học là thuật ngữ chỉ sự phong phú của sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và các hệ sinh thái
mà chúng là thành viên Từ đó, đa dạng sinh học được định nghĩa là sự đa dạng của các sinh vật từ tất cả các nguồn, trong đó bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, dưới biển, các thuỷ vực khác và các phức hệ sinh thái mà chúng cấu thành Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng của loài, giữa các loài và các hệ sinh thái ”
Theo định nghĩa của Quĩ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên WWF (1989)
đề xuất như sau: “Đa dạng sinh học là sự phồn vinh của sự sống trên trái đất,
là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”
Trong chương trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam có nêu ra
một khái niệm về đa dạng sinh học: “Đa dạng sinh học là tập hợp tất cả các
nguồn sinh vật sống trên hành tinh, gồm tổng số loài động vật và thực vật,
Trang 10tính đa dạng và sự phong phú trong từng loài, tính đa dạng hệ sinh thái của cộng đồng sinh thái khác nhau, hoặc tập hợp các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau” Định nghĩa này đã đề cập
đến ba vấn đề về đa dạng sinh học là đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái Tuy nhiên, định nghĩa trên còn dài dòng, không rõ ràng và dễ nhầm lẫn giữa tính phong phú và tính đa dạng; còn một điểm không rõ nữa là định nghĩa trên chỉ nói đến hai nhân tố là động vật và thực vật trong giới sinh vật
mà bỏ quên quần xã sinh vật và các loài sinh vật khác như nấm và vi sinh vật
Định nghĩa về đa dạng sinh học được sử dụng thông thường nhất, ngắn gọn và đầy đủ nhất là định nghĩa về đa dạng sinh học trong công ước về bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio
de Janeiro (1992): “Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất
cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái nước khác, sự đa dạng thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái” [27] Định nghĩa này tương đối đầy đủ và rõ ràng
1.2 Tổng quan về nghiên cứu đa dạng thực vật
1.2.1 Trên thế giới
Việc nghiên cứu hệ thực vật trên thế giới có từ lâu Người ta đã tìm thấy các tài liệu mô tả về thực vật xuất hiện ở Ai Cập khoảng 3000 năm trước Công nguyên và ở Trung Quốc khoảng 2000 năm trước Công nguyên Song những công trình có giá trị xuất hiện vào thế kỷ 19 – 20 như: Thực vật chí Honkong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc
và trung tâm Ấn Độ (1874) Theo hướng nghiên cứu thống kê và mô tả thực vật phải kể đến các công trình như: Thực vật chí Đông Dương của Lecomte
và cộng sự (1907 -1952), Thực vật chí Malaisia (1948 – 1972), Thực vật chí Vân Nam (1979 - 1997)
Trang 11Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là giai đoạn mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachev A I [35] cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá về mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể Tolmachop A.I đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể
ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 – 2000 loài
Brummitt (1992), chuyên gia của phòng bảo tàng thực vật Hoàng gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là Khuyết lá thông (Psilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae) Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 chi, 454 họ và được chia ra 2 lớp là: lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2.762 chi, 97 họ
Nghiên cứu về phân loại dạng sống ở trên thế giới cũng có nhiều kiểu khác nhau Điển hình là cách phân loại, lập phổ dạng sống của Raunkiaer (1934) Theo ông, dấu hiệu để phân loại được chọn là vị trí của chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm
Hệ thống phân loại đó có thể được trình bày tóm tắt như sau:
A Cây có chồi trên đất Ph (Phanérophytes)
B Cây có chồi sát đất Ch (Chaméphytes)
C Cây có chồi nửa ẩn H (Hémicryptophytes)
D Cây chồi ẩn Cr (Cryptophytes)
E Cây một năm Th (Thérophytes)
Trong đó cây có chồi trên đất Ph (Phanérophytes) được chia thành các dạng nhỏ
Trang 12a- Cây gỗ lớn chồi trên đất Meg (Mégaphanérophytes)
b- Cây gỗ vừa có chồi trên đất Mes (Mésophanérophytes)
c- Cây nhỏ có chồi trên đất Mi (Microphanérophytes)
d- Cây thấp có chồi trên đất Na (Nanophanérophytes)
Raunkiaer còn gộp những cây gỗ thuộc 2 dạng Mégaphanérophytes và Mésophanérophytes thành nhóm cây gỗ lớn và vừa có chồi trên đất (MM)
e- Cây có chồi trên đất leo cuốn Lp (Lianes phanérophytes)
f- Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám Ep (Epiphytes phanérophytes)
g- Cây có chồi trên đất thân thảo Hp (Phanérophytes herbacés) h- Cây có chồi trên đất thân mọng nước Sp (Phanérophytes succlents)
Raunkiaer đã tính toán cho hơn 1000 loài cây ở các vùng khác nhau trên trái đất và lập được phổ dạng sống tiêu chuẩn (SN) như sau:
1 Miền nhiệt đới Guana
SB = 88 Ph + 12 Ch
Trang 132 Miền nhiệt đới ẩm
“Bản thảo cương mục” đã đề cập đến hơn 1000 vị thuốc thảo mộc… Song việc điều tra nghiên cứu thực vật có tính quy mô lớn ở nước ta mới chỉ bắt đầu vài thời Pháp thuộc trước hết phải kể đến các công trình: “Thực vật chí Nam bộ” của Leureiro; Thực vật chí rừng Nam Bộ của các tác giả Pierre L Một trong công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp Lecomte et al., kết quả của nghiên cứu này là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, trong kết quả nghiên cứu này theo Lecomte thì vùng Đông Dương có hơn 7000 loài Đây là
bộ sách có ý nghĩa lớn với các nhà thực vật học; hiện nay bộ sách này vẫn còn
có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng Tiếp theo đó là bổ sung của Humbert H
Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật có 7004
Trang 14loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 289 họ Ngành Hạt kín có
6366 loài (chiếm 90,89%), 1727 chi (chiếm 93,35%) và 239 họ (chiếm 82,70%) Ngành Hạt trần có 39 loài (chiếm 0,56%), 18 chi (chiếm 0,97%), 8
họ (chiếm 2,77%) và còn lại là nhóm Quyết thực vật
Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam (1971 – 1988) đã công bố 7
tập “ Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh
hoạ Đến năm 1996, công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng
chủ biên Võ Văn Chi (1997) đã công bố “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (Ngô
Tiến Dũng, 2006)
Đáng chú ý nhất là bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada, bao gồm 3 tập (6 quyển), đã thống kê mô tả được
10419 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam Trong 2 năm 1999 đến
2000, ông đã chỉnh lý, bổ sung và tái bản tại Việt Nam Bộ sách gồm 3 quyển,
đã thống kê mô tả 11611 loài thuộc 3179 chi, 295 họ và 6 ngành Theo hướng nghiên cứu đa dạng phân loại ở các vùng của Việt Nam có công trình của Phan Kế Lộc (1973) “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam” Tác giả đã thống kê được 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ
Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Bình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể các tác giả đã xuất bản tập “Danh lục thực vật Tây Nguyên” công bố 3754 loài thực vật bậc cao có mạch bằng một nửa số loài của hệ thực vật Việt Nam Công trình này khảo sát bao quát cả một hệ thực vật rừng phong phú vào bậc nhất nước ta nên rất có ý nghĩa [6] Trong công trình “Thực vật ở đảo Phú Quốc” (1985), tác giả Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được 929 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 112 loài cây trồng, 817 loài cây có phân bố tự nhiên
và ghi nhận thêm 19 loài mới cho Việt Nam, không kể Nấm
Năm 1999, trong cuốn “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”, Lê Trần Chấn đã thống kê được ở Việt Nam có 10.192 loài, 2298 chi
Trang 15và 285 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó, ngành Khuyết
lá thông (Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Thông đá (Lycopodiophyta) có 54 loài, 4 chi, 2 họ; ngành Thuỷ phỉ (Isoetophyta) có 1loài, 1 chi, 1họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 632 loài, 138 chi, 28 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 52 loài, 22 chi, 8 họ; ngành Hạt kín có 9.450 loài, 2.131 chi, 244 họ
Gần đây (2001 – 2005), tập thể các tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường – ĐHQGHN, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trên cơ sở tập hợp các mẫu tiêu bản thực vật cùng với các tài liệu đã có, đã xuất bản bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” gồm 3 tập Bộ sách đã thống kê đầy đủ nhất các loài thực vật có ở Việt Nam với tên khoa học cập nhật nhất
Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật tại các Vườn Quốc gia (VQG), Khu Bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam cho đến đến nay đã có nhiều công trình Điển hình phải kể tới các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn
Bá Thụ ở VQG Cúc Phương (1995), Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Thanh Nhàn ở VQG Pù Mát (2004), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự ở VQG Bạch
Mã (2003), Lê Thị Huyên ở VQG Cát Bà (1998), Nguyễn Văn Thanh ở VQG Xuân Sơn (2005) Năm 1995, trong luận án phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp với đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Cúc Phương” tác giả Nguyễn Bá Thụ đã thống kê được trên diện tích 222 km2 có 1944 loài thực vật bậc cao thuộc 912 chi, 219 họ, 86 bộ của 7 ngành thực vật bậc cao và
đã bổ sung thêm 270 loài thực vật cho hệ thực vật Cúc Phương so với danh lục thực vật năm 1971 Trong số đó có 127 loài, 74 chi, 31 họ thuộc ngành Rêu (Bryophyta) Đồng thời tác giả đã phân tích khá đầy đủ sự đa dạng về dạng sống, yếu tố địa lý, thành phần cũng như cấu trúc rừng
Trang 161.2.3 Ở Yên Tử
Nghiên cứu về thực vật ở rừng đặc dụng Yên Tử đã có từ lâu, song các
tài này không được thống kê và tập hợp lại đầy đủ Năm 1963, Thái Văn Trừng cùng đoàn thực vật đã đến khảo sát nghiên cứu tại khu vực Nước Vàng dưới chân núi Yên Tử Trong công trình “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” năm 1970, tác giả Trần Ngũ Phương cũng đề cập tới các nghiên cứu ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, trong đó có Yên Tử Ngoài ra, từ trước những năm 1980, khi Trường Đại học Lâm nghiệp còn đặt tại Bắc Mã - Đông Triều - Quảng Ninh, đã có một số nghiên cứu của thầy trò Trường Đại
học Lâm nghiệp được tiến hành ở đây
Đối với việc nghiên cứu tính đa dạng thực vật của rừng đặc dụng Yên
Tử phải kể đến công trình nghiên cứu của Viện Điều tra quy hoạch rừng thực hiện vào đầu tháng 10/1993 Theo số liệu thống kê sơ bộ ban đầu, thực vật Yên Tử có 428 loài thuộc 121 họ, 4 ngành thực vật Kết quả điều tra bổ sung của tác giả Nguyễn Văn Huy và các cộng sự trong Bộ môn Cây rừng của Trường Đại học Lâm nghiệp trong tháng 5 – 6/2002 đã thống kê hệ thực vật Yên Tử bao gồm 830 loài, thuộc 509 chi và 171 họ, 5 ngành thực vật Trong
đó, ngành Thông đá (Lycopodiophyta) có 3 loài, 2 chi, 2 họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta)
có 20 loài, 12 chi, 10 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 14 loài, 9 chi, 5 họ; ngành Hạt kín (Angiospermae) có 792 loài, 485 chi và 153 họ [5]
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu của tác giả Lại Huy Hoài năm 2001 về “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm đa dạng loài, công dụng, dạng sống của cây thuốc tại khu vực Năm Mẫu – Uông Bí – Quảng Ninh”, công trình “Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh trưởng của loài Trúc
Yên Tử (indosada sp) tại khu rừng đặc dụng Yên Tử - Quảng Ninh” (2004)
của Lê Thanh Nghị
Trang 17Gần đây nhất là công trình nghiên cứu “Đánh giá tính đa dạng thực vật
ở rừng đặc dụng Yên Tử, Quảng Ninh” (09/2006) của tác giả Phùng Văn Phê Tác giả đã thống kê được 706 loài thực vật thuộc 423 chi, 152 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch và xây dựng được bản danh lục thực vật của khu vực theo cách sắp xếp của hệ thống Brummitte (1992) Trong đó, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 28 loài, 19 chi, 15 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 8 loài, 6 chi, 4 họ; ngành Hạt kín (Angiospermae) có 670 loài, 398 chi, 133 họ Trong ngành Hạt kín (Angiospermae) thì lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) có 577 loài, thuộc 340 chi, 110 họ; lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) có 93 loài, thuộc 58 chi, 23 họ [4]
Một số nghiên cứu của sinh viên trường Đại học Lâm nghiệp cũng được triển khai tại khu rừng đặc dụng Yên Tử Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chủ yếu theo hướng thống kê thành phần thực vật cho một taxon thực vật như ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Hạt trần (Gymnospermae), họ Long não (Lauraceae), … Có hai khóa luận của sinh viên Trần Duy Kiên và Phạm Văn Thê (2006) đã bước đầu phân tích được tính đa dạng thực vật ở đai cao trên 700m và đai cao dưới 700m tại Yên Tử
Nhìn chung, các nghiên cứu về tài nguyên thực vật ở khu RĐD Yên Tử chưa nhiều Chính vì vậy mà việc quản lý bảo vệ những loài cây gỗ, đặc biệt
là những loài cây gỗ có giá trị bảo tồn và kinh tế cao tại Yên Tử vẫn còn nhiều hạn chế Xuất phát từ những lý do trên,việc triển khai một đề tài nghiên cứu về tính đa dạng cây gỗ tại khu vực rừng đặc dụng Yên Tử là hết sức cần thiết Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các loài cây gỗ, là những loài cây sống nhiều năm, có thân sinh trưởng thứ cấp hóa gỗ, thân chính phát triển mạnh, khá cao, trên thân chính phân cành và chồi mang vòm lá Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện thêm cho danh lục thực vật tại Yên Tử, cung cấp những thông tin về đa dạng cây gỗ nói chung và hiện trạng của các loài
Trang 18cây gỗ quý hiếm nói riêng, làm cơ sở cho việc quản lý bảo vệ các loài cây gỗ
và những nghiên cứu tiếp theo tại khu vực rừng đặc dụng Yên Tử
Trang 19Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
Đánh giá được tính đa dạng thực vật về thành phần loài, dạng sống, công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật cây gỗ tại rừng đặc dụng Yên Tử
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các loài cây gỗ tại rừng đặc dụng Yên Tử
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tiến hành thực hiện các nội dung sau:
- Điều tra, xây dựng danh lục các loài cây gỗ tại khu vực nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá tính đa dạng sinh học về thành phần loài, dạng sống, công dụng và giá trị bảo tồn của các loài cây gỗ tại rừng đặc dụng Yên Tử, từ
đó nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các loài cây gỗ có giá trị bảo tồn cao tại rừng đặc dụng Yên Tử
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật tại
rừng đặc dụng Yên Tử có hiệu quả
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu thực địa
* Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu
Trên cơ sở bản đồ địa hình kết hợp với việc lập các tuyến điều tra để tiến hành nghiên cứu và thu mẫu
Nguyên tắc lập tuyến: Tuyến điều tra phải đại diện, đi qua hầu hết các dạng sinh cảnh chính và địa hình trên toàn bộ diện tích nghiên cứu, theo đai cao và theo sinh cảnh Có thế chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau, nghĩa là các tuyến đó cắt ngang các vùng đại diện cho khu vực nghiên cứu
Trang 20Đề tài tiến hành điều tra theo các tuyến như sau:
+ Tuyến thứ nhất: từ suối Giải Oan (khu làm việc Ban quản lý rừng đặc dụng Yên Tử) đi theo đường chính lên chùa Hoa Yên, dài 1,6 Km
+ Tuyến thứ hai: từ chùa Giải Oan đi theo đường chính tới ga cáp treo dưới, rồi đi qua suối vào rừng, rồi ra đường ô tô, dài 1 Km
+ Tuyến thứ ba: bắt đầu từ đường Tùng đi theo đường mòn (dưới đường dây cáp treo) lên ga cáp treo trên, dài 0,8 Km
+ Tuyến thứ tư: từ Thác Vàng qua chùa Hoa Yên, sang Thác Bạc, đến Am Hoa, Am Dược (Vườn Tùng) Từ đây theo đường mòn đi xuống suối Giải Oan Tuyến dài 2,5 Km
+ Tuyến thứ năm: từ Trạm kiểm soát vé của Ban quản lý (cuối bến xe Giải Oan) đi theo đường mòn lên khu vực rừng trồng Thông, qua khu vực mỏ than Yên
Tử (gần Trạm bảo vệ rừng số 2) tới vườn Tùng, Am Dược Tuyến dài 1 Km
+ Tuyến thứ sáu: từ Ban quản lý rừng đặc dụng đi theo đường ô tô ngược
ra khu vực Trạm bảo vệ rừng số 1, gần chùa Lân Tuyến dài 4 Km
+ Tuyến thứ bảy: từ Chùa Hoa Yên, qua Chùa Bảo Sái, tới Tượng An Kỳ Sinh, lên Chùa Đồng (đỉnh Yên Tử), dài 1 Km
+ Tuyến thứ tám: từ Tượng An Kỳ Sinh xuyên qua rừng Trúc, theo đường mòn tới khu vực ranh giới với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tây Yên Tử, rồi theo đường mòn xuống khu vực Vườn Tùng, dài 1,5 Km
+ Tuyến thứ chín: từ Tượng An Kỳ Sinh xuống Chùa Vân Tiêu, xuống Chùa Hoa Yên, dài 0,5 Km
+ Tuyến thứ mười: từ Trạm kiểm soát vé đến sân ga cáp treo, theo đường mòn trong thung lũng, lên núi Ngự Dội (Thác Vàng), rồi lên Đèo Gió, dài 2 Km
Trên các tuyến đó cần chọn những điểm đặc trưng để đặt OTC, diện tích 1000m2 Tôi tiến hành lập 15 OTC, trong mỗi OTC chúng tôi điều tra, thu thập thông tin tất cả các loài cây gỗ trong ô
Trang 21Dụng cụ thu mẫu: Cặp hay túi đựng mẫu, giấy báo, dây buộc, nhãn, kim chỉ, bút chì 2B, sổ ghi chép, cồn, kéo cắt cành
Nguyên tắc thu mẫu:
- Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là: cành, lá, hoa đối với cây lớn hay cả cây đối với cây thảo và có quả càng tốt
- Mỗi cây nên thu từ 3 – 5 mẫu, còn mẫu cây thân thảo nên tìm các mẫu giống nhau và cũng thu với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài vừa để trao đổi
- Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu mẫu Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thực địa như: đặc điểm vỏ cây, kích thước cây, nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi sấy mẫu như: màu sắc, mùi vị…
- Thu và ghi chép xong cho vào túi polyetylen mang về nhà mới làm mẫu Việc cho mẫu vào túi polyetylen có lợi là gọn nhẹ, không bị va quệt khi băng qua rừng, mẫu giữ tươi lâu kể cả khi trời nắng to nhưng cần chú ý là khi cho mẫu vào túi phải nhẹ nhàng, nếu có hoa thì dùng các lá của mẫu để bọc lấy trước khi cho vào túi Có thể dùng túi nhỏ và mỏng đựng từng loài và buộc chặt lại rồi tất cả các túi nhỏ đó cho vào túi to hay bao tải
Cách xử lý và bảo quản mẫu: Sau một ngày lấy mẫu cần đeo nhãn
cho mỗi mẫu Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu của tác giả còn các thông tin khác sẽ ghi vào sổ riêng hoặc trên nhãn ghi đầy đủ các thông tin như sau:
- Số hiệu mẫu
- Địa điểm (tỉnh, huyện, xã…) và nơi lấy (ven suối, thung lũng, sườn hay đỉnh núi hoặc đồi…)
- Ngày lấy mẫu
- Đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ cao, đường kính, màu lá, hoa , quả…
Trang 22- Người lấy mẫu
Khi ghi phải dùng bút chì mềm, tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực
để tránh bị mất khi ngâm tẩm về sau
2.4.2 Xử lý trong phòng thí nghiệm
Mẫu tiêu bản thu thập trong quá trình điều tra được mang về và xử lý tại Trung tâm Đa dạng sinh học - Trường Đại học Lâm nghiệp Nội dung
công việc gồm:
+ Ép mẫu và sấy mẫu
+ Phân loại mẫu theo họ và chi
+ Giám định mẫu tiêu bản được thực hiện bởi tác giả với sự giúp đỡ của các chuyên gia về Phân loại Thực vật của Trung tâm Đa dạng sinh học,
Bộ môn Thực vật rừng đồng thời đối chiếu mẫu nghiên cứu với bộ mẫu đang lưu trữ tại Trung tâm Đa dạng sinh học
+ Phân tích mẫu: Dựa trên một số nguyên tắc: Phân tích từ tổng thể đến chi tiết, từ cái lớn đến cái nhỏ, phân tích phải đi đôi với nghi chép
+ Tra tên khoa học: Sau khi đã phân tích mẫu chúng tôi tiến hành tra tên khoa học dựa theo các khóa xác định
2.4.3 Xây dựng danh lục và đánh giá đa dạng hệ thực vật
* Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục:
Tên đầy đủ của loài được áp dụng theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập I – 2001, tập II – 2003 và tập III – 2005), Tên cây rừng Việt Nam[1] và trang web quốc tế về tên Thực vật www.ipni.org
Danh lục thực vật của Yên Tử được xây dựng theo hệ thống phân loại của Takhtajan (2009) Các ngành thực vật được sắp xếp từ ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Hạt trần (Gymnospermae) và ngành Hạt kín (Angiospermae) Đối với ngành Hạt kín (Angiospermae) được chia ra 2 lớp: lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) và lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae)
Trang 23Các họ trong từng ngành, các chi trong từng họ và các loài trong từng chi được sắp xếp theo thứ tự ABC Trong danh lục thể hiện được tên khoa học, tên Việt Nam, dạng sống, giá trị sử dụng, mức độ đe dọa
* Đánh giá đa dạng về phân loại: Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997),
Bảng 2.1 Thang phân chia dạng sống theo Raunkiaer (1934)
(Thái Văn Trừng,1999)
Nhóm cây chồi trên
Những cây gỗ, dây leo, thảo, bì sinh, ký sinh có chồi tồn
tại nhiều năm cách đất từ 25cm trở lên Gồm các dạng
sống
Ph
Phananerophytes
Trang 24Chồi trên to: là cây gỗ cao trên 25m Meg
Cây thân thảo sống lâu năm cao trên 25cm Hp
Cây mọng nước sống lâu năm cao trên 25cm Suc
Nhóm cây chồi sát đất
Gồm những cây có chồi cách mặt đất 0 – 25cm, mùa bất
lợi thường được lá khô che phủ
Ch
Chamaephytes
Nhóm cây chồi nửa ẩn
Cây có chồi nằm dưới, ngay sát mặt đất, mùa bất lợi
thường được lá khô che phủ
Hm
Hemicryptophytes
Nhóm cây chồi ẩn
Cây có chồi nằm sâu trong đất (hoặc trong bùn, nước),
mùa bất lợi phần khí sinh tàn rụi hết nhưng còn phần thân
ngầm ở dưới đất, sẽ tái sinh vào mùa thuận lợi sau đó
Cr
Cryptophytes
Nhóm cây chồi một năm
Cây chỉ sinh trưởng, ra hoa kết quả trong vòng một năm
rồi chết, chỉ còn hạt để duy trì sang mùa thuận lợi sau đó
Th
Therrophytes
Trong dạng sống, cơ sở quan trọng nhất để sắp xếp các nhóm dạng sống
đó là xem trong thời kỳ khó khăn cho cuộc sống loài đó tồn tại dưới dạng sống nào: Chỉ là hạt nghỉ hay có cả chồi, nếu có chồi thì chồi nằm ở vị trí nào so với
Trang 25mặt đất, có được bảo vệ hay không… Chúng tôi chọn cách phân chia này để xây dựng phổ dạng sống cho hệ thực vật của Khu rừng đặc dụng Yên Tử
* Đánh giá về tài nguyên thực vật:
Bao gồm tài nguyên có giá trị sử dụng và nguồn tài nguyên quý hiếm của hệ thực vật Thống kê các loài có giá trị sử dụng từ bảng danh lục thực vật Yên
Tử bằng các tư liệu chuyên ngành như: “Từ điển cây thuốc Việt Nam”; “1900
loài cây có ích”; “Cây cỏ có ích Việt Nam”; “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”; “Tài nguyên cây gỗ rừng Việt Nam”; “Cây cỏ Việt Nam”; “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”; “ Lâm Sản Ngoài Gỗ Việt Nam”, … Các tiêu
chuẩn để đánh giá giá trị tài nguyên thực vật được trình bày trong bảng 2.2 cụ thể như sau:
Bảng 2.2 Giá trị sử dụng các loài trong hệ thực vật
Trang 26* Nghiên cứu tài nguyên thực vật về mức độ nguy cấp của các loài quý hiếm:
Từ bảng danh lục, kiểm tra tên từng loài dựa vào danh sách các loài đã được chỉ định trong danh lục của các chỉ tiêu (danh lục đỏ): Sách Đỏ Việt Nam 2007; Nghị định 32 CP của chính phủ; IUCN 2009 Red list Data
* Nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu về các loài cây gỗ có giá trị bảo tồn cao tại rừng đặc dụng Yên Tử:
Sử dụng các tài liệu về thực vật như: Thực vật rừng [7], Sách đỏ Việt
Nam [3], … cũng như các tài liệu tra cứu trên trang web như:
điều tra thực tế ngoài thực địa để mô tả đặc điểm nhận biết, đặc điểm sinh học
và tình trạng bảo tồn của từng loài cây gỗ quý hiếm tại khu vực nghiên cứu
Trang 27Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp huyện Sơn Động – Bắc Giang
- Phía Đông giáp phường Vàng Danh
- Phía Tây giáp xã Tràng Lương – Đông Triều
- Phía Nam giáp xã Phương Đông – Uông Bí
Tổng diện tích tự nhiên là 2.686,5 ha
3.1.2 Địa hình
Rừng đặc dụng Yên Tử được bao bởi hệ dông chính Yên Tử về phía Bắc từ đỉnh 660m đến đỉnh 908m và 2 dông phụ theo hướng Bắc – Nam gồm:
- Phía Tây từ đỉnh 660m về suối Vàng Tân
- Phía Đông từ đỉnh 908m về suối Bãi Dâu
- Phía Nam là đường 18B từ ngã ba suối Vàng Tân đến suối Bãi Dâu
ôm trọn các hệ thủy suối Vàng Tân, suối Giải Oan và suối Bãi Dâu Đỉnh cao nhất là đỉnh Yên Tử cao 1.068m, thấp nhất là cánh đồng Năm Mẫu cao 50m Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh, độ dốc trung bình từ 200 đến 250, có nơi độ dốc trên 350
Trang 283.1.3 Đất
Địa chất Yên Tử nằm trong tính chất địa đất của vòng cung Đông Triều, hình thành từ kỷ Đệ Tứ có các loại đá mẹ chính như: Sa thạch, Sỏi sạn kết và phù sa cổ Có các loại đất chính sau:
- Đất Feralit màu vàng, vàng sáng vùng núi thấp phát triển trên sa thạch
- Đất Feralit màu vàng, vàng nhạt ở đồi phát triển trên sa thạch, sạn sỏi kết
- Đất Feralit màu vàng đỏ, đỏ vàng phát triển trên phù sa cổ
- Nhóm đất ruộng trên cánh đồng Năm Mẫu
Nhìn chung, đất của Yên Tử có các đặc tính sau: Thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, tầng đất trung bình có độ sâu từ 30cm – 80cm, đất tơi xốp, dễ thoát nước, khả năng kết dính kém, dễ bị xói mòn, rửa trôi
3.1.4 Khí hậu thủy văn
- Nhiệt độ bình quân/năm là 23,40C, cao nhất là 33,40C và thấp nhất là
140C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm từ 50C – 100C Tổng tích ôn từ 70000C – 80000C, có nơi trên 80000C Tuy vậy, nhiệt độ ở đây có lúc xuống 50C, hoặc thấp hơn nữa, nhất là diện tích thung lũng của Yên Tử
- Lượng mưa bình quân năm là 1.785mm, cao nhất là 2.700mm, năm thấp nhất là 1.423mm; mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, mưa nhiều nhất vào tháng 8 Chính vì vậy, khi mưa lớn ở đây thường xuất hiện lũ, nước ở các suối dâng lên rất nhanh gây ảnh hưởng đến sản xuất, đi lại và làm sụt lở đất đá
Trang 29- Trong mùa khô, lượng mưa chiếm từ 10% – 20%, có năm khô hạn kéo dài 2 – 3 tháng tạo nên không khí nóng lực, khô hanh làm cho các trảng cây bụi, cỏ, rừng cây khô héo, dễ xảy ra hiện tượng cháy rừng
- Độ ẩm không khí bình quân/năm là 81%, năm cao nhất là 86%, năm thấp nhất là 62% Lượng bốc hơi bình quân/năm là 1.289mm, cao nhất là 1.360mm, thấp nhất là 1.120mm
- Gió thịnh hành là gió Đông Bắc và Đông Nam Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa này khô hanh, độ ẩm không khí xuống thấp, có một số đợt gió mùa Đông Bắc khá lớn thường xảy ra hàng năm vào lúc sắp thu hoạch lúa, màu, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất
* Thủy văn
Trong khu vực Yên Tử có 3 hệ thủy chính đều bắt nguồn từ dãy Yên
Tử là: Hệ suối Vàng Tân, suối Giải Oan và suối Bãi Dâu
Nhìn chung, các suối đều có nước quanh năm, phục vụ tốt cho sản xuất nông, lâm nghiệp và phục vụ sinh hoạt của nhân dân, phục vụ du khách Nhờ
có rừng đã giữ và điều tiết được nguồn nước nên thượng nguồn của các suối ở đây đều tạo được nhiều thác đẹp như Thác Vàng, thác Bạc
3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Hiện trạng rừng và thảm thực vật được tóm tắt ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Tổng hợp diện tích các loại đất đai
Hạng mục Tổng cộng Phân theo tiểu khu
Trang 30Tổng diện tích tự nhiên là 2.686 ha, trong đó:
Diện tích có rừng là 2.145 ha chiếm 80% diện tích, trong đó rừng tự nhiên (1.736 ha) chiếm 80,9% diện tích có rừng và chiếm 64,6% tổng diện tích
Diện tích đất không còn rừng: 331 ha chỉ chiếm 12,3% tổng diện tích Diện tích đất kinh doanh sản xuất nông nghiệp 131 ha chiếm 4,9% diện tích tự nhiên
Diện tích đất khác (đất xây dựng, thổ cư, sông suối, đường,v.v) là 49 ha chiếm 2,8% diện tích tự nhiên
Nhìn chung, rừng ở đây còn nhiều, tỷ lệ che phủ của rừng chiếm 80% diện tích rừng đặc dụng Trong đó có 321ha rừng hầu như chưa bị tác động bao gồm các ưu hợp, loài cây ưu thế sinh thái đặc trưng cho vùng Đông Bắc như: Táu mặt quỷ, Táu mật, Sến mật, Lim xanh, Trầu tiên, Chẹo, Dẻ, Trâm, v.v Trữ lượng bình quân 218 m3/ha
Trang 313.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Khu rừng đặc dụng Yên Tử nằm chủ yếu trên địa bàn xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, với tổng dân số là 4.321 người, thuộc 932 hộ, 8 thôn bản Song ảnh hưởng trực tiếp đến rừng gồm 4 thôn bản là: Khe Sú 1, Khe Sú
2, Năm Mẫu 1, Năm Mẫu 2, với tổng số dân là 2.049 người, thuộc 482 hộ
Trong khu vực Khu di tích số người hoạt động thường xuyên gồm 130 người, trong đó:
+ Bộ đội thông tin quân khu 3 có 18 người
+ Ban quản lý rừng đặc dụng Yên Tử có 57 người
+ Công ty Tùng Lâm có 52 người
Khu vực có 6 dân tộc cùng chung sống, đó là: Dao, Kinh, Hoa, Tày, Sán Chỉ, Cao Lan Trong đó người Dao chiếm 52,4% tổng dân số, tỷ lệ tăng dân số là 2% Cộng đồng các dân tộc ở đây, chủ yếu kinh doanh ruộng nước (cách đồng Năm Mẫu), bình quân nhân khẩu 460 m2/người Ngoài ra, những năm gần đây nhân dân đã xây dựng vườn rừng, vườn cây ăn quả và tham gia dịch vụ du lịch
Nhìn chung đời sống của nhân dân đã được ổn định, nhưng năng suất lúa vẫn chưa cao, chỉ đạt 4,5 tấn/ha/năm Các sản phẩm nông nghiệp vẫn chưa thực
sự trở thành hàng hóa phục vụ khách du lịch, nhất là mùa hội Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, phục vụ ăn uống, … cho khách du lịch chưa phát triển
Nhân dân đã tham gia tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và trồng rừng, trồng cây phân tán, cây ăn quả, … trên đất của mình Nhiều hộ gia đình đã thu hoạch từ vườn rừng, cây ăn quả đạt từ 20 – 30 triệu đồng/năm
Trang 32Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đa dạng về thành phần loài cây gỗ có trong khu vực nghiên cứu
4.1.1 Đa dạng về taxon ngành thực vật
Qua điều tra, khảo sát tại khu rừng đặc dụng Yên Tử, chúng tôi đã thống kê được 364 loài cây gỗ thuộc 221 chi và 78 họ thuộc 3 ngành thực vật [Phụ lục 01] : Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Hạt trần (Gymnospermae), ngành Hạt kín (Angiospermae) Bình quân mỗi họ có 4,67 loài và mỗi chi có 1,65 loài
So sánh với kết quả điều tra đa dạng thực vật của tác giả Phùng Văn Phê điều tra, thống kê năm 2006 thì đề tài đã phát hiện và bổ sung thêm được
1 loài cây gỗ mới cho danh lục thực vật của Yên Tử Đó là cây Sui (Antiaris
toxicaria (Lesch.)) thuộc họ Dâu Tằm (Moraceae) Qua điều tra, tôi mới chỉ
phát hiện được 2 cây to tại vị trí khoảnh 5 và khoảnh 8, tiểu khu 32 với đường kính đạt khoảng 1,2m Điều tra cây tái sinh chỉ phát hiện được 1 cây với đường kính khoảng 8cm
Từ kết quả thống kê thành phần cây gỗ giữa các ngành ta tính tỷ lệ phần trăm của chúng để so sánh, đánh giá mức độ đa dạng thực vật giữa các ngành với nhau trong khu vực nghiên cứu Kết quả thể hiện qua bảng 4.1:
Bảng 4.1: Phân bố của các taxon trong khu hệ cây gỗ tại Yên Tử
Số loài % Số chi % Số họ %
Dương xỉ (Polypodiophyta) 1 0,3 1 0,45 1 1,28 Hạt trần (Gymnospermae) 7 1,92 5 2,26 3 3,85 Hạt kín (Angiospermae) 356 97,78 215 97,29 74 94,87
Trang 33Qua bảng 4.1 ta thấy rừng đặc dụng Yên Tử khá đa dạng về các ngành cây gỗ Trong đó, phần lớn các taxon thực vật cây gỗ nằm trong ngành Hạt kín với 356 loài trong tổng số 364 loài tại khu vực nghiên cứu, chiếm 97,78%; tiếp theo là ngành Hạt trần với 7 loài, chiếm 1,92%; sau đó đến ngành Dương
xỉ với 1 loài chiếm 0,3% Qua đây, ta cũng thấy được các cây gỗ trong ngành Hạt kín là ưu thế nhất, điều đó thể hiện rõ tính chất nhiệt đới của hệ thực vật cây gỗ tại khu vực nghiên cứu
Khi nghiên cứu số lượng và tỷ lệ phần trăm các họ, chi, loài thực vật tại khu vực nghiên cứu ta nhận thấy, không chỉ có sự đa dạng về loài giữa các ngành trong khu vực nghiên cứu mà ngay trong ngành Hạt kín (ngành chiếm
tỷ lệ cây gỗ lớn nhất trong khu vực nghiên cứu) cũng có sự khác nhau về taxon họ, chi, loài giữa lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm Sự khác biệt đó được thể hiện qua bảng 4.2
Bảng 4.2 Phân bố của các taxon trong ngành Hạt kín (Angiospermae)
Số loài % Số chi % Số họ %
Hai lá mầm – Dicotyledoneae 327 91,85 202 93,95 69 93,24 Một lá mầm - Monocotyledoneae 29 8,15 13 6,05 5 6,76
Qua bảng 4.2 cho thấy ở khu vực nghiên cứu, đối với ngành Hạt kín thì lớp Hai lá mầm chiếm ưu thế hơn về số họ, chi, loài Trong đó, lớp Hai lá mầm có số loài chiếm 91,85%, số chi chiếm 93,95% và số họ chiếm 93,24%
Tỷ trọng giữa lớp Hai lá mầm và Một lá mầm về số loài là 11,28; về số chi là 15,53 và về số họ là 13,79 Qua đây ta thấy sự chênh lệch rất lớn về số lượng giữa lớp Hai lá mầm và Một lá mầm, điều đó càng khẳng định rõ hơn về tính chất nhiệt đới của các loài cây gỗ tại Rừng đặc dụng Yên Tử
Trang 344.1.2 Đa dạng về taxon dưới ngành
Ngoài việc đánh giá tính đa dạng theo taxon ngành thực vật, chúng tôi còn đánh giá tính đa dạng của các loài cây gỗ tại Yên Tử ở mức độ họ và chi, qua việc xác định các họ và chi có nhiều loài nhất, các họ và chi đơn loài
- Đa dạng bậc họ
Trong mỗi khu hệ thực vật thường được đặc trưng bởi các họ có nhiều loài trong cấu trúc tổ thành Các họ đa dạng thường là những họ phổ biến và mang đặc trưng của hệ thực vật đó
Thông thường, khi đánh giá tính đa dạng của một hệ thực vật, người ta thường phân tích 10 họ nhiều loài nhất của hệ thực vật đó Bởi vì tỷ lệ (%) của 10 họ giàu loài nhất so với tổng số loài của toàn hệ được xem là bộ mặt của mỗi hệ thực vật và là chỉ tiêu so sánh đáng tin cậy, vì nó không phụ thuộc vào diện tích nghiên cứu cũng như mức độ giàu loài của hệ thực vật
Tuân theo quy luật chung đó, chúng tôi đã phân tích 10 họ cây gỗ lớn nhất trong khu vực nghiên cứu, thể hiện qua bảng 4.3:
Bảng 4.3: Các họ có nhiều loài nhất
TT Tên khoa học Họ thực vật Tên Việt Nam Số chi Số loài Tỉ lệ
Trang 35Qua bảng 4.3 ta thấy trong tổng số 78 họ cây gỗ tại khu vực nghiên cứu thì 10 họ trong bảng 4.3 (chiếm 12,82%) có tới 85 chi (chiếm 38,46%) và 174 loài (chiếm 47,80%) Trong đó, họ giàu loài nhất là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có tới 40 loài, chiếm 10,99% tổng số loài trong khu vực nghiên cứu; sau đó đến họ Dâu tằm (Moraceae) với 29 loài, chiếm 7,97%; họ Long não (Lauraceae) với 25 loài, chiếm 6,87%; họ Dẻ (Fagaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) đều có 15 loài, chiếm 4,12%; họ Vang (Caesalpiniaceae) và
họ Sim (Myrtaceae) đều có 11 loài, chiếm 3,02%; họ Cam (Rutaceae) với 10 loài, chiếm 2,75%; họ Chè (Theaceae) và họ Trúc đào (Apocynaceae) đều có
9 loài, chiếm 2,47%
Theo như kết quả thống kê trong bảng 4.3 thì trong 10 họ đa dạng nhất thì chỉ có 1 họ chiếm tỷ lệ cao trên 10% là họ Thầu dầu với tỷ lệ 10,99% tổng số loài trong khu vực nghiên cứu và tổng tỷ lệ phần trăm của 10 họ này đạt 47,80%
số loài trong khu vực nghiên cứu Điều này cho thấy cây gỗ tại khu vực Rừng đặc dụng Yên Tử khá đa dạng về họ, kết quả này cũng phù hợp với nhận định của Tolmachop cho rằng: “Ở vùng nhiệt đới thành phần các họ thực vật khá đa dạng, thể hiện ở chỗ là rất ít họ chiếm đến 10% tổng số loài của hệ thực vật và tổng tỷ lệ phần trăm của 10 họ giàu loài nhất chỉ đạt không vượt quá 40 - 50% tổng số loài của khu hệ thực vật”
- Đa dạng bậc chi
Hệ thực vật các loài cây gỗ tại Rừng đặc dụng Yên Tử không những đa dạng về họ mà còn đa dạng về các chi, thể hiện qua bảng 4.4
Trang 36Bảng 4.4: Các chi có nhiều loài nhất
10 chi đa dạng nhất (3,98% so với tổng số chi) 71 19,51
Qua bảng 4.4 ta nhận thấy có 10 chi thuộc 8 họ có từ 4 loài trở lên trong tổng số 221 chi, chỉ chiếm 4,52%; nhưng có tới 71 loài, chiếm 19,51% tổng số loài của cả khu vực Trong số 8 họ có các chi đa dạng nhất thì toàn bộ đều là những họ thuộc lớp Hai lá mầm của ngành Hạt kín Các họ này chủ yếu
là các họ đặc trưng cho hệ thực vật nhiệt đới Trong đó, họ Dẻ (Fagaceae) có
3 chi là chi Lithocarpus với 6 loài, chi Quercus với 5 loài và chi Castanopsis với 4 loài; họ Long não (Lauraceae) có 2 chi là chi Cinnamomum và chi Litsea đều có 6 loài; còn lại mỗi họ đều có 1 chi
Khi phân tích 10 chi đa dạng nhất ta nhận thấy chi có nhiều loài nhất đó
là chi Ficus thuộc họ Dâu tằm (Moraceae) với 23 loài, chiếm 6,32% tổng số loài cây gỗ của khu vực nghiên cứu; sau đó đến chi Syzygium thuộc họ Sim (Myrtaceae) với 8 loài, chiếm 2,2% tổng số loài trong khu vực nghiên cứu; chi Lithocarpus thuộc họ Dẻ (Fagaceae), chi Cinnamomum và chi Litsea