1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc

81 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề tồn tại cần giải quyết trong việc áp dụng các thiết bị vào khâu làm đất phục vụ sản xuất nông nghiệp Theo kết quả điều tra khảo sát đã trình bày ở trên cho thấy tỷ lệ cơ gi

Trang 1

MỞ ĐẨU

Nông nghiệp, nông thôn là vấn đề trọng yếu của mỗi Quốc gia, Nông nghiệp là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế, nó cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho con người tồn tại Trong quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp cần được quan tâm phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm cho xã hội Vì thế, sự ổn định mức an ninh về lương thực và thực phẩm của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của ngành nông nghiệp

Hiện nay dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nông nghiệp ngày nay khẳng định vị trí của mình trong cơ cấu nền kinh tế, nó góp phần tích cực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam là nước nông nghiệp với xuất phát điểm thấp, có tới 80% dân số sống ở nông thôn, cơ cấu nông nghiệp độc canh, GDP từ nông nghiệp còn rất lớn, năng suất khai thác từ ruộng đất và năng xuất lao động còn thấp thì vấn

đề nông nghiệp, nông thôn càng trở lên cấp bách hơn Trong những năm qua nông nghiệp nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong nền kinh tế, từng bước thực hiện việc chuyển sản xuất nông nghiệp tự cung,

tự cấp sang sản xuất hàng hoá, tạo ra được nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ (như xuất khẩu gạo, cafê, cao su…) Để đạt được những kết quả đáng khích lệ như vậy việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển từ đó nâng cao thu nhập cho người nông dân, tạo tiền đề để giải quyết hàng loạt các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước, góp phần không nhỏ vào việc thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành nông nghiệp trong thời gian tới

Trang 2

Trong sản xuất nông nghiệp, cơ giới hóa khâu làm đất là nhu cầu cấp bách không chỉ giúp bà con nông dân giảm chi phí nhân công, giải phóng sức lao động, chủ động thời vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần từng bước chuyển sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp háo, hiện đại hóa

Hiện nay việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nói chung và khâu làm đất trồng lúa nói riêng đã được đẩy mạnh, tỷ lệ làm đất trồng lúa bằng máy nhiều nơi đã đạt từ 80-90%, nhiều loại máy đã được áp dụng vào sản xuất, bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao

Tam Đảo là huyện miền núi của Tỉnh Vĩnh Phúc, cơ cấu kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trong sản xuất nông nghiệp đã áp dụng nhiều thiết

bị máy móc vào để cơ giới hóa khâu làm đất Do đặc điểm đồng ruộng của địa phương miền núi nên việc áp dụng một số loại máy vào khâu làm đất còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp, nên hiệu quả kinh tế thấp

Để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong việc áp dụng loại máy vào khâu làm đất trồng lúa tại địa phương thì cần thiết phải tiến hành nghiên cứu tuyển chọn, để tìm ra loại thiết bị phù hợp nhất với điều kiện đồng ruộng

và điều kiện kinh tế xã hội của huyện

Xuất phát từ lý do nêu trên tác giả đã chọn và thực hiện đề tài: “Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Nông nghiệp (Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản) là một trong những thế mạnh của huyện Tam Đảo, với những đặc điểm đặc thù, được tạo lập bởi các yếu tố thời tiết, khí hậu Những thế mạnh đó đã được chú trọng khai thác trong những năm gần đây, nhất là từ khi thành lập huyện đến nay (2004) Trong cơ cấu đất đai, đất nông, lâm nghiệp và thủy sản là 19.353,41 ha, chiếm 82,35%; Trong

đó đất Lâm nghiệp có diện tích lớn nhất với 14.704,33 ha, chiếm 48,9% diện tích đất tự nhiên và 62,4% diện tích đất nông, lâm nghiệp và thủy sản Số lượng người làm việc trong các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của huyện Tam Đảo cũng chiếm tỷ lệ cao; Trong số 34.579 người đang làm việc trên địa bàn huyện thì có tới 52,6% số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, giá trị sản xuất của nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2010 chiếm 50,80%

Với những thế mạnh và đặc thù riêng, nông, lâm nghiệp và thủy sản của huyện Tam Đảo có sự tăng trưởng khá cao so với nông nghiệp của cả nước cũng như nông nghiệp của các huyện khác trong địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Tính chung trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản mức tăng giá trị sản xuất đã đạt tới 11,16%/năm thời kỳ 2004-2010 và 12,55%/năm giai đoạn 2006-2010; Trong

đó, ngành nông nghiệp có mức tăng khá cao, bình quân thời kỳ 2006-2010 ngành nông nghiệp có mức tăng tới 12,76%/năm, trong khi đó lâm nghiệp có mức biến động tăng 6,65%/năm, thủy sản tăng 1,74%/năm Sự tăng trưởng cao của nhóm ngành nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của huyện

Trang 4

Bảng 1.1: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn

Chỉ tiêu

Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (tỷ đồng) B.Q

06-10 (%)

Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng giá trị sản xuất trong chăn nuôi và giảm giá trị sản xuất trong ngành trồng trọt Năm

2004 trong cơ cấu ngành nông nghiệp, trồng trọt chiếm 72,9%, chăn nuôi chỉ chiếm 27,1%; đến năm 2007 cơ cấu này đã có sự chuyển biến đáng kể, cụ thể ngành trồng trọt giảm xuống còn 57,2%, ngành chăn nuôi tăng gần gấp đôi đạt 42,8% và đến năm 2010 ngành trồng trọt chỉ còn chiếm 34%, chăn nuôi đạt 65,38% và dịch vụ nông nghiệp chiếm 0,62%

1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội tại địa phương

1.2.1 Điều kiện kinh tế

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh của Tỉnh Vĩnh Phúc, kể từ năm 2004 đến nay, sau 7 năm được thành lập và đi vào hoạt động Tam Đảo đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng

* Tăng trưởng kinh tế:

Trang 5

Tam Đảo là huyện miền núi có nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên,

xã hội, nhưng liên tục trong 7 năm được thành lập và đi vào hoạt động (từ

2004 – 2010) kinh tế Tam Đảo luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, giá trị sản xuất tăng bình quân 18,22%/năm, đặc biệt giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn các năm 2006-2010 tăng bình quân 18,53%/năm (mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện 2005 - 2010 là 14 - 16%/năm); Giá trị sản xuất tính theo giá so sánh xuất bình quân đầu người tăng từ 3,6 triệu đồng/người/năm 2004 lên 7,96 triệu đồng/người/năm 2010 và từ 4,7 triệu đồng năm 2004 lên 17,75 triệu đồng năm 2010 tính theo giá thực tế

Bảng 1.2: Giá trị sản xuất và tăng trưởng GTSX trên địa bàn huyện

Giá cố định 1994

Chỉ tiêu

06-10 (%)

BQ 04-10 (%)

Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Tam Đảo

Khảo sát số liệu cho thấy, mức tăng tổng giá trị sản xuất các ngành phụ thuộc nhiều vào mức tăng của ngành nông lâm nghiệp, thủy sản và ngành dịch vụ Sự tăng trưởng nhanh của nhóm ngành này chủ yếu do tác động của

sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất và tăng nhanh tỷ trọng của ngành chăn nuôi

Trang 6

* Cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu kinh tế dần chuyển theo hướng tăng dần tỷ trọng du lịch - dịch

vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tuy nhiên đến nay tỷ trọng nông nghiệp vẫn còn cao, hết năm 2010 cơ cấu kinh tế của Tam Đảo là: Nông - Lâm nghiệp - Thuỷ sản 50,8%; Thương mại - Dịch vụ - Du lịch 29,16%; Công nghiệp - TTCN - XDCB 20,04%

Bảng 1.3: Cơ cấu ngành kinh tế trong địa bàn huyện

Đơn vị: Tỷ đồng, %

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng giá trị sản

Nguồn: : Chi cục Thống kê huyện Tam Đảo – Tính theo giá hiện hành

Sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính tự cung, tự cấp là chủ yếu, sản xuất hàng hóa trong Nông, lâm nghiệp và thủy sản mới bước đầu phát triển trong những năm gần đây Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác thấp,

Trang 7

các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng rất cao trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, các lĩnh vực chưa phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có

Trong nội bộ ngành nông nghiệp, giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi tăng nhanh qua các năm, đạt mức 26,09%/năm những năm 2004-2010, trong

đó mức tăng các năm 2006-2010 đạt 25,98% Đối với ngành trồng trọt mức tăng là 3,13%/năm trong suốt những năm 2004-2010 và 3,45% giai đoạn 2006-2010 Với mức tăng trên cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển biến tiến bộ theo xu hướng tăng nhanh tỷ trọng của ngành chăn nuôi

Bảng 1.4: Tình hình phát triển ngành trồng trọt trên địa bàn huyện

Trang 8

- Đối với ngành trồng trọt: Tốc độ tăng trưởng của ngành trồng trọt chủ yếu nhờ sự thâm canh tăng năng suất, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật

và chuyển đổi cơ cấu cây trồng Trong những năm qua, huyện Tam Đảo đã triển khai dự án mở rộng phát triển cây rau su su ở 6 vùng tại một số xã, thị trấn trong huyện với tổng diện tích 257,3ha; diện tích trồng dưa hấu tại xã Đạo Trù 7ha, bí xanh tại xã Yên Dương và xã Minh Quang 7ha Trong 7 năm diện tích cây rau đậu đã tăng từ 323ha lên 654ha, nhờ đó giá trị thu nhập trên

ha đất canh tác được nâng cao

- Đối với cây lúa là loại cây trồng chiếm tỷ lệ lớn trong ngành trồng trọt tuy diện tích giảm, nhưng do đầu tư thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học,

kỹ thuật nên năng suất đã tăng nhanh đáng kể; từ 42,97 tạ/ha năm 2004 lên 48,5 tạ/ha năm 2010, do đó bình quân lương thực đầu người tăng nên, cuộc sống người dân ngày càng nâng cao Trong những năm tới chắc chắn rằng diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do nhường đất cho phát triển hạ tầng đô thị, do đó để đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn thì việc chủ động đưa giống mới, cây trồng mới có giá trị kinh tế cao và áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cần được quan tâm đầu tư

- Đối với ngành chăn nuôi: Tam Đảo có những lợi thế nhất định trong phát triển ngành chăn nuôi do có điều kiện khí hậu đặc thù, gần thị trường tiêu thụ, là huyện trọng điểm phát triển du lịch của tỉnh

Các loài vật nuôi của huyện cũng khá phong phú bao gồm gia súc, gia cầm,

cá nước ngọt Trong những năm gần đây tổng đàn vật nuôi đều tăng, trong đó đàn lợn và gà, gan vịt tăng mạnh, còn đàn Trâu, bò tăng không đáng kể

- Đối với ngành dịch vụ nông nghiệp Hoạt động dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp và có xu hướng tăng

Hoạt động về dịch vụ giống và chuyển giao tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong nông nghiệp do các Hợp tác xã đảm nhiệm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng

Trang 9

được những yêu cầu của sản xuất Hoạt động ứng dụng tiến bộ giống cây trồng, vật nuôi vào sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự phát

Dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, thuốc thú y chủ yếu vẫn do tư nhân đảm nhiệm

Trong vài năm gần đây loại hình dịch vụ khâu làm đất phục vụ sản xuất nông nghiệp (trồng lúa nước) được quan tâm đầu tư, phát triển Khâu làm đất hiện nay chủ yếu được thay thế bằng máy móc, do đó đã góp phần giải phóng được sức lao động, chủ động được thời vụ và dần chuyển đổi cơ cấu trong chăn nuôi trâu, bò sang chăn nuôi thương phẩm Khâu dịch vụ làm đất hiện nay chủ yếu vẫn tự phát và do các cá nhân đảm nhiệm

Nhìn chung, các hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp phát triển chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa ngày càng tăng cả về số lượng

và chất lượng trong giai đoạn tới

Ta nhận thấy Nông, lâm, thủy sản là nhóm ngành có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của Tam Đảo Trong những năm qua nhất là từ khi thành lập huyện, nông, lâm nghiệp và thủy sản đã được chú trọng đầu tư cùng với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành nên trình độ thâm canh được cải thiện, năng suất cây trồng có su hướng tăng, chăn nuôi gia súc, gia cầm có bước phát triển

Chuyển giao các tiến bộ khoa học được tăng cường nên đã từng bước thay đổi tập quán sản xuất cũ, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm góp phần đảm bảo lương thực tại chỗ và chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành theo hướng tích cực Ngành nông nghiệp đóng góp chủ yếu vào sự phát triển kinh

tế của huyện chiếm trên 32,53% tổng giá trị sản xuất của tất cả các ngành

Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp của Tam Đảo vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế như: trình độ nhận thức của đại bộ phận nhân dân chưa cao, đồng ruộng bậc thang, manh mún, cơ sở hạ tầng ở một số xã vẫn còn

Trang 10

thấp, giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất canh tác đạt thấp, tốc độ chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp còn chậm

1.2.2 Điều kiện xã hội

* Sự nghiệp giáo dục

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Tam Đảo được quan tâm đầu tư Hệ thống giáo dục được hình thành ở tất cả các cấp học, bậc học, từ mầm non đến trung học phổ thông Toàn huyện hiện có tổng số 38 đơn vị trường học, gồm:

Bậc học mầm non, có 12 trường Trong những năm qua, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-TU, ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Tỉnh Uỷ Vĩnh Phúc về nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân; Nghị quyết số 15/2007/NQ-HĐND ngày 04 tháng 7 năm 2007 của Hội Đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển Giáo dục - đào tạo giai đoạn 2007 - 2015 Bậc học mầm non đã được đặc biệt coi trọng, quan tâm đầu tư từ cơ sở vật chất đến đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, đến hết năm 2010, toàn huyện có 15 trường mầm non, với 4109 cháu Thu hút các cháu ra nhà trẻ đạt 65,5%; cháu mẫu giáo đạt 95%, trong đó mẫu giáo 5 tuổi đạt 100%, bậc học mầm non thực sự trở thành nền móng ban đầu của các cấp học cao hơn

Bậc Tiểu học có 13 trường, 282 lớp, 5702 học sinh; Khối Trung học cơ

sở có 10 trường, 168 lớp, 4408 học sinh; Khối Trung học phổ thông có 2 trường, 47 lớp 2.137 học sinh

Giáo dục không chính quy, đến nay huyện Tam Đảo có 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên và 9 Trung tâm học tập cộng đồng tại các xã, thị trấn Hàng năm, thông qua hệ thống giáo dục không chính quy đã thu hút, động viên hàng nghìn lượt người tham gia học tập nâng cao trình độ, tư vấn, trợ giúp về công nghệ, kỹ thuật sản xuất kinh doanh và pháp luật

Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cơ bản đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu Trình độ của đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao, giáo viên khối tiểu học có 99,5%; trung học cơ sở 98%; bậc mầm non 96% đạt chuẩn và trên

Trang 11

chuẩn Số giáo viên có tay nghề đạt yêu cầu trở lên đạt 100%, trong đó số đạt khá, giỏi là 70% Số học sinh các bậc học phổ thông tương đối ổn định, chất lượng giáo dục văn hoá ngày càng được nâng cao (số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6 đạt trên 99%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào Trung học phổ thông đạt trên 80%, tỷ lệ lưu ban, bỏ học các cấp dưới 1%) Số học sinh được học ngoại ngữ ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt 100%, tiểu học đạt 60% Môn tin học được triển khai theo phương thức dạy nghề ở cấp trung học phổ thông và dạy theo chương trình ở 100% các trường còn lại thuộc cấp trung học cơ sở và tiểu học

Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học của nhà trường được đầu tư thoả đáng Năm 2005 tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 37,5%, đến hết năm học 2010 -

2011 toàn huyện tỷ lệ là 82%; 100% các trường học được quy hoạch hiện đại, hàng năm ngân sách đầu tư chương trình kiên cố hoá trường học chiếm 40% tổng nguồn vốn xây dựng cơ bản của huyện, phấn đấu đến hết năm 2011, hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường học trên địa bàn

Có thể nói, sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã được Tam Đảo coi trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế -

xã hội của huyện trước mắt và lâu dài Do vậy, ngoài chương trình chung của

cả nước, huyện Tam Đảo và Tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều giải pháp quan tâm đầu tư, lấy phát triển giáo dục làm khâu đột phá vươn lên

ở các trạm y tế xã, thị trấn

Do lợi thế, nằm trong vùng khu bảo tồn đa dạng sinh học - Vườn Quốc gia Tam Đảo, với hệ động, thực vật vô cùng phong phú Cho nên, bên cạnh hệ

Trang 12

thống y tế xã, huyện, Tam Đảo còn có một đội ngũ đông đảo các thầy thuốc chữa bệnh bằng thuốc Đông y gia truyền, đặc biệt là các thầy thuốc là người dân tộc thiểu số Theo báo cáo của chi hội Y học cổ truyền Tam Đảo, toàn huyện hiện có 53 hội viên, hàng năm đã tìm kiếm, nghiên cứu được nhiều bài thuốc quý, đồng thời đã khám, chữa cho hàng chục ngàn bệnh nhân ở khắp các vùng, miền toàn Quốc Cũng do lợi thế về tài nguyên thiên nhiên vùng Tam Đảo, hiện nay UBND tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Tam Đảo đang nghiên cứu, cấp phép cho một số dự án đầu tư của các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài muốn đầu tư các khu dưỡng lão, chữa bệnh vào địa bàn Đây cũng

là một loại hình dịch vụ có thế mạnh của Tam Đảo

Hết năm 2010, trên địa bàn huyện đã hoàn thành 100% chuẩn y tế quốc gia giai đoạn I và là huyện hoàn thành sớm nhất chương trình xây dựng chuẩn

y tế quốc gia Mặc dù cơ sở vật chất đã được đầu tư, 100% các trạm y tế đã có bác sỹ, song trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh đang được tiếp tục đầu tư đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân

* Sự nghiệp văn hoá, thể thao, phát thanh, truyền hình

Các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao ngày càng phát triển Phong trào xây dựng làng văn hoá, đơn vị văn hoá và gia đình văn hoá được đẩy mạnh Đến hết năm 2010 có 85% hộ gia đình; 70% làng, bản đạt tiêu chuẩn văn hoá Hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của huyện đa dạng, phong phú, được quan tâm đầu tư trùng tu, tôn tạo và bảo tồn như: Lễ hội Tây Thiên, hệ thống các đền, chùa từ đền Thõng lên đền Thượng khu danh thắng Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm, đến các đền, chùa thuộc địa phận các xã và thị trấn Tam Đảo …Thông qua các lễ hội, hoạt động tín ngưỡng ở các đền, chùa, các điểm di tích mỗi năm đã thu hút hàng chục vạn lượt du khách đến tham quan và du lịch

Các thiết chế văn hoá, thể thao được quan tâm đầu tư Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh Các xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị, trường học hầu hết đã đầu tư được sân chơi, bãi tập thể dục, thể thao

Trang 13

1.3 Tổng quan về tình hình sử dụng các thiết bị làm đất phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

1.3.1 Tình hình sử dụng các thiết bị làm đất sản xuất lúa tại huyện Tam Đảo

Tam Đảo là huyện miền núi của Tỉnh Vĩnh phúc, điều kiện về đồng ruộng chủ yếu là ruộng bậc thang, diện tích nhỏ, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp

là chính Trong phát triển nông nghiệp thì cây lúa là cây chủ đạo, sản xuất lúa được các cấp các ngành quan tâm đầu tư trang thiết bị, giống và kỹ thuật trồng chăn sóc, nên sản lượng lúa ngày càng tăng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế địa phương

Một nguyên nhân đã góp phần tăng trưởng trong nông nghiệp đó là nông dân đã áp dụng máy móc thiết bị vào trong sản xuất, trong đó có khâu làm đất trồng lúa Theo kết quả điều tra khảo sát ở trong địa bàn huyện chúng tôi thấy nông dân đã áp dụng nhiều máy kéo hai bánh tay lái càng để phục vụ cho khâu làm đất gieo trồng lúa Theo kết quả thống kê của phòng nông nghiệp huyện Tam Đảo hiện tỷ lệ làm đất bằng máy kéo là 65%, còn 35 % làm đất bằng các hình thức khác ( như trâu kéo, bằng thủ công) Loại máy kéo được sử dụng là máy kéo hai bánh, tay lái càng, có kèm theo phay và lồng, Hình 1.1 là loại máy được sử dụng phổ biện tại địa phương

Hình 1.1: Loại máy kéo 2 bánh tay lái càng được dùng phổ biến tại địa phương

Trang 14

Kết quả điều tra cho thấy loại máy kéo phổ biến nhất tại huyện là loại máy kéo do công ty Trách nhiện hữu hạn máy nông nghiệp Việt Trung sản xuất, công suất từ 8 đến 15 mã lực Ngoài ra một số nơi có sử dụng máy kéo Đông Phong

do Trung Quốc sản xuất, máy kéo Bông Sen do Việt Nam sản xuất Kết quả điều tra các loại máy kéo sử dụng tại huyện Tam Đảo nghi ở bảng 1.5

Bảng 1.5: Một số loại máy kéo sử dụng tại địa phương

(cái)

Công suất (hp)

Ghi chú

1 Đạo Trù Đông Phong GS 81

Trang 15

Nhận xét: từ kết quả điều tra khảo sát chúng tôi có nhận xét sau:

- Có nhiều loại máy kéo được sử dụng tại địa phương, với nhiều mức công suất khác nhau

- Các loại máy kéo được sử dụng chủ yếu là loại máy kéo 2 bánh, tay lái càng, có kết hợp phay và bánh lồng

- Công suất chủ yếu là từ 10-15 mã lực (hp), có một số nơi có sử dụng loại công suất 18 mã lực hoặc 24 mã lực

- Loại máy kéo 4 bánh Kubota 24 của Nhật Bản sử dụng không hiệu quả, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp vì thửa ruộng nhỏ, ruộng bậc thang, vốn đầu

tư lớn, phụ tùng thay thế khó khăn

Hình1 2: Sử dụng máy kéo Đông Phong 121làm đất trồng lúa tại Tam Đảo

1.3.2 Những vấn đề tồn tại cần giải quyết trong việc áp dụng các thiết bị vào khâu làm đất phục vụ sản xuất nông nghiệp

Theo kết quả điều tra khảo sát đã trình bày ở trên cho thấy tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất để cấy lúa trên địa bàn huyện Tam Đảo còn thấp, chỉ đạt khoảng hơn 65% Nhưng trong quá trình sử dụng các loại máy vào sản xuất còn

Trang 16

nhiều tồn tại cần được nghiên cứu, khắc phục cụ thể như sau:

- Nhiều loại máy không phù hợp với điều kiện về diện tích các thửa ruộng, loại đất và quy mô sản xuất tại địa phương, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, chi phí làm đất bằng máy cao hơn làm bằng thủ công, từ đó ảnh hưởng đến đầu

tư thiết bị máy móc để áp dụng cho sản xuất, nhiều nông dân vẫn sử dụng các hình thức làm đất truyền thống là dùng sức trâu, bò cày, kéo Việc áp dụng các loại máy chưa có lựa chọn mà chỉ theo kinh nghiệm

- Chi phí làm đất bằng máy kéo lớn hơn chi phí làm đất bằng sức kéo của xúc vật vì khi áp dụng máy móc phát sinh nhiều chi phí như xăng dầu, sửa chữa, hỏng hóc do đó nhiều nơi vẫn lựa chọn làm đất bằng thủ công, bằng trâu bò

- Tuổi thọ của máy không cao, phụ tùng thay thế chất lượng kém, dẫn đến khấu hao máy lớn, từ đó dẫn đến chi phí sản xuất lớn

- Kỹ thuật sửa chữa, bảo dưỡng phức tạp, người sử dụng không được đào tạo kỹ năng sửa chữa, dẫn đến hiệu quả sử dụng máy thấp

- Vốn đầu tư mua máy cao nên ảnh hưởng đến việc đầu tư, trang bị máy móc phục vụ sản xuất

- Đặc điểm về địa hình đồng ruộng của huyện Tam Đảo đó là ruộng bậc thang nhiều, diện tích các thửa ruộng nhỏ từ đó hạn chế khả năng hoạt động của máy làm đất

Tóm lại: Việc áp dụng một số loại máy kéo để cơ giới hóa khâu làm đất

trồng lúa tại huyện Tam Đảo bước đầu đã mang lại hiệu quả, góp phần tăng năng suất lúa, chủ động được mùa, vụ, giải phóng sức lao động Nhưng việc áp dụng các loại máy vào sản xuất còn nhiều tồn tại đó là; chưa lựa chọn một cách khoa học mà chỉ lựa chọn theo kinh nghiệm và cảm tính của một số hộ nông dân, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, hiệu quả vốn đầu tư không cao Để khắc phục những tồn tại này cần phải có những nghiên cứu lựa chọn thiết bị để lựa chọn ra được loại máy phù hợp với điều kiện về địa hình, thổ nhưỡng của địa phương

Trang 17

1.4 Định hướng phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XV, nhiệm kỳ 2010 – 2015, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tam Đảo lần thứ II, nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã nêu “ Tập chung nguồn lực để phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, áp dụng cơ giới hóa vào các khâu sản xuất nông nghiệp để tăng năng xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu đến năm 2020 đưa nền nông nghiệp của huyện theo hướng hiện đại”

Như vậy Chủ trương, chính sách của huyện là đẩy nhanh việc áp dụng cơ giới hóa vào các khâu sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chú trọng đến khâu cơ giới hóa khâu làm đất trồng lúa Vì trong sản xuất lúa thì khâu làm đất là khâu nặng nhọc nhất, quan trọng nhất quyết định đến năng suất và hiệu quả kinh tế

Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện, trong thời gian qua huyện đã

có nhiều chính sách nhằm khuyến khích các hộ nông dân áp dụng máy móc vào sản xuất nông nghiệp như cho nông dân vay tiền mua máy với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ nông dân trong đào tạo kỹ năng sử dụng, sửa chữa máy, xây dựng mô hình trình diễn về áp dụng máy vào sản xuất nông nghiệp

Định hướng của huyện đến năm 2013 đưa tỷ lệ áp dụng cơ giới hóa trong khâu làm đất đạt trên 80%, khâu thu hoạch 25% và phấn đấu đến năm 2015 đưa tỷ lệ áp dụng

cơ giới hóa khâu làm đất trồng lúa lên 100% và khâu thu hoạch lúa trên 50%

1.5 Tổng quan các công trình nghiên cứu về lựa chọn thiết bị trong sản xuất nông lâm nghiệp

1.5.1 Một số công trình về lựa chọn công nghệ và thiết bị trong sản xuất nông lâm nghiệp trên thế giới

Bất cứ khi áp dụng công nghệ và thiết bị vào trong sản xuất thì đều phải tiến hành lựa chọn cho phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật và môi trường,

Trang 18

tùy theo tính chất của công nghệ và thiết bị mà ta tiến hành các phương pháp lựa chọn khác nhau

Trên Thế giới khi áp dụng các loại máy móc vào sản xuất nông lâm nghiệp thì người ta đã có những nghiên cứu lựa chọn khoa học và toàn diện từ những vấn đề về kỹ thuật, vấn đề về kinh tế và bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe của công nhân vận hành Sau đây là một số công trình nghiên cứu về lựa chọn cưa xăng và máy kéo vào trong sản xuất nông lâm nghiệp

- Tác giả J.Laarman và cộng sự trong công trình [42], đã công bố kết quả tính toán, lựa chọn công nghệ và một số loại cưa xăng, máy kéo trong sản xuất lâm nghiệp ở philippine, tác giả đã xây dựng được cách xác định một số chỉ tiêu kinh tế và đánh giá tác động đến môi trường của công nghệ và thiết bị

- Theo tài liệu [32] việc lựa chọn công nghệ và thiết bị vào trong sản xuất phải tiến hành qua hai bước lựa chọn sơ bộ và lựa chọn chi tiết, tài liệu cũng đã đưa ra phương pháp tính toán chi phí sản xuất khi sử dụng máy và thiết bị, chi phí khấu hao thiết bị trong khai thác gỗ

- Theo tài liệu [33] [34] [38], thì các chỉ tiêu lựa chọn công nghệ và thiết

bị phải bao gồm chỉ tiêu về kinh tế, chỉ tiêu về kỹ thuật, chỉ tiêu về môi trường sinh thái và chỉ tiêu bảo vệ sức khỏe và an toàn lao động, trong đó đặc biệt nhấn mạnh chỉ tiêu bảo vệ môi trường sinh thái

- Một số công trình [46] [47] [53] đề cập đến các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các thiết bị trong sản xuất, các giải pháp đưa ra đó là công suất của các thiết bị đưa vào sử dụng phải phù hợp không lớn quá, không nhỏ quá, sử dụng nhiều chức năng trên một thiết bị

- Một số công trình tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động, vận hành máy [27] [28], kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố về dao động, rung động, tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép làm ảnh hưởng tới sức khỏe của công nhân vận hành và như vậy thì ảnh hưởng tới năng

Trang 19

suất và hiệu quả sử dụng máy Do đó khi lựa chọn thiết bị phải quan tâm đến yếu

tố này

- Một số công trình tập trung nghiên cứu, đánh giá sử dụng cưa xăng chặt

hạ gỗ [38] [39] [40] [49], các công trình này tập trung nghiên cứu năng suất và chi phí sản xuất khi sử dụng cưa xăng để chặt hạ gỗ, nghiên cứu dao động của cưa xăng ảnh hưởng đến người lao động, các tài liệu trên đều đưa ra cách tính khấu hao của cưa xăng chặt hạ gỗ rừng trồng

- Theo một số tài liệu của FAO, [32] [33], đã xây dựng được phương pháp tính toán năng suất, chi phí sản xuất khi sử dụng máy kéo nông nghiệp vận suất

gỗ ở một số nước, kết quả tính toán làm tài liệu tham khảo để tính toán năng suất

và chi phí sản xuất khi sử dụng máy kéo nông nghiệp để làm đất trồng trọt

Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về lựa chọn thiết bị, sử dụng thiết bị,

đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị trên thế giới rất phong phú Kết quả nghiên cứu đã đưa ra phương pháp thực nghiệm để xác định các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của thiết bị, phương pháp tính toán chi phí sản xuất, khấu hao máy móc, thiết bị Kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo rất tốt khi tính toán lựa chọn thiết bị vào điều kiện cụ thể của sản xuất

1.5.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu lựa chọn thiết bị cơ giới hóa nông lâm nghiệp ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam cũng như Trên thế giới có nhiều loại máy kéo dùng

để làm đất trồng lúa Mỗi loại máy kéo khác nhau có các thông số kỹ thuật khác nhau, vốn đầu tư khác nhau và điều kiện sự dụng cũng khác nhau; như vậy việc lựa chọn loại máy nào để thực hiện cho phù hợp với điều kiện thực tiễn là việc làm cần thiết nhằm phát huy tốt nhất đặc tính của máy Khi áp dụng các loại máy

và thiết bị vào sản xuất thì nhất thiết phải tiến hành lựa chọn một cách khoa học

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về lựa chọn các loại máy

và thiết bị vào trong sản xuất nông lâm nghiệp đó là:

- Đề tài trọng điểm cấp Nhà nước “ Nghiên cứu lựa chọn công nghệ và hệ

Trang 20

thống thiết bị cho mô hình sản xuất lúa theo hướng cơ giới hóa đồng bộ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng đồng bằng sông Hồng, mã số: KC07.06/06-

10 [19], do TS Chu Văn Thiện, Viện cơ điện và công nghệ sau thu hoạch làm chủ nhiệm, kết quả của đề tài đã xây dựng được hai mô hình cơ giới hóa sản xuất lúa ở hai vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, đã lựa chọn được hệ thống thiết bị cơ giới hóa sản xuất lúa phù hợp cho hai mô hình, đề tài đưa ra khuyến nghị nên sử dụng máy kéo 4 bánh công suất từ 25 – 35 mã lực cho hiệu quả kinh tế cao Song đối với từng địa phương cụ thể thì đề tài chưa đưa ra nên áp dụng loại máy nào cho phù hợp

- PGS.TSKH Phan Thanh Tình tác giả công trình nghiên cứu “ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng máy và thiết bị trong nông nghiệp” [25], đã công

bố một số chỉ tiêu dùng để đánh giá quá trình sử dụng máy móc và thiết bị trong sản xuất nông lâm nghiệp, tác giả chưa đưa ra được các chỉ tiêu lựa chọn cho từng loại thiết bị

- Tác giả Nguyễn Văn Bỉ tác giả công trình “ Một số phương pháp tuyển chọn máy móc thiết bị khai thác lâm sản và cơ giới hóa nông thôn miền núi” [3],

đã xây dựng được một số phương pháp tuyển chọn thiết bị trong khai thác lâm sản Song công trình chưa có nghiên cứu tuyển chọn máy làm đất trồng lúa

- Tác giả Nguyễn Văn Bỉ trong công trình “ Phương pháp lập và giải bài toán tối ưu trong công nghiệp rừng” [2], đã đưa ra phương pháp giải bài toán đa mục tiêu trong công nghiệp rừng, đó là phương pháp nhân tử Lagrăng và phương pháp hàm trọng lượng

- Tác giả Nguyễn Văn Bỉ trong công trình “Giải bài toán tối ưu đa mục tiêu trong công nghiệp rừng” [4], tác giả đã trình bày phương pháp và các bước giải bài toán đa mục tiêu khi các mục tiêu trái ngược nhau

- Tác giả Dương Văn Tài với công trình “ Đánh giá hiệu quả sử dụng cưa xăng tại Lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn”, đã xây dựng được phương pháp khảo nghiệm cưa xăng trong chặt hạ, đã xác định được một số chỉ tiêu kinh tế,

Trang 21

kỹ thuật của cưa xăng, từ đó đã đánh giá được hiệu quả kinh tế khi sử dụng cưa xăng để chặt hạ gỗ [16]

- Tác giả Trịnh Hữu Trọng trong công trình “ Nghiên cứu lựa chọn công nghệ và thiết bị cho công ty Rừng nguyên liệu Miền Bắc” đã công bố các chỉ tiêu lựa chọn cưa xăng và máy kéo để khai thác gỗ rừng trồng cho Công ty nguyên liệu miền Bắc, tác giả đã lựa chọn được loại cưa xăng hợp lý để chặt hạ

Tóm lại: Đã có một số công trình nghiên cứu tuyển chọn thiết bị để cơ

giới hóa một số khâu sản xuất trong nông lâm nghiệp, song chủ yếu tập trung vào lựa chọn cưa xăng chặt hạ gỗ rừng trồng Các công trình nghiên cứu lựa chọn máy kéo làm đất cấy lúa còn hạn chế; trong thực tế có nhiều loại máy kéo làm đất như hiện nay thì việc nghiên cứu lựa chọn ra một loại máy cho phù hợp với điều kiện là việc làm rất cần thiết, nhằm sử dụng có hiệu quả thiết bị, định hướng cho nhà chế tạo, nhập khẩu máy móc, thiết bị

Với những phân tích ở trên chúng tôi chúng tôi chọn và thực hiện đề tài

“Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” là rất cần thiết trong điều kiện hiện nay

Trang 22

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU, THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận cho việc lựa chọn thiết bị làm đất trồng lúa, từ

đó lựa chọn được loại thiết bị hợp lý để làm đất trồng lúa tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

2.2 Nội dung nghiên cứu

Với phạm vi nghiên cứu đã trình bày ở phần trên, để đạt được mục tiêu của

đề tài đặt ra, luận văn tập trung giải quyết những nội dung sau:

a) Nghiên cứu lý thuyết

- Xây dựng chỉ tiêu để lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp

- Thiết lập các hàm mục tiêu để lựa chọn máy làm đất

- Giải bài toán tối ưu để lựa chọn máy làm đất hợp lý

b) Nghiên cứu thực nghiệm

- Điều tra khảo sát về đặc điểm về điều kiện địa hình, thổ nhưỡng và điều kiện về diện tích các thửa ruộng canh tác trồng lúa trên địa bàn huyện;

- Điều tra khảo sát một số loại máy móc phục vụ khâu làm đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc;

- Điều tra khảo sát về tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

- Thực nghiệm xác định một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của một số thiết bị

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu lựa chọn máy làm đất trồng lúa là một vấn đề rộng và cần thời gian dài, trong đề tài này chỉ giới hạn các nội dung sau đây:

Trang 23

2.3.1 Thiết bị nghiên cứu: Là một số loại máy kéo làm đất hiện đang sử dụng tại địa

phương và ở Việt Nam, không lựa chọn các loại máy kéo có ở trên thế giới nhưng khó

có điều kiện áp dụng ở Việt Nam

2.3.1.1 Một số loại máy kéo sử dụng phổ biến tại địa phương

Từ kết quả điều tra khảo sát tại địa phương, chúng tôi thấy loại máy kéo phù hợp nhất đó là loại máy kéo 2 bánh, tay lái càng, có kèm theo bánh lồng và phay Do vậy trong đề tài này chúng tôi lựa chọn loại máy kéo 2 bánh để nghiên cứu tính toán lựa chọn

Trên thị trường trong và ngoài nước loại máy kéo 2 bánh rất phổ biến, nhiều chủng loại, nhiều mức công suất khác nhau, mỗi loại máy có ưu nhược điểm khác nhau, khi sử dụng vào điều kiện cụ thể cho năng suất và hiệu quả kinh tế khác nhau Sau đây là một số loại máy kéo 2 bánh có thể sử dụng tại địa phương

- Loại máy kéo do Công ty trách nhiệm hữu hạn Việt Trung sản xuất, đây

là loại máy liên doanh giữa Việt Nam và Trung Quốc, loại máy này có nhiều mức công suất khác nhau từ 8-18 mã lực, loại máy này vốn đầu tư rẻ, phụ tùng thay thế sẵn có, dịch vụ bán hành rộng trong cả nước Hình 2.2 là hình ảnh của loại máy kéo Việt Trung GN 91 công suất 10 hp

Hình 2.2: Máy kéo GN 91do công ty Việt trung sản xuất

- Loại máy kéo Bông Sen, đây là loại máy kéo do Công ty trách nhiệm

Trang 24

hữu hạn một thành viên máy kéo và máy nông nghiệp Việt Nam chế tạo, loại máy này có độ bền cao hơn máy của Trung Quốc sản xuất, nhưng giá thành cao hơn máy Trung Quốc, công suất của loại máy này chủ yếu là 12 hp, một số lắp động cơ 15 hp, hình 2.3 là ảnh máy kéo Bông Sen BS12

Hình 2.3: Máy kéo Bông Sen do Việt Nam sản xuất

- Máy kéo Đông Phong: Đây là loại máy kép được sử dụng rộng rãi nhất

hiện nay, loại máy kéo này có nhiều mức công suất động cơ khác nhau từ 8-24

mã lực, giá mua máy rẻ, phụ tùng thay thế sẵn có, Tuy nhiên loại máy này tuổi thọ một số chi tiết thấp, hình 2.4 là ảnh của máy kéo Đông Phong

Trang 25

Hình 2.4: Máy kéo Đông Phong GM151 do Trung Quốc sản xuất

- Loại náy kéo Sunyu: Do tập đoàn Sunyu Trung Quốc sản suất, loại

máy này có nhiều mức công suất khác nhau từ 10-24hp, loại náy này hiện đang được sử dụng ở một số địa phương trong cả nước, hình ảnh máy kéo Sunyu được thể hiện trên hình 2.5

Hình 2.5: Máy kéo Sunyu 121 do Trung Quốc sản xuất

2.3.1.2 Thông số kỹ thuật của một số loại máy làm đất

Căn cứ vào cattalog của một số loại máy kéo đang được sử dụng rộng rãi

ở Việt Nam, chúng tôi tổng hợp một số thông số kỹ thuật chính của một số loại máy kéo và được nghi ở bảng 2.1;

Trang 26

Bảng 2.3: Thông số kỹ thuật của một số loại máy kéo sử dụng ở Việt Nam

STT Loại máy

Công suất (hp)

Bề rộng làm việc (m)

Trọng lượng (kg)

Tiêu hao

NL (lít/h)

Giá máy (đồng)

2.3.2 Đối tượng, địa điểm của máy làm đất:

- Đề tài không nghiên cứu thực nghiệm tất cả các đất sản xuất nông nghiệp ở

huyện Tam Đảo, mà chỉ tập trung nghiên cứu thực nghiệm ở loại ruộng có đặc

trưng cho đất sản xuất lúa của huyện

- Đề tài không có điều kiện khảo nghiệm nhiều loại ruộng, mà chỉ chọn loại ruộng đặc trưng nhất cho sản xuất nông nghiệp của huyện

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết sử dụng trong đề tài là áp dụng lý thuyết lựa chọn thiết bị máy móc Nội dung của phương pháp này có thể tóm tắt như sau:

Xây dựng các chỉ tiêu để lựa chọn thiết bị, từ đó xác định hàm mục tiêu và các tham số ảnh hưởng đến hàm mục tiêu, xây dựng và lựa chọn phương pháp giải

Trang 27

bài toán lựa chọn thiết bị Nội dung của phương pháp này được trình bày trong các tài liệu [2]; [3]; [25]

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Phương pháp điều tra khảo sát xác định đại lượng nghiên cứu trong luận văn được thực hiện theo phương pháp điều tra chuyên ngành Nội dung của phương pháp cũng như việc xử lý các kết quả được trình bày trong các tài liệu [12], [13]

Việc tổ chức và tiến hành thí nghiệm xác định một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của một số loại máy được tiến hành theo phương pháp thống kê toán học và phương pháp khảo nghiệm máy nông nghiệp, quá trình tổ chức thực nghiệm cũng như xử lý các số liệu thí nghiệm được trình bày rõ trong các tài liệu [11], [12], [13]

Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu nêu trên sẽ được trình bày cụ thể

ở các chương tiếp theo khi tiến hành nghiên cứu từng nội dung

2.5 Điều kiện địa hình tại địa phương

Tam Đảo là huyện miền núi nằm ở phía Đông - Bắc tỉnh Vĩnh Phúc, ngã ba ranh giới của Vĩnh Phúc với hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, cách thành phố Vĩnh Yên 10 km, sân bay quốc tế Nội Bài hơn 30 km Địa bàn của huyện trải dài theo dãy núi Tam Đảo, phía Đông - Nam và Nam giáp huyện Bình Xuyên, phía Nam và Tây - Nam giáp huyện Tam Dương, phía Tây giáp huyện Lập Thạch, Tây - Bắc giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc và Đông - Bắc giáp huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

Tam Đảo có diện tích tự nhiên: 235.731 ha Dân số năm 2008 là 69.928 người, là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Vĩnh Phúc nhưng lại là đơn

vị có dân số ít nhất trong Tỉnh, mật độ dân số là 293 người/km2, dân số thành thị chiếm trên 10%

Tam Đảo có 09 đơn vị hành chính, gồm thị trấn Tam Đảo và 8 xã: Bồ Lý, Đạo Trù, Đại Đình, Hợp Châu, Hồ Sơn, Minh Quang, Tam Quan, Yên Dương

Là huyện có địa hình khá đa dạng, cảnh quan đẹp và khí hậu trong lành, mát mẻ Tam Đảo là tên gọi của 3 đỉnh núi cao (so mặt nước biển): Thiên Thị (1.375m); Thạch Bàn (1.388m); Phù Nghĩa (1.375m) Dãy núi Tam Đảo kéo dài trên 80km, với khoảng 20 đỉnh núi cao, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc (1.592m) Từ dải núi Tam Đảo một loạt các suối nhỏ cắt sẻ gần như vuông góc với hướng kéo dài của dãy núi, tạo ra cho Tam Đảo có địa hình bị chia cắt, sẽn giữa những quả đồi hình bát úp là những thửa ruộng bậc thang và cả những cánh đồng bằng

Trang 28

2.6 Điều kiện về thổ nhưỡng tại địa phương

Qua các kết quả nghiên cứu và số liệu phân tích đất Vĩnh Phúc được lưu giữ tại Sở Nông nghiệp & PTNT giai đoạn 1968 – 2003; Viện Thổ nhưỡng Nông hóa; Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp & PTNT); Trung tâm địa môi trường và Tổ chức vùng lãnh thổ (thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) thì Tam Đảo có cấu tạo địa tầng rất cổ, được hình thành từ rất lâu đời Đặc điểm chính của mặt cắt phát sinh, lý – hóa tính được thể hiện và chia thành các loại như sau:

Bảng 2.1: Phân loại đất phát sinh huyện Tam Đảo

TT Nhóm và loại đất phát sinh Diện tích

(ha)

Tỷ lệ (%)

1 Đất phù sa được bồi của các sông 36,09

2 Đất phù sa không được bồi, không có

tầng gơ lây tầng loang lổ đỏ vàng

Đất mùn – Vàng xám trên đá macma axit 2.134,31

V Đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa 228,87 0,97

Trang 29

- Đất phù sa được bồi của các sông: Loại đất này có diện tích khoảng

36,09ha, nằm trên thềm bồi vèn bờ và bãi bồi của sông Phó Đáy, phân bố tập trung ở các xã Yên Dương, Bồ Lý, phía Tây xã Đại Đình ven suối Đùm Đất

có thành phần cơ giới cát pha – thịt nhẹ, pHKCL gần trung tính, dao động trong khoảng 5,5-6,0 Diện tích đất phù sa được bồi đã được nhân dân khai thác trồng rau, màu, đậu đỗ, cấy lúa một vụ cho năng suất khá và ổn định

- Đất phù sa không được bồi không có tầng gơlây và tầng loang lổ đỏ vàng: Loại đất này có diện tích khoảng 182,65 ha, nằm trên thềm bậc một của

sông, ở địa hình vàn – vàn cao, có thành phần cơ giới thịt nhẹ - trung bình, khá tơi xốp và màu mỡ, nên thường được sử dụng để cấy hai vụ lúa liên tục

Nhìn chung, các loại đất phù sa của huyện có độ phì nhiêu tự nhiên từ trung bình khá, dễ khai thác và sử dụng ổn định, đất ít chua, gần trung tính (pHKCL thường từ 5,5-6,0); Đạm tổng số N% là 0,085 – 0,100%, ở mức trung bình khá; Hàm lượng mùn % dao động trong khoảng 1,0-1,5%, đạt mức trung bình; Lân tổng số P2O5 % là 0,08 – 0,1%, từ trung bình – giàu; K2O5% tổng số biến thiên từ 0,12-0,16%

Đất phù sa sông có địa hình khá bằng phẳng , ít dốc, nguồn nước tưới khá thuận lợi, nên đã được khai thác tập trung cấy 1-2 vụ lúa, trồng rau, màu, đậu đỗ, lạc mía, dâu tằm, hoa, cây ăn quả (nhãn, táo, cam, vải thiều, xoài ) cho năng suất khá, chất lượng cao và ổn định

Trang 30

* Đất bạc màu

Nhóm đất bạc màu ở huyện Tam Đảo chỉ có một loại là đất bạc màu trên phù sa cũ, có diện tích 3.628,03 ha (chiếm 15,39% DTTN), thường phân bố trên các thềm sông cũ địa hình lượn sóng nhẹ, dốc thoải 3-80, khá rộng ở các xã như Yên Dương, Bồ Lý, Đạo Trù, Hồ Sơn, Hợp Châu, Minh Quang và hẹp hơn ở Tam Quan, Đại Đình

Do địa hình dốc thoải nhẹ, lại được khai thác sử dụng từ rất sớm và trải qua thời kỳ quảng canh bóc lột đất kéo dài trong lịch sử canh tác, nên đất bị rửa trôi mất dần các dưỡng chất, mùn, Fe, các cation kiềm thổ Đất bạc màu có tầng canh tác mỏng, màu trắng – trắng xám; Đất có khả năng giữ nước, giữ màu rất kém Sau khi bừa đất bị rẽ (lắng nén) rất nhanh, nên “Trâu ra, mạ vào” ngay nếu không rất khó cấy, pHKCL khoảng 4,0 – 4,5, đất chua – rất chua; mùn % là 0,8-1,2%, rất nghèo – nghèo; N% khoảng 0,020 – 0,065%, rất nghèo – nghèo;

P2O5% là 0,02 – 0,05%, rất nghèo

Đất bạc màu có độ phì nhiêu tự nhiên rất thấp – thấp, thường có tầng loang lổ đỏ vàng hoặc tầng kết von non ở ngay sát lớp đất mặt nên kém màu mỡ, khi bị khô hạn, đất chặt cứng và đang bị nguy cơ hoang mạc hóa đe dọa Tuy nhiên đất bạc màu có địa hình ít dốc, dễ khai thác và là một trong những loại đất đạt hiệu quả đầu tư thâm canh cao với các sản phẩm là hàng hóa như: Lúa, lạc, đậu tương, cà chua chất lượng tốt

* Đất đỏ vàng

Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 15.675,34ha (chiếm 66,5% DTTN) Tùy thuộc vào kiểu phong hóa thổ nhưỡng –feralit, bản chất và thành phần khoáng vật của đá mẹ, vào hình thái mặt cắt phát sinh và màu sắc đặc trưng của tầng đất xám bạc màu, vào các đặc điểm và tính chất hóa và lý học , nhóm đất đỏ vàng được chia ra thành 3 loại:

- Đất đỏ vàng phát triển trên đá sét:

Trang 31

Loại đất này phân bố khá phân tán ở vùng đồi núi, có diện tích khoảng 2.483,86ha phân bố tập trung ở phía Tây nam xã Đạo Trù, Bắc xã Yên Dương, Nam Đại Đình, hẹp và phân tán hơn ở Tây Nam xã Hồ Sơn Đất đỏ vàng trên đá sét có một số đặc điểm sau:

+ Vỏ phân hóa của các đá sét khá sâu (có thể tới 5-6m), nên lớp phủ đất

đỏ vàng có tầng dày trung bình 1,5 – 2,5 m

Thành phần cơ giới của đất từ trung bình - nặng, giàu sét, kết cấu chặt, kém bền vững và ít tơi xốp hơn đất đỏ vàng phát triển trên các đá biến chất

- Đất vàng đỏ phát triển trên đá macma axit:

Đất vàng đỏ trong khu vực chủ yếu phát sinh trên vỏ phong hóa của đá riolit hoặc granit, có diện tích 10.378,12ha, phân bố thành một dải kéo dài suốt sườn Tây núi Tam Đảo, dốc đến rất dốc (phần lớn là 20-350 hoặc hơn nữa) thuộc các xã Đạo Trù, Đại Đình, Tam Quan, Hồ Sơn, Minh Quang

- Đất vàng nhạt trên đá cát:

Đất vàng nhạt phát sinh và phát triển trên đá cát hoặc bột kết hạt thô có diện tích khoảng 2.813,36ha, phần lớn phân bố trên địa hình đồi cao – núi thấp dốc 10-250 ở phía Nam xã Đạo Trù, Tây Nam xã Đại Đình, Nam xã Minh Quang, Bắc và phần trung tâm xã Bồ Lý, trung tâm xã Hồ Sơn, phân tán và hẹp hơn ở xã Tam Quan, Yên Dương

Thành phần cơ giới của đất từ cát pha – thịt nhẹ, rời rạc, nên khả năng giữ

ẩm và các loại phân bón đều rất kém Đất chua – rất chua, pHKCL thường <4,00

* Đất mùn – vàng đỏ trên núi

Đất Mùn – Vàng đỏ trên núi ở Tam Đảo có diện tích 2.134,31ha (chiếm 9,05% DTTN), phân bố trên độ cao 900-1.592m, thường là vùng núi đầu nguồn và phần đường chia nước của đỉnh Tam Đảo ở ranh giới giữa tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang

* Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước

Trang 32

Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước có diện tích 228,87ha (chiếm 0,97% DTTN), phát sinh và phát triển trên các ruộng bậc thang có độ chênh bờ 30-60cm, được nhân dân tạo lập trên sườn ít dốc hoặc chân sườn các loại đất đồi – núi thấp có độ dốc < 150, phân bố phân tán ở phía sườn Tây Nam huyện Loại đất này có một số đặc tính sau:

- Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, thịt trung bình Dưới tầng đế cày đất

có thể nặng do nhiều sét hơn Nhìn chung, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước có độ phì nhiêu trung bình, nhưng nhiều chân ruộng bậc thang ở vùng sâu hiện nay đã bị bạc màu thoái hóa và thường mới chỉ cấy 01 vụ lúa

* Đất dốc tụ

Đất dốc tụ hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi của tất cả các đồi núi tích tụ lại ở các chân đồi thoải hoặc khe dốc hẹp, có diện tích khoảng 746,14ha (chiếm 3,17% DTTN), phân bố phân tán thành rất nhiều khoảnh nhỏ

và phần lớn đã được khai thác trồng lúa 1-2 vụ, hoặc trồng hoa màu như Lạc, đậu tương, ngô Độ phì nhiêu cũng như thành phần cơ giới của đất dốc tụ phụ thuộc khá nhiều vào đặc điểm thổ nhưỡng của đất đồi núi kế cận Loại đất này có một số đặc điểm chính sau:

- Tầng dày >1,00m, tầng đất mặt có thành phần cơ giới cát pha – thịt, các tầng đất sâu nặng hơn chút ít

Như vậy tài nguyên đất của huyện khá đa dạng, với những điều kiện địa hình, điều kiện thổ nhưỡng như trên cho phép hoạch định kế hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng đa dạng sản phẩm hàng hóa và sử dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp theo đặc thù riêng

Tóm lại: Thành phần đất trồng lúa của huyện chủ yếu là đất thịt và thịt

pha cát, các lý tính của loại đất này ảnh hưởng rất lớn đến tiêu hao công suất của máy làm đất, chiều sâu tầng đất dầy từ 25-35 cm, những đặc điểm này đòi hỏi máy kéo có công suất nhất định thì năng suất mới cao được

Trang 33

2.7 Điều kiện về diện tích các thửa ruộng đất canh tác tại địa phương

Với địa hình bị chia cắt bởi nhiều sông, suối nhỏ sen kẽ bởi các quả đồi do

đó đồng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp (trồng lúa nước 2 vụ) của huyện Tam Đảo được hình thành từ những thửa ruộng rất nhỏ và có độ chênh cao giữa các thửa (bậc thang), diện tích các thử ruộng được thể hiện trên bảng 2.2

Bảng 2.2: Tình hình phân bố các thửa ruộng trên địa bàn huyện

Tổng DT đất trồng lúa (ha)

Số thửa đất (thửa)

Bình quân (m 2 /thửa)

Trang 34

Hình 2.1: Hình ảnh về đồng ruộng của huyện Tam Đảo

2.8 Công nghệ làm đất trồng lúa

a) Sơ đồ công nghệ làm đất

Khâu làm đất để cấy lúa là khá quan trọng trong quá trình sản xuất lúa, nó ảnh hưởng đến năng suất, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa Công nghệ làm đất trồng lúa hiện nay được thực hiện theo các sơ đồ sau

- Sơ đồ công nghệ 1:

Ruộng sau

khi thu hoạch

Cày (phơi đất)

Lồng + phay + trang

Ruộng đã làm đất xong để cấy

Lồng + phay + trang lần 2

Ruộng đã làm đất xong để cấy

- Sơ đồ công nghệ 3:

Ruộng sau khi thu

hoạch

Lồng + phay (4-5) lần

Ruộng đã làm đất xong để cấy

Trang 35

b) Thuyết minh sơ đồ công nghệ làm đất

- Sơ đồ công nghệ 1: Đây là công nghệ làm đất cho chất lượng tốt nhất,

ruộng lúa sau khi thu hoạch ta tiến hành cày để phơi đất, mục đích để cho rễ cây

ải mục ra, khí độc thoát ra ngoài đất, vi sinh vật sâu bệnh bị tiêu diệt, mầm bệnh

bị tiêu diệt Khi đất được cày ra phơi ải thì độ tơi xốp của đất rất tốt, tạo điều kiện trao đổi chất với rễ cây lúa tốt hơn Như vậy theo kết quả nghiên cứu thì đất cày ải được chất lượng tốt hơn 10% so với đất không cày ải, việc cày ải này còn phụ thuộc vào điều kiện canh tác của từng vùng, miền, đối với vụ chiêm xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng thì việc cày ải là rất tốt Công nghệ cày ải chỉ thực hiện được đối với ruộng khô, còn đối với ruộng nước là không thực hiện được

Đối với ruộng lúc nào cũng có nước, sau khi gặt người ta cũng tiến hành cày ngả để ngâm đất ở trong nước, mục tiêu là làm cho gốc rạ chết và thối nhanh, tiêu diệt mầm bệnh, đến khi làm đất cấy lúa nhanh ngẫu hơn

Như vậy khâu cày tạo điều kiện thuận lợi cho khâu phay, lồng nhanh hơn, đất sau khi làm nhỏ hơn, nhuyễn hơn

Sau khi phơi ải xong hoặc cày ngả xong người ta bơm nước vào đối với ruộng phơi ải và tiến hành phay kết hợp với lồng, số lượt phay với lồng lặp lại phụ thuộc vào từng loại đất, thông thường số lần lặp lại từ 3-5 lần, đến khi đất đã được phay nhuyễn ra đạt yêu cầu đất cấy hoặc gieo được thì khâu làm đất hoàn thành Để cho ruộng bằng phẳng thì lượt cuối cùng trang cho ruộng phẳng (máy kéo theo trang)

Các kết quả nghiên cứu cho thấy làm đất theo sơ đồ công nghệ 1 cho chất lượng cây trồng tốt nhưng chi phí làm đất tăng lên 10 – 20%, song nếu xét hiệu quả cuối cùng của quá trình trồng lúa thì năng suất cây trồng tốt hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài trọng điểm cấp Nhà nước KC 07.06/06 – 10 thì công nghệ làm đất theo sơ đồ 1 là tốt nhất và áp dụng cho hai vùng trồng lúa trọng điểm của Việt Nam đó là vùng đồng bằng sông Cửu Long

và vùng đồng bằng sông Hồng

Trang 36

- Sơ đồ công nghệ 2:

Đối với ruộng lúa sau khi thu hoạch còn nước, ruộng còn lấm bùn thì nên

sử dụng sơ đồ công nghệ 2 Sử dụng máy phay kết hợp với bánh lồng tiến hành lồng và phay đất ngay mà không cần phải cày Quá trình lồng và phay chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Lồng và phay khoảng từ 2 đến 3 lượt để cho thối gốc rạ và ngâm cho đất ngẫu, thời gian ngâm tùy thuộc vào thời vụ

Giai đoạn 2: Lồng và phay kết hợp trang khoảng 2 đến 3 lần, lần cuối cùng trang cho ruộng phẳng Đất sau khi phay lần đầu sau đó ngâm ủ một thời gian đều đã mềm nhuyễn, tiến hành phay lần 2 làm cho đất nhanh bị nhuyễn

Như vậy làm đất theo sơ đồ công nghệ 2 giảm được công cày, đất vẫn được nhuyễn, chất lượng khâu làm đất tốt, giảm được chi phí Đối với vụ mùa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long thì áp dụng sơ đồ công nghệ 2 cũng cho hiệu quả tốt

- Sơ đồ công nghệ 3:

Đất ruộng sau khi thu hoạch còn lấm chân, còn bùn, ruộng có nước ta tiến hành phay kết hợp với lồng khoảng 4 đến 5 lần cho đến khi đất nhuyễn đạt yêu cầu của quá trình cấy hoặc gieo Như vậy sơ đồ công nghệ này không có thời gian để ngâm đất cho thối gốc rạ, do vậy chất lượng làm đất thấp, tốn công, mầm bệnh lưu hóa, sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa kém

Sơ đồ công nghệ này chỉ áp dụng với nơi vì lý do thời vụ không có thời gian ngâm ủ đất

c) Lựa chọn công nghệ làm đất hợp lý

Từ phân tích ở trên mỗi loại sơ đồ công nghệ có ưu nhược điểm nhất định, điều kiện áp dụng nhất định Việc lựa chọn sơ đồ công nghệ phải căn cứ vào điều kiện đồng ruộng cụ thể, thời vụ cụ thể, thời gian từ lúc làm đất đến lúc cấy

để lựa chọn sơ đồ công nghệ làm đất hợp lý

Trang 37

- Đối với đồng bằng sông Hồng: Vụ chiêm xuân chọn theo sơ đồ công nghệ 1, đất sau khi thu hoạch để khô, cày ải, phơi ải sau đó lồng và phay để cấy hoặc gieo Vụ mùa chọn theo sơ đồ công nghệ 2, phay kết hợp với lồng hai giai đoạn, để làm được theo sơ đồ công nghệ 2 thì ruộng phải ngâm nước liên tục, thời vụ đảm bảo có thời gian ngâm ủ đất từ 5 đến 10 ngày

- Đối với đồng bằng sông Cửu Long: Vụ hè thu sử dụng sơ đồ công nghệ

1, cài ải đối với ruộng đất khô, cày ngâm ủ đối với ruộng đất ướt, còn đối với vụ đông xuân và vụ mùa nên sử dụng công nghệ 2 tức là phay lồng làm 2 giai đoạn

Tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt do hạn chế về mặt thời vụ không cho phép kéo dài thời vụ cấy thì lựa chọn sơ đồ công nghệ 3

Tóm lại: Công nghệ làm đất cấy lúa hiện nay được thực hiện như sau:

Cày ngả (cày ải) sau đó là lồng kết hợp phay hoặc lồng kết hợp phay 2 giai đoạn Với công nghệ làm đất trồng lúa này cho chất lượng tốt, đáp ứng được yêu cầu sinh trưởng, phát triển của cây lúa

Trang 38

Chương 3

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LỰA CHỌN HỆ THỐNG THIẾT BỊ LÀM ĐẤT

PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 3.1 Các phương pháp lựa chọn thiết bị

Việc tuyển chọn thiết bị sản xuất nói chung thường căn cứ vào kết quả tính toán, đánh giá một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của chúng trong cùng một điều kiện làm việc Để có cơ sở tuyển chọn trước tiên phải xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá Tuỳ theo quan điểm và mục đích của người tuyển chọn mà các chỉ tiêu này cũng rất khác nhau

Theo trình tự phát triển của bài toán chúng tôi giới thiệu một số phương pháp chọn thiết bị thường được áp dụng trong lĩnh vực Nông - Lâm nghiệp

3.1.1 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế trực tiếp

Theo phương pháp này thì chỉ tiêu quan trọng nhất được chọn để đánh giá các thiết bị là lợi nhuận, tức là số tiền lãi mà thiết bị làm ra trong một năm sản xuất hoặc trong cả đời làm việc của nó Do đó có hai cách xác định hiệu quả trực tiếp là:

3.1.1.1 Lợi nhuận hàng năm

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Cơ điện Nông nghiệp và chế biến nông sản [25], lợi nhuận hàng năm được tính theo công thức sau (Không kể khấu hao máy và lãi xuất vốn đầu tư):

Ln = A(Tn - Cpm) (3.1)

Trong đó: Ln - Lợi nhuận thu được hàng năm tính bằng tiền

A - Khối lượng đơn vị công việc (m2) mà công cụ, máy móc làm được trong năm,

Tn - Đơn giá khi thực hiện công việc

Cpm - Chi phí sản xuất cho 1 đơn vị công việc (đồng, hoặc đơn vị sản phẩm) Chi phí sản xuất cho một đơn vị công việc (Cpm) được tính như sau:

Trang 39

Trong đó: Scl - Chi phí sửa chữa lớn cho 1 đơn vị công việc (đồng)

Sct - Chi phí sửa chữa thường xuyên và phục vụ kỹ thuật

Ll - Chí phí lao động trực tiếp bao gồm lương thợ chính và phụ tính theo bậc công việc hoặc đơn giá khoán

Nm - Chi phí nhiên liệu, dầu mỡ hoặc điện năng (đ/đơn vị công việc)

Bq - Chi phí bảo quản, bao gồm chi phí lao động, vật tư, kỹ thuật phục

vụ cho bảo quản theo yêu cầu của từng loại công cụ, máy móc (đ/đơn vị công việc)

Ck - Các chi phí khác (đ/đơn vị công việc)

3.1.1.2 Lợi nhuận của một đời công cụ, máy móc

Theo kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Phan Thanh Tịnh viện Cơ điện Nông nghiệp [25], lợi nhuận cả đời máy được tính như sau:

Lt - Lợi nhuận cả đời công cụ, máy móc

Z - Giá trị còn lại của công cụ, máy móc khi thanh lý

3.1.1.3 Xác định các chỉ tiêu giới hạn

Ngoài hai cách tính hiệu quả của thiết bị nêu trên còn có thể căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế cụ thể sau đây để đánh giá thiết bị, được tính theo các công thức sau:

a) Thời gian hoàn vốn T v (kể cả lãi vay)

) ln(

) 1 ( ln

E

E Z L

b) Lợi nhuận tối thiểu

Là mức lợi nhuận tối thiểu đảm bảo cho việc sử dụng máy không lỗ (không lãi)

Trang 40

c) Khối lượng công việc tối thiểu

Là khối lượng công việc tối thiểu hàng năm máy phải làm được để việc

sử dụng máy không lỗ (không lãi)

Hiệu quả vốn đầu tư cho ta biết một đồng vốn đầu tư để trang bị công

cụ máy móc sẽ thu lại được bao nhiêu

nd

v n v

Z

Z T n L

(3.7)

3.1.2 Phương pháp chuẩn hoá các chỉ tiêu đánh giá

3.1.2.1 Chuẩn hoá giá trị của các phương án theo từng thông số về chất lượng làm việc

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Cơ điện Nông nghiệp và chế biến nông sản, các thông số đặc trưng cho chất lượng làm việc của thiết bị được chuẩn hoá theo các công thức sau:

- Nếu giá trị của thông số tiến tới cực đại thì:

a

ij

ij si

 (3.9) Trong đó: Wij - Số điểm về chất lượng làm việc của phương án ở thông số j

aij - Giá trị thực của các phương án theo từng thông số

asi - Yêu cầu về kỹ thuật phải đạt cho các loại công việc

3.1.2.2 Chuẩn hoá giá trị các phương án theo từng thông số về chi phí

Các chi phí của từng phương án theo các thông số về chi phí được xác

định theo công thức: w M

M

aij

ij jMax

 (3.10)

Ngày đăng: 18/09/2017, 09:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn. - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Bảng 1.1 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn (Trang 4)
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất và tăng trưởng GTSX trên địa bàn huyện - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Bảng 1.2 Giá trị sản xuất và tăng trưởng GTSX trên địa bàn huyện (Trang 5)
Bảng 1.4: Tình hình phát triển ngành trồng trọt trên địa bàn huyện. - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Bảng 1.4 Tình hình phát triển ngành trồng trọt trên địa bàn huyện (Trang 7)
Hình 1.1: Loại máy kéo 2 bánh tay lái càng được dùng phổ biến tại địa phương - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 1.1 Loại máy kéo 2 bánh tay lái càng được dùng phổ biến tại địa phương (Trang 13)
Bảng 1.5: Một số loại máy kéo sử dụng tại địa phương - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Bảng 1.5 Một số loại máy kéo sử dụng tại địa phương (Trang 14)
Hình 2.2: Máy kéo GN 91do công ty Việt trung sản xuất - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 2.2 Máy kéo GN 91do công ty Việt trung sản xuất (Trang 23)
Hình 2.3: Máy kéo Bông Sen do Việt Nam sản xuất - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 2.3 Máy kéo Bông Sen do Việt Nam sản xuất (Trang 24)
Hình 2.4: Máy kéo Đông Phong GM151 do Trung Quốc sản xuất - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 2.4 Máy kéo Đông Phong GM151 do Trung Quốc sản xuất (Trang 25)
Hình 2.5: Máy kéo Sunyu 121 do Trung Quốc sản xuất - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 2.5 Máy kéo Sunyu 121 do Trung Quốc sản xuất (Trang 25)
Bảng 2.3: Thông số kỹ thuật của một số loại máy kéo sử dụng ở Việt Nam - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.3 Thông số kỹ thuật của một số loại máy kéo sử dụng ở Việt Nam (Trang 26)
Hình 2.1: Hình ảnh về đồng ruộng của huyện Tam Đảo - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 2.1 Hình ảnh về đồng ruộng của huyện Tam Đảo (Trang 34)
Hình 4.1: Quá trình khảo nghiệm xác định năng suất và tiêu hao nhiên liệu - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 4.1 Quá trình khảo nghiệm xác định năng suất và tiêu hao nhiên liệu (Trang 62)
Hình 4.2: Đồ thị tương quan giữa công suất và năng suất của 5 loại máy - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 4.2 Đồ thị tương quan giữa công suất và năng suất của 5 loại máy (Trang 72)
Hình 4.3: Đồ thị tương quan giữa công suất và lợi nhuận cả đời của một số - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 4.3 Đồ thị tương quan giữa công suất và lợi nhuận cả đời của một số (Trang 74)
Hình 4.4: Đồ thị tương quan giữa công suất và hiệu quả vốn đàu tư của một - Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lý phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc
Hình 4.4 Đồ thị tương quan giữa công suất và hiệu quả vốn đàu tư của một (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm