1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MỘT số BIỆN PHÁP GIÁO dục bảo vệ môi trường đối với môn khoa học lớp 5

29 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 191 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xây dựng một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường trên cơ sở điềutra thực trạng về công tác giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh lớp 5 trườngPhổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Mư

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU

1 Lý do viết sáng kiến

2 Mục tiêu của sáng kiến

3 Giới hạn của sáng kiến

3.1 Về đối tượng nghiên cứu

4 Hiệu quả của sáng kiến

4.1 Ý nghĩa thực tiễn của sáng kiến 4.2 Đối tượng hưởng lợi của sáng kiến

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Lý do viết sáng kiến

Năm học 2016 - 2017 là năm học thứ mười ngành giáo dục thực hiện

cuộc vận động “ Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” trong đó có

nội dung xây dựng cảnh quan sư phạm xanh, sạch, đẹp đã được đông đảo cán bộgiáo viên và học sinh hưởng ứng Muốn thực hiện tốt công tác này trước hết phảigiáo dục cho học sinh có ý thức bảo vệ môi trường Việc giáo dục ý thức bảo vệmôi trường trong giai đoạn hiện nay là một việc làm bức thiết Trong những nămgần đây, càng ngày mỗi người chúng ta càng cảm thấy áp lực của sự ô nhiễm môitrường đang đè nặng lên chính mình Đó là hậu quả của những hành động thiếuhiểu biết của mỗi người nói riêng và của từng bộ phận trong cộng đồng núi chung.Hơn lúc nào hết, mỗi người đều nhận thấy cần phải chấn chỉnh lại những hànhđộng của chính mình, cần phải quan tâm chăm sóc cho môi trường xung quanh ta

“Ngôi nhà” điều kiện cho sự tồn tại, phát triển cho chính chúng ta và các thế hệ

con cháu mai sau

Hãy cứu lấy “Ngôi nhà của chúng ta” Tiếng chuông cảnh tỉnh ấy đã và

đang vang lên hàng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng (báo, đài, ti vi,mạng xã hội,…) Nếu như trước đây bộ môn giáo dục môi trường chỉ được giảng dạy

ở khoa Sinh của các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học sư phạm thì nay đó có mặt

ở nhiều trường đào tạo khác nhau và bắt buộc đưa vào trường Tiểu học từ năm học

2007 – 2008 Vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường đã trở thành nhiệm vụ quan trọngtrong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trường học nhất là các trường phổ thông Do đó, tôi

quyết định nghiên cứu đề tài “Áp dụng chương trình giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học ở cấp Tiểu học”.

2 Mục tiêu của sáng kiến

- Làm cho học sinh Tiểu học có chuyển biến về ý thức, thái độ, hành

vi, đối với môi trường và việc bảo vệ môi trường Trong quá trình đó, thông qua hệthống chương trình, nội dung giảng dạy, từng bước trang bị cho các em học sinhnhững hiểu biết về môi trường, để từ đó giúp các em dần dần có ý thức, từ ý thức

sẽ bộc lộ qua thái độ, hành vi trong cuộc sống Khi con người có ý thức cao, nhữngthái độ, hành vi của họ sẽ trở thành nếp sống hàng ngày

- Xây dựng một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường trên cơ sở điềutra thực trạng về công tác giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh lớp 5 trườngPhổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Mường Thải Từ đó đề xuất một số biện phápnâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 5 trường Phổthông dân tộc bán trú Tiểu học Mường Thải

3 Giới hạn của sáng kiến

3.1 Về đối tượng nghiên cứu

Trang 3

- Là vấn đề giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 5thông qua môn Khoa học lớp 5.

- Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016: Giai đoạn nghiên cứu đề tài

- Từ tháng 5/2016 đến tháng 7/2016: Giai đoạn soạn thảo và viết đề tài

B NỘI DUNG

1 Cơ sở viết sáng kiến

Cơ sở khoa học

* Khái niệm về môi trường:

Môi trường và bảo vệ môi trường đã và đang là một vấn đề được cả thếgiới nói chung, Việt Nam nói riêng đặc biệt quan tâm Chất lượng môi trường có ýnghĩa to lớn trong sự phát triển bền vững đối với cuộc sống con người Môi trường

là một khái niệm quen thuộc và tồn tại xung quanh chúng ta đó là:

- Môi trường là một tập hợp bao gồm tất cả các yếu tố xung quanh sinhvật, có tác dụng trực tiếp, tác động qua lại tới sự tồn tại và phát triển của sinh vật

- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanhcon người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của conngười và sinh vật

- Môi trường sống của con người bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên xãhội Các yếu tố tự nhiên xã hội chi phối sự sống, sản xuất của con người như tàinguyên thiên nhiên, đất, nước và không khí; ánh sáng; công nghệ, kinh tế, chínhtrị, đạo

Trang 4

người theo một khuôn khổ nhất định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cuộcsống của con người.

* Ô nhiễm môi trường:

Ô nhiễm môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu Ô nhiễm môi trường có

ảnh hưởng to lớn đến chất lượng môi trường sống của chúng ta; ô nhiễm môitrường làm bẩn, làm thoái hoá môi trường sống; làm biến đổi môi trường theohướng tiêu cực toàn thể hay một phần bằng những chất gây tác hại (chất gây ônhiễm) Sự biến đổi môi trường như vậy làm ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tớiđời sống con người và sinh vật gây tác hại cho nông nghiệp, công nghiệp, làmgiảm chất lượng cuộc sống của con người

Nguyên nhân của nạn ô nhiễm môi trường là các sinh hoạt hằng ngày vàhoạt động kinh tế của con người, từ trồng trọt, chăn nuôi đến các hoạt động côngnghiệp, chiến tranh và công nghệ quốc phòng

* Suy thoái môi trường:

Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên.Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác

- Suy thoái môi trường đất: Theo Niên giám thống kê năm 2010, tổng diệntích đất tự nhiên cả nước là 33,105 triệu ha, trong đó đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 79% diện tích đất Theo đánh giá thì tổng diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm, từ giai đoạn 2000 đến nay, diện tích đất nông nghiệp đã chuyển sang mục đích sử dụng khác là 500.000 ha Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm, suy thoái môi trường đất nông nghiệp ở Việt Nam như:

+ Sử dụng phân bón không đúng cách đã và đang để lại dư lượng phânbón cây trồng không hấp thụ, điều này tác động tiêu cực đến hệ sinh thái nôngnghiệp, làm ô nhiễm nguồn nước, đất nông nghiệp Theo số liệu thống kê từ năm

1985 đến nay, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7% nhưng lượng phân bónhóa học sử dụng tăng tới 51,7%, có khoảng 2/3 lượng phân bón hàng năm câytrồng chưa được sử dụng, gây lãng phí tiền bạc của nhân dân Đặc biệt, dưới góc

độ môi trường, hàng năm một lượng lớn phân bón được rửa trôi hay bay hơi đãlàm ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống, đó là một trongnhững tác nhân gây ô nhiễm đất, nước, không khí

+ Trong những năm qua, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng gia tăng Theo báo cáo của Cục bảo vệ thực vật, ước tính đến nay, có khoảnghơn 3.000 loại thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng với khối lượng trên

Trang 5

100.000 tấn/năm Lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ dịch hại, khôngtuân thủ các quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thiếu kiến thức về sử dụngthuốc bảo vệ thực vật đã dẫn đến tình trạng tồn dư lượng lớn thuốc bảo vệ thực vậttrong đất, ảnh hưởng xấu đến môi trường đất và con người.

+ Bên cạnh đó, hoạt động chăn nuôi gia súc cũng ngày càng phát triển,

mở rộng về quy mô và diện tích Chất thải từ các hoạt động chăn nuôi, gia súc, giacầm hầu như không được xử lý đúng kỹ thuật, xả thải trực tiếp ra môi trường cũng

là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm đất, nước Thói quen canh tác lạchậu của người nông dân đã khai thác kiệt quệ đất đai mà ít chú ý đến hoạt động bồi

bổ, cải tạo đất, dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp thoái hóa, bạc màu

+ Nạn phá rừng, khai thác gỗ để lấy đất canh tác hoặc do thiên nhiên đãlàm mất một diện tích lớn đất phủ thực vật dẫn đến rửa trôi và xói mòn đất Theo

số liệu thống kê, tính riêng năm 2010, tổng diện tích rừng bị cháy và bị chặt phálên đến 7.781 ha, phần lớn trong rừng bị cháy và rừng bị phá là rừng nguyên sinh

Sự suy giảm diện tích rừng đã gây sức ép không nhỏ đối với môi trường, làm mấtcác chất dinh dưỡng trong đất, làm suy thoái và mất tính năng sản xuất của đất Đấtnông nghiệp cũng chịu ảnh hưởng một phần lớn từ quá trình này

- Suy thoái rừng: Suy thoái rừng diễn ra ở cả hai khía cạnh: Chất l ượngrừng bị giảm, diện tích rừng bị thu hẹp.Trong thời kỳ 1945 – 1975 cả nước mấtkhoảng 3 triệu ha rừng, bình quân 100.000 ha năm Quá trình mất rừng diễn ranhanh hơn ở giai đoạn 1975 – 1990: Mất 2,8 triệu ha, bình quân 140.000 ha/ năm.Nguyên nhân chính làm mất rừng trong giai đoạn này là do dân số tăng nhanh, nạnđốt nương làm rẫy tràn lan, quá trình khai hoang lấy đất trồng các câycông nghiệp như cà phê, chè, cao su và khai thác gỗ xuất khẩu Tuy nhiên từ nhữngnăm 1990 – 1995, do công tác trồng rừng được đẩy mạnh đã phần nào làmcho diện tích rừng tăng lên

Có thể nêu ra các nguyên nhân chính gây nên sự mất rừng và làm suythoái rừng ở nước ta là:

+ Đốt nương làm rẫy: sống du canh du cư; trong tổng số diện tích rừng bị

mất hàng năm thì khoảng 40 – 50% là do đốt nương làm rẫy Ở Đắc Lắc trong thờigian từ 1991 – 1996 mất trung bình 3.000 – 3.500 ha rừng/ năm, trong đó trên 1/2diện tích rừng bị mất do làm nương rẫy

+ Chuyển đất có rừng sang đất sản xuất các cây kinh doanh, đặc biệt là

phá rừng để trồng các cây công nghiệp như cà phê ở Tây Nguyên chiếm 40 – 50% diện tích rừng bị mất trong khu vực

+ Khai thác quá mức vượt khả năng phục hồi tự nhiên của rừng.

+ Do ảnh hưởng của bom đạn và các chất độc hóa học trong chiến tranh,

riêng ở miền Nam đã phá hủy khoảng 2 triệu ha rừng tự nhiên

+ Do khai thác không có kế hoạch, kỹ thuật khai thác lạc hậu làm lãng phí

tài nguyên rừng

+ Do cháy rừng, nhất là các rừng tràm, rừng thông, rừng khộ rụng lá.

Trang 6

- Suy giảm đa dạng sinh học: Việt Nam được coi là một trong 15 trungtâm đa dạng sinh học cao nhất thế giới Việt Nam có 13.766 loài thực vật Khu hệđộng vật có 51.555 loài côn trùng, 258 loài bò sát, 82 loài ếch nhái, 275 loài vàphân loại thú, khoảng 100 loài chim đặc hữu, 782 loài động vật không xương sống,

54 loài cá nước ngọt,…

- Trong những năm gần đây đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng Số lượng các cá thể giảm, nhiều loài bị diệt chủng và nhiều loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt

+ Voi: Trước thập kỷ 70 nước ta có 1500 - 2000 con, nay còn 100 - 150 con

+ Hổ: Trước thập kỷ 70 nước ta có khoảng 1000 con nay chỉ còn 80 - 100 con

- Ô nhiễm môi trường nuớc:

Môi trường nước vừa bị ô nhiễm nặng, vừa có nguy cơ thiếu nước toàncầu Ba nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là: Nhu cầu nước dùng cho côngnghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt tăng nhanh; Nguồn nước bị ô nhiễm nghiêmtrọng; Nạn chặt, phá rừng không kiểm soát được

Việt Nam trong nhiều năm qua, gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng khiến

cá chết hàng loạt tại bốn tỉnh khu vực miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên - Huế

Theo kết quả điều tra của Chính phủ, những vi phạm và sự cố trong quá trình thicông, vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy của Công ty là nguyên nhân gây ra tìnhtrạng này Công ty Formosa Hà Tĩnh đã nhận trách nhiệm và cam kết bồi thường thiệt hại 500 triệu USD

+ Sau hơn 1 năm bị phát hiện xả trực tiếp nước thải chưa qua sử lí ra sôngThị Vải (tháng 9/2008), tháng 12/2009, Viện Tài nguyên và Môi trường Thành phố

Hồ Chí Minh đã công bố kết quả nghiên cứu dựa trên các quan trắc kỹ thuật cho thấy công ty bột ngọt Vedan đã gây ra 80% - 90% ô nhiễm cho sông Thị Vải, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai

Trước đó, năm 2006, đoàn kiểm tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường từng thanh tra đột xuất và phát hiện công ty Vedan xả trực tiếp nước thải không qua xử lý vào sông Thị Vải Kết quả xử lý sai phạm tại Vedan đã tính đến các tình tiết tăng nặng Tổng mức phạt hành chính với Vedan là 267,5 triệu đồng cho 12 lỗi vi phạm Ngoài ra, Vedan phải nộp 127 tỷ đồng truy thu phí bảo vệ môi trường

+ Tháng 5/2016, cá chết hàng loạt trên sông Bưởi, tỉnh Hòa Bình gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và kinh tế của người dân hai huyện Thạch

Trang 7

Thành, Vĩnh Lộc và vùng hạ lưu Nguyên nhân được xác định là công ty mía đường Hòa Bình, đơn vị xả thẳng nước thải chưa qua xử lý của nhà máy ra sông Bưởi, với lưu lượng 250 – 300m3/ngày đêm.

Sông Bưởi là nguồn cung cấp nước chính cho nhà máy nước Kim Tân, phục vụ nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành Công tymía đường Hòa Bình sau đó bị tạm đình chỉ hoạt động 6 tháng, phạt 480 triệu đồng

về hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường đồng thời bị buộc phải bồi thường cho các hộ nuôi cá lồng ven sông

Ở nước ta, cả ba nguyên nhân kể trên đã và đang tồn tại đồng thời có chiềuhướng phát triển, trong đó ô nhiễm nước là một hiện tượng đáng lưu ý Nguyênnhân của tình trạng này là:

+ Sử dụng nước quá tải, cùng với thói quen sinh hoạt mất vệ sinh làm ônhiễm nguồn nước

+ Sử dụng hoá chất nông nghiệp và các chất tẩy rửa

+ Các chất thải của công nghiệp, của bệnh viện, của khu chăn nuôi, khu dân

cư không được xử lý chặt chẽ trước khi đổ ra sông hồ

- Ô nhiễm không khí: Các nguồn ô nhiễm không khí bao gồm:

+ Các vi sinh vật tồn tại trong không khí

+ Khói, chất độc,… của các hiện tượng tự nhiên: Cháy rừng, núi lửa, sựphân huỷ các chất hữu cơ

+ Các chất thải của giao thông, sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp,các hoạt động dịch vụ, hoạt động của con người

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng môi trường ở nước ta như hiện nay là: Nhận thức về môi trường và bảo vệ môi trường của đại bộ phân nhân dân còn thấp;Thiếu công nghệ để có thể khai thác tài nguyên phù hợp; Sử dụng không đúng kỹ thuật canh tác đất Sử dụng thuốc trừ sâu không đúng kỹ thuật và lạm dụng các loạithuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật; Khai thác cây rừng, săn bắn thú rừng bừa bãi dẫn đến suy kiệt tài nguyên rừng; Hoạt động khai thác dầu mỏ làm chết và huỷ hoại nhiều loài hải sản biển; Hoạt động công nghiệp, nộng nghiệp, dịch vụ tạo ra chất gây ô nhiễm nước và không khí; Sự ra tăng dân số và việc sử dụng nước quá tải

Từ những thực trạng về những vấn đề ô nhiễm môi trường kể trên chúng ta nhận thấy việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học nói chung và cho học sinh lớp 5 của trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Mường Thải nói riêng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết

Trang 8

* Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường:

Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình hình thành và phát triển ởngười học sự hiểu biết, kỹ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề môi trường,tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái Giáodục bảo vệ môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và

sự nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó (nhận thức); Những tình cảm,mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường (thái độ, hành vi); những

kỹ năng giải quyết cũng như thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kỹnăng); tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề về môi trường và có những hànhđộng thích hợp giải quyết vấn đề (tham gia tích cực)

Mục đích của giáo dục bảo vệ môi trường là làm cho các cá nhân và cáccộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trườngnhân đạo, là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tếvăn hoá; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thựchành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giảiquyết các vấn đề môi trường, đề ra các giải pháp quản lý chất lượng môi trường

Sự thiếu hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường của conngười là một trong các nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm môi trường, suy thoáimôi trường Bởi vậy, cần phải giáo dục cho mọi người biết, hiểu về môi trường,tầm quan trọng của môi trường trong sự phát triển bền vững và làm thế nào để bảo

vệ môi trường Do đó, giáo dục bảo vệ môi trường phải là một nội dung giáo dụcquan trọng nhằm đào tạo con người có kiến thức về môi trường, có đạo đức về môitrường, có năng lực phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường trong thực tiễn

* Vai trò của việc giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu học:

Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc đào

tạo các em trở thành các công dân tốt cho đất nước “Cái gì không làm được ở cấp Tiểu học thì khó làm được ở cấp học sau” Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh

Tiểu học tức là làm cho gần 10% dân số hiểu biết về môi trường và bảo vệ môi

trường Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu các em biết và thực hiện được tuyên

truyền về bảo vệ môi trường trong cộng đồng, từng bước tiến tới trong tương lai là có

cả một thế hệ biết và hiểu về môi trường, sống và làm việc vì môi trường, thân thiệnvới môi trường

Thông qua các môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp giúp học sinhTiểu học có cơ hội mở rộng hiểu biết về môi trường sống của con người, quan hệgiữa con người và môi trường; hiểu biết về một số nguyên nhân gây ô nhiễm môitrường và các biện pháp bảo vệ môi trường Giáo dục bảo vệ môi trường góp phầnhình thành ở học sinh tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên, góp phần hình thành

và phát triển ở học sinh một số kỹ năng, thói quen bảo vệ môi trường, thói quensống vệ sinh, ngăn nắp, gọn gàng, tiết kiệm; biết trồng và chăm sóc cây xanh, làmcho môi trường thêm xanh - sạch - đẹp; Biết làm những việc đơn giản và thiết thực

Trang 9

để bảo vệ môi trường tại trường, lớp, nơi công cộng Ngoài ra, các em học sinh còn

có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh cho bản thân, gia đình, cộng đồng Từ

đó các em không nghịch phá các công trình công cộng

Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm làm cho các em hiểu rõ sự cần thiết phảibảo vệ môi trường, hình thành và phát triển ở các em thói quen, hành vi ứng xử vănminh, lịch sự, thân thiện với môi trường Bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, những xúccảm, xây dựng cái thiện và hình thành thói quen, kỹ năng sống bảo vệ môi trường chocác em

2 Thực trạng của vấn đề cần giải quyết

2.1 Mục tiêu của giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu học

Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học nhằm:

- Làm cho học sinh bước đầu biết và hiểu: Các thành phần môi trường gồmđất, nước, không khí, ánh sáng, động vật, thực vật và quan hệ giữa chúng; mối quan

hệ giữa con người và các thành phần môi trường; ô nhiễm môi trường; biện phápbảo vệ môi trường xung quanh (nhà ở, trường, lớp học, thôn xóm, bản làng, phốphường,…)

- Học sinh bước đầu có khả năng: Tham gia các hoạt động bảo vệ môitrường phù hợp với lứa tuổi (trồng, chăm sóc cây, làm cho môi trường xanh - sạch

- đẹp Sống hoà hợp, gần gũi, thân thiện với tự nhiên Sống tiết kiệm, ngăn nắp, vệsinh, chia sẻ, hợp tác Yêu quý thiên nhiên, gia đình, trường lớp, đất nước Thânthiện với môi trường, quan tâm đến môi trường xung quanh

2.2 Nội dung chương trình giáo dục môi trường

Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong trường học được lồng ghép,tích hợp trong các môn học và đi vào nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lênlớp với lượng kiến thức phù hợp Quan tâm đến môi trường địa phương, thiết thựccải thiện môi trường, hình thành và phát triển thói quen ứng xử thân thiện với môitrường

* Tích hợp, lồng ghép bảo vệ môi trường thông qua môn Khoa học lớp 5

có 3 mức độ:

Mức độ toàn phần, mức độ bộ phận, mức độ liên hệ Giáo dục bảo vệ môitrường là một quá trình lâu dài, cần được bắt đầu từ mẫu giáo và được tiếp tục ởcấp phổ thông cũng như trong cuộc sống sau này Để chuyển tải được nội dunggiáo dục bảo vệ môi trường tới học sinh một cách hiệu quả cần lựa chọn cácphương pháp giáo dục phải xuất phát từ quan điểm tiếp cận trong giáo dục bảo vệmôi trường Đó là giáo dục về môi trường, giáo dục trong môi trường và giáo dục

vì môi trường

Trang 10

- Giáo dục về môi trường: Nhằm trang bị những hiểu biết, kiến thức của

bộ môn khoa học về môi trường, những hiểu biết về tác động của con người tớimôi trường, những phương pháp nghiên cứu, các biện pháp đánh giá tác động và

xử lý sự cố môi trường

- Giáo dục trong môi trường: Là xem môi trường thiên nhiên hoặc nhântạo như một phương tiện, một môi trường để giảng dạy và học tập Nói cách khác

là cần phải dạy và học gắn với môi trường một cách sinh động và đa dạng

- Giáo dục vì môi trường: Nhằm giáo dục được ý thức, thái độ, các chuẩnmực, hành vi ứng xử đúng đắn với môi trường Hình thành và phát triển, rèn luyện các

kỹ năng cơ bản, cần thiết cho những quyết định đúng đắn trong hành động bảo vệ môitrường

2.3 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu học

Từ năm học 2007 - 2008, thực hiện chỉ thị số 02/2005/CT - BGD “Vê tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường” xác định nhiệm vụ trọng tâm

cho giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về môi trường

và bảo vệ môi trường bằng các hình thức phù hợp thông qua các môn học và hoạtđộng giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây dựng nhà trường xanh - sạch - đẹp

Khi dạy những nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, giáo viên thường sửdụng các phương pháp mà ở đó học sinh được tranh luận, bày tỏ ý kiến, thái độ,hành động,… như: Các phương pháp thảo luận nhóm, tổ chức làm việc theo phiếuhọc tập, trò chơi, điều tra,… Nhờ những phương pháp này, học sinh có thể tự pháthiện những kinh nghiệm đúng, sai, sự cần thiết bảo vệ môi trường, nêu các phươnghướng cải thiện môi trường xung quanh; tham gia công tác giữ gìn vệ sinh bảo vệmôi trường Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc giáo dục bảo vệ môi trườngqua các môn học ở cấp Tiểu học Tuy nhiên, vấn đề phát triển kiến thức, kỹ năng

và hình thành thái độ về giáo dục môi trường trong các bài học đạt hiệu quả chưacao Từ những kiến thức trọng tâm bài học có liên quan đến vấn đề môi trường các

em học sinh mới chỉ hiểu và nắm được kiến thức trong sách giáo khoa còn việc vậndụng vào thực tế cuộc sống còn nhiều hạn chế Học sinh chưa được nâng cao ýthức trong các hành vi đối xử với rác thải, ý thức bảo vệ môi trường trong nhàtrường và cộng đồng Hiện tượng học sinh ăn quà vứt rác thải bừa bãi, không đúngquy định vẫn thường xảy ra Đó chính là khó khăn, vướng mắc, những tồn tại cầntiếp tục tháo gỡ về các mặt: Công tác tổ chức của nhà trường; việc lựa chọn nộidung dạy học sao cho phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bịdạy học hiện có; cơ chế quản lý chỉ đạo của nhà trường với mục đích cuối cùng làlàm cho học sinh:

- Bước đầu biết và hiểu các thành phần môi trường

- Mối quan hệ giữa con người và các thành phần môi trường

Trang 11

- Có khả năng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứatuổi.

- Sống tiết kiệm, ngăn nắp, vệ sinh, chia sẻ, hợp tác

- Yêu quý thiên nhiên, gia đình, trường lớp, quê hương

- Thân thiện với môi trường, quan tâm tới môi trường xung quanh

3 Các giải pháp thực hiện

GIÁO ÁN MINH HOẠ KHOA HỌC LỚP 5 BÀI 36: CHÚNG TA CẦN LÀM GÌ ĐỂ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

(Mức độ tích hợp: Bộ phân, Toàn phần)

I MỤC TIÊU

Sau bài học, em:

- Trình bày được một số biện pháp bảo vệ môi trường

- Gương mẫu và vận động những người xung quanh cùng thực hiện cácviệc làm bảo vệ môi trường

* Bảo vệ môi trường:

- Bảo vệ, cách thức làm nước sạch, tiết kiệm nước; bảo vệ bầu không khí.

- Mức độ tích hợp: bộ phận, toàn phần

II TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG TIỆN

- Sách hướng dẫn học Khoa học lớp 5; sưu tầm các tư liệu, hình vẽ, tranhảnh về các hoạt động bảo vệ môi trường

- Phiếu học tập Bảng 1, phiếu Cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệmôi trường

III CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

* Hội đồng tự quản làm việc

a, Trưởng ban đối ngoại giới thiệu về lớp

Trang 12

b, Trưởng ban học tập giao lưu bài cũ:

+ Kể tên một số tác động tiêu cực của con người đến môi trường?

+ Kể một số tác động tích cực của con người đến môi trường?

+ Để bảo vệ môi trường, con người cần làm gì?

c, Trưởng ban đối ngoại cho cả lớp hát bài “Trái đất này là của chúng mình” và

hỏi các bạn một số câu hỏi:

+ Nêu một số việc làm của bạn để giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp?

+ Bạn sẽ làm gì để vận động những người xung quanh cùng thực hiện cácbiện pháp bảo vệ môi trường?

A Hoạt động cơ bản

Hoạt động 1: Quan sát và thảo luận (15p’)

Mục tiêu: Biết và hiểu được những việc nên làm và không nên làm để bảo vệ

bầu không khí trong sạch

Cách tiến hành:

- Hoạt động theo nhom lớn: Yêu cầu học sinh quan sát tranh vẽ và lời cỏc cõu hỏi trong sỏch giỏo khoa

- Sau khi học sinh làm việc theo nhúm đụi xong, tiến hành làm việc cả lớp

- Giỏo viờn yờu cầu học sinh trả lời về cỏc vấn đề:

+ Chỉ ra những việc nờn làm và khụng nờn làm để bảo vệ bầu khụng khớ trong lành

+ Liờn hệ bản thõn

- Giỏo viờn kết luận:

+ Những việc nờn làm để bảo vệ bầu khụng khớ trong lành: Trồng cõy gõy rừng, phủ xanh đồi trọc, xử lớ cỏc chất thải ra mụi trường; Luụn nõng cao ý thức giữ gỡn mụi trường, thường xuyờn dọn dẹp cho mụi trường sạch sẽ; Dựng cỏc loài cụn trựng để tiờu diệt cỏc loại sõu bệnh; Làm ruộng bậc thang để chống việc rửa trụi đất

+ Những việc khụng nờn làm:

Trang 13

HOẠT ĐỘNG 2

Vẽ tranh cổ động

Mục tiờu: Học sinh cam kết tham gia bảo vệ bầu khụng khớ trng lành và

tham gia tuyờn truyền, cổ động người khỏc cựng bảo vệ bầu khụng khớ trong sạch

Tre, mây, song

Nhiệt liệt chào mừng các thầy cô giáo về dự

Tre, mây, song

Đây là cây gì ? Hãy nói những điều em biết về loài cây này ?

Tre, mây, song

Thứ ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

Cây mây

Cây song

1 Đặc điểm và công dụng của tre, mây, song:

Trang 14

Khoa học

Tre, mây, song

Thứ ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

Tre, mây, song

Thứ ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

- Mọc thành bụi, cây mọc đứng, cao khoảng 10-15m thân rỗng, gồm nhiều đốt thẳng

Tre, mây, song

Thứ ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

Tre giữ chân đê

Hoa mây

Song kiểng

1 Đặc điểm và công dụng của tre, mây, song:

Khoa học

Tre, mây, song

Thứ ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

I Đặc điểm và công dụng của tre, mây, song:

Ngày đăng: 18/09/2017, 08:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w