Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, muốn biết hiệu quả công việc có thực hiện được mục đích đề ra hay không thì nhất thiết phải có kiểm tra đánh giá công việc đó. Trong quá trình dạy và học cũng thế, việc kiểm tra đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình dạy học. Qua kiểm tra đánh giá, giáo viên biết được khả năng tiếp thu và vận dụng kiến thức đã học của học sinh, từ đó giáo viên định hướng cụ thể để điều chỉnh hoạt động dạy của bản thân, đồng thời điều khiên hoạt động học của học sinh cho phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học, góp phần thực hiện mục đích dạy và học đề ra.Trong thời gian qua, hệ thống kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường trung học phổ thông còn nhiều nhược điểm như: việc kiểm tra đánh giá còn lạc hậu chưa phù hợp với muc đích đào tạo con người mới năng động, sáng tạo, nội dung đánh giá nhiề khi không phù hợp với mục tiêu và nội dung đào tạo. do đó việc cải tiến công tác kiểm ra đánh giá là một nhiệm vụ cấp thiết đối với việc nâng cao chất lượng dạy và học nói chung và môn toán nói riêng.Đối với việc kiểm tra đánh giá chất lương học tập môn toán, hầu hết ở các trường trung học phổ thông hiện nay đều sử dụng phương pháp tự luận. muốn có sự thay đổi và cải tiến trong công tác kiểm tra đánh giá chúng tôi sử dung phương pháp trắc nghiệm khách quan. Theo nghiên cứu, phương pháp trắc nghiệm khách quan có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp tự luận như: trong thời gian ngắn có thể kiểm tra việc nắm vững kiến thức, kĩ năng vận dụng trong phạm vi rộng với số lượng đông sinh viên, giúp tiết kiệm thời gian, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm, các bài tập trắc nghiệm dễ dàng đưa vào máy tính để học sinh tự kiểm tra đánh giá… tuy nhiên phương pháp nay vẫn có nhiều nhược điểm. Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy chương các hám lượng giác và phương trình lượng giác 11 có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá mức độ tiếp thu và vận dụng kiến thức của học sinh.Từ các lí do trên, chúng tôi chon đề tai nghiên cứu là: “ kiểm tr đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh THPT bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan” (thể hiện qua chương các hàm lượng giác và phương trình lượng giác 11) .
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, muốn biết hiệu quả côngviệc có thực hiện được mục đích đề ra hay không thì nhất thiết phải có kiểm tra-đánh giá công việc đó Trong quá trình dạy và học cũng thế, việc kiểm tra- đánhgiá có vai trò đặc biệt quan trọng ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình dạy học Quakiểm tra - đánh giá, giáo viên biết được khả năng tiếp thu và vận dụng kiến thức
đã học của học sinh, từ đó giáo viên định hướng cụ thể để điều chỉnh hoạt độngdạy của bản thân, đồng thời điều khiên hoạt động học của học sinh cho phù hợp,nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học, góp phần thực hiện mục đích dạy và học đềra
Trong thời gian qua, hệ thống kiểm tra- đánh giá kết quả học tập ở trườngtrung học phổ thông còn nhiều nhược điểm như: việc kiểm tra- đánh giá còn lạchậu chưa phù hợp với muc đích đào tạo con người mới năng động, sáng tạo, nộidung đánh giá nhiề khi không phù hợp với mục tiêu và nội dung đào tạo do đóviệc cải tiến công tác kiểm ra- đánh giá là một nhiệm vụ cấp thiết đối với việcnâng cao chất lượng dạy và học nói chung và môn toán nói riêng
Đối với việc kiểm tra- đánh giá chất lương học tập môn toán, hầu hết ởcác trường trung học phổ thông hiện nay đều sử dụng phương pháp tự luận.muốn có sự thay đổi và cải tiến trong công tác kiểm tra đánh giá chúng tôi sửdung phương pháp trắc nghiệm khách quan Theo nghiên cứu, phương pháp trắcnghiệm khách quan có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp tự luận như:trong thời gian ngắn có thể kiểm tra việc nắm vững kiến thức, kĩ năng vận dụngtrong phạm vi rộng với số lượng đông sinh viên, giúp tiết kiệm thời gian, khôngphụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm, các bài tập trắc nghiệm dễdàng đưa vào máy tính để học sinh tự kiểm tra- đánh giá… tuy nhiên phươngpháp nay vẫn có nhiều nhược điểm Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấychương các hám lượng giác và phương trình lượng giác 11 có nhiều thuận lợitrong việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra- đánhgiá mức độ tiếp thu và vận dụng kiến thức của học sinh
Từ các lí do trên, chúng tôi chon đề tai nghiên cứu là: “ kiểm tr- đánh giákết quả học tập môn toán của học sinh THPT bằng phương pháp trắc nghiệm
Trang 2khách quan” (thể hiện qua chương các hàm lượng giác và phương trình lượnggiác 11)
2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Phương pháp trắc nghiệm còn gọi tắc là test ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XIXngười ta đã sử dụng phơng pháp trắc nghiệm khách quan chủ yếu để phát hiệnnăng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của học sinh Sang đầu thế kỷ XX ,E.Thordike là người đầu tiên dùng trắc nghiệm như là một phương pháp “kháchquan, nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức học sinh., bắt đầu dùng với môn sốhọc sau đó đối với các loại kiến thức khác Đến năm 1940 ở Hoa Kỳ đã xuất bảnnhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá thành tích học tập của học sinh.Năm 1961 Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chương trình trắc nghiệm chuẩn Năm 1963
đã xuất hiện công trình của Ghécbêrich dùng máy tính điện tử đê xử lí kết quảtrắc nghiệm trên diện rộng Vào thời điểm đó, ở Anh có hội đồng quốc gia hàngnăm quyết định các trắc nghiệm chuẩn cho các trường grung học Ở Liên Xô, từnăm 1929 đến năm 1931 đã có một số nha sư phạm dùng test để kiểm tra - đânhsgiá học sinh nhưng ở thời điểm đó phương pháp này còn gặp nhiều sự phản đối.Chỉ từ năm 1963 tại Liên Xô mới phục hồi việc sử dụng test để kiểm tra kiếnthức học sinh Cũng trong giai đoạn này, xuất hiện những công trình nghiên cứudùng test trong các môn học khác của các tác giả: E.E.Solovieva(1963),V.A.Koloskaia và L.M.Pansetnicova (1964), việc thảo luận về những ưu điểm,nhược điểm của việc dùng test vào kiểm tra kiến thức học sinh còn diễn ra sôinổi Ở nước ra, vào thập kỷ 70 đã có những công trình vận dụng test vào kiểmtra kiến thức học sinh Ở phía nam, trước ngày giải phóng, test đã dùng khá phổbiến trong kiểm tra và th ở bậc trung học Trong những năm gần đây theo hướngđổi mới việc kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh, Bộ GD-ĐT đã giới thiệuphương pháp test trong các trường đại học và bắt đầu có những công trình thửnghiệm (chẳng hạn ĐH Tây Nguyên, ĐH Đà Lạt đã sử dụng test trong một sốnăm) Đặc biệt Bộ GD-ĐT đã thực hiện rất thành công đợt thi thử theo hình thứctrắc nghiệm khách quan đối với môn ngoại ngữ lớp 12 năm học 2005-2006.Chính thức sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan vào kỳ thi tốt nghiêpTHPT năm hocj 2005-2006 và tuyển sinh đại học cao đẳng năm học 2006-2007
Có thế nói cho đến nay, lịch sử của test đã trải qua rất nhiếu năm, việc ứng dụngcủa nó trong thực tiễn ở Việt Nam vẫn trong quá trình thử nghiệm Do vậy cần
Trang 3đẩy mạnh hơn nữa việc sử dụng nghiên cứu, xây dựng, ứng dụng test vào lĩnhvực giáo dục nói chung và dạy học toán ở trung học phổ thông nói riêng.
3.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp trắc nghiệm kháchquan, từ đó xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm nhằm kiểm tra- đánh giá kết quảhọc tập của học sinh qua chương các hàm lượng giác và phương trình lượng giác11
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan đạt yêu cầu
vê độ tin cậy, độ giá trị và có những hướng dẫn sử dụng hợp lí vào việc kiểmtra- đánh giá môn đại số và giải tích lớp 11 hì sẽ nâng cao chất lượng học và dạycủa giáo viên và học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp trắc nghiệm kháchquan có thể vận dụng vào việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn đại số vàgiải tích lớp 11 của học sinh THPT
Phân tích nhược điểm, ưu điểm của trắc nghiệm so với phương pháptruyền thống
Tìm hiểu sâu về đặc điểm, tính chất của trắc nghiệm, phân tích các tham
số để đánh giá câu trắc nghiệm
Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về trắc nghiệm
Đề xuất một số vấn đề khả thi để nâng cao chất lượng các câu trắc nghiệmtrong đề kiểm tra
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện có sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tham khảo tài liệu
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp phân tích, đánh giá
7 Cấu trúc của đề tài
Trang 4Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương:Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểmtra và đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 51.1 Một số khái niệm, định nghĩa về kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh
Giáo dục, đào tạo mà không tiến hành kiểm tra, đánh giá thì việc giáo dụcchỉ nữa vời, không đúng với ý nghĩa Việc kiểm tra, đánh giá theo một quy trình,một hệ thống logic sẽ liên tục cung cấp những thông tin “ liên hệ ngược trong “giúp người học tự điều chỉnh hoạt động học của mình đồng thời cung cấp chongười dạy những thông tin “ liên hệ ngược ngoài “ qua đó người dạy rút kinhnghiệm và tự điều chỉnh mục tiêu, phương pháp và nội dung bài giảng trong quátrình dạy Từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và hiệu quả giáo dục, đào tạo
1.1.1 Khái niệm kiểm tra, đánh giá trong Giáo dục – Đào tạo
Về bản chất, kiểm tra và đánh giá là hai công việc có nội dung, ý nghĩahoàn toàn khác nhau, nhưng có mối quan hệ bổ sung cho nhau một cách mậtthiết
Kiểm tra là sự theo dõi, sự tác động của người kiểm tra( người dạy) đốivới người học nhằm thu những thông tin cần thiết hỗ trợ cho vệc đánh giá
Kiểm tra có ba chức năng bộ phận , thống nhất và liên kết chặt chẽ vớinhau và bổ sung cho nhau gồm: đánh giá, phát hiện ( lệch, mới ), điều chỉnh Trên quan điểm lí luận dạy học, kiểm tra đóng vai trò “ liên hệ ngược “trong quá trình dạy học Thông qua kiểm tra có thể có những thông tin về quátrình dạy của thầy và quá trình học của trò từ đó có những điều chỉnh tối ưu cho
cả người học và người dạy Người học sẽ học tốt hơn nếu được kiểm tra thườngxuyên và được đánh giá một cách nghiêm túc, công bằng
Đánh giá kết quả học tập là quá trình đo lường mức độ đạt được của ngườihọc so với các mục tiêu của quá trình dạy học Mô tả một cách định tính, địnhlượng, tính đầy đủ, chính xác và tính vững chắc của kiến thức, mối liên hệ giữakiến thức với thực tiễn và khả năng vận dụng kiến thức ấy vào thực tiễn; mức độthông hiểu , có thể diễn đạt lại bằng lời nói, văn bản và ngôn ngữ chuyên môncủa người học … đánh giá thái độ của người học thông qua phân tích các thôngtin phản hồi từ kiểm tra, quan sát mức độ hoàn thành công việc được giao, đốichiếu với các tiêu chí và yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của từng mônhọc
Trang 6Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một quá trình phức tạp đòi hỏinhiều công sức Vì vậy, để việc đánh giá kết quả học tập đạt kết quả tốt thì quytrình đánh giá phải được thiết kế hoàn chỉnh, thông thường quy trình gồm cáccông đoạn sau :
Phân tích mục tiêu học tập thành các kiến thức và kỹ năng
Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạ được của kiến thức, kỹ năng dựa trênnhững dấu hiệu đó để đo lường và quan sát
Tiến hành đo lường và quan sát các dấu hiệu để đánh giá mức độ đạt đượccho các yêu cầu đặt ra thông qua điểm số, tiêu chí
Phân tích, so sánh các thông tin nhận được các yêu cầu đề ra, sau đó đánhgiá kết quả học tập của học sinh, mức độ thành công của phương pháp giảng dạy
mà giáo viên áp dụng…Quan đó cải tiến và khắc phục các nhược điểm còn tồntại
Quá trình đánh giá phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc vừa sức, bám sát nộidung chương trình, khách quan
1.1.2 Chức năng của kiểm tra, đánh giá trong hoạt động dạy học
Chức năng của kiểm tra, đánh giá là nhằm nâng cao chất lượng học tậpcủa học sinh, thông qua đó giúp nhà quản lý giáo dục có những thông tin để đưa
ra những quyết định xử lý kịp thời Kiểm tra gồm có ba chức năng thành phầngắn bó mật thiết với nhau là: đánh giá, phát hiện sai lệch và điều chỉnh
Đánh giá kết quả học tập của học sinh: là quá trình xác định mức độ đtạ
được của những mục tiêu của môn học, nhằm xác định xem sau khi kết thúc mộtgiai đoạn học( một chương , một kỳ , ) quá trình dạy và học đã đạt được mức
độ nào về kiến thức, kỹ năng và tư duy
Phát hiện lệch: qua kiểm tra , đánh giá ta sẽ so sánh kết quả đạt được vớimục tiêu ban đầu , nhờ đó việc kiểm tra sẽ phát hiện những điểm đạt và chưa đạt
mà mục tiêu môn học đề ra đối với học sinh và có thể nhận thấy những khó khăn, trở ngại trong quá trình dạy – học Từ đây tìm ra những nguyên nhân gây lệchlạc ở người dạy cũng như người học để đề ra được phương án giải quyết , cảithiện , đổi mới
Điều chỉnh: qua kiểm tra, người dạy có những phản hồi nhất định, từ đótìm ra phương pháp điều chỉnh cần thiết trong quá trình giảng dạy để loại trừ cáclệch lạc, nâng cao và thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh.Và cùng với đó,
Trang 7nhà quản lý giáo dục có thể thay đổi chiến lược dạy học nhằm phù hợp hơn vớitình hình thực tiễn
Ngoài ba chức năng cơ bản trên, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục còn thểhiện những chức năng cố hữu của nó là : chức năng sư phạm , chức năng khoahọc
1.1.3.Ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá trong hoạt động dạy – học
Việc kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa quan trọng với cả người học và ngườidạy cũng như nhà quản lý giáo dục, công việc này tác động tích cực trên nhiềuphương diện khác nhau
Với người học: việc kiểm tra , đánh giá có hệ thống sẽ cung cấp cho ngườihọc những thông tin mang tính “ liên hệ ngược trong “ giúp người học tự điềuchỉnh hoạt động học Qua đó giúp người học kịp thời nhận ra mức độ đạt đượctrong kiến thức của mình, những kiến thức nào còn “ trống “ trước khi học nộidung tiếp theo của chương trình
Nếu việc kiểm tra diễn ra nghiêm túc, công bằng sẽ giúp nâng cao tinhthần học tập của học sinh Tạo ý chí vươn lên để đạt kết quả cao hơn, củng cốlòng tin của học sinh vào năng lực của mình, nâng cao ý thức tự giác học tập
Thông qua kiểm tra giúp học sinh có điều kiện tiến hành các hoạt động trítuệ: ghi nhớ, tới hiện, hệ thống hóa kiến thức, tổng hợp và phân tích kiến thức,
từ đó nâng cao sự linh động, sáng tạo trong vận dụng kiến thức giải quyết vấnđề
Với người dạy: người dạy tiến hành việc kiểm tra, đánh giá người học sẽgiúp cho họ có những thông tin “ liên hệ ngược ngoài “ Qua đó rút kinhnghiệm, điều chỉnh mục tiêu, lựa chọn phương pháp và nội dung trong quá trìnhdạy học Kiểm tra, đánh giá thường xuyên giúp giáo viên xác định cụ thể vàchính xác năng lực của từng nhóm sinh viên, từ đó có những hoạt động bổ sungnhư bồi dưỡng riêng cho từng nhóm học sinh khác nhau
Việc kiểm tra thường xuyên, có chủ đích sẽ tác động tích cực hóa ngườidạy, nâng cao khả năng kiểm xác tình hình và chất lượng truyền đạt cũng nhưthích nghi với từng thời điểm của môn học
Trang 8 Với cơ quan quản lí giáo dục và xã hội: dựa trên kết quả kiểm tra đánh giácủa từng môn học, cơ sở giáo dục, nhà trường sẽ công bố kết quả học tập đếnhọc sinh Với kết quả đó nhà trường sẽ theo dõi quá trình học của học sinh vàxem xét, đánh giá hoạt động dạy của giáo viên Đánh giá xem mục tiêu ban đầu
có đạt được hay không, có cần cải tiến, chỉnh sửa nội dung hoặc bổ sung biệnpháp, phương pháp mới cho thích hợp
Thông qua kết quả kiểm tra, đánh giá phụ huynh biết rõ năng lực học tậpcủa con họ tù đó xây dựng mối liên hệ gia đinh – nhà trường chặt chẽ hơn.Đồng thời, xã hội sẽ nhìn nhận kết quả học tập một cách tích cực hơn và thôngqua những công bố về phương pháp, hình thức kiểm tra
1.2 Các phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh
Tính dến nay, trong việc kiểm tra và đánh giá kết quả học sinh người tahay sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là: tự kuận và trắc nghiệm khách quan, tuynhiên do thói quen ta thường gọi” trắc nghiệm tự luận” là “ tự luận luận” còn “trăc nghiệm khách quan” là “ trắc nghiệm”
1.2.1 Tự luận
Là một nhóm câu hỏi buộc trả lời theo dạng mở Học sinh phải tự trìnhbày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra
1.2.2 Trắc nghiệm khách quan
Là một nhóm các câu hỏi trong đó mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng vớinhững thông tin vần thiết đòi hỏi học sinh phải viết câu trả lời ngắn gọn hoặc lựa
1 câu hỏi trả lời, thậm chí chỉ cần điền thêm một vài từ
1.2.3 Đặc điểm chung của trắc nghiệm khách quan và và tự luận
Cả hai phương pháp kiểm tra này đều có chung một số đặc điểm sau:
- Đều có thể dùng để đánh giá hết mọ thành quả học tập quan trọng
mà một bài khảo sát bằng lối viết có thể khảo sát được
- Tất cả đều có thể sử dụng để khuyến khichcs học sinh học tập nhằmđạt đến các mục tiêu: hiểu biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ýtưởng, ứng dụng kiến thức trong việc giải quyết các vấn đề
Trang 9Cả hai phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận đều đòi hỏi sự vậndụng ít nhiều phán đoán chủ quan Giá trị của hai loại trắc nghiệm khách quan
và tự luận đề phụ thuộc vào tính khách quan và đáng tin cậy của chúng
1.2.4 Những ưu và nhược điểm của 2 loai trắc nghiệm
Cả hai phương pháp trắc nghiệm dù sử dụng phương pháp nào thì việckiểm tra và đánh giá củng phải đẩm bảo 3 chức năng thiết yếu sau:
- Chức năng định hướng: Qua việc kiểm tra và đánh giá có thể lựa chọn rađược những phương pháp học tập thích đáng, phù hợp hơn
- Chức năng điều hòa: Qua kiểm tra và đánh giá, giáo viên có thể điềuchỉnh quá trình giảng dạy để nâng cao hiệu quả dạy học
- Chức năng cấp bằng (thi tuyển): Để sơ kết thu nhận, cấp bằng mỗi khóahọc và thi tuyển vào khóa học tiếp theo Ttrong hộc tập, điều cốt yếu là phảiphân biệt mục tiêu cuối cùng và cách đạt được được mục tiêu ấy
Trong thời đại ngày nay, việc kiểm tra và đánh giá phải được coi như làmột bộ phận chủ yếu và hợp thành một thể thóng nhất với quá trình đào tạo Khi
đó việc chủ yếu và hợp thành một thể thống nhất với quá trình đào tạo Khi đóviệc giáo dục sẽ đạt kết quả cao hơn
Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan có những ưu và nhượcđiểm, tùy theo mục tiêu cần kiểm tra và đánh giá mà ta có thể nhận thấy sự khácnhau đó:
-Không đo lường kiến thứcmột cách bao quát
-Có thể đo lường khả năng suyluận như sắp xếp ý tưởng, suydiễn, so sánh và phân biết.-Có thể kiểm tra đánh giá kiénthức của học sinh một cách baoquát
HS có thể khéo léo tránh đềcập đến những điểm họ không
-Có thể bao gồm nhiều lĩnh vựctrong mỗi bài thi, với nhiều câuhỏi bao quát khắp nội dungchương trình giảng dạy, đòi hỏi
HS phải có một nền tản rộng
Trang 10-Khuyến khích HS ttích lũynhiều kiến thức và kỹ năng
-Có nhiều yếu tố chi phối kếtquả bài kiểm tra, thi
-Công việc chấm đểm nhanhchóng, chính xác và kháchquan
-Có thể sử dụng công nghệhiện đại vào chấm thi đồngloạt
Như vậy cả hai loại trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan đều có
ưu, nhược điểm khác nhau, tùy thuộc và mục tiêu đánh giá, nội dung từng mônhọc, từng nội dung kiến thức, giáo viên có thể chọn một trong hai phương pháptrắc nghiệm khách quan hoặc tự luận để kiểm tra đánh giá
Đôi khi trong một bài kiểm tra, giáo viên cũng có thể kết hợp cả haiphương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận để đạt được mục tiêu kiểm tra
Trang 11Đánh giá chất lượngcủa câu hỏi và bộ đề
Kết thúcLoại bỏ
Thu thập số liệu,thống kê
Trong lĩnh vực giáo dục, trắc nghiệm khách quan được sử dụng rất phổbiến ở nhiều nước trên thế giới trong các lỳ thi để đánh giá năng lực nhận thứccủa người học, tại nước ta trắc nghiệm khách quan được sử dụng trong các kỳ thiĐại học, Cao đẳng và kỳ thi kết thúc học phần của nhiều trường
1.3.2 sơ đồ quá trình xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm
Để ứng dụng trắc nghiệm khách quan đánh năng lực nhận thức của ngườihọc một việc vô cùng quan trọng là cần phải xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm cóchất lượng, có thể mô tả qua sơ đồ sau:
1.3.3 Một số ưu điểm và nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
Trang 12 Thí sinh dành nhiều thời gian để đọc và suy nghĩ, lựa chọn câu trả lờiđúng nhất trong tất cả các câu trả lời gợi ý.
Số lượng câu hỏi nhiều, bao quát được kiến thức của chương trình Họcviên trả lời ngắn gọn
Người soạn có điều kiện tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mìnhthông qua việc đặt câu hỏi
Người chấm ít tốn công và kết quả chấm là khách quan vì không bị ảnhhưởng tâm lí khi chấm
Nhược điểm:
Chất lượng của bài trắc nghiệm được xác định phần lớn vào kỹ năng củangười soạn thảo
Người ra đề tốn nhiều công sức và thời gian
Cho phép và đôi khi khuyến khích sự phỏng đoán của học sinh
1.4 Phương pháp phân tích, đánh giá một bài trắc nghiệm
1.4.1 Độ khó của câu trắc nghiệm
Khi chọn lựa các câu hỏi trắc nghiệm theo độ khó người ta thường phảiloại những câu hỏi quá khó( không ai làm đúng) hoặc quá dễ (ai cũng làm đúng).Một bài trắc nghiệm tốt khi có nhiều câu hỏi ở độ khó trung bình
Khi đó hệ số về độ khó của câu hỏi (P ) được tính như sau:
P= S ố học sinh l à mb à i đú ng
s ố học sinh t h am gia l à mb à i%
Thang phân loại độ khó được qui ước như sau:
Câu dễ: 80% - 100% học sinh trả lời đúng
Câu trung bình: 60% - 79% học sinh trả lời đúng
Câu tương đối khó: 40% - 59% học sinh trả lời đúng
Câu khó: 20% - 39% học sinh trả lời đúng
Câu rất khó: dưới 20% học sinh trả lời đúng
Trong kiểm tra- đánh nếu câu trắc nghiệm có độ khó:
K từ 25% - 75%: dùng bình thường
Trang 13 K từ 10% -25% và 75% -90%: cẩn trọng khi dùng
K 90% không dùng
1.4.2 Độ phân biệt
Khi ra một câu hoặc một bài trắc nghiệm cho một học sinh nào đó, người
ta muốn phân biệt trong nhóm ấy những người năng lực khác nhau như: giỏi,khá, trung bình, yếu, kém…Câu trắc nghiệm khách quan thực hiện khả năng đó,gọi là có độ hân biệt
Muốn cho câu hỏi có độ phân biệt thì phản ứng của nhóm học sinh giỏi vànhóm học sinh kém đối với câu hỏi hiển nhiên phải khác nhau Thực hiện phéptính thống kê, người ta tính độ tin phân biệt P theo công thức:
D= S ố hs trong n h ó m giỏil à m đú ng−số hs trong n h ó mk é ml à mđú ng
t ổng số h ọc sinh trong n h ó m giỏi(h oặc n h ó m k é m)
Thang phân loại độ phân biệt được qui ước như sau:
Tỉ lệ HS nhóm giỏi và nhóm kém là đúng như nhau thì độ phân biệtbằng 0
Tỉ lệ HS nhóm giỏi làm đúng nhiều hơn nhóm kém thì độ phân biệt
là dương (độ phân biệt dương nằm trong khoảng từ 0 - 1)
Tỉ lệ thí sinh nhóm giỏi làm đúng ít hơn nhóm kém thì độ phân biệt
là âm
Cụ thể như sau:
0 < P < 0,2: Độ phân biệt rất thấp giữa HS giỏi và HS kém
0,2 < P < 0,4: Độ phân biệt thấp giữa HS giỏi và HS kém
0,4 < P < 0,6: Độ phân biệt trung bình giữa HS giỏi và HS kém
0,6 < P < 0,8: Độ phân biệt cao giữa HS giỏi và HS kém
0,8 < P < 1: Độ phân biệt rất cao giữa HS giỏi và HS kém
Những câu có:
Trang 14 P > 0,32: Dùng được
P từ 0,22 - 0,31: Nên thận trọng khi dùng
P < 0,22: Không dùng được
1.4.3 Độ tin cậy
Trắc nghiệm là một phép đo lường để biết được năng lực của đối tượngđược đo Tính chính xác của phép đo lường này rất quan trọng Độ tin cậy củabài trắc nghiệm chính là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờbài trắc nghiệm
Toán học thống kê cho nhiều phương pháp để tính độ tin cậy của một bàitrắc nghiệm: hoặc dựa vào sự ổn định của kết quả trắc nghiệm giữa hai lần đocùng một nhóm đối tượng hoặc dựa vào sự tương quan giữa kết quả của các bộphận tương đương nhau trong một bài trắc nghiệm
Trong khoa học về giáo dục, người ta áp dụng kết quả của thống kê họclàm cơ sở xác đinh độ tin cậy Song, Trong thực tế có hai phương pháp thườngđược nhiều người thực hiện là: phương pháp chia đôi bài kiểm tra theo câu chẵn
lẻ và phương pháp Kuder Rulon-Richardson (KRR) Phương pháp KRR được
mô hình hóa bằng biểu thức toán như sau:
r = k
k−1(1−∑ pq
δ2 )Trong đó: k: số câu hỏi của bài trắc nghiệm
p: tỉ lệ thí sinh trả lời đúng câu hỏiq: tỉ lệ thí sinh trả lời sai câu hỏi
δ2:phương sai lệch chuẩn của bài trắc nghiệm
Sau khi xác đinh được độ tin cậy r, người ta dựa vào tiêu chí sau để đánhgiá:
R≥0.8: bài trắc nghiệm có mức tin cậy cao
0.7≤r <0.8: bài trắc nghiệm có mức tin cậy khá
Trang 15 0.5≤r<0.7: bài trắc nghiệm có mức tin cậy thấp
Một bài trắc nghiệm được xem là tin cậy khi độ tin cậy của nó thuộc đoạn[0.6 ;1]
1.4.4 Độ giá trị
Yêu cầu quan trọng nhất của bài trắc nghiệm với tư cách là một phép đolường trong giáo dục là nó đo được cái cần đo Phép đo bởi bài trắc nghiệm đạtđược mục tiêu đó là phép đo có giá trị
Độ giá trị của bài trắc nghiệm là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mụctiêu đề ra cho phép đo nhờ bài trắc nghiệm
Để bài trắc nghiệm có độ giá trị cao, cần xác định tỉ mỉ mục tiêu cần đưa
ra qua bài trắc nghiệm và phải bám sát mục tiêu đó trong qúa trình xây dựng cácbài toán trắc nghiệm, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cũng tổ chức kỳ thi Nếuthực hiện không đúng qui trình trên thì có khả năng kết quả của phép đo sẽ phảnánh một cái gì khác chứ không phải cái mà chúng ta muốn đo nhờ bài trắcnghiệm Một trong những phương pháp xác định độ giá trị của kỳ thi là tính xemkết quả của kỳ thi đó trên một nhóm HS có tương quan chặt chẽ tới kết quả họctập ở bậc cao hơn của nhóm HS đó hay không
* Tiêu chuẩn bài trắc nghiệm khách quan dạng nhiều lựa chọn
Khi xây dựng câu hỏi, bài toán trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọnphải đảm bảo các tiêu chuẩn của nó thì mới đảm bảo độ giá trị và độ tin cậy khi
sử dụng Câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có các tiêu chuẩn định tính
và định lượng
Tiêu chuẩn định lượng
Theo nhiều tác giả, các câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dùng để đánh giáthành quả học tập thường có độ khó trong khoảng 20 → 80%, tốt nhất nằm trongkhoảng 40 → 60%, độ phân biệt từ 0,2 trở lên, độ tin cậy của bài trắc nghiệmphải từ 0,6 → 1,0, …
Tiêu chuẩn định tính
Trang 16Câu dẫn: Phải bao hàm tất cả những thông tin cần thiết về vấn đề đượctrình bày một cách rõ ràng, ngắn gọn, súc tích và hoàn chỉnh.
Các phương án chọn: Phương án chọn phải bảo đảm là chính xác hoặcchính xác nhất Câu nhiễu phải có tính hấp dẫn và có vẻ hợp lý đối với ngườichưa nắm vững vấn đề Các phương án chọn phải tương tự hoặc đồng nhất vềmặt ngữ pháp
1.5 Lập kế hoạch cho một bài trắc nghiệm khách quan
1.5.1 Xác đinh mục tiêu cần kiểm tra đáng giá
Trước hết ta phân tích nội dung chương trình giảng dạy thành các chủ đềdạy học cụ thể, xác định mức độ quan trọng của các chủ đề bằng cách phân bố
số lượng câu hỏi
Trên mỗi chủ đề ta phân tích và liệt kê các mục tiêu giảng dạy cụ thể haycác năng lực cần được đo lường, xác định là cần bao nhiêu câu hỏi cho mỗi mụctiêu đó, số lượng câu hỏi cần thiết phụ thuộc vào mức độ quan trọng của từngmục tiêu và các vấn đề khác nhau cần phải được kiểm tra
1.5.2 Lập ma trận hai chiều
Sau khi đã phân tích nội dung dạy học thành các mục tiêu giảng dạy cụthể, người ta thường lập bảng đặc trưng phân bố các câu hỏi một cách chi tiết( gọi là ma trận hai chiều ) trước khi soạn thảo bài trắc nghiệm
Ma trận hai chiều là một công cụ hữu ích có thể giúp cho người soạn thảotrắc nghiệm chuẩn bị các câu hỏi phù hợp với các mục tiêu giảng dạy của mình.Thường phân loại từng câu hỏi trắc nghiệm ra thành hai chiều cơ bản:
- Một chiều là chủ đề dạy học, các đề mục hay nội dung quy định trongchương trình
- Chiều còn lại là các mục tiêu giảng dạy hay các năng lực đòi hỏi ở họcsinh
1.5.3 Soạn thảo câu hỏi
1.5.3.1 Nội dung câu hỏi phải thoả đáng
Trang 17Sau khi hoàn thành các câu hỏi, người soạn thảo phải có trách nhiệm xemxét một lần nữa từng câu hỏi một Người soạn thảo phải tự hỏi: “Câu hỏi soạn ra
có thực sự đáng giá để đưa vào bài trắc nghiệm hay không? Đã sẵn sàng đưa nó
ra làm minh hoạ cho các giáo viên khác về những gì mà ta mong muốn ở họcsinh của ta chưa?” Phải mạnh dạn loại ra một số câu hỏi nào đó chưa hoàn thiện
để nội dung của bài trắc nghiệm vững vàng hơn, tránh lan man
1.5.3.2 Câu hỏi phải sáng sủa
Các câu hỏi cần được phát biểu một cách ngắn gọn, sáng sủa, đúng từngữ, câu hỏi phải rõ nghĩa, đơn giản, dễ hiểu Kể cả trong các câu nhiễu cũngphải viết thật sáng sủa, dù người soạn thảo không có ý kiểm tra sự hiểu biết củahọc sinh về những điểm trong câu đó Các câu hỏi trắc nghiệm nên sắp xếp theothứ tự từ dễ đến khó, điều này sẽ giúp học sinh làm bài tự tin hơn Hơn nữa, họcsinh sẽ có đủ thời gian để làm những câu có thể giải đáp được trước, không mấtthời gian với những câu khó rồi không kịp làm những câu khác Với cách sắpxếp như vậy chỉ học sinh giỏi mới làm được những câu cuối cùng Giáo viên cầnbáo trước cho học sinh biết phương pháp cho điểm cho mỗi câu hay mỗi phần
Các câu hỏi phải được viết thế nào để chỉ có một câu trả lời đúng cho mỗicâu hỏi (đặc biệt là loại câu hỏi điền khuyết)
1.5.4 Rà soát lại câu hỏi
Công việc này rất cần thiết, nhất là khi soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm.Giáo viên có thể tự rà soát lại, nhờ đồng nghiệp hoặc các chuyên gia rà soát lạiđặc biệt có hiệu quả nhất là sự kiểm nghiệm qua thực tế Vì vậy, xu hướng hiệnnay người ta xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm thông qua sự lựa chọnnhiều lần để kiểm tra, rút kinh nghiệm và hoàn thiện dần câu hỏi
1.6 Khả năng áp dụng trắc nghiệm khách quan vào kiểm tra và đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông
1.6.1 Thực trạng việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT hiện nay
Việc kiểm tra và đánh giá ở các trường THPT nói chung và môn toán nóiriêng vẫn phổ biến hình thức ra đề tự luận, kiểm tra miệng, kiểm tra vấn đáp.Với phương thức kiểm tra như vậy đã phần nào đánh giá được kết quả học tập
Trang 18của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên Tuy nhiên, trong quátrình giảng dạy của bản thân và các bạn đồng nghiệp cùng với sự nhận xét củacác nhà nghiên cứu giáo dục, chúng tôi nhận thấy việc kết quả khách quan ởtrường THPT còn có một số hạn chế sau đây:
- Việc kiểm tra viết bằng phương pháp tự luận hạn chế tính toàn diện vàkhách quan của nội dung kiểm tra và đề thi, đề kiểm do giáo viên dạy trực tiếp
ra đề cho nên đôi khi còn mang tính chất cảm tính, chủ quan, không kiểm tra hếtđược các kiến thức cơ bản trong bài, trong chương Không đảm bảo được sựcông bằng trong các lớp đối tượng học sinh của cùng một khối trong một trườnghay giữa các trường, các vùng với nhau
- Một số giáo viên còn chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn các mục đíchcủa việc kiểm tra và đánh giá, một số giáo viên còn cho rằng: Việc kiểm tra vàđánh giá kết quả học tập của học sinh là nhằm mục đích để cho điểm và vào sổđiểm theo chương trình, nếu nhận thức đơn thuần như vậy thì việc kiểm tra vàđánh giá sẽ không phản ánh được đầy đủ, rõ ràng, trung thực các nội dung cầnkiểm tra và đánh giá và như vậy điểm số đó sẽ không đảm bảo được tính kháchquan của việc đánh giá
- Kỹ năng đánh giá của giáo viên thường dựa vào thói quen kinh nghiệm,
dễ bị cảm tính chủ quan chi phối, chưa có tiêu chí cụ thể
- Nội dung kiểm tra còn tập trung vào việc kiểm tra kiến thức theo tài liệu
có sẵn (SGK, bài soạn, phân phối chương trình, …)
- Cách thức tổ chức kiểm tra và đánh giá thường phức tạp, tốn kém (nhất
là các kỳ thi Tốt nghiệp, Tuyển sinh Đại học, …) Như vậy, việc kiểm tra vàđánh giá đã cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt cản trở việckhuyến khích giáo viên chủ động lựa chọn nội dung, chủ động phân phối thờigian dạy học cho phù hợp với đặc điểm học tập của học sinh, chủ động sử dụngcác phương pháp dạy học góp phần tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
1.6.2 Xu thế đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá ở trường THPT
Về xu thế đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá trong trường THPT,tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT chu kỳ III đã viết: "Trongkiểm tra - đánh giá, nội dung kiểm tra - đánh giá phải toàn diện bao gồm cả kiếnthức, kỹ năng và phương pháp, không phải chỉ yêu cầu học sinh tái hiện kiếnthức và kỹ năng Mặt khác cần có biện pháp hướng dẫn học sinh biết cách tựđánh giá, có thói quen đánh giá lẫn nhau”
Trang 19Bên cạnh việc nâng cao chất lượng các hình thức kiểm tra truyền thống,giáo viên cần tìm hiểu và áp dụng phương pháp kiểm tra bằng kiểm tra và đánhgiá, hoặc cũng có thể kết hợp một cách hợp lý giữa hai hình thức kiểm tra vàđánh giá này Đã có một thời gian dài, dư luận rất bất bình trước những hiệntượng tiêu cực trong thi cử Những hiện tượng tiêu cực không những xảy ra ởmột số kỳ thi cấp Quốc Gia mà ngay cả các kỳ kiểm tra thường xuyên ở trườngphổ thông Điều đó đã phần nào phản ánh việc quan tâm công tác kiểm tra vàđánh giá của các nhà quản lý giáo dục chưa đúng mức, việc quản lý, giám sátcông tác kiểm tra và đánh giá trong các trường phổ thông là chưa thoả đáng, từ
đó làm ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả dạy – học Trước tình hình đó, BộGD&ĐT đã đề xuất một số giải pháp trước mắt về đánh giá kết quả học tập củahọc sinh theo định hướng sau đây:
- Đánh giá phải toàn diện, công bằng, phân loại tích cực, kịp thời, phốihợp giữa đánhgiá thường xuyên và định kỳ, giữa cách đánh giá của giáo viên và
tự đánh giá của học sinh, giữa nhà trường, gia đình và xã hội
- Phân loại các mức độ đánh giá đối với các lĩnh vực, môn học
- Sử dụng nhiều phương tiện và công cụ đánh giá khác nhau để giảm dầnnhững căng thẳng, những bất cập và tiêu cực trong kiểm tra, thi
- Xoá bỏ tư tưởng "thành tích" trong đánh giá, xoá bỏ dạy thêm, học thêmtràn lan ở các cấp học
- Xây dựng ngân hàng đề kiểm tra theo quy trình khoa học và theo trình
độ chuẩn của chương trình để tiến tới kiểm tra đồng loạt trong phạm vi cả nướchoặc từng vùng theo các bộ đề chung cho từng giai đoạn hoc tập
1.6.3 Tính khả thi của việc áp dụng trắc nghiệm khách quan vào kiểm tra
Trang 20đòi hỏi chiều sâu của kiến thức thì Bộ GD&Đào tạo đã có chủ trương ra đề thimang tính "dàn trải" bao trùm toàn bộ kiến thức cơ bản mà học sinh đã học
- Đã có các kỳ thi mang tính Quốc Gia như: Tốt nghiệp THPT, tuyển sinhĐại học và Cao đẳng bằng hình thức trắc nghiệm khách quan và đã có nhữngthành công đáng kể
- Hiện nay một số trường đã bắt đầu thử nghiệm việc kiểm tra bằngphương pháp TNKQ Tuy nhiên, việc áp dụng hình thức trắc nghiệm khách quanvào kiểm tra và đánh giá ở trường phổ thông còn gặp những khó khăn cơ bảnsau đây:
- Bản thân giáo viên ở các trường phổ thông còn nhận thức chưa đầy đủ
về việc kiểm tra và đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan
- Tài liệu phục vụ cho công tác kiểm tra và đánh giá bằng trắc nghiệmchưa được phổ biến rộng rãi ở các trường phổ thông
- Các nhà quản lý giáo dục chưa thực sự quan tâm, khuyến khích đúngmức việc đổi mới công tác kiểm tra và đánh giá
- Một trong những nguyên nhân quan trọng là do công tác ra đề trắcnghiệm mất rất nhiều thời gian và công sức Như vậy, để phương pháp kiểm tra
và đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách được phổ biến rông rãi trong cáctrường phổ thông, đòi hỏi các nhà nghiên cứu giáo dục phải có sự quan tâmnghiêu cứu đúng mức về nó
1.7 Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã hệ thống hoá các định nghĩa, khái niệm củacác nhà khoa học, các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước và trên thế giới vềcác vấn đề liên quan đến công tác kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của họcsinh THPT Luận văn đã phân tích về phương pháp kiểm tra và đánh giá bằngtrắc nghiệm khách quan, những ưu nhược điểm và khả năng áp dụng trắcnghiệm khách quan vào kiểm tra và đánh giá ở trường THPT
Trang 21Chương 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ĐỂ
ĐÁNH GIÁ, KIỂM TRA KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HS THPT (THỂ HIỆN QUA CHƯƠNG: HÀM SỐ LƯỢNG GIÁC VÀ PHƯƠNG
TRÌNH LƯỢNG GIÁC LỚP 11) 2.1 Mục đích, yêu cầu của chương hhàm số lượng giác và phương trình lượng giác
Thông qua chủ đề hàm số lượng giác phương trình lượng giác, cần củng
cố và đào sâu một số kiến thức về tập hợp và logic toán Học sinh có kỹ năng vàthành thạo với việc giải hàm số lượng giác và phương trình lượng giác theo thuậtgiải, theo công thức, đồng thời biết vận dụng linh hoạt các kiến thức về Đại số,các phép biến đổi phương trình để giải các loại phương trình không mẫu mực
Biết nhìn các khái niệm phương trình về cả mặt ngữ nghĩa và cú pháptrong khi giải hàm số lượng giác và phương trình lượng giác
Trang 22Học sinh được phát triển tư duy thuật giải trong việc giải hàm số lượnggiác và phương trình lượng giác theo thuật giải hoặc theo một hệ quy tắc xácđịnh, được rèn luyện về tính linh hoạt và khả năng sáng tạo, đặc biệt là trongviệc giải những hàm số lượng giác và phương trình lượng giác không mẫu mực
Học sinh được rèn luyện về tính quy mô, tính kế hoạch, tính kỷ luật trongviệc hàm số lượng giác và phương trình lựơng giác theo thuật giải, theo côngthức hoặc theo một hệ thống quy tắc biến đổi xác định, được giáo dục về tínhcẩn thận, chính xác và thói quen tự kiểm tra trong việc giải hảm số lượng giác vàphương trình lượng giác
Thứ hai, nó cũng là căn cứ để giáo viên định hướng về hàm số lượng giác
và phương trình lượng giác và hình dung được kết quả dạy học của bài chứkhông phải là đòi hỏi học sinh tốt nào cũng kiểm tra để kết luận chính xác họcsinh có đạt được từng mục đích đề ra hay không Trong thực tế, giáo viên không
đủ thì giờ để làm được như vậy
Cụ thể, việc giảng dạy hàm số lượng giác và phương trình lượng giác làmột phần rất quan trọng Cần phải nhấn mạnh rằng: yêu cầu của nội dung đánhgiá phải phù hợp với yêu cầu của nội dung giảng dạy Để có thể xác định nộidung đánh giá học sinh theo các mức độ: Biết - Hiểu - Vận dụng, ta căn cứ vàoyêu cầu của việc giảng dạy hàm số lượng giác và phương trình lượng giác là:Dạy khái niệm, dạy học quy tắc - phương pháp và dạy giải bài tập Toán
2.2 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để đánh giá kiểm tra học tập của học sinh nội dung: hàm số lượng giác và phương trình lượng giác
Trang 23Đưa ra hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan và đạt yêu cầu với từngnội dung trong chương hàm số lượng giác và phương trình lượng giác, xác định
bộ câu hỏi theo quy trình:
Xác định mục tiêu giảng dạy cụ thể, mục tiêu cần đánh giá kiếnthức, kỹ năng, thái độ và tư duy( ở các mức độ: biết, hiểu, vậndụng) đối với từng nội dung kiến thức
Xác định bài tập học sinh sẽ gặp và nội dung kiến thức để giải
Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra mức độ tiếp thu vàvận dụng kiến thức của học sinh
2.2.1 Nội dung kiến thức hàm số lượng giác
2.2.1.1 Mục tiêu giảng dạy
Nắm được cách xác định các hàm số lượng giác y = sin x, y = cos x, y =tan x, y = cot x trong đó x là số đo radian của góc lượng giác
Nắm được các tính chất đơn giản (tập xác định, tính chất chẵn lẻ, đặc biệttính chất tuần hoàn của các hàm số nói trên)
Biết cách dựa vào chuyển động của điểm trên đường tròn lượng giác vàtrên các trục sin, cosin, tang và cotang để khảo sát sự biến thiên của các hàm sốnói trên
Nhận biết được dạng đồ thị của hàm số đó
2.2.1.2 Bài tập về: Các hàm số lượng giác
Câu 1: Hàm số sinx tuần hoàn với chu kỳ là:
Trang 24Câu 8: Hàm số nghịch biến trên mỗi khoảng (kπ ; π +kπ¿, k ϵZ
A sin x B cos x C tan x D cot x
Câu 9: Hàm số f ( x )=ǀsin x ǀ tuần hoàn với chu kỳ: