Khắc sâu và mởrộng kiến thức sách giáo khoa Toán theo hướng giáo dục hứng thú và tựgiác học tập cho học sinh”
Trang 1MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục đã vàđang diễn ra mạnh mẽ nhưng thực tế cho thấy là chất lượng và hiệu quả giáodục còn thấp so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới mà xã hội đang đặt ra trong thời đại này
Nguyên nhân chủ yếu đó là do từ trước đến nay, phương pháp dạy họcToán ở trường phổ thông nước ta phổ biến vẫn là cách dạy truyền thống, giáoviên truyền thụ một chiều, kiến thức trong sách giáo khoa (SGK) theo cáckhuôn mẫu có sẵn, còn mang nặng lý thuyết, thiếu tính thực tiễn Kết quả làhọc sinh không có hứng thú và tự giác học tập
Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bốicảnh hội nhập, mở rộng giao lưu và hội nhâp, học sinh được tiếp nhận nhiềunguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, hiểu biếtnhiều hơn, linh hoạt hơn so với các thế hệ cùng trang lứa đi trước Trong họctập, học sinh chưa thỏa mãn với vai trò là người tiếp thu thụ động, chỉ chấpnhận các kiến thức đã có sẵn được giáo viên đưa ra Ở lứa tuổi này học sinhnảy sinh một nhu cầu và đó cũng là một quá trình: sự lĩnh hội độc lập các trithức mới và phát triển kĩ năng Để hình thành và phát triển cách học tự lập ởhọc sinh một cách có chủ định thì cần thiết phải có sự hướng dẫn của giáoviên, đồng thời giáo viên cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học sinh, cần cónhững tác động phù hợp với từng đối tượng học sinh
Yếu tố quan trọng góp phần tạo hứng thú và tự giác cho học sinh là tàiliệu học tập phải sinh động, đa dạng, phong phú,… tuy nhiên, cho tới naySGK vẫn là tài liệu chủ yếu để dạy và học ở bậc học phổ thông Vậy nên việckhắc sâu và mở rộng kiến thức SGK theo hướng giáo dục hứng thú và tự giáchọc tập cho học sinh là rất quan trọng, là cách để tăng tốc việc thực hiện mụctiêu giáo dục, có thể tạo được bước nhảy vọt trong giáo dục, đưa giáo dục ViệtNam theo kịp thời đại
Bản thân Toán học là môn khoa học có đặc thù: phát sinh từ nhu cầu
Trang 2suy diễn, có tính lôgic, chính xác Vậy nên từ những tiềm năng đặc thù củanội dung môn Toán, chúng ta có thể khắc sâu và mở rộng nó theo hướng giáodục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh.
Với những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Khắc sâu và mở
rộng kiến thức sách giáo khoa Toán theo hướng giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh” làm đề tài cho bài nghiên cứu này.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của bài nghiên cứu là nghiên cứu để làm rõ những biểu hiệncủa hứng thú và tự giác học tập của học sinh, từ đó xác lập các nguyên tắc củaviệc khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK Toán theo hướng giáo dục hứng thú
và tự giác học tập cho học sinh, xây dựng các biện pháp để khắc sâu và mởrộng kiến thức SGK theo hướng giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho họcsinh
3. Đối tượng nghiên cứu
Kiến thức sách giáo khoa toán ở chương trình trung học phổ thông
(THPT)
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp quan điểm của một số nhà khoa học về hứng thú và tự giáchọc tập của học sinh - nhằm xác định biểu hiện của hứng thú và tự giác họctập của học sinh
Khai thác tiềm năng đặc thù nội dung SGK Toán để giáo dục việc hìnhthành và phát triển hứng thú và tự giác học tập cho học sinh
Tìm cơ sở lí luận và đưa ra các phương pháp mở rộng kiến thức SGK.Xác lập các nguyên tắc của việc khắc sâu và mở rộng kiến thức SGKToán theo hướng giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh
Đề xuất những biện pháp để khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK theohướng giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp thích hợp nhằm khắc sâu và mở rộng
Trang 3sinh thì sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán
ở trường THPT
6. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp nghiên cứu lí luận
• Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
• Phương pháp điều tra quan sát
7. Dàn ý nội dung công trình
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung trongbài tiểu luận được trình bày với 2 nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp khắc sâu và mở rộng kiến thức sách giáo khoa
toán theo hướng giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sựhấp dẫn về tình cảm của nó” [1, tr 228]
1.1.1.2. Hứng thú học tập
Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối vớiđối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa
thiết thực của não trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân.
Hứng thú học tập được hình thành, biểu hiện và phát triển trong hoạtđộng học tập Cũng như các thuộc tính tâm lý khác của cá nhân, hứng thú họctập được phát triển cùng với sự phát triển của nhân cách, thông qua hoạt độnghọc tập, trong đó chủ thể luôn tích cực tự giác hành động
Hứng thú học tập là một thuộc tính tâm lý phức tạp, dựa vào những tiêuchuẩn khác nhau nên có nhiều cách phân loại hứng thú học tập
- Dựa vào tính chất đối tượng tác động, hứng thú được chia làm hailoại:
+ Hứng thú trực tiếp: là hứng thú đối với bản thân quá trình học tập nhưtài liệu học tập, phương pháp học, các nội dung học,
+ Hứng thú gián tiếp: là hứng thú đối với các kết quả của hoạt động họcnhư hứng thú muốn có học vấn, muốn có nghề nghiệp, muốn có phần thưởng
từ kết quả học tập, muốn người khác nể phục,
- Căn cứ vào mức độ hiệu lực của hứng thú, có hai loại:
+ Hứng thú tích cực là loại hứng thú có hành động, khi con ngườikhông dừng lại ở việc quan sát mà còn hành động với mục đích làm chủ đốitượng gây hứng thú
Trang 5+ Hứng thú thụ động là loại hứng thú tĩnh quan, khi con người chỉ giớihạn ở việc tri giác đối tượng gây nên hứng thú.
- Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú thì ta cũng có 2 loại:
+ Hứng thú bền vững: hứng thú gắn liền với năng lực cao và sự nhậnthức sâu sắc nghĩa vụ và thiên hướng của mình
+ Hứng thú không bền vững: hứng thú đối với sự nhận thức không sâusắc, chỉ mang tính nhất thời và dễ bị mất đi
- Căn cứ vào khối lượng của nó, người ta nói đến hai loại hứng thú:+ Hứng thú rộng: hứng thú rộng rãi và nhiều mặt
+ Hứng thú hẹp: hứng thú ít ỏi, chỉ gói gọn trong một vài mặt nhấtđịnh
-Căn cứ vào chiều sâu có:
+ Hứng thú sâu sắc: là hứng thú mà chủ thể có thái độ thận trọng và cótrách nhiệm đối với công việc Những người này mong muốn đi sâu vào đốitượng nhận thức, đi sâu nắm vững đối tượng gây hứng thú
+ Hứng thú hời hợt bên ngoài: là hứng thú mà chủ thể trong nhận thứcthường qua loa, đại khái, phục vụ cho mục đích trước mắt và dễ bị mất khi đãđạt được mục đích; trong thực tiễn dễ mắc sai lầm
Như vậy, việc khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK sẽ tạo động lựcchính cho hứng thú trực tiếp cho học tập của học sinh Vậy nên trong dạy học,
để giáo dục hứng thú cho học sinh cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính tíchcực và tính bền vững, giữa chiều rộng và chiều sâu Tốt nhất là tạo được ởhọc sinh một hứng thú trung tâm, chủ yếu và sâu sắc trong cuộc sống và hứngthú đó dựa trên những hứng thú rộng rãi và nhiều mặt
Trang 61.1.1.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của hứng thú học
tập
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của hứng thúhọc tập của học sinh trong quá trình học tập, tuy nhiên yếu tố xuất phát từ bảnthân là yếu tố đóng vai trò chủ yếu Có thể nêu ra một số yếu tố như sau:
- Phẩm chất cá nhân+ Trình độ phát triển trí tuệ của cá nhân
Để học sinh thấy được ý nghĩa của đối tượng trong đời sống hoặc bị đốitượng hấp dẫn thì học sinh phải có một trình độ nhất định Một khi cá nhân cóđược những tri thức ban đầu về đối tượng, có những kĩ năng đơn giản, có vốnthao tác trí tuệ nhất định thì cá nhân đó mới có thể có được thái độ nhận thứcvới đối tượng và mới có thể có hứng thú
Tư chất và năng lực có ý nghĩa quan trọng về phương diện lựa chọn đốitượng Thái độ lựa chọn đối tượng, và sự rung cảm của cá nhân kèm theo thái
độ đó phụ thuộc vào những đặc thù riêng của tư chất và năng lực
Trí tuệ học sinh càng phát triển thì khả năng nhận thức và hoạt độngnhận thức của các em càng tăng thêm và điều đó giải thích sự phát triển mộtcách sâu sắc và những biến đổi về chất trong hứng thú của các em
- Đặc điểm tâm lý cá nhân
Tổ chức của hệ vận động - cảm giác càng phát triển cũng như cảm xúccủa cá nhân càng phát triển thì khi đối tượng tác động đến học sinh một cáchmới mẻ, ấn tượng hay sinh động sẽ làm cho học sinh dễ bị lôi cuốn theo
- Tập thể học sinh Những người trong tập thể đánh giá phẩm chất, ý nghĩa của đối tượngnhư thế nào và thái độ của họ đối với đối tượng ra sao thì điều đó cũng chiphối thái độ của cá nhân đối với đối tượng Tập thể là nơi học sinh có thể hợptác cùng nhau, cùng nâng cao trí tuệ và cảm xúc về đối tượng
- Đặc điểm của môn họcNhững công trình nghiên cứu của N Đ Lêvitôp đã cho thấy, khi xácđịnh thái độ của mình đối với môn học, học sinh THPT xuất phát từ nhữngquan điểm sau:
+ Ý nghĩa thế giới quan của môn học: môn học đó đã giúp hiểu các quy
Trang 7+ Ý nghĩa nhận thức của môn học: nó mở rộng tầm hiểu biết, cung cấpnhững tri thức cần thiết và thú vị, vạch ra những điều chưa hề biết đến mứcnào.
+ Ý nghĩa xã hội của môn học: vai trò của nó trong đời sống khoa học,
xã hội, văn hoá, kinh tế đất nước
+ Ý nghĩa thực tiễn của môn học đối với một học sinh: gắn liền với mộtnghề nghiệp đã được định hướng, khả năng nắm được những kỹ năng và kỹxảo có ích
+ Mức độ dễ dàng tiếp thu của môn học: điều này giúp cho học sinhcảm thấy mình có năng lực hơn
+ Giảng dạy tốt môn học: là sự truyền đạt có hiệu quả các kiến thứcmôn học vào đầu học sinh, và tạo nên sự hứng thú thúc đẩy học sinh muốntìm tòi, học hỏi thêm các kiến thức liên quan đến môn học đó
Trong tất cả các động cơ trên, thì động cơ thực tiễn (gắn liền với nghềnghiệp, khả năng tiếp thu những kỹ năng và kỹ xảo có ích) và động cơ nhậnthức là có ý nghĩa nhất đối với học sinh THPT
- Giáo viên
Trong dạy học thì giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo, là người địnhhướng, tổ chức, điều khiển quá trình học tập của học sinh Vì thế, giáo viên cóthể tạo nên những điều kiện cần thiết để kích thích hoạt động cho học sinh.Chẳng hạn, giáo viên trình bày tài liệu một cách rõ ràng, dễ hiểu, sinh động,sâu sắc, mở rộng kiến thức thì làm tăng giá trị môn học, tạo sự hấp dẫn đốivới học sinh; giáo viên cũng có thể làm cho các em ngạc nhiên bằng tính bấtngờ của kiến thức mới, bằng cách buộc phải bộc lộ sức lực bản thân, bằngcách đạt tới kết quả độc đáo một cách tự lực, bằng ý nghĩa quan trọng của đốitượng nghiên cứu, bằng tính chất nghịch lý của tư tưởng và hiện tượng Tất cảnhững cách đó sẽ tác động lên xúc cảm của học sinh, hình thành thái độ có màusắc xúc cảm đối với học tập Nếu không tính đến nhân tố xúc cảm của học sinh,
ta có thể dạy những kiến thức và kỹ xảo, nhưng không thể gây ra được ở các
em hứng thú, thái độ tích cực thường xuyên
Giáo viên cũng có thể tổ chức hoạt động sao cho từ bước đầu các em đãthu được kết quả dù không lớn, và có được niềm vui thành công, đó sẽ là
Trang 8động lực để các em tiếp tục cố gắng, phấn đấu Thực tế cho thấy bộ mặt tinhthần đạo đức của giáo viên, chiều rộng và chiều sâu của kiến thức người giáoviên, kỹ năng diễn cảm khi trình bày tài liệu, khả năng thu hút học sinh vàobài học, có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và phát triển hứng thú củahọc sinh.
1.1.1.4. Những biểu hiện của hứng thú học tập
Hứng thú học tập có những biểu hiện sau:
- Tính tò mò: khi chủ thể bị đối tượng hấp dẫn về mặt tình cảm do đốitượng tạo ấn tượng mạnh hay mới lạ, sinh động, sẽ làm cho chủ thể tò mò,muốn tìm hiểu đối tượng để biết bản chất đối tượng bằng cách đặt các câu hỏi
và sẽ tìm mọi cách để trả lời những câu hỏi đó
- Nhu cầu cá nhân: khi chủ thể có hứng thú thì sẽ có nhu cầu - nhữngđòi hỏi khách quan của con người trong những điều kiện nhất định đảm bảocho sự sống và sự phát triển của con người Khi hứng thú đã được hình thành
có thể biến thành nhu cầu thiết thân hàng đầu của con người
- Tính ham hiểu biết: cơ sở của chú ý và hứng thú của chúng ta là phản
xạ định hướng Ở người, phản xạ này còn biểu hiện trong tính ham hiểu biết.Khi có hứng thú chủ thể có mong muốn tìm hiểu, khám phá đối tượng đểnhận thức nó Tính ham hiểu biết không phải là không có mục đích Điều hấpdẫn học sinh chúng ta là sau này các em có thể vận dụng tri thức trong thực tế,vào sự phát triển xã hội và lợi ích của bản thân mình
- Tính chú ý: khi có hứng thú thì chủ thể sẽ chú ý đến đối tượng Hứngthú thường gắn với chú ý không chủ định
- Khát vọng chiếm lĩnh đối tượng, mở rộng và đào sâu tri thức trongmột lĩnh vực nhất định
- Thái độ cảm xúc với đối tượng: thích thú tìm hiểu đối tượng, có tinhthần sảng khoái khi khám phá được đối tượng
- Tính tự học: tự học là một biểu hiện cao của hứng thú
1.1.2. Tự giác
Tự giác là tự mình hiểu mà làm, không ai cần nhắc nhở đốc thúc Tựgiác học tập là thái độ của bản thân học sinh tự ý thức được việc học tập của
Trang 9mình, học sinh tự đặt ra mục đích học tập, không chỉ thế, học sinh luôn hứngthú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ minh phải hoàn thành
Do đó giáo viên cần làm cho học sinh ý thức được nhiệm vụ nhận thứccủa mình, điều đó thúc đẩy học sinh tự giác, tích cực trong hoạt động học tập
và sáng tạo Khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên trình
độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp vàhình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng,vốn kinh nghiệm của học sinh
1.1.3. Mối quan hệ giữa hứng thú và tự giác
Qua phần trình bày về hứng thú và tự giác ở trên chúng ta rút ra đượchứng thú là tiền đề của tự giác, là động lực trực tiếp để chủ thể tự giác
Sự học tập tự giác của học sinh bắt đầu từ việc ý thức được nhiệm vụ
và sự cần thiết của công việc mình đang làm và từ khi xuất hiện hứng thú đốivới công việc đó, khi sẽ xuất hiện nhu cầu muốn giải quyết đúng đắn côngviệc đó
Niềm vui hứng thú có tác động qua lại với tính tự giác, tích cực chủđộng trong học tập của học sinh; có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập củahọc sinh Nếu ta tìm thấy niềm vui hứng thú trong một trạng thái tâm lý thoảimái thì việc học tập sẽ đạt hiệu quả hơn Hứng thú thực sự biểu hiện ở sự bền
bỉ, kiên trì và sáng tạo trong việc hoàn thành công việc dài hơn Hứng thú ởđây là cảm giác ở người vừa tự mình khám phá ra cái mới, vừa tự mình hoànthành công việc
1.1.4. Vai trò của việc khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK Toán đối với giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh
1.1.4.1. Khắc sâu kiến thức SGK Toán
Khắc sâu kiến thức SGK có nghĩa là làm cho học sinh hiểu được bản chất các khái niệm, định lý hay tính chất, một phương pháp trong SGK.
Có các cách sau để khắc sâu kiến thức:
1) Hoạt động thể hiện: là hoạt động tạo một đối tượng thỏa mãn nộidung khái niệm, định lý hay tính chất, một phương pháp
Trang 102) Hoạt động nhận dạng: là phát hiện xem một đối tượng cho trước cóthỏa mãn nội dung khái niệm, định lý hay tính chất, phương pháp đang nghiêncứu không.
3) Hoạt động ngôn ngữ: phát biểu một khái niệm, giải thích một định
lý, trình bày một lời giải,… hoặc biến đổi chúng từ dạng này sang dạngkhác, chẳng hạn từ dạng kí hiệu Toán học sang dạng ngôn ngữ tự nhiên hoặcngược lại
4) Khái quát hoá, đặc biệt hoá, hệ thống hoá, lật ngược vấn đề
- Khái quát hoá: là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tượng đãcho đến việc nghiên cứu một tập hợp lớn hơn Tức là, mở rộng khái niệm,định lý, một phương pháp cho một lớp đối tượng lớn hơn, bao trùm những đốitượng ban đầu
- Đặc biệt hoá: là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tượng đãcho sang việc nghiên cứu một tập hợp nhỏ hơn chứa trong tập hợp đã cho
- Hệ thống hoá khái niệm, định lý nghĩa là sắp xếp các khái niệm, định
lý mới vào hệ thống cái định lý, khái niệm đã học, nhận biết sự liện hệ giữacác định lý, khái niệm trong hệ thống với nhau
Trang 111.1.4.2. Mở rộng kiến thức SGK Toán
Trên cơ sở đã khắc sâu kiến thức SGK, chúng ta có thể mở rộng kiến
thức SGK Mở rộng kiến thức SGK có nghĩa là từ một nội dung trong SGK
mà phát triển rộng hơn, sâu hơn, cho ra nhiều kết quả mới, đẹp và thú vị.
Nói cách khác mở rộng kiến thức SGK chính là khai thác tiềm năngSGK Vì Khối óc con người tiềm tàng những khả năng to lớn để nắm vữngkiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và có thể phát triển vô hạn nên nhiệm vụ của giáoviên là giúp học sinh khai thác những tiềm năng SGK về phương diện líthuyết và về phương diện các dạng Toán
1.1.4.3. Vai trò của việc khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK Toán đối với giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh
Từ việc khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK, đã giúp cho học sinh hiểuđược nội dung, bản chất đối tượng Từ việc hiểu bài, giải quyết được các bàitập về nhà, các em cảm thấy mình có năng lực hơn, và các em có động lực đểtìm tòi, nghiên cứu để chứng tỏ khả năng của mình Đây cũng là một trongnhững yếu tố quan trọng để hình thành hứng thú và tự giác học tập ở học sinh
Khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK giúp cho học sinh hiểu được bảnchất các vấn đề Toán học và thấy được ứng dụng thực thiễn của nó vào đờisống Từ đó hiểu được giá trị to lớn của Toán học, học sinh sẽ hứng thú, tựgiác học tập và nghiên cứu Toán học
Thông qua khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK mà các phẩm chất tưduy của học sinh được hình thành và phát triển, giúp học sinh có thể độc lập
và sáng tạo trong việc học tập Từ đó học sinh cảm thấy hứng thú và tự giáchọc tập
1.2.Thực trạng của việc khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK Toán theo hướng giáo dục hứng thú và tự giác học tập trong học sinh hiện nay
1.2.1. Thực trạng
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam đã có những bướcphát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào việcnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho công cuộc xây
Trang 12dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục - đào tạocũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập, chậm khắc phục như:
- Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, còn nặng
về lý thuyết, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xãhội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hànhcủa học sinh
- Chất lượng giáo dục có mặt còn bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáodục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy
“người” và dạy “nghề” vẫn yếu kém về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống,
tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống, …
- Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liênthông, mất cân đối
- Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậmđổi mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lýgiáo dục chậm đổi mới, nhiều điểm còn chưa phù hợp với thời đại hiện nay,còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tếthị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vựckhác của đất nước
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạođức và năng lực của một bộ phận còn thấp
- Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục;định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúngtúng, chưa xác định rõ phương chậm
- Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, pháttriển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế;khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứukhoa học giáo dục còn nhiều bất cập
- Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảngthành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác thammưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chínhsách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến
Trang 13chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, thiếu thực
tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội
1.2.2. Nguyên nhân
1.2.2.1. Về phía người dạy
Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giáo viên ngàycàng được nâng cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tínhthuyết giảng, làm người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạymang nặng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tínhứng dụng thấp Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảngdạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cungcấp cho người học, số thời gian của giáo viên dành cho lên lớp tại các trườngquá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thựctế
1.2.2.2. Về phía người học
Người học không chủ động trong việc tự tìm hiểu kiến thức SGK Việcđọc sách của học sinh chỉ mang tính hình thức, học thuộc lòng, không đi sâuvào vấn đề tìm hiểu bản chất, nguồn gốc của kiến thức, dẫn đến chán nản,không hứng thú đối với môn học
Học sinh còn chưa tự giác trong việc đọc sách Tình trạng không chuẩn
bị bài trước khi đến lớp ở trường THPT vẫn tồn tại và khá phổ biến Ở hầu hếtcác trường lớp, học sinh thường khá bị động trong việc tự chuẩn bị bài ở nhà,
kể cả khi giáo viên kiểm tra, các em vẫn có xu hướng làm đối phó Nguyênnhân sâu xa của thực trạng phổ biến này là: học sinh có rất ít thời gian học ởnhà trong khi lượng kiến thức học quá lớn, học sinh chưa chú tâm tới mônhọc hay chưa hiểu rõ tác dụng của phương pháp học này
1.2.2.3. Về chương trình đào tạo
Trang 14Chương trình đào tạo chậm cải tiến đổi mới, thiếu tính cập nhật, lýthuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượngchưa hợp lý, dẫn tới học sinh học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợpvới thực tiễn.
Trang 15Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC SÂU VÀ MỞ RỘNG KIẾN THỨC SÁCH GIÁO KHOA TOÁN THEO HƯỚNG GIÁO DỤC HỨNG THÚ VÀ TỰ
GIÁC HỌC TẬP CHO HỌC SINH
2.1.Các nguyên tắc của việc khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK theo hướng giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh
2.1.1. Đáp ứng mục tiêu giáo dục
Đó là “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, SGKphổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đápứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt nam, tiếp cận trình độgiáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” (Nghịquyết số 40/2000/QĐ10, ngày 09/10/2000 của Quốc hội khoá X)
Trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nước ta đòi hỏi cần cónguồn nhân lực mới, con người mới để giúp Việt Nam có thể sánh vai cùngcác nước trong khu vực cũng như trên thế giới Vì vậy nền giáo dục hiện naycần đào tạo những con người không những có nền tảng kiến thức vững chắc,tri thức dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội ở môi trường THPT mà còn phải có trang
bị những kĩ năng mềm cần thiết, khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượngmới, khả năng ứng xử, xử lý mọi việc một cách thông minh, sáng suốt khi gặpnhững tình huống bất ngờ xảy đến trong cuộc sống, trong lao động và trongcác mối quan hệ với mọi người Do đó, nội dung chương trình giảng dạy phảiphát triển hứng thú và năng lực nhận thức của học sinh, cung cấp cho học sinhnhững kỹ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này Để sau khihoàn thành xong bậc học phổ thông thì học sinh phải đạt được những mặt vềgiáo dục, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng mềm, kỹ năng vận dụng kiếnthức đã học vào thực tế,
Trang 162.1.2.Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra nhữngyêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mớicho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Một trong nhữngđịnh hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mangtính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thànhnăng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Địnhhướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tíchcực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làmviệc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cáchphương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vậndụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tựhọc, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, pháttriển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập
đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩymạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Đểthực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo theoNghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mớiphương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một
số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này
2.1.3.Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi trung học phổ thông
Ở lứa tuổi THPT học sinh thường thể hiện tính chất phức tạp và nhiềumặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn
đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của
sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt
Trang 17lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi Chính vìvậy khi nghiên cứu về học sinh lứa tuổi THPT cần phải kết hợp với quan điểmcủa tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứatuổi
“Tuổi học sinh THPT là tuổi thể chất phát triển ổn định, cả những biếnđổi trong sự phát triển của hệ thần kinh nói chung và của não bộ nói riêngcũng được xác định, nên có sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợpcủa vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập và lao động
Tuổi học sinh THPT là tuổi thích độc lập, thể hiện bản thân với ngườikhác, giàu sức sáng tạo, tuổi đầy nghị lực, nhiệt tình, táo bạo, dám nghĩ dámlàm, lứa tuổi của những ước mơ lãng mạn, vươn tới những sự nghiệp lớn lao
và vĩ đại
Tuổi học sinh THPT là tuổi có sự tự ý thức, có nhu cầu tìm hiểu vàđánh giá, không chỉ thế mà còn có khả năng đáng giá sâu sắc về những phẩmchất, mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng sống và của chính bản thânmình Đây cũng là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan - hệthống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các nguyên tắc và quy tắc cưxử, ”
Vậy nên khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK theo hướng giáo dụchứng thú và tự giác học tập cho học sinh cần phù hợp với đặc điểm tâm sinh lílứa tuổi để tạo ra cho học sinh niềm cảm hứng và sự hứng thú đối với mônhọc, từ đó sẽ giúp các em có tình cảm với môn học và tiếp thu kiến thức SGKmột cách hiệu quả hơn
2.1.4.Tính vừa sức
Luận điểm của L X Vưgôtxki nói rằng, việc dạy học không đượchướng vào trình độ phát triển học sinh đã đạt tới được mà phải vượt trướctrình độ đó một chút bằng cách đề ra những yêu cầu vượt quá một chút nhữngkhả năng hiện có của học sinh, cao hơn trình độ kiến thức mà các em đã đạtđược và đã lĩnh hội tốt Điều này sẽ giúp cho học sinh có thể nâng dần mức
độ phát triển trí tuệ Ông cũng đã nêu lên luận điểm về hai mức độ phát triển
Trang 18những nhiệm vụ mà học sinh có thể hoàn toàn độc lập thực hiện được Mức
độ thứ hai, cao hơn, được Vưgôtxki gọi là vùng phát triển gần nhất Nó biểuthị cái mà trẻ em chưa độc lập thực hiện được, nhưng có thể thực hiện đượcvới một sự giúp đỡ không quá chi tiết (những câu hỏi dẫn dắt, gợi ý, nhữnglời ám chỉ, những sự hướng dẫn chung, ) Vưgôtxki nhấn mạnh rằng, cái màngày hôm nay đứa trẻ làm được với sự giúp đỡ của người lớn, của giáo viênthì ngày mai nó sẽ tự làm được, cái nằm trong vùng phát triển gần nhất, trongquá trình dạy học sẽ chuyển thành mức độ phát triển thực tại
Những khả năng nhận thức của học sinh sẽ được mở rộng trong quátrình phức tạp hóa dần dần những nhiệm vụ học tập và thực hành, nhữngnhiệm vụ này đề ra trong tiến trình dạy học và có thể gây nên cho các em sựcăng thẳng về trí tuệ, thể lực Đối với giáo viên, việc xác định đúng đắn mức
độ và tính chất của khó khăn trong học tập là một trong những phương thứcchủ yếu để tạo nên động lực học tập và mở rộng khả năng nhận thức cho họcsinh và tránh gây áp lực quá lớn cho học sinh
Giáo viên có thể linh hoạt trong điều chỉnh phân phối chương trình, tùytheo đối tượng chứ không gò bó Một khi học sinh nắm được kiến thức cơ bảnthì không dạy lại nữa, mà phải dạy lên cao hơn, phát triển thành kỹ năng
Như vậy, cùng tiếp cận một dung lượng kiến thức, đối với học sinhthuộc đối tượng A có thể “vừa sức” nhưng có khi đối với đối tượng B lại làquá tải Không nên hiểu một cách sơ giản, phiến diện rằng, cái gì dễ đối vớihọc sinh tức là không bị quá tải
Một tiết học chỉ đảm bảo tính vừa sức khi cả giáo viên và học sinh đềucảm thấy nhẹ nhàng thoải mái, cùng tranh luận sôi nổi những tình huống cóvấn đề Một khi học sinh đến lớp luôn cảm thấy giờ học vừa với sức tiếp thucủa mình thì không có lý gì các em lại chán học, bỏ học Đổi mới phươngpháp dạy học dù ở mức độ nào thì cũng không ngoài mục đích làm cho họcsinh hứng thú học tập
2.1.5.Tính hệ thống
Trang 19Các phẩm chất của tư duy toán học là: Tính linh hoạt, tính mềm dẻo,tính sáng tạo, tính độc lập,
Các nét đặc trưng của tư duy biện chứng đó là:
Xem xét các đối tượng toán học, các quan hệ giữa chúng trong các mối liên
hệ giữa cái chung và cái riêng
Xem xét các đối tượng toán học, các quan hệ giữa chúng theo quan điểm vậnđộng biến đổi
Xem các đối tượng toán học trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau
Nếu học sinh hình thành được cách nhìn tư duy biện chứng thì học sinh
sẽ dễ nắm bắt được kiến thức và hiểu được cái bản chất của nó Từ đó có thểkhắc sâu và mở rộng kiến thức SGK Toán theo hướng giáo dục hứng thú và tựgiác học tập cho học sinh
2.2. Một số biện pháp khắc sâu và mở rộng kiến thức SGK Toán theo hướng giáo dục hứng thú và tự giác học tập cho học sinh
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi mà tâm sinh lý phát triển chưa hoànthiện, tuy nhiên các em cũng đã hình thành được ý thức và tư duy Đây là giaiđoạn mà người giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển trítuệ, giúp học sinh phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu ởtừng môn học và khơi dậy hứng thú, hình thành tính tích cực cho học sinh Vìvậy giáo viên cần có những biện pháp giáo dục phù hợp với lứa tuổi này, vớitừng đối tượng, từng môn học Cho nên muốn khắc sâu và mở rộng kiến thứcSGK toán cho học sinh THPT thì giáo viên cần phải hình thành, xây dựngnhững biện pháp cụ thể phù hợp để đạt được hiệu quả tốt trong việc dạy học
2.2.1. Khai thác những cái hay, cái đẹp, cái có ích của toán học từ đó khơi dậy tình yêu của học sinh đối với toán học
Toán học cũng như các môn khoa học khác là khoa học xuất phát từthực tiễn và quay lại phục vụ thực tiễn Toán học còn có những đặc trưngriêng đó là khoa học có tính khái quát, tính trừu tượng cao độ, Toán học là
Trang 20khoa học mẫu mực về sự chính xác, suy luận chặt chẽ Tuy nhiên, những điềunày chưa được giáo viên ý thức một cách thật đầy đủ và đúng mức hoặc đã ýthức nhưng lại chưa làm cho học sinh thấu hiểu được những điều này Vì thế
mà chưa khơi dậy được ở học sinh tình yêu đối với Toán học Học sinh chưathấy niềm vui khi đến với Toán học, chưa thấy được điều hay,thú vị của Toánhọc, chưa thấy hết được ý nghĩa và giá trị của Toán học đối với các môn khoahọc khác và đối với cuộc sống Dẫn đến học sinh chưa có động lực để học tậpmôn toán, chưa có hứng thú và tự giác học tập
Vì vậy muốn giáo dục hứng thú và tự giác học tập môn toán cho họcsinh, giáo viên cần:
2.2.1.1. Làm cho học sinh thấy rõ Toán học xuất phát từ thực tiễn
Đối với các môn học xã hội thì các ứng dụng thực tế là rất dễ thấy Họcmôn điạ lý thì các em có thể hiểu vì sao có hiện tượng ngày, đêm, mưa gió,
vì vậy rất dễ lôi cuốn sự hứng thú của học sinh Ngược lại môn toán thì sao?
Có lẽ ai đã và đang học toán đều có suy nghĩ rằng Toán học ngoài những phéptính đơn giản như cộng, trừ, nhân, chia, thì hầu hết các kiến thức toán khácrất trừu tượng đối với học sinh Vì vậy việc học toán trở thành một áp lựcnặng nề đối với học sinh Họ nghĩ rằng toán học là mơ hồ xa xôi, học chỉ làhọc mà thôi Học sinh học toán chỉ có một mục đích duy nhất đó là thi cử.Hình như ngoài điều đó ra các em không biết học toán để làm gì Vì vậy các
em có quyền nghi ngờ rằng liệu toán học có ứng dụng vào thực tế không nhỉ?
Sự thật là toán học có rất nhiều ứng dụng vào thực tế và nó thể hiện rất
rõ trong cuộc sống hằng ngày của con người nhưng chúng ta không để ý màthôi Giáo viên cần khai thác triệt để lịch sử của Toán học để làm cho học sinhthấy sự ra đời và phát triển của Toán học, Toán học phản ánh cuộc sống, đápứng yêu cầu của cuộc sống Trong mọi trường hợp, Toán học được phát minhnhằm tiết kiệm sức lực và tư duy, bằng cách cung cấp những công cụ có sẵn
để sử dụng cho những vấn đề hết sức khác nhau, có khi rất khó khăn
Từ thế kỷ thứ VII, thứ VI trước Công nguyên, những khái niệm Toán