Đứng trước tình thế hết sức khó khăn đó, triều đình nhà Nguyễn đã có nhiều kiến nghị tiến hành cách tân, đổi mới để tạo thực lực cho đất nước đủ sức đứng vững và phát triển, trong đó có
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ -
TRẦN VĂN QUÝ
TIẾP CẬN KĨ THUẬT PHƯƠNG TÂY DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC (1848 – 1883)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS PHAN NGỌC HUYỀN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình quý báu của các thầy cô trong khoa Lịch sử - trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử Việt Nam, sự đóng góp của các bạn sinh viên Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và đóng góp quý báu của thầy
cô và các bạn
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn TS Phan Ngọc Huyền đã giúp
đỡ, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành khóa luận này
Hà Nội ngày 27 tháng 04 năm 2017
Tác giả khóa luận
Trần Văn Qúy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài “Tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức (1848 – 1883)” là công trình nghiên cứu của riêng mình Các nguồn tƣ
liệu đƣợc dùng trong khóa luận tốt nghiệp là chính xác, những trích dẫn là trung thực Vì vậy tác giả xin chịu trách nhiệm cuối vùng về kết quả của khóa luận!
Hà Nội ngày 27 tháng 04 năm 2017
Tác giả khóa luận
Trần Văn Qúy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Bố cục của đề tài 6
NỘI DUNG 8
Chương 1 ĐẠI NAM GIAI ĐOẠN TRỊ VÌ CỦA VUA TỰ ĐỨC: THÁCH THỨC CỦA THỜI CUỘC VÀ THẾ ỨNG XỬ VỚI KĨ THUẬT PHƯƠNG TÂY 8
1.1 Đại Nam nửa cuối thế kỉ XIX trước những thách thức của thời cuộc 8
1.1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực 8
1.1.2 Bối cảnh xã hội thời Nguyễn 11
1.2 Vua quan nhà Nguyễn thời Tự Đức với các kĩ thuật phương Tây: nhận thức và hành xử 14
1.2.1 Nhận thức của vua quan nhà Nguyễn về kĩ thuật phương Tây 14
1.2.2 Thế hành xử của vua quan nhà Nguyễn đối với kĩ thuật phương Tây 20
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 QUÁ TRÌNH TIẾP CẬN KĨ THUẬT PHƯƠNG TÂY DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC 26
2.1 Việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây trong lĩnh vực quân sự 26
Trang 52.1.1 Trên phương diện kĩ thuật đúc vũ khí 26
2.1.2 Trên phương diện mua mới đóng thuyền 30
2.1.3 Trên phương diện kĩ thuật xây đồn lũy 34
2.2 Việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây trong lĩnh vực sản xuất 35
2.2.1 Trên phương diện sản xuất nông nghiệp 35
2.2.2 Trên phương diện sản xuất thủ công nghiệp 37
2.3 Việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây trong lĩnh vực văn hóa 40
2.3.1 Trên phương diện kiến trúc, nghệ thuật 40
2.3.2 Trên phương diện địa lí, thiên văn 41
2.3.3 Trong phương diện dịch thuật, in ấn 42
Tiểu kết chương 2 45
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ VIỆC TIẾP CẬN KĨ THUẬT PHƯƠNG TÂY DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC 46
3.1 Đặc điểm của việc tiếp cận 46
3.1.1 Động cơ và mục đích 46
3.1.2 Quy mô và lĩnh vực 48
3.1.3 Thí điểm và ứng dụng 50
3.2 Điểm tích cực và hạn chế trong việc tiếp cận 51
3.2.1 Điểm tích cực 51
3.2.2 Mặt hạn chế 53
3.3 Bài học kinh nghiệm trong việc tiếp cận 56
Tiểu kết chương 3 58
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử vương triều Nguyễn kéo dài 143 năm (từ năm 1802 đến năm 1945) với 13 đời vua Hơn một nửa thế kỉ đã trôi qua, nhà Nguyễn trở thành đối tượng tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là giới sử học trong và ngoài nước với những nhận thức khác nhau Tuy nhiên để thấy được công và tội của nhà Nguyễn chúng ta cần có cái nhìn toàn diện, khách quan trên nhiều mặt từ xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa đến tiếp cận và thực hành khoa học kĩ thuật Thời kì trị vì của vua Tự Đức từ năm 1848 đến năm 1883 là giai đoạn Đại Nam đứng trước nhiều khó khăn trong đó nổi bật lên là công cuộc xâm lược của thực dân Pháp năm 1858
Vua Tự Đức trị vì đất nước trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, đất nước vừa bị khủng hoảng trầm trọng, vừa phải đối phó với sự xâm lược của thực dân Pháp Đứng trước tình thế hết sức khó khăn đó, triều đình nhà Nguyễn đã có nhiều kiến nghị tiến hành cách tân, đổi mới để tạo thực lực cho đất nước đủ sức đứng vững và phát triển, trong đó có việc cần phải học tập khoa học kĩ thuật của phương Tây Việc tiếp cận các kĩ thuật phương Tây dưới triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Tự Đức là giai đoạn để lại những dấu ấn sâu sắc, có vị trí quan trọng trong chính sách của nhà nước đối với khoa học
kĩ thuật Do vậy, thời Tự Đức là tâm điểm đáng chú ý nhất khi nghiên cứu về việc tiếp cận và thực hành kĩ thuật dưới thời Nguyễn
Về mặt khoa học: Nghiên cứu vấn đề tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức sẽ góp phần làm sáng tỏ câu hỏi triều vua này đã giải quyết những khó khăn của đất nước như thế nào, đâu là những cố gắng cần ghi nhận, những kết quả đã đạt được trong việc tiếp cận, nguyên nhân nào dẫn đến những thất bại trong việc tiếp cận đó và những hệ quả và bài học cần rút ra
Trang 7Về mặt thực tiễn: Thông qua việc nghiên cứu đề tài tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức giúp chúng ta có những cái nhìn đúng đắn, khách quan về thế ứng xử cũng như trách nhiệm của nhà Nguyễn nói chung và vua Tự Đức nói riêng trong sự lựa chọn con đường canh tân hay đóng cửa đất nước nửa cuối thế kỉ XIX, đặc biệt là nhận thức và hành động trong việc tiếp cận với khoa học kĩ thuật của phương Tây Từ đó giúp chúng ta rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về vấn đề tiếp cận khoa học kĩ thuật trong công cuộc đổi mới, hội nhập với khoa học kĩ thuật phương Tây hiện nay
Với ý nghĩa đó tác giả chọn đề tài “Tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức (1848 – 1883)” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bàn về triều Nguyễn cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, thế nhưng việc tìm hiểu về việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới triều đại nhà Nguyễn nói chung và dưới thời Tự Đức còn rất hạn chế Cho nên đây là một vấn đề hết sức mới mẻ Đa phần các tài liệu chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu chung và khái quát, chưa thực sự nghiên cứu tìm hiểu nào mang tính hệ thống, trọn vẹn nhất
Trước hết là công trình tiêu biểu nghiên cứu về triều Nguyễn và thời Tự
Đức Trong cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim đã dành 15
chương viết về nhà Nguyễn Đây là nguồn tài liệu cơ bản giúp tác giả có cái nhìn bao quát về thời Nguyễn
Tác phẩm “Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” của
Nguyễn Thế Anh do NXB Lửa thiêng xuất bản năm 1971 Qua tác phẩm này
đã cho ta cái nhìn bao quát, toàn diện về tình hình kinh tế - xã hội dưới triều Nguyễn nói chung cũng như thời Tự Đức nói riêng để từ đó cái nhìn hoàn chỉnh về việc tiếp cận khoa học kĩ thuật phương Tây
Trang 8Ngoài ra còn có tác phẩm “Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương Tây dưới triều Nguyễn (1802 – 1858)” của Trần Nam Tiến, do NXB
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006 Trong tác phẩm này tác giả đã giới thiệu khá cụ thể hoạt động ngoại giao của triều Nguyễn với các nước phương Tây chủ yếu là các nước Anh, Pháp, Mĩ trong thời gian từ khi nhà Nguyễn được thành lập (1802) cho đến khi thực dân Pháp
nổ súng xâm lược Việt Nam (1858) Qua đó giúp ta suy luận được những ảnh hưởng của chính sách ngoại giao đến hoạt động tiếp thu kĩ thuật phương Tây,
từ đó góp một đánh giá thỏa đáng hơn về những tích cực và hạn chế trong việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây
Liên quan đến vấn đề tiếp xúc khoa học kĩ thuật phương Tây của Việt Nam với phương Tây thời tiền cận đại cũng có một số tác phẩm, công trình
nghiên cứu Tiêu biểu cuốn “Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn”,
của Đỗ Bang do nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1999, trong tác phẩm này tác giả chủ yếu nói về những tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn, còn về tiếp cận kĩ thuật phương Tây mới chỉ ở mới chỉ mang tính khái quát chưa đầy đủ và hệ thống Trong cuốn này tác giả muốn người đọc
có cái nhìn xuyên suốt, toàn cảnh về những tư tưởng canh tân, đổi mới, từ đó cài nhìn hoàn chỉnh về việc tiếp cận và thực hành kĩ thuật phương Tây
Ngoài ra còn có các công trình luận án, luận văn nghiên cứu về triều
Nguyễn, tiêu biểu phải kể đến Luận văn thạc sĩ Lịch sử “Quá trình du nhập khoa học kĩ thuật phương Tây vào Việt Nam thế kỉ XVI – XVIII” của Phạm
Ngọc Trang - Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội xuất bản năm 2015 Mặc dù về mặt thời gian không trùng lập với thời
kì này tuy nhiên đây là nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp giúp tác giả hoàn thành khóa luận của mình
Trang 9Cùng với một số cuốn tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học của các thầy cô và các bạn sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng trong cả nước đã cung cấp cho tác giả những kiến thức cơ bản, chung nhất về vấn đề tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức
Trên cơ sở những tài liệu đã được tiếp cận, tác giả nhận thấy hầu hết các tài liệu này mới chỉ đề cập một cách chung chung hay mới chỉ nói một cách
sơ lược về việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Nguyễn Song đây chính là những tài liệu hết sức quý giá để cho người viết tham khảo và tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa về việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây thời Tự Đức
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức nhằm làm sáng tỏ những cố gắng của triều đình Tự Đức liên quan đến việc tiếp cận,
từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá trong việc tiếp cận khoa học kĩ thuật phương Tây
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu trên, đề tài tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Bối cảnh lịch sử và những thách thức đặt ra dưới thời vua Tự Đức
- Nhận thức và thế ứng xử của vua Tự Đức về kĩ thuật phương Tây
- Quá trình tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức (1848 – 1883)
- Một số nhận xét về việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức (1848 – 1883)
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài tập trung vào khoảng thời gian từ năm Tự Đức thứ 1 (1848) đến năm Tự Đức thứ 36 (1883), là thời kì chế độ phong kiến Việt Nam suy yếu, từ địa vị thống trị đã dần trở thành phụ thuộc, đất nước bắt đầu chịu
sự ảnh hưởng trực tiếp của hệ tư tưởng và văn minh phương Tây Đây cũng là giai đoạn chính trị, xã hội Việt Nam có nhiều biến động sâu sắc, đặt ra yêu cầu canh tân đất nước, học hỏi bên ngoài nhất là các nước phương Tây
Về không gian: Tác giả xác định việc tiếp cận các kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức tại phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Về nội dung: Do nguồn tài liệu và thời gian có hạn nên tác giả tập trung chủ yếu đi sâu vào việc tìm hiểu việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây trên các lĩnh vực quân sự (đúc vũ khí, đóng thuyền, xây đồn lũy), sản xuất (nông nghiệp, thủ công nghiệp), văn hóa (kiến trúc, nghệ thuật, địa lí, thiên văn, dịch thuật, in ấn)
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Nguồn tư liệu chính sử: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên, Việt Nam sử lược Những tư liệu này hầu hết viết bằng chữ Hán, tác giả dựa vào bản dịch của Viện sử học
- Tài liệu khảo cứu: Bao gồm giáo trình, chuyên đề, luận văn, luận án, tạp chí như: Lịch sử Việt Nam tập 2 của tác giả Phan Huy Lê, Lịch sử Việt Nam tập 5 từ năm 1802 đến năm 1858 của tác giả Trương Thị Yến, Kinh tế và
xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn của Nguyễn Thế Anh, Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn của Đõ Bang, Luận văn Thạc sĩ “Quá trình du nhập khoa học kĩ thuật phương Tây vào Việt Nam thế kỉ XVI – XVIII” của tác giả Nguyễn Ngọc Trang,… Những tài liệu này được tác giả
Trang 115.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Để thực hiện đề tài nghiên cứu tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, tác giả sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Với phương pháp lịch sử, đã giúp khôi phục, trình bày các
sự kiện liên quan quá trình tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức Còn phương pháp logic sẽ là một công cụ hữu ích trong việc gắn kết và sâu chuỗi các sự kiện Ngoài ra, đề tài còn sử dụng nhiều phương pháp khác như: sưu tầm, phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái quát vấn đề
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu một cách tương đối hệ thống và đầy đủ
về việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức (1848 – 1883) Thông qua việc sưu tầm, tìm hiểu, tổng hợp tư liệu chính sử và tài liệu nghiên cứu đề tài đã góp phần đánh giá những mặt tích cực, hạn chế của việc tiếp cận và thực hành các kĩ thuật phương Tây thời kì này, từ đó rút ra đặc điểm, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm trong việc tiếp cận và thực hành các kĩ thuật phương Tây nửa cuối thế kỉ XIX
Qua công trình nghiên cứu này, tác giả mong muốn góp một phần tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử vương triều Nguyễn nói chung, cũng như thời Tự Đức nói riêng, đặc biệt là vấn đề tiếp xúc và giao lưu văn hóa Đông – Tây trong lịch sử Việt Nam
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề tài
có cấu trúc gồm ba chương:
Chương 1: Đại Nam giai đoạn trị vì của vua Tự Đức: Thách thức của
thời cuộc và thế ứng xử với kĩ thuật phương Tây Chương này khái quát về
Trang 12bôi cảnh lịch sử tác động đến quá trình tiếp cận kĩ thuật phương Tây cũng như nhận thức của vua quan triều đình nhà Nguyễn đối với kĩ thuật phương Tây
Chương 2: Quá trình tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức
Chương này trình bày về việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây trên các lĩnh vực quân sự, sản xuất và văn hóa
Chương 3: Một số nhận xét về việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới
thời Tự Đức Trên cơ sở trình bày về quá trình tiếp cận kĩ thuật phương Tây dưới thời Tự Đức, chương này rút ra một số nhận xét nhằm làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến việc tiếp cận
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 ĐẠI NAM GIAI ĐOẠN TRỊ VÌ CỦA VUA TỰ ĐỨC: THÁCH THỨC CỦA THỜI CUỘC VÀ THẾ ỨNG XỬ VỚI KĨ THUẬT PHƯƠNG TÂY
1.1 Đại Nam nửa cuối thế kỉ XIX trước những thách thức của thời cuộc
1.1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực
* Bối cảnh thế giới
Một nội dung quan trọng của lịch sử thế giới thời cận đại vào đầu thế kỷ XIX là sự phát triển và toàn thắng của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới Châu Âu và Bắc Mỹ đã tiến hành Cách mạng tư sản từ thế kỷ XVI và đến những năm của thế kỷ XIX thì hoàn thành cách mạng tư sản Chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống thế giới và giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị - có quyền lực vô hạn về kinh tế Để phát triển và tăng cường lợi nhuận về kinh tế, giai cấp tư sản đã cách mạng hóa công nghiệp, cải tiến kỹ thuật, thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ XVIII cho đến giữa thế kỷ, từ đó đưa lại một nước thay đổi lớn lao trong kinh tế Lao động bằng máy móc ra đời, thay thế cho lao động thủ công chân tay đã đưa năng suất lao động tăng lên
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, do những tiến bộ vượt bậc về kinh tế của khoa học kỹ thuật thời cận đại, giai cấp sản ở các cường quốc phương Tây đã
có thể tiến xa hơn trong hành trình tìm kiếm và khám phá ra những vùng đất
xa xôi mà trước khi họ chưa có khả năng, điều kiện để đặt chân đến Lợi dụng những phát kiến về địa lý, những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, giai cấp tư sản phương Tây tăng cường tìm kiếm xâm lược thuộc địa nhằm đáp ứng cho sự phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở chính quốc Một trong những nhân
tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm và xâm lược thuộc địa của tư bản
Âu - Mỹ là sự tiến bộ của ngành giao thông vận tải Năm 1830, trên giới có
Trang 14không quá trên 332 km đường sắt, đến năm 1870 con số trên trở thành 200.000 km Năm 1807, chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước đầu tiên xuất hiện trên thế giới, đến 1836 ở Anh - một trong những nước đầu tiên làm cách mạng
tư sản thành công đã có 500 tàu thủy hoạt động
Ngoài sự phát triển của đường sắt, đường thủy, đường hàng không cũng đạt những thành tựu đáng kể Ngành viễn thông cũng đã phát triển nhanh chóng và tạo điều kiện thuận lợi tăng cường sự hiểu biết của phương Tây đối với phương Đông hoang sơ và giàu có Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong thế kỷ XVIII, XIX đã tạo điều kiện cho việc mở mang đất của thực dân được tăng cường Những đế quốc dần hình thành với nhiều vùng đất, nhiều dân tộc khác nhau
Như vậy, vào đầu thế kỷ XIX cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản trên thế giới là sự tăng cường xâm nhập và nô dịch thuộc địa của phương Tây
Trang 15Xã hội Trung Quốc cuối thế kỉ XIX cũng rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Nông dân Trung Quốc bị áp bức bóc lột nặng nề nên đã liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa Thêm vào đó cuộc Chiến tranh thuốc phiện giữa Trung Quốc
và Anh đã bùng nổ vào năm 1839 Kết quả của cuộc chiến tranh này khiến Trung Quốc thua trận và phải kí Hiệp ước Thiên Tân với đế quốc Anh, nhượng cho Anh nhiều đặc quyền kinh tế Từ đó Trung Quốc ngày càng suy yếu và bị nhiều nước thực dân phương Tây xâu xé
Chính trong bối cảnh đó, một luồng tư tưởng mới, cách tân đã thổi vào Trung Quốc Đến những thập niên cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX trào lưu canh tân đất nước bùng lên mạnh mẽ, liên tục với nội dung và phạm vi ngày càng đa dạng Tiêu biểu cho phong trào cải cách ở Trung Quốc là phong trào Dương vụ (học phương Tây để chống lại sự nô dịch của phương Tây) Những
người trong phái Dương vụ cho rằng: “Điều cốt yếu của tự cường là luyện quân, muốn luyện quân trước hết phải chế tạo vũ khí Trung Quốc bị phương Tây ức hiếp, nô dịch là do không có súng đạn, tàu thuyền tối tân chống cự, do kém cỏi hơn về kiến thức và kĩ năng quân sự Vì thế mua sắm, chế tạo tàu thuyền súng đạn và đào tạo người biết sử dụng vũ khí, phương tiện giao thông tân tiến là yếu cầu cấp thiết hàng đầu” [31; tr.139] Những người lãnh đạo
phong trào Dương vụ đã tiến hành nhiều nội dung cải cách, nổ bật là những cải cách trên lĩnh vực quân sự và giáo dục
Mặc dù không đi đến kết quả cuối cùng của cuộc cải cách song phong trào Dương vụ đã như một tiếng chuông thức tỉnh dân tộc Trung Hoa, với lời cảnh báo sâu xa: muốn thoát khỏi thân phận nô dịch cần phải tự cường; con đường tự cường chính là học tập, tiếp nhận những tư tưởng, tri thức và phương pháp giáo dục tiến bộ của phương Tây
Thái Lan trong thế kỉ XIX đã bị Anh và Pháp nhòm ngó, một nửa đất nước thuộc phạm vi quyền lợi của Anh, một nửa còn lại thuộc phạm vi quyền
Trang 16lợi của Pháp Trong tình cảnh đó nhà nước phong kiến Thái Lan đã thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo, mở cửa buôn bán với các nước phương Tây Nhờ những chính sách khôn khéo Thái Lan đã thoát khỏi nạn ngoại xâm và đổi mới đất nước theo phương Tây, trở nên giàu mạnh
1.1.2 Bối cảnh xã hội thời Nguyễn
Xã hội Việt Nam giữa thế kỉ XIX đứng trước những thử thách hết sức nặng nề Nông nghiệp sa sút đã làm cho cuộc sống của nông dân gặp nhiều khó khăn Thủ công nghiệp suy giảm do bị triều đình khống chế Thương nghiệp bị hạn chế phát triển đặc biệt là chính sách “đóng cửa” đã cắt đứt quan
hệ buôn bán giữa Việt Nam và phương Tây
Về chính trị mâu thuẫn giữa triều đình với dân chúng, đặc biệt là nông dân rất gay gắt Hàng trăm cuộc khỏi nghĩa nông dân nổ ra để chống lại sự cai trị hà khắc của triều Nguyễn Để bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị, triều Nguyễn đã thẳng tay đàn áp đẫm máu các cuộc khởi nghĩa nông dân
Chính sách đối ngoại của triều Nguyễn mắc phải nhiều sai lầm nghiêm trọng Nhận thấy nguy cơ bị các nước phương Tây xâm lược, vua Gia Long
đã cảnh giác hơn quan hệ với Pháp Ông thực hiện chính sách đóng cửa, hạn chế buôn bán, tiếp xúc với nước ngoài Kế tục sự nghiệp của Gia Long, Minh Mạng vẫn tiếp tục thực hiện chính sách đóng cửa mà cha ông để lại Đến thời vua Thiệu Trị và Tự Đức, chích sách đối ngoại triều Nguyễn vẫn không thay đổi theo hướng cởi mở thậm chí còn cứng nhắc hơn
Trở lại với nội tình đất nước lúc bấy giờ, Tự Đức lên ngôi trong bối cảnh đất nước đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng trên tất cả các mặt Vì thế ngay sau khi lên ngôi nhà vua đã đưa ra nhiều chính sách để khắc phục tình trạng đó Ngược lại chính bối cảnh ấy cũng tác động không nhỏ đến chủ trương của ông đối với việc tiếp cận và thực hành các kĩ thuật phương Tây
Trang 17Dưới thời trị vì của vua Tự Đức đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Vào những năm đầu thời Tự Đức, nạn đói xảy ra liên miên, triều đình phải liên tục mở kho thóc cứu đói Do thiên tai, mất mùa xảy ra thường xuyên, đời sống nhân dân cực khổ nên giặc cướp nổi lên khắp nơi, nhà nước phải rất vất
vả mới có thể dẹp yên Triều đình đã nhiều lần đưa vấn đề sửa đắp đê ra bàn bạc và có nhiều biện pháp nhưng tình trạng đê vỡ vẫn xảy ra phổ biến Riêng
đê sông Hồng ở Khoái Châu (Hưng Yên) thời Tự Đức bị vỡ 10 năm liền
Theo cách nói của Trương Vĩnh Kí thì: “Người dân của xứ này đã chết đói trên một chiếc giường đầy vàng” [11; tr.148]
Vua Tự Đức cũng đã nhiều lần ra dụ về việc các quan cần phải cứu đói cho dân nhưng trên thực tế nạn tham nhũng, bóc lột dân của các quan lại khá
phổ biến, tới mức Tự Đức cũng phải than: “Quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như con hổ; ngày đục tháng khoét dần của dân, mưu tính cho đầy túi riêng, lại thêm những việc sách nhiễu ngoài lệ, không kể xiết được… Hiện nay tình trạng sinh sống ở các làng mạc đã như thế, nếu không chấn chỉnh sớm đi, thì e rằng dân chúng ngày càng quẫn bách, phiêu tán” [19; tr.19]
Không những thế nhân dân phải chịu cảnh tô cao, thuế nặng; nhà nước chia vùng để đánh thuế Tô thuế bao gồm hai bộ phận: thuế ruộng đất và thuế nhân đinh Bên cạnh đó nhân dân còn phải chịu chế độ lao dịch nặng nề Theo quy định của nhà Nguyễn, mỗi năm dân đinh phải chịu hai tháng sai dịch cho nhà nước, chưa kể sai dịch cho làng xã Đặc biệt là việc xây dựng hệ thống lăng tẩm các vua dưới thời Nguyễn khiến nhân lực, vật lực của đất nước bị hao tổn nhiều ít
“Năm 1864, Tự Đức cho khởi công xây dựng lăng mộ cho mình, huy động 2.000 binh sĩ cùng nhiều nông dân Năm 1864, triều đình lại
bổ sung thêm 1.000 binh sĩ nữa đến làm việc tại công trường xây dựng này Trước tình trạng chế độ lao dịch nặng nề, binh sĩ và dân phu đã
nổ dậy đấu tranh” [24; tr.748]
Trang 18Hậu quả cuối cùng của toàn bộ tình hình nói trên là đời sống các tầng lớp nhân dân, mà trước hết và chủ yếu là những người nông dân ngày càng trở nên khốn khổ, trong đó một bộ phận đáng kể bị bần cùng hóa Nạn đói hoành hành khắp nơi nhất là miền Trung và miền Bắc Tất cả điều đó làm cho mâu thuẫn xã hội dưới thời Tự Đức ngày càng gay gắt, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra Thống kê cho thấy thời Tự Đức, trong khoảng thời gian từ năm 1847 đến năm
1862 đã có 40 cuộc nổi dậy, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Cao
Bá Quát (1854 – 1855) ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ [24; tr.756] Triều đình
đã phải duy trì một đội quân thường trực với số lượng từ 130.000 người từ đầu thời Gia Long tăng lên hơn 200.000 người ở giữa thế kỉ XIX Do việc dồn sức vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa nên tiềm lực quân sự của nhà nước yếu dần Triều đình bị cô lập, khả năng chiến đấu của nhân dân bị suy giảm, tính đoàn kết gắn bó giữa nhà nước với nhân dân cũng không còn được như các triều đại trước đó
Học giả Cao Xuân Huy đã từng nhận định về bối cảnh thời Tự Đức như
sau: “Những mâu thuẫn xuất hiện từ thời Gia Long, tích lũy và bùng phát qua các đời Minh Mạng và Thiệu Trị, đến đây đã trở thành những nguy cơ sụp đổ Chúng đặt chế độ phong kiến tập quyền nhà Nguyễn trước một loạt khủng hoảng khó lòng hàn gắn nổi, như khủng hoảng về tư liệu sản xuất, về lực lượng sản xuất, và nhất là về nhân tâm… Có thể nói đó là những lí do sâu xa, những điều kiện và tiền đề để cho một chủ nghĩa thực dân xâm lược Pháp từng bước đẩy lui sức tự vệ của dân tộc, cuối cùng đặt được ách thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam” [20; tr.196]
Trong bối cảnh nội trị chưa yên thì sáng ngày 1/9/1858, chiến thuyền của liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng Cuộc xâm lược của thực dân Pháp đã cắt ngang tiến trình phát triển bình thường của dân tộc Nhìn chung, phản ứng của triều Nguyễn trước sự bành trướng về
Trang 19thương mại và quân sự của Pháp và các nước phương Tây là thụ động, lo sợ, nghi ngờ và thiếu tự tin Thay vì một mặt phải tìm hiểu, nghiên cứu, tiếp cận đối phương, mặt khác phải phát huy sức mạnh của bộ máy, động viên tập hợp lực lượng, triều Nguyễn lại tìm cách né tránh, hạn chế giao tiếp và thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”
Trong điều kiện bấy giờ mở cửa và canh tân làm cho đất nước giàu mạnh trở thành vấn đề sống còn của nước nhà Một xu hướng đòi cải cách mở cửa không chỉ ở các tầng lớp tri thức như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch
mà cả ở những nho sĩ, đại thần triều đình như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế, Bùi Viện và ngay cả viện Thương bạc cũng
đề xuất với triều đình xin mở cảng Đà Nẵng, Ba Lạt, Đồ Sơn để thông thương
Chính Nguyễn Lộ Trạch đã phải rất đau đớn khi nhận xét: “Đại thế ngày nay không còn là đại thế như ngày trước Ngày trước còn có thể làm mà không làm, ngày nay muốn làm mà không còn thì giờ và làm không kịp” [9; tr.95]
Tóm lại, tình hình trong nước, quốc tế đặt Tự Đức trước những cơ hội, thách thức và sự lựa chọn Tuy nhiên những khó khăn và thách thức vẫn là chủ yếu Vậy vua Tự Đức đã làm gì để giải quyết những khó khăn đó? Chính sách của Tự Đức đối với nền kinh tế và kĩ thuật phương Tây như thế nào? Liệu những chính sách đó có giúp nhà Nguyễn thoát khỏi thân phận thuộc địa
để trở thành một quốc gia độc lập?
1.2 Vua quan nhà Nguyễn thời Tự Đức với các kĩ thuật phương Tây: nhận thức và hành xử
1.2.1 Nhận thức của vua quan nhà Nguyễn về kĩ thuật phương Tây
Bẩm sinh vua Tự Đức là một con người thông minh, có nhiều tài năng Ngay từ khi mới lên ngôi, vua Tự Đức đã được Giám mục Pellerin nhận xét:
“Đó là một con người thông minh và có khả năng hơn cả trong tất cả các hoàng
tử của Thiệu Trị, mặc dù sức khỏe ông ta có mong manh Ông là một thi sĩ và là một đại trí thức, người ta còn nói rằng ông có nhiều ý tưởng tốt” [70; tr.203]
Trang 20Vào năm 1864, Gabriel Aubaret sau khi được tiếp kiến nhà vua cũng đã có
những ấn tượng khá sâu sắc: “Tự Đức có dung mạo dễ mến, cái nhìn sâu thẳm
và không chút giả dối, nước da trắng ngà, không có râu, tay chân thanh mảnh, nên vua có vẻ dịu dàng như phụ nữ Tuy nhiên vua có giọng nói trầm, lời lẽ ôn tồn, rõ ràng và rất dễ hiểu… vua tỏ ra quan tâm muốn biết về châu Âu, vua hỏi tôi nước Pháp nhờ đâu mà hùng cường và phồn thịnh” [70; tr.204]
Lúc này trên thế giới, khoa học và công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh buôn bán ngày càng gay gắt, thế mà đình thần quanh vua Tự Đức chỉ chăm lo việc văn chương, khéo nghề nghiên bút, bàn đến quốc sự thì lấy Nghiêu Thuấn, Hạ, Thương Chu xa xưa làm gương, tự vỗ ngực là văn minh, chê thiên hạ là ngoại dị Bằng chứng cụ thể là sự lai vãng liên tục của những tàu buôn, chiến hạm, máy thuyền rầm rộ tại hải cảng Đà Nẵng Trong lúc ấy chiến thuyền Việt Nam ngạo nghễn với chèo gỗ, buồm vải, khí giới là giáo mác với điểu thương, bắn hàng nửa giờ chưa chắc được một phát, đạn lì dì trăm thước đà tận lực Không những thế, nếu có ai học rộng giàu kinh nghiệm, nói đến sự cần thay đổi lối chính trị , giao thiệp với ngoại quốc để tiến bước theo văn minh thì cho là “huyền hoặc”, nếu không khép vào tội “khi quân”
Các nhà nho thời bấy giờ theo nhận định của cụ Cao Xuân Huy: “Nhìn cái hiện thực tư bản chủ nghĩa bằng những cái khung cố định, tức là những phạm trù phong kiến đã có hơn hai ngàn năm sinh mệnh… Do đó họ thấy trong cái hiện thực mới những hiện trạng phi chính thường và quái gở, nhất
là họ có những nhận định rất sai lầm về văn minh khoa học kĩ thuật phương Tây Đó chính là môi trường tư tưởng trong đó sản sinh ra tư tưởng Nguyễn Trường Tộ khi chung quanh người ta nhìn hiện thực mới bằng những cái khung cũ kỹ, do đó nhìn sai, nhìn lệch, thì chỉ có Nguyễn Trường Tộ có đủ nhãn lực để nhìn đúng hiện thực ấy” [9; tr.197]
Trang 21Khi bàn về vấn đề khoa học kĩ thuật phương Tây, Tự Đức cho rằng
nhiều người gần đây suy tôn phương pháp khoa học Tây Dương: “Nhưng theo cách lập thuyết của phương Tây thì không có ngũ hành tương sinh tương khắc; như vậy, cái học của họ đã trái đạo lí và bất hợp pháp với cổ nhân rồi, thử hỏi còn lấy gì mà suy tôn họ nữa” [11; tr.45] Kể cả khi Nguyễn Trường
Tộ gửi các bản điều trần tâm huyết lên thì Tự Đức cũng nổi nóng quở trách:
“Nguyễn Trường Tộ quá tin ở các điều y đề nghị tại sao lại thúc giục nhiều đến thế khi mà các phương pháp cũ của Trẫm đã rất đủ để điều khiển quốc gia rồi” [12; tr.87] Bảo thủ về tư tưởng thế là cùng So với các vua Rama V
hay Minh Trị cùng thời thì rõ ràng Tự Đức như người ở thế giới khác Những
kẻ bảo thủ mà có tri thức thì càng trở nên bảo thủ một cách tuyệt đối
Không chỉ có nhà vua mà cả những triều thần cũng bảo thủ Một đình thần của Tự Đức là Phan Thanh Giản, Tiến sĩ đầu tiên của Nam Bộ, năm
1863, cùng Phạm Phú Thứ đi sứ sang Pháp đã hoàn toàn choáng ngợp và giật mình trước những thành tựu kỹ thuật của nền văn minh phương Tây Theo Ðào Trinh Nhất, phái đoàn Phan Thanh Giản khi đi Pháp về kể những chuyện
lạ nước ngoài như: “Đèn thắp không dầu, ngọn lửa chúc xuống (đèn điện), giếng nước vọt lên cao (nước phun trong công viên)” Vua Tự Đức giao cho đình thần bàn Các quan bàn xong tâu: “Quy luật tự nhiên là nước chẩy xuống, lửa bốc lên cao, trái lại là nghịch thường, không đúng sự thật Bọn Phan Thanh Giản bị họ bầy trò quỷ thuật làm cho quáng mắt” [11; tr.46]
Điều này hoàn toàn trái ngược với hình ảnh Phạm Phú Thứ lên tàu Tây để vẽ máy móc nhằm học tập kĩ thuật của phương Tây Từ sự giật mình của Phan Thanh Giản đến việc ông phản bác các đề nghị cải cách (khi là một trong số ít quần thần của Tự Đức được tham vấn), rồi kêu gọi các quan đầu tỉnh ở miền Tây Nam Kì đầu hàng và dâng đất cho thực dân Pháp sau đó không lâu là hoàn toàn dễ hiểu
Trang 22Tư bản Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam vào đúng lúc chế độ phong kiến Việt Nam đang lún sâu vào con đường khủng hoảng suy vong trầm trọng Nguy cơ mất nước vào tay bè lũ thực dân Pháp ngày càng rõ Tình hình
đó làm cho những người yêu nước và thức thời không thể có thái độ bàng quan, đứng ngoài cuộc Không ít nhà nho nước ta bấy giờ đã được tận mắt chúng kiến những tiến bộ của khoa học kĩ thuật phương Tây cũng như những cải cách tiến bộ của các nước trong khu vực Liên hệ với thực trạng đất nước,
họ tỏ ra băn khoăn hoặc bất bình với những tư tưởng bảo thủ trì trệ nên đã đưa
ra nhiều kiến nghị về việc sửa đổi, cải cách trong việc trị nước Ở mức độ cao hơn, nhiều nho sĩ đã đưa ra những kiến nghị về việc canh tân đất nước trên nhiều mặt trong đó có có việc học tập khoa học kĩ thuật phương Tây Lối thoát mà các nhà cải cách ở Việt Nam đề xướng là học tập, mô phỏng những
mô hình tổ chức xã hội tiến bộ của thế giới văn minh bên ngoài, đặc biệt là học theo các nước phương Tây Biện pháp thực hiện là đề ra các bản điều trần, thuyết phục bộ máy chính quyền Trung ương chấp nhận tiến hành các đề xuất của họ Tiêu biểu phải kể đến như:
Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) là người có tư tưởng canh tân đất nước lớn nhất Việt Nam lúc bấy giờ Ông sinh ra trong một gia đình Thiên Chúa giáo Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng làu thông kinh sử, sau đó ông học tiếng Pháp và những kiến thức mới lạ về nước này thông qua giám mục Gauthier Đến năm 1859 Giám mục Gautheir phải rời khỏi Việt Nam vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế, Nguyễn Trường Tộ đã được đi theo sang La Mã, Pháp
và sau đó là Hồng Kông Trong thời gian ở nước ngoài, nhất là lúc ở Pháp, Nguyễn Trường Tộ có dịp tiếp xúc với nhiều tri thức khoa học kĩ thuật, tri thức khoa học xã hội; học tập được nhiều kiến thức quân sự, hàng hải, kiến trúc, công nghiệp, tham quan nhiều cơ sở sản xuất hiện đại trên đất Pháp
Trang 23Trở về nước Nguyễn Trường Tộ liên tiếp đề ra nhiều chính sách cải cách đặc sắc cho đất nước, đệ trình lên vua Tự Đức trong đó có việc học tập khoa học kĩ thuật phương Tây Chẳng hạn trong lĩnh vực nông nghiệp ông đề nghị triều đình nên chỉnh kinh giới (sửa sang ranh giới ruộng đất) để biết được
“diện tích một nước rộng hẹp bao nhiêu, nếu không kinh giới theo lối mới của Tây thì chúng ta không biết rõ hình thể trong nước như thế nào, không biết đâu có núi rừng, đâu có sông rạch, chỗ nào có hồ, bể, chỗ nào là ruộng mương, chỗ nào bị ứ tắt, chỗ nào đang bỏ hoang…” Đi đôi với việc làm trên
Nguyễn Trường Tộ còn nghĩ đễn công tác làm thủy lợi, phục vụ cho nông nghiệp Ông đề nghị triều đình nên bắt chước các nước phương Tây đặt người chuyên trách chăm lo về mặt thủy lợi để đào kênh, vét kênh, khơi ngòi chống
úng Về quân đội ông mạnh dạn đề xuất “Nên mua lấy binh pháp thủy bộ của phương Tây dịch ra mà tham cứu” Nếu cần thì “nên mời quan Tây giỏi võ bị
để dạy cho quan ta… mà quan ta từ ngũ trưởng trở lên đều phải biết chữ để học võ thư” [8; tr.171]
Hay như Phạm Phú Thứ trong phái đoàn ngoại giao của triều đình sang Pháp hồi đầu năm 1863 đã ghi chép về những điều mắt thấy tai nghe trên đường đi và tại xứ người, để khi về nước đã cho khắc in năm bộ sách giới thiệu nền văn minh của thế giới phương Tây Những bộ sách đó là:
1 Bác vật tân biên (nói về khoa học)
2 Khai môi yếu pháp (nói về khai mỏ)
3 Hàng hải kim châm (nói về cách đi biển)
4 Tùng chánh đi quy (kinh nghiệm đi làm quan)
5 Vạn quốc công pháp (giao thiệp quốc tế) [66; tr.481]
Có thể thấy tới những năm của nửa sau thế kỉ XIX, yêu cầu đổi mới về tất cả các mặt đã được đề ra với Việt Nam nhằm giải quyết những khó khăn to lớn của đất nước Yêu cầu đó cấp thiết và mạnh mẽ đễn nỗi vua quan triều
Trang 24Nguyễn vốn bảo thủ và trì trệ cũng không thể không nhận thấy và trong một phạm vi nhất định đã có những việc làm nhằm giải quyết những khó khăn to lớn đó để đưa đất nước thoát khỏi cơn nguy khốn Nhưng điểm lại các việc làm đó cò rụt rè, có tính chất thăm dò và thường là để đối phó với thời cuộc nên thiếu kiên trì và triệt để, thường bị bỏ dở Nhất là các đề xuất đó lại do các giáo sĩ hay các giáo dân đưa ra thì vua Tự Đức và các quan lại trong triều
và địa phương thường đem lòng nghi ngờ, lo ngại Vì vậy khi do tình thế bức bách phải dùng họ thì cũng dùng nửa vời và sẵn sàng bỏ rơi họ nửa chừng Chẳng hạn như cuối tháng 9/1966, vua Tự Đức phái Nguyễn Trường Tộ
và Nguyễn Điều cùng đi với Giám mục Gauthier sang Pháp mua tàu, máy móc, sách khoa học kĩ thuật Chuyến đi đó đã mua được một số hàng hóa Căn cứ vào bức thư viết tháng 12 năm đó của Thượng thư Bộ Lễ triều đình Huế gửi vào Sài Gòn cho Phó Đô đốc De La Grandiere, Thống soái và Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp, thì thấy rõ việc mua bán rất tùy tiện, không
có kế hoạch cụ thể, thích gì mua nấy nên lợi ích mang lại rất hạn chế như đã mua một số máy móc thiên văn, máy điện thoại, các dụng cục cho nghề in, 5 phong vũ biểu, máy phát điện, các loại axit sun-fơ-rích, ni-tơ-rích và một số sách nói về kĩ thuật hàng hải, về điện khí… Đó là không nói rằng trong rất nhiều trường hợp đã tìm mọi cớ khó khăn để cự tuyệt các đề nghị đưa lên và phổ biến nhất là bỏ rơi trong im lặng
Tháng 12/1878, vua Tự Đức lần lượt hỏi Nguyễn Tăng Doãn, Nguyễn Thành Ý (Thành Ý từng được sai làm Khâm phái đi đấu xảo) về việc sang Tây, Tăng Doãn, Thành Ý tâu trả lời trong đó có những khoản nói về khoa học kĩ thuật của phương Tây:
- Đặt xe lửa ở giữa biển nói ở đáy biển tầng thứ nhất và thứ hai tuy là bùn cát, mà tầng thứ 3 đều là chất đá, tầng thứ tư đều là đất dày, ở giữa đá đào làm đường xe, hoặc ở chỗ đất đá lẫn lộn, tùy thế mà làm, cho nên không đỗ
Trang 25- Tàu chạy bằng hơi, nói là chia bổ khí âm đi mà chuyên lấy khí dương, thử cho chạy tàu thủy nhỏ, thì nhanh chóng cũng như đốt than mỏ - lời nói của người biên chép nói thế, cùng việc tàu chạy bằng hơi, do người Tân thế giới làm ra, chứ biết phép làm [67; tr.321]
Tóm lại, có thể thấy thấy dưới thời Tự Đức cả vua và quan lại đã nhận thức được những điểm tiến bộ cũng như những phong tục tập quan của các nước phương Tây Tất cả những điều đó đã giúp cho họ mở rộng tầm mắt thế giới quan ra bên ngoài, tuy nhiên với bổi cảnh và tư tưởng xã hội như vậy liệu triều đình Tự Đức có giúp đất nước vượt qua được cuộc khủng hoảng này không, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào hành động của nhà vua trong giai đoạn này
1.2.2 Thế hành xử của vua quan nhà Nguyễn đối với kĩ thuật phương Tây
Đứng trước hoàn cảnh hết sức khó khăn của tình hình đất nước, triều đình Huế đã không hoàn toàn quay lưng với làn sóng cải cách trong đó có tiếp cận và học hỏi kĩ thuật phương Tây để tạo thực lực cho đất nước đủ sức đững vững và phát triển
Có thể khẳng định rằng gần như tất cả các kiến nghị về việc học tập kĩ thuật phương Tây trước sau đều được vua Tự Đức và triều thần đọc kĩ, xem xét và bàn luận để rồi mới đi đến quyết định cho thực hiện, hoặc thực hiện toàn bộ kiến nghị hay chỉ một phần Dù kết luận của vua Tự Đức và triều đình Huế không phải luôn luôn đồng tình hay ngược lại, nhưng rõ ràng triều đình Huế đã thể hiện một thái độ hết sức quan tâm đến việc hỏi hỏi kĩ thuật phương Tây Ở góc độ này chúng ta có thể ghi nhận triều đình Huế ở một mức độ nhất định cũng muốn tiến hành cải cách đất nước như tâm nguyện của các nhà đề xướng
Thái độ trân trọng ý kiến các nhà canh tân và ý muốn thực hiện việc canh tân của triều đình Huế trên thực tế không chỉ thể hiện qua việc bàn bạc,
Trang 26phân tích các bản điều trần mà còn biểu hiện rất cụ thể qua một số việc làm
Cụ thể như sau:
Về quân đội, triều đình Huế có nhiều cải tiến nhằm “hiện đại hóa” quân đội như mua thêm tàu máy hơi nước, sắm sửa, rèn đúc súng ống Điều này được thể hiện cụ thể qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.1 Bảng thống kê công việc mua tàu thuyền và vũ khí
dưới thời Tự Đức
1 Tháng 9/1865 Mua tàu đồng lớn hiệu Mẫn Thỏa
2 Tháng 4/1869 Triều đình cử quan Lê Huy qua Hạ Châu mua tàu
máy
3 Tháng 6/1870 Mua tàu đồng mới hiệu Đằng Huy
4 Tháng 10/1872 Mua tàu máy hơi nước của Đức ở Hồng Kông
5 Tháng 11/1872 Vua Tự Đức lệnh cho tỉnh Nghệ An đúc 500 khẩu
thần công và 2.000 khẩu súng điểu thương
6 Tháng 12/1874 Vua Tự Đức nhờ người Pháp mua thêm tàu máy hơi
nước để đánh giặc biển
7 Tháng 4/1882 Triều đình cử Lang trung Bộ Lễ Phạm Bình sang
Hồng Kông bán các tàu hiệu Lợi Tải
8 Tháng 12/1882 Triều đình sai quan tỉnh Lạng Sơn qua Hồng Kông
mua 200 khẩu súng Tây và 2 rương thuốc súng cho quân đội
[Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ tác phẩm “Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn” của tác giả Đỗ Bang]
Nhằm trang bị trí thức kĩ thuật quân sự mới, tháng 2/1875 triều đình Tự
Đức cho dịch 16 quyển sách Tây nói về chủ đề đó là các bộ “Cổ kim vũ bị 1
bộ 2 quyển, Tây phương quốc ngữ luật lệ 1 bộ 2 quyển; Binh thư tập yếu 1
Trang 27quyển, sách dạy lặn mò dưới nước 1 quyển; sách dạy chế đạn phá và phát hỏa 1 quyển, sách về dạy luật pháp cưỡi ngựa, bắn súng 1 bộ 4 quyển; sách luật pháp về bộ binh 1 bộ 2 quyển, sách luật pháp thao luyện lính kị mã 1 bộ
3 quyển” [66; tr.99]
Về giáo dục, nhà Nguyễn cũng có nhiều cố gắng canh tân đáng ghi nhận Sau Hiệp ước Nhâm Tuất, tháng 2/1863 vua Tự Đức xuống chỉ yêu cầu các địa phương đề cử người biết chữ và tiếng Pháp cho triều đình Quan tỉnh Nghệ An và Lạng Sơn, Cao Bằng tiến cử Nguyễn Trọng vốn đi Tây về và Nguyễn Văn Tự nguyên là giáo dân phạm tội Cả hai đều được triệu về Huế xét hạch để thu dụng Đến tháng 9/1864 triều đình Huế khuyến khích học trò theo học tiếng Pháp, định lệ thưởng tiền cho những người thông hiểu và phạt đòn đối với những kẻ lười học Để có thể dịch các sách Tây cho triều đình, tháng 7/1866 giáo dân Nguyễn Hoằng vừa biết chữ Hán lại thông chữ Pháp được triệu về Huế, vừa dịch sách kiêm thêm việc dạy tiếng Pháp
Năm 1866, triều đình Huế tiếp tục cử Lê Văn Hiền cùng bốn người khác vào Gia Định theo học tiếng Pháp với thầy Trương Vĩnh Kí Đến tháng 5/1869, triều đình lại cho định lệ sát hạch học trò tiếng Pháp, phân thành các hạng thưởng phạt rõ ràng
Việc học tiếng Pháp và các ngôn ngữ nước ngoài được triều đình Huế chính thức quy định thành các điều khoản cụ thể từ tháng 11/1878 Theo đó con cháu quan viên chừng 20 tuổi nếu sang Hồng Kông hoặc phương Tây để học chữ thì sẽ được cấp lệ phí 5 năm Trong Châu bản triều Tự Đức cũng viết
chi tiết đến công việc này: “Thư của Viện cơ mật do Trần Tiễn Thành, Lê Bá Thận, Nguyễn Văn Tường, Trần Bình, Nguyễn Hữu Độ thảo, duyệt gửi Khâm
sứ đại thần Pháp Rheinard về việc: triều đình Việt Nam sẽ hoàn lại những chi phí do Pháp cấp cho ba học sinh Việt Nam đang du học tại Pháp” [47; tr.118]
Trang 28Sau khi học xong về nước, nếu biết một ngoại ngữ thì chiếu lệ “tú tài hạch đậu”, bổ làm cửu phẩm, nếu học được hai ngoại ngữ thì chiếu lệ “cử nhân không phân số”, học được ba ngoại ngữ thì xếp vào hạng “cử nhân có phân số”, đều cho đi làm quan Một trường học chữ Pháp cũng được mở tại Hải Dương vào tháng 5/1878 để dạy học trò Đối tượng có quyền học tiếng Pháp được mở rộng cho toàn dân bởi quyết định của triều đình Huế vào tháng 7/1879
Bên cạnh việc học ngoại ngữ, việc giáo dục và phổ biến tri thức khoa học phương Tây rất được nhà nước quan tâm Điển hình nhất là vào tháng
5/1879, vua Tự Đức cho rằng các sách Tây như “Bác vật tân biên” nói về thiên văn địa khí có quan hệ với phép làm lịch; cùng các sách “Vạn quốc công pháp”, “Hàng hải kim châm”, “Khai môi yếu pháp” đều là sách học
cần thiết; nên lệnh cho quan tỉnh Hải Dương in ra nhiều để mà bán cho quan lại và học trò sử dụng Đến tháng 9/1881, lại bắt quan tỉnh Hải Dương khắc in
4 bộ sách này để ban cấp cho các trường học khắp nơi
Việc đào tạo đội ngũ kĩ thuật cũng được triều đình Huế rất chú ý Tháng 11/1864, “Vua Tự Đức sai Thủy sư, Vũ khố lựa chọn người nào cẩn thận, thực thà, chăm chỉ, khéo, léo, khỏe mạnh (lấy 8 người, mỗi người mỗi ngày cấp cho 1 quan 5 tiền, lại có lệ phát lương cho người thông ngôn và cấp bạc cho người thợ cả) phái đi theo chiếc tàu máy hơi nước của người Tây Dương
để học tập và chế tạo Cho viên ngoại lang là Hoàng Văn Sưởng, ca đội là Lê Văn Mân sung làm Chánh, Phó quản biện (bạc cấp cho 500 lạng)” [65; tr.887] Tiếp đó vào tháng 3/1866, khi 3 tỉnh miền Tây còn trong tay nhà Nguyễn, triều đình sai chọn 20 nhân công trong công tượng hoặc học trò siêng năng, tháo vát, khéo tay ở hai tỉnh Vĩnh Long – An Giang, cấp cho lương ăn, áo mặc để lên Gia Định học các nghề kĩ nghệ cơ xảo phương Tây Ngay tại kinh thành Huế, vua Tự Đức cũng chỉ thị cho Cơ Mật Viện dịch các sách kĩ thuật phương Tây, với một số linh mục đến dịch sách và dạy học trò
Trang 29Tháng 9/1866, vua Tự Đức lại sai Nguyễn Trường Tộ cùng với Nguyễn Điều, Trần Văn Đại, Nguyễn Tăng Doãn đi cùng Giám mục Gauthier sang Pháp mua tàu thủy, một số máy móc như kính thiên văn, máy điện thoại, dụng cụ nghề in, phong vũ biểu [còn gọi là “áp kế dùng nước” – một thiết bị
dự báo thời tiết], máy phát điện, các loại hóa chất, các loại sách kĩ thuật hàng hải và điện khí Năm 1868, Gauthier từ Pháp về mang theo 3 giáo sĩ tình nguyện làm thầy giáo, có một số kĩ thuật gia, nhiều sách vở và dụng cụ dạy nghề kĩ thuật, định mở trường dạy theo lối học Âu Tây như triều đình
Huế yêu cầu Tháng 5/1874, triều đình cho dịch các sách “Khung giáng bác vật đồ trí” (4 tập), “Đại Pháp kỳ đăng hiệu” (3 tập), “Nam kì điều lệ” (11 tập), “Thuế lệ”, “Binh thuyền”
Việc học nghề kĩ thuật cũng được quy định thành điều khoản chặt chẽ từ năm 1878 Con cháu quan lại nếu sang phương Tây học hoặc Hồng Kông học nghề thì được cấp kinh phí 5 năm Nếu học xong được một nghề như đóng tàu, đúc súng, chế tạo binh khí, khai mỏ,… thì chiếu lệ “tú tài hạch đậu” bổ làm cửu phẩm; học được hai nghề thì chiếu lệ “cử nhân không phân số” mà
bổ làm quan; học được ba nghề chiếu lệ “cử nhân có phân số” cho bổ làm quan ngay
Cùng năm đó khi xem báo “Hương Cảng tân văn”, thấy bàn đến việc
chấn hưng đất nước cần phải thông thương, cho đúc súng, đóng tàu, cử người học tiếng nước ngoài, vua Tự Đức muốn cho thi hành, bảo viện cơ mật xem xét rồi tâu lên Viện cơ mật cho rằng thông thương, học tiếng, đóng tàu thật
là cấp thiết nhưng phải làm từ từ, không thể làm ngay một lúc được như ý, rồi còn phải chờ kỳ tiến cống nhà Thanh năm tới, xem sao rồi liệu sau Tự Đức
xem lời tâu, dụ rằng: “Xét việc thì nên cẩn thận và suy nghĩ cho chín, nhưng cũng nên làm thế nào cho tiến bộ, chứ không tiến là thoái vậy” [66; tr.311]
Trang 30Ngoài ra vào năm 1879, triều đình còn xét mộ khắp nước những người muốn học kĩ nghệ, cử người sang dự đấu xảo ở Pháp và đưa học trò sang học
ở trường cơ khí Toulon Đến cuối năm đó triều đình Huế lại cử 20 con em quan viên theo phái bộ Tây Ban Nha đi học kĩ nghệ, nhưng bị người Pháp ngăn chặn tại Sài Gòn Năm 1881, 12 học trò khác lại được đưa sang Hồng Kông và nhờ trung gian của mộ người Hoa dẫn tới học kĩ nghệ ở trường người Anh
Tiểu kết chương 1
Dưới thời kì sự trị vì của vua Tự Đức, nhà Nguyễn đang trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, cộng thêm vào đó tiếng súng quân xâm lược của thực dân Pháp đã làm cho triều đình run sợ Đất nước chìm đắm trong nghèo nàn lạc hậu, nhân dân khổ cực, nhiều cuộc nổi dậy bùng nổ khắp nơi, nền kinh tế trì trệ lạc hậu, cộng với chính sách hạn chế việc giao thương với nước ngoài, nạn tham nhũng cùng với hệ tư tưởng Nho giáo lỗi thời đã làm cho khủng hoảng xã hội càng thêm trầm trọng Tình hình đó khiến biết bao nhà yêu nước
và các sĩ phu lo ngại Nhiều bản điều trần, chương trình cải cách đã được đệ trình lên triều đình
Đứng trước tình thế khó khăn về nhiều mặt của nội tình đất nước và cuộc xâm lược có nhu cầu ngày càng mở rộng của thực dân Pháp, tình hình đó đặt
ra yêu cầu cần phải canh tân, đổi mới, học hỏi khoa học kĩ thuật bên ngoài để tăng thêm tiềm lực cho đất nước Vua Tự Đức và triều thần đã nhận thấy được nhu cầu cấp thiết đó và đã có một số việc làm cụ thể nhằm tiếp cận và học hỏi khoa học kĩ thuật của các nước phương Tây
Trang 31Chương 2 QUÁ TRÌNH TIẾP CẬN KĨ THUẬT PHƯƠNG TÂY
DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC
2.1 Việc tiếp cận kĩ thuật phương Tây trong lĩnh vực quân sự
Triều Tự Đức trị vì đất nước trong bối cảnh trong nước và thế giới không mấy thuận lợi Khởi nghĩa nông dân nổ ra, các thế lực ngoại xâm tư bản phương Tây nhất là Pháp tăng cường nhòm ngó và chính thức xâm lược nước
ta vào năm 1858 Sự tồn vong của vương triều và giữ gìn nền độc lập của quốc gia luôn là vấn đề nóng bỏng Vì vậy mà vấn đề xây dựng quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng càng trở nên bức thiết Từ đó đặt ra yêu cầu cần phải học hỏi các kĩ thuật quân sự của phương Tây
2.1.1 Trên phương diện kĩ thuật đúc vũ khí
Dưới thời Tự Đức do yêu cầu chống quân xâm lược và đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên liên tục ở nhiều nơi nên việc chế tạo vũ khí trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Năm 1872, quan coi vũ khí tâu với vua rằng:
“Các thứ quân khí trong kho còn rất ít, xin cho trù tính sức sở đốc công lĩnh vật liệu đúc thêm” Bản thân vua Tự Đức cũng nói với quan bộ Binh và bộ Công rằng: “Các hạng súng thiếu rất nhiều” [67; tr.328]
Trong việc tiếp cận và thực hành kĩ thuật phương Tây trên phương diện đúc vũ khí, biện pháp được sử dụng đầu tiên là mua sắm vũ khí nước ngoài Chẳng hạn năm 1882, Tự Đức sai quan tỉnh Lạng Sơn qua Hồng Kông mua
200 khẩu súng Tây, hai hòm đạn (giá 414 lạng vàng) đề phòng dùng cho việc quân tỉnh ấy [67; tr.489] Các loại vũ khí mua thường cũ kĩ, lạc hậu nhưng phí tổn nhiều do vậy ngày càng khoét sâu vào nền kinh tế tài chính đang suy kiệt của nhà nước phong kiến
Trang 32Ngoài việc mua vũ khí nước ngoài, nhà nước còn chú trọng đến tiềm năng tự chế tạo binh khí trong nước Chẳng hạn tháng 5/1859, vua Tự Đức
“Sai cả đốc công ở Vũ khố đúc súng sắt máy Phật Lan [nước Pháp] (đúc 50 cây, cách thức súng 1 ổ đạn 9 viên)” [66; tr.618]; Tháng 12/1859, vua lại sai
các tỉnh lớn ở Bắc Kỳ đúc thêm súng quá sơn và đạn (súng 216 cỗ, mỗi cỗ 50
phát đạn) Đến tháng 4/1972, vua dụ: “Trích lấy diêm tiêu (5.000 cân), lưu hoàng (4.000 cân) ở tỉnh Hà Nội giao cho tỉnh Sơn Tây giã làm thuốc súng Lại lấy ở kho trong Kinh diêm tiêu hạng 4, hai lần nấu của nước Anh (2 vạn cân) và lưu hoàng hạng 2 của nước Tây (1 vạn cân) giao cho các tỉnh Nghệ
An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nội, Sơn Tây cất đi để dùng” [66; tr.1328]
Trong việc chế tạo vũ khí, kĩ thuật quân sự cũng là một vấn đề rất được triều đình Huế chú trọng cải tiến Tháng 11/1869, nhiều quan lại trong triều đình cho rằng đạn trái là vũ khí lợi hại trong việc binh nên triều đình đã thông báo cho các địa phương tìm người quen nghề chế đạn và tính được tầm đi của đạn để sung vào bộ Binh và thưởng phẩm hàm Triều đình còn mở cục Công xảo tại Sở Đốc công, quy tập những người biết rõ máy móc hơi nước, biết chế máy cưa và nấu đồng đúc súng đến làm việc
Các nhà sản xuất chế tạo đã cố gắng học hỏi kinh nghiệm bắt chước mẫu súng của nước ngoài, sản xuất được một số vũ khí giống nước ngoài như súng máy của Pháp 1859, súng máy của Hoa Kì và của Đức 1885, súng trường kiểu
1874 của Pháp Như vào tháng 4/1872, vua Tự Đức sai viêm Giám thành vẽ
đồ bản độ thước của súng lớn dâng lên Vua xem rồi nhân hỏi bộ Binh rằng:
“Độ khắc rất nhiều, mà phàm khi bắn chỉ dùng có 6 độ ư? Gọi là độ thì theo
ở đâu mà tính?” Quan bộ tâu rằng: “Thước đo bằng đồng so với phép bắn súng trong sách Tắc khắc lục hình như đều theo phép tính Câu cổ mà chế tạo
ra Cách thức thước ấy đều là người Tây dương chế ra, chia độ có khi không giống như thế, kiểu cũ, kiểu mới, không kê cứu vào đâu được Xin phái một
Trang 33viên quan trong bộ hội đồng với viên thống chưởng dinh Thần cơ chọn lấy 4 -
5 người ra am tường nghề bắn súng, đem súng oanh sơn, súng viễn kích mỗi thứ 1 khẩu, đem cả thước đo súng ấy và thước đo bằng đồng, phép bắn, cả 3 thứ lần lượt bắn thử lấy độ, có thước đo và phép nào được đích, sẽ tâu rõ lên” [66; tr.1329]
Tháng 8/1874, Nguyễn Văn Tường từ Gia Định về xin đem súng Tây đã mua được cung tiến (1 khẩu súng lục 500 viên đạn, theo giá bạc tính thành tiền là 180 quan) Vua khen là nhậy lắm, có thể dùng được, sắc cho giữu cẩn thận để phòng sai trái Về sau Nguyễn Văn Trường lại đi Nam Kì gọi được 5 người thông dịch, 7 người biết máy móc (đều là người Gia Định) tâu xin liệu cấp tiền lương đợi để sai phái Vua Tự Đức y cho [67; tr.68]
Tiếp đó tháng 9/1874, vua “Sai người (4 người) đến Gia Định học phép bắn súng nhỏ đạn chạy Trước đây bọn Nguyễn Văn Tường tâu: “Súng nhỏ đạn chạy ria phỏng giấy bạc 202 đồng, nếu được chuẩn cho mua, xin bộ Binh
ở quân Thần cơ, Cảnh tất, hơi am hiểu phép bắn đến Gia Định học tập cho thạo kĩ, mới có thể mua để dùng Vua theo lời” [67; tr.71]
Không chỉ học hỏi kĩ thuật chế tạo vũ khí, việc thực hành cũng được triều đình Tự Đức chú trọng quan tâm Tháng 8/1876, vua sai bọn Thống chưởng quân Thần cơ Tôn Thất Phê, Biện lí bộ Binh Hà Văn Quan chọn 18 người quân Thần cơ, đeo 10 cây súng, đến cửa biển Thuận An hội đồng với Tham biện Hải Phòng bắn thử Đồng thời vua cũng sai quan bộ Binh và Nguyễn Văn Tường thương thuyết với sứ Pháp là Lê Na cho đốc công nước
ấy hoặc một người lính súng nước Pháp am hiểu nghề súng đi đến chỉ bảo phương pháp bắn súng Sứ giả nước Pháp đã đồng ý và phái lính tên là Nê-cô
đi theo cùng đến trường bắn chỉ bảo phương pháp
“Lính ấy lấy súng làm ra thế bắn súng, trước hết đem súng dựng
ở đấy, sau rút thanh kiếm cắm ở miệng súng ra, cho vào hộp đeo ở
Trang 34thắt lưng bên tả Sau mang súng đeo ngang, tay tả cầm súng, tay hữu cắp báng súng vào nách, cầm thân súng thật vững Sau lấy tay hữu đẩy máy dẫn lửa lên, sau mở lòng súng, lấy thuốc đạn nạp vào xong, lại đóng súng kín đáo như cũ, tay hữu bắn ra, tay tả cầm súng, rồi sau đem hình đứng ở bia Còn cách đứng: chân tả tiến lên phía trước, chân hữu lùi về phía sau, đều lấy gân đứng, cầm súng áp vào má, giơ lên tìm đích, đem cầm để bắn Bắn xong, lại theo như trước, tay tả cầm súng, tay hữu cặp báng súng vào nách cho chắc, lại mở lòng súng, kéo cái máy sắt áp ở lòng súng ấy rút về phía sau, nghiêng súng cho vỏ đạn rơi ra, bèn đem thuốc đạn bắn lần sau nạp vào, lại bắn, hơi giống như súng điểu thương máy đá, nhưng thế hơi khác, lính Pháp ấy nói rằng: Súng ấy khi bắn, giật hơi mạnh, cho nên thế đứng cùng với súng điểu thương nước ấy không giống nhau Lại bảo về thế bắn ngồi, hễ cho thốc đạn vào xong, quỳ xuống, chân bên hữu co về phía sau, dựa vào đùi, tay bên tả đem ra trước, lấy đầu gối đỡ tay bên hữu cong khuỷu tay cầm súng áp má, tìm đích mà bắn, bỏ thuốc đạn xong, rút gươm cắm vào miệng súng, hộp gươm vẫn để ở thắt lưng bên hữu, làm ra dáng tiến lùi đánh giặc Lính Pháp ấy đến gần giặc, bèn dùng gươm ở cạnh đánh, đâm” [67; tr.187]
Việc bắn thử xong, Tôn Thất Phê, Hà Văn Quan tâu: “Lính Pháp là
Nê-cô đến trường bắn chỉ bảo rất cẩn thận có lòng” [67; tr.187] Vua sai thưởng
cho sứ Pháp 1 chiếc khay vuông gỗ đỏ khảm xà cừ, 1 đồng ngân tiền lớn song long, thưởng cho Nê-cô 20 quan tiền kẽm Tiếp đó vua lại cho rằng súng điểu thương sứ Pháp mới tặng, hôm trước bộ thí nghiệm chỉ thấy mới chỉ là bắn thường, còn như độ đi xa gần thì chưa được thử, nên sai lập tức chọn chỗ đất rộng ở cửa Thuận An làm trường bắn tạm, lại đem súng ấy bắn thử
Trang 35Tháng 4/1866, chủ súy Pháp mở trường đấu xảo, đưa thư yêu cầu dân ta
đến xem hội Vua hỏi các đại thần rằng: “Ta cũng mở trường đấu xảo yêu cầu người Tây dương đều đến xem để phô bày cái khéo, thì có ích gì không? Cơ mật viện thần thưa rằng: Phong tục người phương Tây, lấy máy móc tinh xảo
tự khoe khoang, lại có ý muốn sang bên Á Đông, nếu ta mời họ đến, sợ các nước đều đến, có nhiều điều không tiện Vua cho là phải” [66; tr.996]
Tháng 4/1873, sau khi đúc xong 40 khẩu đại bác Tự Đức ra lệnh tổ chức thật long trọng một cuộc bắn thử ở cửa biển Thuận An Tin chắc cuộc bắn thử
sẽ thành công, Tự Đức đã rước cả Từ Dũ Hoàng Thái hậu cùng đám tùy tùng, nhiều văn võ đại thần đi xem Được tham quan bắn thử ngoài những pháo thủ của kinh đô Huế còn có 11 pháo thủ từ Hà Nội và Hà Tĩnh vào Tùy theo nòng lớn nhỏ, đại bác đặt cách đích từ 100 - 200 trượng (mỗi trượng dài khoảng 3,5m) Mỗi khẩu đại bác có hai pháo thủ: 1 chính và 1 phụ được bắn 3 phát Mọi việc được sắp đặt chu đáo, mọi người chờ kết quả trong không khí rất lạc quan Nhưng kết quả thì hoàn toàn bất ngờ trong 127 phát súng đã bắn không có một phát nào trúng đích cả Phát gần nhất cũng còn cách đích 5 trượng 2 tấc tức hơn 18m [2; tr.189]
Ngoài ra dưới thời Tự Đức nhiều vũ khí được nước ngoài giao tặng, như
vào tháng 7/1868 “người buôn nước Thanh Âu Dương Vinh dâng hoa quả, gương tròn, thuốc súng, quạt vẽ, cỗ bác gang, 50 viên đạn gang Vua miễn cho thuế nhập cảng (2.331 quan), gia thưởng cho 1 đồng kim tiền, ngân tiền
có chữ “Sử dân phú thọ” hạng lớn, hạnh nhỡ, hạng nhỏ mỗi thứ 5 đồng, để yên ủi lòng người phương xa” [66; tr.1126]
2.1.2 Trên phương diện mua mới đóng thuyền
Việc tiếp cận và thực hành các kĩ thuật phương Tây trên phương diện mua mới đóng thuyền cũng là một vấn đề được triều đình Tự Đức đặc biệt quan tâm Như việc mua thêm tàu máy hơi nước ở các nước phương Tây để