1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sử dụng bài tập lịch sử nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh ở trường THPT (vận dụng qua phần lịch sử thế giới giai đoạn 1918 - 1939, lớp 11, chương trình chuẩn)

120 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sĩ, của Trần Thị Thu “Biên soạn và sử dụng bài tập lịch sử ở lớp 8 THCS” 2012, bài viết đưa ra cách thức biên soạn câu hỏi, bài tập trong quá trình dạy học lịch sử; “Một

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành tới

TS Nguyễn Văn Ninh - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em

trong quá trình thực hiện khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa, gia đình, bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên và ủng hộ em trong thời gian qua

Và em xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, Trung tâm Thông tin và Thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội 1, Thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giúp đỡ em tìm hiểu, khai thác nguồn tài liệu cần thiết để hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường THPT Yên Phong số 1, THPT Hiệp Hòa số 1, THPT Hiệp Hòa số 3 đã tạo điều kiện thuận lợi để em điều tra và thực nghiệm đề tài của mình

Lần đầu tiên bước vào nghiên cứu khoa học nên bản thân không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành từ thầy cô, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Yến

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Giả thuyết nghiên cứu 6

7 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6

8 Cấu trúc của khóa luận 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP LỊCH SỬ NHẰM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 8

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh 20

1.1.3 Phân loại bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh THPT 25 1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của bài tập đối với việc rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử 30

1.1.5 Những kĩ năng tự học cần hình thành cho học sinh trung học phổ thông khi sử dụng bài tập lịch sử 32

1.2 Cơ sở thực tiễn 36

1.2.1 Thực trạng của việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 36

1.2.2 Thực trạng việc sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh 37

1.2.3 Nguyên nhân thực trạng 45

Tiểu kết chương 1 47

Trang 4

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BÀI TẬP LỊCH SỬ NHẰM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 1918 - 1939, LỚP 11, CHƯƠNG TRÌNH

CHUẨN 48

2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới giai đoạn 1918 - 1939, lớp 11, chương trình chuẩn 48

2.1.1 Vị trí 48

2.1.2 Mục tiêu 48

2.1.3 Nội dung 50

2.2 Những yêu cầu khi xây dựng và sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh THPT 51

2.3 Một số biện pháp sư phạm sử dụng bài tập lịch sử nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1918 - 1939, lớp 11, chương trình chuẩn 55

2.3.1 Sử dụng bài tập nhận thức 55

2.3.2 Sử dụng bài tập có tính chất thực hành 59

2.3.3 Bài tập trắc nghiệm khách quan 69

2.4 Thực nghiệm sư phạm 78

2.4.1 Mục đích thực nghiệm 78

2.4.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 78

2.4.3 Nội dung thực nghiệm 79

2.4.4 Tiến hành thực nghiệm 79

2.4.5 Kết quả thực nghiệm 81

Tiểu kết chương 2 85

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 5

Môn Lịch sử ở trường phổ thông cung cấp cho học sinh những kiến thức

cơ bản của khoa học lịch sử Kết quả của việc dạy học lịch sử không chỉ phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của giáo viên mà còn phụ thuộc vào phương pháp học của học sinh Giáo viên trước hết phải xác định rõ mục đích học tập lịch sử cho học sinh Điều này đã được Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Học tập lịch sử không phải chỉ để “biết” mà phải “tường”, hiểu “gốc tích” để hiểu hiện tại Do đó, học sinh học lịch sử không chỉ việc ghi nhớ sự kiện, mà điều quan trọng phải hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng và

Trang 6

rút ra quy luật, bài học kinh nghiệm của quá khứ với hiện tại, đồng thời có sự nhìn nhận, phán đoán xu hướng phát triển trong tương lai Do đó, cần tránh và khắc phục những sai lầm trong quan niệm học lịch sử là chỉ “nhớ”, “học thuộc lòng” nhưng lại không “hiểu” bản chất Trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên không chỉ cung cấp kiến thức mà còn hướng dẫn học sinh phương pháp,

kĩ năng học tập đúng đắn

Có nhiều kĩ năng tự học cần hình thành và rèn luyện cho học sinh trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử Khi giải quyết bài tập, các kĩ năng cơ bản như làm việc với sách giáo khoa; ghi nhớ sự kiện, tái hiện kiến thức lịch sử; phân tích, tổng hợp kiến thức; so sánh đối chiếu sự kiện, hiện tượng; đánh giá nhân vật, sự kiện Bên cạnh đó, rèn luyện cho học sinh tính tự giác, tích cực, chủ động và hứng thú đối với bộ môn

Sử dụng bài tập lịch sử nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông có vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, hiện nay phần lớn giáo viên vẫn dạy học theo cách truyền thống, đó là truyền đạt kiến thức cho học sinh, ít khuyến khích học sinh tự học, ít giao bài tập về nhà cho học sinh, hay đôi khi chỉ là mang tính hình thức Học sinh ghi chép tỉ mỉ, học thuộc lòng Một số học sinh học thuộc lòng cả quyển sách giáo khoa, nhất là học sinh khối C Cách học này, học sinh luôn chú ý ghi chép bài, nhớ kiến thức nhưng mang tính chất “học vẹt’’ cao hơn, học sinh thụ động, không có tư duy sáng tạo Một bộ phận lớn học sinh phổ thông hiện nay không có ý thức làm bài tập, hoặc chỉ làm một cách đối phó chống đối với việc kiểm tra của giáo viên Điều đó khiến cho việc sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh chưa phát huy hết tác dụng của nó, hiệu quả học tập của học sinh chưa cao

Thực trạng trên là do nhiều nguyên nhân Do cách dạy của giáo viên; do tâm lý của học sinh quan niệm sai lệch “môn chính”, “môn phụ” nên ý thức

Trang 7

học tập của học sinh chưa tốt; do nội dung chương trình chưa hấp dẫn học sinh hoặc giáo viên chưa biết cách lựa chọn nội dung kiến thức cơ bản của bài học nên làm cho kiến thức “quá tải” đối với học sinh; do cách ra đề thi

“đóng”, kiểu “học gì thi nấy” làm cho học sinh bó hẹp cách học của mình Giai đoạn lịch sử thế giới giai đoạn 1918 - 1939, thuộc phần lịch sử thế giới hiện đại trong chương trình lịch sử lớp 11 THPT, đây là giai đoạn tiếp nối của giai đoạn lịch sử thế giới cận đại Giai đoạn lịch sử 1918 - 1939 chiếm một vị trí quan trọng trong phần lịch sử thế giới hiện đại, nó giúp ta nhìn nhận

rõ hơn về tình hình các nước tư bản, cũng như các nước châu Á trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới Muốn hiểu rõ về giai đoạn này, cũng như vận dụng kiến thức để tìm hiểu giai đoạn tiếp theo, học sinh cần tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện các kĩ năng tự học của bản thân Sử dụng

hệ thống bài tập lịch sử sẽ giúp các em đạt được mục tiêu đó

Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng bài tập lịch sử

nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh ở trường THPT (vận dụng qua phần lịch sử thế giới giai đoạn 1918 - 1939, lớp 11, chương trình chuẩn) làm

đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới, vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm và được nhìn nhận

theo nhiều khía cạnh khác nhau Trong cuốn “Phát huy tính tích cực trong

học tập của học sinh như thế nào” của I.F.Kharlamop (1979), tác giả đã đề

cao vai trò tự học trong hoạt động nhận thức của học sinh Trong cuốn

“Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” của N.G Đairi - Tiến sĩ giáo dục Liên

Xô (1969), tác giả đã trình bày với độc giả một vấn đề rất quan trọng của việc dạy và học bộ môn lịch sử: vấn đề giờ học lịch sử Cái mới ở cuốn sách này là

ở chỗ tác giả đã đề ra phương thức giải quyết giờ học lịch sử theo hướng mới của lý luận dạy học Xô Viết: chuẩn bị giờ học nhằm phát huy óc suy nghĩ độc lập và tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh Trong cuốn

Trang 8

“Nghiên cứu, học tập như thế nào” của nhà giáo dục Cộng hòa Dân chủ Đức

– Hebơc Sruitman đã đề cao giá trị của tự học: “Tất cả những gì mình tự nghiên cứu, tìm hiểu và tìm cách diễn đạt một cách chính xác sẽ dễ dàng lưu giữ trong não tốt hơn những gì chỉ tiếp nhận của người khác” Trong cuốn

“Phát triển kĩ năng học tập” của tác giả Conrad Lashley, dạy cho học sinh

cách sử dụng thời gian và nỗ lực học tập hiệu quả nhất, bằng cách phát triển các kĩ thuật cơ bản, đơn giản để tổ chức thời gian học, đọc, ghi chép, thu thập

thông tin Cuốn sách “Phương pháp dạy học Lịch sử qua sơ đồ, bảng biểu và

hình vẽ” của tác giả M.B Kôrôkôva, Stuđennhikin (1999) nêu ra các năng lực

tự học mà giáo viên cần định hướng cho người học như tái hiện và tái tạo lại các biểu tượng lịch sử, phân tích, xử lí các nguồn thông tin; tư duy logic, tư duy hiện đại với các nguồn tư liệu lịch sử; sơ đồ hóa; đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử

Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vần đề tự học và

sử dụng bài tập nhằm nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh Trong cuốn sách

“Phương pháp dạy học lịch sử” do G.S Phan Ngọc Liên chủ biên, khẳng định

vai trò của bài tập lịch sử đối với khả năng phát triển tư duy của học sinh;

cuốn “Phương pháp dạy học môn lịch sử ở trường THPT” của PGS.TS Vũ

Quang Hiển - T.S Hoàng Thanh Tú, đã đề cập đến phương pháp tự học của

học sinh, đến việc sử dụng bài tập trong việc giảng dạy lịch sử; cuốn “Các

con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông”

của Nguyễn Thị Côi

Luận văn thạc sĩ, của Trần Thị Thu “Biên soạn và sử dụng bài tập lịch

sử ở lớp 8 THCS” (2012), bài viết đưa ra cách thức biên soạn câu hỏi, bài tập

trong quá trình dạy học lịch sử; “Một số biện pháp phân tích kỹ năng tự học

cho học sinh qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT” (2012) của Nguyễn Hồng Nhung; “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thực hành qua dạy học lịch sử thế giới hiện đại từ 1917-1945 cho học

Trang 9

sinh lớp 11, trường THPT chuyên Trần Phú - Hải Phòng” của Nguyễn Thị

Xuân Hương; “Rèn luyện năng lực tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử

Việt Nam 1858-1918, lớp 11, chương trình chuẩn” của Nguyễn Thị Thanh

Thủy; “Thiết kế và sử dụng bài tập về nhà trong dạy học lịch sử ở trường phổ

thông” của Trần Thị Phương Lan, đề cập đến một số biện pháp sử dụng bài

tập để rèn luyện, phát triển năng lực cho học sinh

Như vậy, vấn đề tự học và các biện pháp để thực hiện hoạt động tự học

đã được nhiều nhà giáo dục trên thế giới cũng như trong nước quan tâm, đề cập tới dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới 1918 - 1939 (lớp 11 THPT, chương trình chuẩn)

Nghiên cứu thực trạng sử dụng bài tập lịch sử thế giới giai đoạn 1918 -

1939, SGK lịch sử 11(chương trình chuẩn), nhằm đề xuất các biện pháp sử dụng bài tập góp phần rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các cơ sở lý luận về kĩ năng tự học, việc sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh

- Tiến hành điều tra cơ bản đối với giáo viên và học sinh ở một số trường

Trang 10

THPT đánh giá việc sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử

- Tìm hiểu nội dung chương trình SGK lịch sử lớp 11 THPT (phần lịch

sử thế giới hiện đại 1918 - 1939) để xác định các dạng bài tập lịch sử sử dụng trong các tiết dạy nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh

- Đề xuất một số biện pháp sử dụng hiệu quả bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh vào dạy học lịch sử, tiêu biểu phần lịch sử thế giới

1918 - 1939

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp thực nghiệm

6 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu việc sử dụng bài tập lịch sử trong dạy học được vận dụng một cách hợp lí, linh hoạt sẽ góp phần rèn luyện tốt kĩ năng tự học cho học sinh và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông

7 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng bài tập lịch

sử nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử phần lịch

sử thế giới giai đoạn 1918 -1939, lớp 11, chương trình chuẩn

- Đánh giá được thực trạng sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh

- Đề ra một số biện pháp sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới giai đoạn 1918-1939

Trang 11

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Khóa luận

gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng bài tập lịch sử

nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh ở trường THPT

Chương 2: Một số biện pháp sử dụng bài tập lịch sử nhằm rèn luyện kĩ

năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới giai đoạn 1918 -

1939, lớp 11, chương trình chuẩn

Trang 12

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI TẬP LỊCH SỬ NHẰM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC

CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Khái niệm “học”:

Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “học” đã được phân loại và sắp xếp theo trình độ nhận thức của người học từ đơn giản cho đến phức tạp: Thứ nhất, học là quá trình lĩnh hội thông tin càng nhiều càng tốt Càng học càng nắm bắt được nhiều thông tin, qua đó người học làm giàu có, phong phú thêm kiến thức của bản thân

Thứ hai, học là quá trình người học ghi nhớ lại kiến thức mà người dạy truyền đạt, học thuộc lòng, ghi nhớ cho bản thân

Thứ ba, học là quá trình tiếp thu kiến thức rồi áp dụng vào thực tế, giải quyết những tình huống đặt ra

Thứ tư, học là quá trình biến đổi trong nhận thức để hiểu biết thế giới bằng lí giải và thông hiểu thực tiễn Học là xác định mô hình thông tin và liên kết mô hình đó với thông tin từ các tình huống và hoàn cảnh khác nhau

Thứ năm, học là quá trình biến đổi con người, là sự am hiểu thế giới bằng nhiều con đường khác nhau, làm cho bản thân tiến bộ về mặt tri thức, kĩ năng, thái độ và giá trị của một con người

Theo Nguyễn Kỳ (1996): “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại trong đó chủ thể tự thể hiện mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lí biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình” [29]

Nguyễn Kỳ chỉ ra rằng có ba cách tiếp cận cùng với quan niệm chủ yếu sau đây về học:

Trang 13

Cách tiếp cận thứ nhất, quan tâm đến kết quả cuối cùng đạt được là sản phẩm học hay hành vi nhận biết được Đó là cách tiếp cận theo hành vi, đáp lại phản xạ có điều kiện của Paplop, hay theo hành vi tác động phản xạ có điều kiện của Skinner: “học là quá trình làm biến đổi hành vi từ kinh nghiệm hay là từ sự tiếp xúc với môi trường sống của chủ thể”

Cách tiếp cận thứ hai, quan tâm tới qúa trình học bằng cách tìm hiểu những gì đã xảy ra trong trí óc người học là cách tiếp cận về trí tuệ theo bước chân Piaget với cơ chế đồng hóa, cân bằng,

Cách tiếp cận thứ ba có xu hướng kết hợp hai cách tiếp cận trên thành một mô hình quá trình thông tin với các thuật ngữ: thu nhận, xử lí … “Học là

tự tạo khả năng xác định vấn để cần giải quyết, thu nhận, xử lí thông tin và ứng dụng chương trình giải quyết vấn đề”

Như vậy, ta có thể thấy, học là quá trình thu nhận thông tin, tiếp thu, xử

lí để giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Học chính là tự học

- Khái niệm “Tự học”

Trong học tập bao giờ cũng có tự học, người học tự mình lao động trí óc

để chiếm lĩnh kiến thức Từ thời cổ đại, các nhà giáo dục, nhà hiền triết đã bàn luận về vấn đề tự học:

Hêraclit (530 - 475 TCN), nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhận định: “Thực chất, giáo dục là thắp lên một ngọn đuốc để soi sáng, để người học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy cho mình một con đường, rồi

tự mình đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn đuốc ấy” Điều

đó chứng tỏ giáo dục có vai trò rất quan trọng thắp lên ngọn đuốc sáng để giúp mọi người biết tự học, tự vươn lên khẳng định mình [4; tr.9]

Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà giáo dục nổi tiếng Trung Quốc thời cổ đại đã chú ý đến việc kích thích suy nghĩ của học sinh Ông đòi hỏi học trò phải tự mình tìm hiểu, tìm tòi để tiếp nhận kiến thức một cách sáng tạo:

Trang 14

“Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc thì không dạy nữa” [4; tr.9]

Ở Việt Nam, các tác giả đã đưa ra một số ý kiến về tự học:

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Trong học tập phải “lấy tự học làm cốt”; phải xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn; học hỏi là việc phải tiếp tục suốt đời; phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập; phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng không lùi bước trước mọi trở ngại; phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi hình thức để tự học

Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn, “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, …) và cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, …) để chiếm lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến một lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [26; 14] Theo GS.TS Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống trí thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định Tự học có quan

hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên khẳng định, “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, …và kinh nghiệm lịch sử

xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học [4; tr.10]

Theo Từ điển giáo dục học cho rằng: “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo Như vậy, từ những quan điểm trên về tự học, chúng ta có thể thấy rằng:

Tự học là một bộ phận của việc học tập, là sự nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm

Trang 15

đạt đến một mục đích nào đó trên con đường chiếm lĩnh kho tàng tri thức của

nhân loại Nói cách khác, tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và

độc lập cao của từng cá nhân Tự học là một phần quan trọng của hoạt động

học tập, là nhân tố “nội lực”có tác dụng quyết định chất lượng học tập và sự

phát triển của người học

Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ truyền thụ kiến thức, yêu cầu học sinh học thuộc, mà giáo viên phải là người định hướng cho hoạt động nhận thức của học sinh, học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trau dồi kiến thức mới, giải quyết những vấn đề cuộc sống khoa học đặt ra Tự học giúp mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi hoàn cảnh sống

Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức:

+ Tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên, như: tự học của học sinh, sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh Kiểu tự học này được tiến hành trên một nền tảng khoa học đích thực, giáo viên (GV) hướng dẫn người học của mình tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức có tính chất cá nhân GV tổ chức cho người học tự thể hiện mình, hợp tác trao đổi, đối thoại GV sẽ là người cuối cùng kết luận, đánh giá kết quả của từng người học

+ Tự học không có sự hướng dẫn của GV Trường hợp này thường liên quan đến hoạt động học tập của những người đã trường thành Kiểu tự học này dựa trên niềm đam mê khao khát của người học, khám phá tri thức mới, trau dồi cho vốn kiến thức của bản thân Kiểu tự học này, người học thường

đã đạt đến trình độ cao hơn, người học không có sự hướng dẫn của GV mà tự tìm hiểu va chạm với thực tế để tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình + Tự học trong cuộc sống thường gặp ở các nhà văn, các nhà văn hóa, các nhà kinh tế, các nhà chính trị xã hội, …

Trang 16

+ Tự học có sự hướng dẫn từ xa của GV: đây là hình thức tự học của những người theo học các chương trình, các khóa đào tạo từ xa Hình thức này được tiến hành có tổ chức, có kế hoạch với một hệ thống tài liệu hướng dẫn tự học và sách giáo khoa được biên soạn riêng cho người theo học khóa học đó Mặc dù vậy, nhưng vẫn có sự trao đổi thông tin giữa thầy và trò dưới các hình thức khác nhau

+ Tự học mò mẫm: đây là hình thức tự học của những người mong muốn học nhưng không có điều kiện để đi học Họ tự tìm tòi kiến thức, trau dồi cho bản thân Tuy nhiên xã hội ngày càng phát triển hình thức tự học này ngày càng thu hẹp

Tự học trong nhà trường phổ thông là tự học có hướng dẫn Vì vậy, hoạt động tự học của học sinh có một số dấu hiệu đặc trưng:

+ Học sinh phải tìm ra kiến thức bằng chính hoạt động của mình

+ Học sinh tự thể hiện mình, tự đặt mình vào tình huống, nghiên cứu cách xử lí, tự trình bày, tự bảo vệ sản phẩm của mình, tỏ rõ thái độ của mình trước cách ứng xử của bạn, tập giao tiếp, tập hợp tác với mọi người trong quá trình tìm ra kiến thức

+ GV là người hướng dẫn học sinh nghiên cứu tìm ra kiến thức và tự thể hiện mình trong lớp học Đồng thời là trọng tài, cố vấn, kết luận trong các cuộc tranh luận đối thoại giữa học sinh với học sinh, là người kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học sinh

+ Học sinh tự đánh giá, tự kiểm tra lại sản phẩm ban đầu của mình và dựa vào kết luận của GV, tự sửa chữa, điều chỉnh, hoàn thiện, rút kinh nghiệm

về cách học, xử lí tình huống và giải quyết vấn đề của mình

Như vậy, tự học của học sinh là quá trình học sinh chủ yếu dựa vào các bài học cụ thể trong sách giáo khoa, đối chiếu với các tài liệu tham khảo, so sánh, làm cho quá trình học tập của học sinh chủ động hơn Tự học giúp các

Trang 17

em nắm vững kiến thức, hiểu rõ sâu sắc trọn vẹn bài học bằng chính năng lực của mình, do đó ghi nhớ kiến thức lâu hơn

- Khái niệm “Tự học lịch sử”

Trong chương trình phổ thông, môn lịch sử chiếm một vị trí quan trọng Vấn đề tự học lịch sử của học sinh được nhiều người quan tâm, nó là một trong những yếu tố giúp GV xác định những phương pháp dạy học thích hợp Nhưng trước đây đã từng có ý kiến cho rằng môn lịch sử chỉ cần học thuộc lòng những gì thầy cô cho ghi là được, không cần phải có phương pháp học nào khác Như vậy, hiển nhiên môn lịch sử đã bị coi nhẹ và không làm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Nhưng ngày nay cùng với quá trình đổi mới giáo dục, người ta đã có cái nhìn khác về vấn đề này Tự học lịch sử của học sinh là quá trình học sinh tự mình tìm hiểu, nắm bắt kiến thức và có thể vận dụng kiến thức đó vào trong học tập hay thực tiễn cuộc sống Tự học lịch sử phải xuất phát từ chính sự hứng thú, say mê tìm tòi sáng tạo của học sinh thì quá trình đó mới đạt được kết quả cao Học sinh hiểu sâu kiến thức, nắm bắt được những quy luật khách quan của các sự kiện lịch sử

Như vậy, có thể hiểu tự học lịch sử là quá trình học sinh nhận thức tự giác, độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo của người học với sự hướng dẫn của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ của bộ môn

- Khái niệm kĩ năng và rèn luyện kĩ năng tự học lịch sử

+ Khái niệm kĩ năng

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này:

Theo Từ điển tiếng Việt: “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” [4; tr.27]

Ý kiến khác cho rằng, kĩ năng đồng nhất với những kĩ thuật của hành động, thao tác khi làm một việc gì đó Theo đó, người có kĩ năng là người có

Trang 18

hành động đúng đắn Hoặc kĩ năng là phương pháp vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành đã được củng cố

M Alêxeep quan niệm: “kĩ năng là sự vận dụng trí thức trong thực tiễn, việc hình thành trí thức tạo điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện kĩ năng” [22; tr.27]

KK Platonov, N Đ Levitov, B Phlomov, …xem kĩ năng không chỉ là kĩ thuật của hành động mà bao gồm cả năng lực giải quyết vấn đề, “kĩ năng không chỉ bao gồm các hành động vận động, mà cả những hành động trí tuệ, độc lập kế hoạch hóa quá trình làm việc, tìm thấy trong mỗi trường hợp cụ thể các phương pháp hợp lí”

Xuất phát từ những cách hiều khác nhau, chúng ta có thể hiểu kĩ năng là

sự thực hiện có kết quả một công việc nào đó (lao động chân tay hay nhận thức) bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với với hoàn cảnh và những điều kiện cho phép Ở một góc độ nào đó, kĩ năng gần với phương pháp đúng đắn Điều ấy có nghĩa là kĩ năng bao gồm những hiểu biết về đối tượng cần tác động, đặc biệt là những quy luật vận động của đối tượng Người có kĩ năng là người trước tiên phải nhận thức đúng, hiểu rõ công việc mà mình phải làm, phải có hành động đúng phù hợp với quy luật vận động của đối tượng để đạt được kết quả như mực tiêu đã

đề ra, có thể hành động để đạt được kết quả cao với những công việc, tình huống tương tự Như vậy, kĩ năng không chỉ đòi hỏi con người phải có hiểu biết đúng đắn về đối tượng cần tác động mà còn cần phải biết vận dụng vốn tri thức kinh nghiệm để hành động đúng đắn, đạt kết quả cao Bản thân con người khi sinh ra chưa có kĩ năng hoạt động thực tiễn, nhất là kĩ năng trong công việc Đa số kĩ năng mà chúng ta có được là xuất phát từ hoạt động thực tiễn, từ đào tạo [4; tr.28]

Khi xem xét kĩ năng cần phải lưu ý những điểm sau:

Trang 19

Kĩ năng trước hết phải được hiểu là mặt kĩ thuật của hành động, kĩ năng bao giờ cũng gắn với hành động cụ thể

Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo là tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và phát triển của kĩ năng Một hành động chưa được gọi là có kĩ năng nếu còn mắc nhiều lỗi vụng về, các thao tác diễn

ra theo khuôn mẫu cứng nhắc

Kĩ năng không phải là sinh ra đã có Đó là sản phẩm của hoạt động thực tiễn, là quá trình con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đề ra

Kĩ năng là một biểu hiện, một điều kiện cần thiết, một yếu tố quan trọng trong tổ hợp nhiều yếu tố tạo nên năng lực (yếu tố cần nhưng chưa đủ)

+ Kĩ năng tự học của học sinh

Kĩ năng tự học là một bộ phận của kĩ năng học tập, kĩ năng này được đặc trưng bởi tính tự chủ động, tích cực, sáng tạo, độc lập Hay nói cách khác kĩ năng tự học là kĩ năng tự thu thập thông tin phục vụ cho những mục đích học tập nhất định và vận dụng thông tin đó để giải quyết một nhiệm vụ mới

Kĩ năng tự học được cấu thành bởi những hành động tự học diễn ra theo một trình tự logic, hướng tới mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ tự học đề ra Tự học là quá trình bao gồm các hành động cơ bản như: xây dựng kế hoạch tự học, đọc, ghi chép, hệ thống hóa, khái quát hóa, giải quyết bài toán nhận thức, trao đổi đàm thoại, …Các hành động đều đòi hỏi sự hiểu biết và mức độ thành thạo nhất định, người học phải vận dụng chúng một cách hợp lí để giải quyết nhiệm vụ học tập, chiếm lĩnh tri thức mới

Ở trường phổ thông, việc tự học của học sinh được tiến hành bằng việc ghi chép bài giảng của GV bằng sơ đồ hay gạch những ý chính làm sao để nhớ một cách nhanh nhất, so sánh đối chiếu với sách giáo khoa, sưu tầm tài liệu tham khảo, hoặc tìm các dạng đề làm, …dưới sự hướng dẫn của GV GV

Trang 20

hướng dẫn học sinh tự học cả ở trường và về nhà, giúp học sinh chủ động hơn trong việc học của mình

+ Kĩ năng tự học lịch sử của học sinh

Kĩ năng tự học nói chung, kĩ năng tự học môn lịch sử trường trung học riêng là khả năng tự chiếm lĩnh kiến thức lịch sử một cách có hiệu quả [4; tr.28 - 29]

Chương trình giáo dục của nước Cộng hòa Pháp quy định cụ thể về những kĩ năng cần đạt cho học sinh ở trường phổ thông với bộ môn lịch sử là: (1) Kĩ năng xác định sự kiện lịch sử trong bối cảnh không gian, thời gian (niên đại các sự kiện quan trọng, vị trí của sự kiện lịch sử, xác định tính liên tục và gián đoạn của lịch sử);

(2) Kĩ năng trình bày (khái quát hay cụ thể về sự kiện lịch sử, miêu tả nhân vật và hoạt động, vai trò của họ);

(3) Kĩ năng khai thác tư liệu (phân biệt niên đại diễn ra sự kiện lịch sử và niên đại của tư liệu lịch sử; khai thác thông tin trong tập hợp tư liệu, tài liệu; xác định ưu điểm, hạn chế của tài liệu; tóm tắt được nội dung cơ bản của tài liệu); (4) Kĩ năng bộ môn (biết sử dụng và trình bày bằng atlas, bản đồ, sách giáo khoa; trình bày miệng hoặc viết ngắn gọn, có cấu trúc; ghi chép độc lập trong giờ giảng)

+ Rèn luyện kĩ năng tự học lịch sử cho học sinh

Theo Từ điển Tiếng Việt, rèn luyện là “luyện tập nhiều để đạt tới trình

độ thông thạo, vững vàng” Để có được một kĩ năng phải trải qua 3 giai đoạn: hình thành, luyện tập, phát triển Để hình thành một kĩ năng trước hết phải nắm vững các tri thức về hành động, rồi thực hiện hành động theo các tri thức

đó Hành động này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV, và kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào sự nỗ lực của ngươi học giữ vai trò quyết định Trên

cơ sở các kĩ năng đã được hình thành, người học sẽ luyện tập các kĩ năng theo

Trang 21

chiều hướng tích cực từ chưa thuần thục đến thuần thục, từ chưa thành thạo đến thành thạo

Việc rèn luyện kĩ năng tự học trong bộ môn lịch sử được hiểu theo hai khía cạnh Một là, quá trình hình thành về số lượng các kĩ năng, trên cơ sở các

kĩ năng đã có sẽ luyện tập để hình thành nhiều các kĩ năng mới Hai là, rèn luyện để nâng cao về mặt chất lượng kĩ năng Trên cơ sở các kĩ năng đã được hình thành sẽ rèn luyện lên một mức độ thông thạo hơn

Như vậy, rèn luyện KNTH lịch sử là việc GV sử dụng linh hoạt các phương thức, phương pháp tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, độc lập, tự giác của người học, dưới sự hướng dẫn, kiểm tra của GV Học sinh tự kĩnh hội kiến thức độc lập, vận dụng vào bài học và thực tiễn cuộc sống

- Khái niệm bài tập và bài tập lịch sử

+ Khái niệm bài tập

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “bài tập”:

Trước hết là khái niệm “bài tập” trong giáo dục

Theo nghĩa chung nhất, khái niệm “bài tập” (BT) (tiếng Anh: “Exercise”, tiếng Pháp: “Exercice”, tiếng Nga: “Uprejniê”) dùng để chỉ một hoạt động nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ): bài tập thể dục, bài tập xướng

âm, …Khi dùng trong lĩnh vực giáo dục (dạy học), theo “Từ điển tiếng Việt” khái niệm bài tập có nghĩa là “bài ra cho HS làm để vận dụng những điều đã học [10; tr.17]

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, khi xem xét khái niệm bài tập ta không thể tách rời nó với người làm bài tập Như vậy, bài tập chỉ có thể là bài tập khi

nó trở thành đối tượng hoạt động của một chủ thể, nghĩa là có một người nào

đó, có nhu cầu chọn nó làm đối tượng hoạt động, mong muốn giải bài tập - tức là có một “người giải”

Theo Từ điển tiếng Việt, bài tập là “bài ra cho học sinh làm để vận dụng kiến thức đã học” Thuật ngữ này mới chỉ giai thích về mặt thuật ngữ, chưa đi sâu vào bản chất bên trong của khái niệm bài tập

Trang 22

Trong cuốn Bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT Một số vấn đề

lí luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục của tác giảTrần Quốc Tuấn đã định nghĩa:

“Bài tập là một hệ thống tin xác định bao gồm những điều kiện và yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đưa ra” [10; tr.18]

Như vậy, bài tập không chỉ là sự củng cố, hoàn thiện kiến thức đã học của

HS mà còn là đơn vị tổ chức, một nguồn nhận thức trong quá trình học tập Trong thực tiễn dạy học cũng như trong các tài liệu khoa học, nhiều người thường sử dụng các thuật ngữ, như câu hỏi, câu hỏi lịch sử; bài tập, bài tập lịch sử

Câu hỏi, trong tiếng Anh và Pháp - Question, tiếng Nga - Vôprôx, là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi hỏi phải có cách giải quyết Câu hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống, như trong dạy học

Từ định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy câu hỏi và bài tập có điểm giống nhau và khác nhau, đồng thời có quan hệ với nhau:

Xét về chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập trong dạy học lịch sử đều là

phương tiện để tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả nhận thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo bộ môn cho học sinh

Xét về hình thức (cấu trúc), câu hỏi và bài tập có nhiều điểm khác nhau, câu

hỏi chỉ nêu yêu cầu hoặc nhiệm vụ mà học sinh cần trả lời, còn trong bài tập vừa

có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêu cầu (hoặc câu hỏi) và để giải quyết bài tập, học sinh phải căn cứ vào những dữ liệu đã cho để tìm ra yêu cầu xác đáng

Như vậy, so với câu hỏi thì bài tập phức tạp hơn học sinh cần phải đầu tư thời gian và công sức nhiều hơn để giải quyết được vấn đề đặt ra; do đó tác dụng, kết quả đối với nhận thức, giáo dục và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo của các

Trang 23

(2) BTLS sử được tiến hành ở tất cả các khâu của quá trình dạy học: nghiên cứu tài liệu mới; củng cố, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức; vận dụng và kiểm tra, đánh giá kiến thức, thái độ và kĩ năng, kĩ xảo

(3) BTLS, đặc biệt là bài tập nhận thức là phương tiện chính yếu, chủ đạo của dạy học nêu vấn đề, một kiểu cơ bản của phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh

(4) BTLS là phương tiện thúc đẩy nỗ lực tự học của học sinh, giúp các

em tiếp cận dần với phương pháp tự học, tự nghiên cứu

BTLS được đặt ra cho tất cả các đối tượng HS với tính chất và mức độ khác nhau, đảm bảo phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh, thiết kế phù hợp với từng đối tượng cấp bậc học BTLS không chỉ đơn thuần là những câu hỏi trong sách giáo khoa mà là yêu cầu HS phải đầu tư thời gian, công sức nhiều hơn

Như vây, BTLS có vai trò quan trọng đối với quá trình học tập, nhận thức của HS Nó không chỉ kích thích tư duy độc lập, chủ động sáng tạo của

HS, mà nó còn giúp các em tiếp cận với phương pháp tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy lịch sử Khi HS tự mình thường xuyên làm bài tập lịch sử sẽ

Trang 24

hình thành cho các em kĩ năng tự học

1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng

tự học cho học sinh

1.1.2.1 Mục tiêu, nguyên lí và phương pháp giáo dục

Trong Luật giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ mục tiêu giáo dục là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với

lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo

vệ tổ quốc” [10; tr.8]

Mục tiêu giáo dục trên đòi hỏi hoạt động giáo dục phải thực hiện nguyên

lí “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp giáo dục gia đình và giáo dục

xã hội” Nó quy định phương pháp giáo dục ở nhà trường phổ thông phải:

“phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học”, “bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn”, “tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh”

Phương pháp giáo dục đòi hỏi việc dạy học ở trường phổ thông phải gắn liền lí luận với thực tiễn; bảo đảm việc cung cấp lí thuyết hợp với trình độ, chú trọng thực hiện, rèn luyện; giảm bớt việc truyền thụ tri thức “một chiều” của GV, tăng cường hoạt động nhận thức độc lập của HS Trong DHLS phải làm cho HS tự giác, thích thú việc thực hiện nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của GV, tự mình phải học, phải viết, phải làm bài tập, chứ không phải ngồi học theo kiểu “xem người khác học” hay chờ đợi thầy cô truyền kiến thức cho Điều này, đòi hỏi HS phải biết tự đặt câu hỏi, tự kiểm tra, đánh giá kết quả làm việc và sửa chữa những sai sót trong bài làm của mình

1.1.2.2 Mục tiêu dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Trang 25

Cũng như học tập các môn khác ở trường phổ thông, học tập lịch sử cần

có trí nhớ, song nhớ không phải mục đích cuối cùng của học lịch sử mà là cơ

sở để hiểu và vận dụng kiến thức đã học một cách thông minh, sáng tạo Trí nhớ, tư duy là điều không thể thiếu được trong học tập bất cứ môn học nào

Vì vậy, trong học tập lịch sử, “nếu không có tư duy tích cực, sáng tạo thi học sinh không biết chọn lựa những sự kiện cơ bản, điển hình để ghi nhớ trong cái

bể mênh mông, rộng lớn về không gian và thời gian; làm sao tái tạo được lịch

sử qua việc tạo biểu tượng, nắm bắt được khái niệm lịch sử, thường có mức

độ và tính chất trừu tượng khá cao; làm sao có thể rút ra quy luật, nêu bài học quá khứ cho hiện tại” [10; tr.10]

Trong DHLS ở trường phổ thông phải thực hiện theo chu trình: biết - hiểu - vận dụng Chu trình này làm cho việc nắm kiến thức sâu sắc, tự giác có hiệu quả; nắm những nét bản chất mới của kiến thức, làm nổi bật mối liên hệ giữa kiến thức lí thuyết và thực tiễn, biết vận dụng kiến thức vào đời sống,, trau đôi, củng cố những thao tác tư duy và một số kĩ năng, kĩ xảo, nâng cao hứng thú học tập của học sinh

Mục tiêu biết - hiểu -vận dụng kiến thức của HS trong học tập bộ môn lịch sử ở trường THPT chỉ có thể được thực hiện và đem lại hiệu quả thiết thực khi GV tăng cường sử dụng bài tập và thực hành Chính vì vậy, cần phải loại bỏ quan niệm không đúng đã tồn tại khá lâu ở nước ta là trong DHLS không có và cũng không cần có bài tập và thực hành mà chỉ đưa ra câu hỏi để kiểm tra việc ghi nhớ, học thuộc một cách máy móc, đơn điệu, tẻ nhạt

1.1.2.3 Đặc trưng dạy học lịch sử ở trường THPT

Dạy học lịch sử cũng nhằm cung cấp kiến thức, hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục phẩm chất đạo đức, chính trị và phát triển học sinh Điều này giúp các em hiểu được sự phát triển hợp quy luật của tự nhiên và xã hội, vận dụng sáng tạo những hiểu biết vào thực tiễn Tuy nhiên, bộ môn Lịch sử

Trang 26

có những đặc trưng riêng so với những bộ môn khác cần lưu ý trong quá trình dạy học

(1) Dạy học lịch sử ở trường phổ thông trước hết là cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về quá trình phát triển của xã hội loài người từ nguồn gốc đến nay trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, …) Nhưng quá khứ xã hội loài người là một hiện thực khách quan đã xảy ra, từng tồn tại, vận động theo quy luật từ thấp đến cao, trải qua những bước quanh co Do đó, trong học tập lịch sử, học sinh không thể “trực quan sinh động” được các sự kiện, hiện tượng của quá khứ, kể cả những sự kiện đang diễn ra nhưng ngoài tầm mắt của các em

(2) Lịch sử là những cái đã xảy ra, không tái diễn nguyên vẹn như cũ, nên trong quá trình dạy học chúng ta không thể tái hiện lại quá khứ một cách đúng nghĩa như nó đã xảy ra

(3) Nhận thức lịch sử bao giờ cũng khó khăn và phức tạp so với nhận thức các khoa học khác Bởi vì lịch sử chính là bản thân cuộc sống, kết quả hoạt động của con người, cho nên khi học tập lịch sử, HS vừa là chủ thể nhận thức vừa là khách thể nhận thức

(4) Kiến thức lịch sử không chỉ có các biến cố, hiện tượng, các niên đại, địa danh, nhân vật lịch sử mà còn bao gồm các khái niệm, các quy luật, nguyên lí, bài học kinh nghiệm, phương pháp học tập và vận dụng kiến thức lịch sử Cho nên việc cung cấp những kiến thức cơ bản, cụ thể để tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học kinh nghiệm là một nhiệm vụ trung tâm của quá trình dạy học lích sử ở trường phổ thông Với những đặc trưng trên, chúng ta không thể tiến hành việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông theo phương thức truyền đạt kiến thức mà phải đảm bảo tính chính xác, tính hình ảnh, cụ thể của nội dung lịch sử; đồng thời phải làm cho học sinh tích cực nhận thức, tích cực tư duy để “không rơi vào

Trang 27

chủ nghĩa chủ quan, có khả năng tạo ra những biểu tượng của quá khứ rộng lớn về không gian, dài dằng dặc về thời gian và hình thành những khái niệm thường ở mức độ trừu tượng, phức tạp”

Hệ thống BTLS nếu được thiết kế và sử dụng một cách hợp lí trong sự kết hợp đồng bộ với các hình thức, biện pháp dạy học khác sẽ thực hiện yêu cầu trên một cách có hiệu quả

1.1.2.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử

Cùng với sự phát triển của các lĩnh vực khác, thì giáo dục cũng cần phải

có sự đổi mới sao cho phù hợp với tốc độ phát triển của xã hội Cùng với xu thế đó, thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường là một nhu cầu tất yếu Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong Luật giáo dục sửa đổi năm 2010

Trong Luật giáo dục sửa đổi năm 2010, Khoản 2 Điều 28, đã nêu rõ:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [17; tr.7]

Có thể thấy cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử nói riêng là hướng tới hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của HS, GV là người tổ chức, hướng dẫn HS học tập, khắc phục lối truyền thụ động một chiều thầy giảng trò nghe

Việc đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn, chứ không phải là “kinh nghiệm”, “thủ thuật”; là sự “chắp vá một vài biện pháp, thủ pháp vặt vãnh, hình thức” Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chí, hiện nay trong dạy học xuất hiện nhiều xu hướng khác nhau, như dạy học giải quyết vấn đề, lí thuyết tình huống, dạy học phân hóa, lí thuyết kiến tạo,

Trang 28

nhưng tất cả đều hội tụ ở một điểm chung “tích cực hóa hoạt động nhận thức” của học sinh và nhất trí rằng: “tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS vẫn là một trong những phương hướng cơ bản của việc cải tiến phương pháp dạy học lịch sử” ở trường THPT

1.1.2.5 Đặc điểm tâm sinh lí và lí luận dạy học hiện đại

Dựa trên quan điểm cơ bản của tâm lí học hiện đại thì nhân cách con người chỉ có thể hình thành và phát triển toàn diện thông qua chính hoạt động của bản thân họ Vận dụng quan điểm này vào trong giáo dục, các nhà tâm lí - sư phạm khẳng định: Trong quá trình dạy học, để phát triển nhân cách của học sinh cần phải tăng cường tổ chức hoạt động nhận thức cho các em [17; tr.6]

Việc tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học ở nhà trường phổ thông được thực hiện theo hai phương thức: truyền đạt kiến thức

có sẵn và hình thành kiến thức trên cơ sở hoạt động độc lập của học sinh So với truyền đạt kiến thức có sẵn thì việc hình thành kiến thức trên cơ sở hoạt động độc lập của học sinh có nhiều ưu điểm hơn Bởi vì, “giờ học thiếu lao động tự lập của học sinh, thiếu tính tích cực cao của những quá trình nhận thức là giờ học của quá khứ” Điều này cũng không có nghĩa là việc truyền đạt kiến thức có sẵn bị loại trừ ra khỏi kho phương pháp; nó vẫn cần thiết nhưng đang mất dần vị trí chủ đạo trước đây

Những thành tựu của lí luận dạy học hiện đại khẳng định: học sinh dù ở bậc học nào, cũng đóng vai trò chủ thể trong hoạt động dạy học Học sinh phải tự mình chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động thông qua những hoạt động tự giác, tích cực của bản thân Cách học đó phù hợp với mục đích đào tạo con người trong xã hội hiện đại -

đó là con người có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, biết lí giải và dễ dàng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống

Trong dạy học các môn học nói chung, môn lịch sử nói riêng, hoạt động

Trang 29

chủ đạo là hoạt động nhận thức Kết quả dạy học xét cho cùng là sự tiếp nhận của học sinh đối với những tri thức khoa học của loài người và sự vận dụng những tri thức đó vào hoạt động trong cuộc sống Nếu nắm bắt kiến thức một cách máy móc, học thuộc lòng sẽ không biết vận dụng sáng tạo vào thực tế; ngược lại, không có tri thức sẽ không giải quyết được những vấn đề mà cuộc sống đặt ra Cả hai yêu cầu đó chỉ có thể giải quyết thông qua việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học

Việc tích cực hóa hoạt động nhận thức - nhất là nhận thức độc lập, sáng tạo có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả giáo dục, giáo dưỡng và phát triển nhân cách học sinh; đặc biệt nó đảm bảo kết quả lĩnh hội kiến thức của các em Có hai loại lĩnh hội kiến thức là lĩnh hội sáng tạo và lĩnh hội tái tạo, trong dạy học GV cần kết hợp cả hai loại lĩnh hội này để HS lĩnh hội kiến thức đầy đủ hơn, đặc biệt là chú ý đến lĩnh hội sáng tạo trên cơ

sở hoạt động tư duy độc lập

Có nhiều biện pháp khác nhau để phát triển năng lực nhận thức độc lập, sáng tạo của học sinh,, trong đó phổ biến và có tác dụng lớn nhất là vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập Vì vậy:

“Kĩ năng của người thầy giáo dạy Lịch sử trong việc tạo lập những bài tập nhận thức về việc tạo tình huống có vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc trong việc đào tạo và bồi dưỡng GV, trong việc thường xuyên tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề của người thầy giáo” [17; tr.7]

Như vậy xuất phát từ những cơ sở trên, sử dụng bài tập lich sử là một những biện pháp để thực hiện hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Việc sử dụng bài tập nhằm rèn luyện KNTH cho HS góp phần đáp ứng yêu cầu của việc dạy học trước xu thế phát triển của thế giới

1.1.3 Phân loại bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh THPT

Trang 30

Việc phân loại bài tập nói chung, bài tập lịch sử nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt, vì nó giúp chúng ta hiểu được vị trí, tác dụng của từng loại để trên cơ sở đó tiến hành thiết kế nội dung và xác định phương pháp sử dụng thích hợp Tổng hợp các các tài liệu nghiên cứu của các nhà giáo dục trong và ngoài nước, cho thấy có ba loại phân loại phổ biến

Thứ nhất, phân loại bài tập xuất phát từ chính bản thân bài tập, gồm có các cách phân loại sau đây:

- Dựa vào nội dung bài tập, chia thành: bài tập lí thuyết, bài tập thực hành Cách này thường gắn với các môn học thực nghiệm như Vật lí, Hóa học, Sinh học

- Dựa vào thành tố cấu thành bài tập (điều kiện, yêu cầu, cách giải) có các loại: Bài tập chấp hành, bài tập tái lập, bài tập biến đổi, bài tập xây dựng

- Căn cứ vào mức độ phức tạp của bài tập, có các loại: bài tập tìm tòi, bài tập không tìm tòi

Thứ hai, phân loại bài tập căn cứ vào bản thân người giải, gồm có: Bài

tập tái hiện (hay còn gọi là bài tập algorit), bài tập tìm tòi (hay còn gọi là bài tập nêu vấn đề - ơrixtic), bài tập trung gian (hay còn gọi là bài tập algorit - ơrixtic)

Thứ ba, phân loại bài tập dựa theo chức năng tổ chức quá trình lĩnh hội

và vận dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh, gồm có:

- Những bài tập thực hiện chức năng hình thành, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh Bao gồm các loại bài tập dùng để tái hiện kiến thức; hệ thống hóa kiến thức, khái niệm

- Những bài tập góp phần phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh Bao gồm các loại bài tập đòi hỏi phải phân tích, tổng hợp, so sánh, giải thích, bình luận, rút ra nhận xét…

- Những bài tập thực hành vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

Trang 31

cuộc sống

Từ những cơ sở chung về phân loại bài tập trong dạy học, kết hợp với đặc trưng, nội dung, mục tiêu của bộ môn, có thể phân ra các loại bài tập lịch

sử phù hợp với thực tiễn dạy học ở trường THPT nước ta hiện nay:

* Nhóm bài tập trắc nghiệm khách quan

Đây là nhóm bài tập ở trình độ thấp, chủ yếu là nhằm tái tạo hình ảnh quá khứ, qua đó rèn luyện cho HS kĩ năng ghi nhớ chính xác, đúng đắn những

sự kiện, hiện tượng, niên đại, nhân vật, địa danh lịch sử, trong chương trình, sách giáo khoa, bài giảng mà các em đã học, đã đọc

Bao gồm các loại sau:

Một là, bài tập lựa chọn, gồm các dạng:

- Bài tập lựa chọn đúng - sai có nội dung đơn giản, không tốn nhiều

công sức để biên soạn, được trình bày dưới hình thức những câu xác định và

HS trả lời bằng cách chọn “đúng” hay “sai” Loại bài tập này thích hợp cho kiểm tra việc ghi nhớ sự kiện (niên đại, địa danh, nhân vật, …), hoặc các thuật ngữ, khái niệm

- Bài tập lựa chọn câu trả lời đúng nhất (hay bài tập có nhiều lựa chọn)

được dùng chủ yếu trong kiểm tra trắc nghiệm khách quan Loại này có hình thức một câu dẫn(có thể là câu bỏ lửng, câu hỏi hay câu phủ định) được nối tiếp với một số câu trả lời mà học sinh phải chọn Người kiểm tra phải chọn câu trả lời mà mình cho là đúng nhất

- Bài tập có nhiều lựa chọn đúng cũng thường được sử dụng trong

DHLS ở trường phổ thông Dạng bài tập này cũng có hai phần: phần gốc và phần lựa chọn

Hai là, bài tập xác định mối quan hệ giữa các sự kiện, nhân vật, địa danh và niên đại Dạng này có tác dụng bồi dưỡng tư duy biện chứng cho HS

trong học tập lịch sử Lọai bài tập này thường được GV sử dụng, vì nó phù hợp với các môn khoa học xã hội, trong đó có môn Lịch sử Cấu tạo của nó

Trang 32

thường có 3 phần: Phần chỉ dẫn cách trả lời; phần gốc gồm những câu xác định, câu bỏ lửng, đoạn câu hay chữ; phần lựa chọn gồm những chữ, câu ngắn, danh từ riêng hay con số

Ba là, bài tập lựa chọn kết hợp với trình bày ngắn gọn mối quan hệ giữa các sự kiện, niên đại, địa danh, nhân vật lịch sử Loại bài tập này tương đối

phức tạp vì bản thân nó vừa có sự kết hợp bài tập lựa chọn và bài tập xác định mối quan hệ, vừa yêu cầu học sinh trình bày mối quan hệ, đòi hỏi các em phải nhớ chính xác các sự kiện, niên đại, địa danh, nhân vật lịch sử, …phải xác định mối quan hệ giữa chúng

* Nhóm bài tập nhận thức lịch sử

Dạng bài tập này được xây dựng dưới hình thức tự luận, nhóm này bao gồm một số dạng bài tập như sau:

- Bài tập xác định, phân tích tính chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử (tiến

bộ, phản động, bản chất giai cấp) giúp học sinh hiểu sâu sự kiện đang học

- Bài tập xác định mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện lich sử, có tác dụng giúp học sinh nhận thức về tính hệ thống, sự tác động qua lại giữa các sự kiện của quá trình lịch sử Ngoài ra, còn có các bài tập nêu lên mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện khác loại diễn ra trong một nước, khu vực và mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới

- Bài tập xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử Dạng bài tập này giúp học sinh hiểu rõ quá trình phát triển liên tục, thống nhất, tính chất tiến bộ của lịch sử và tính phong phú, đa dạng, cụ thể của các

sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử

- Bài tập xác định mức độ tiến bộ của sự kiện lịch sử, nhằm hình thành ở

HS kĩ năng phân tích, lí giải, đánh giá, nhận xét sự kiện lịch sử

- Bài tập tìm hiểu khuynh hướng phát triển của một sự kiện, một thời đại hay một xã hội nói chung

Trang 33

- Bài tập tìm hiểu ý nghĩa của sự kiện, rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử đối với ngày nay Có tác dụng gợi cho HS về sự cần thiết phải tìm hiểu quá khứ để giải thích các sự kiện, hiện tượng đang diễn ra trong hiện tại, làm cho các em ý thức được tầm quan trọng của việc học tập lịch sử

- Bài tập lí giải vấn đề đã được xác định hoặc bình luận, chứng minh, bác

bỏ một câu nói, một nhận định bằng những quan điểm, bằng các sự kiện

* Bài tập thực hành lịch sử

Dạng bài tập này giúp HS vận dụng những kiến thức đã học trong cuộc sống, học tập, lao động, vào công tác công ích xã hội Bài tập này giúp HS rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo bộ môn, qua đó bồi dưỡng cho các em những phẩm chất tốt đẹp, những hành động đúng

Việc xây dựng nội dung bài tập thực hành lịch sử được xây dựng theo trình tự như sau:

- Bài tập vẽ bản đồ, lược đồ cần thiết kế từ dễ đến khó - từ sử dụng bản

đồ câm đến vẽ và trình bày theo bản đồ

- Bài tập vẽ sơ đồ cũng tương tự như vẽ bản đồ, lược đồ để diễn tả nội dung cơ bản của một sự kiện Bao gồm các dạng:

+ Bài tập vẽ sơ đồ về mối quan hệ giữa các giai cấp, tập đoàn xã hội + Bài tập vẽ sơ đồ về cơ cấu bộ máy, tổ chức biên chế nhà nước

+ Bài tập vẽ sơ đồ về quá trình phát triển của sự kiện, thời kì, giai đoạn của lịch sử

- Bài tập vẽ đường (trục) thời gian

- Bài tập vẽ biểu đồ để cụ thể hóa nội dung lịch sử cụ thể, so sánh sự phát triển của một sự kiện lịch sử

- Bài tập vẽ đồ thị để thấy sự phát triển của một sự kiện hay là so sánh sự phát triển của các sự kiện khác nhau

- Bài tập lập niên biểu nhằm kiểm tra sự hiểu biết của HS ở trình độ cao hơn về nhận thức thời gian xảy ra các sự kiện quan trọng, đánh dấu những

Trang 34

mốc phát triển của quá trình lịch sử

- Bài tập lập bảng so sánh, đối chiếu, liên hệ Dạng bài tập này đòi hỏi

HS nắm vững kiến thức, rèn luyện, phát triển các kĩ năng tư duy và thực hành

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của bài tập đối với việc rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử

1.1.4.1 Vai trò

Trong DHLS ở trường trung học phổ thông, tự học là một hình thức tổ chức dạy học Hình thành và phát triển kĩ năng tự học cho học sinh có vị trí quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu bộ môn và góp phần đào tạo thế hệ trẻ có tri thức sâu, rộng, có năng lực thực hành, chủ động, sáng tạo

Học tập là một khâu của quá trình dạy học, trong học tập thì tự học giữ vai trò quan trọng Bởi vì tự học là nhân tố nội lực quyết định chất lượng học tập, còn hoạt động dạy là nhân tố ngoại lực có tác dụng định hướng, kích thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học

Có nhiều phương pháp để rèn luyện KNTH cho HS, trong đó bài tập có vai trò quan trọng Nó không chỉ giúp HS củng cố, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức mà còn là một trong những biện pháp phát triển nhận thức độc lập của người học, đặc biệt là tư duy độc lập Đây là cách mà GV sử dụng để

Trang 35

kiểm tra hoạt động nhận thức của học sinh, và HS có thể thấy được sự thiếu sót của mình sau khi làm bài kiểm tra, đánh giá Qua đó, giúp GV sử dụng phương pháp dạy học hiệu quả hơn, phù hợp với các em

sử một cách chính xác Nhờ vào việc kiểm tra qua hình thức bài tập giúp GV

có thể theo dõi trình hình học tập của các em, qua đó điều chỉnh hoạt động dạy học sao cho phù hợp

Ví dụ: Như khi GV dạy bài 13 Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939), lớp 11 GV đưa ra bài tập: Trình bày những điểm cơ bản trong chính sách mới của Tổng thống Ru-dơ-ven? Giải thích vì sao thu nhập quốc dân của Mĩ lại phục hổi và phát triển từ năm 1934?

Bài tập trên đòi hỏi HS phải tìm hiểu sách giáo khoa, để trả lời câu hỏi Qua việc giải quyết bài tập rèn luyện cho HS kĩ năng đọc sách giáo khoa, ghi nhớ, hiểu sâu sắc về sự kiện, lí giải kiến thức trên cơ sở tái hiện sự kiện

- Về kĩ năng:

Bài tập có nghĩa quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng bộ môn cho học sinh Trong quá trình giải bài tập, HS buộc phải sử dụng các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, liên hệ, quy nạp, diễn dịch, …việc luyện tập đó lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành kĩ năng, kĩ xảo Qua đó giúp

Trang 36

HS xác định đúng yêu cầu nội dung học tập, rèn luyện kĩ năng làm bài

Bài tập có tác dụng bồi dưỡng, phát triển khả năng diễn đạt, trau dồi ngôn ngữ nói và viết cho HS Ngôn ngữ lịch sử của HS được phát triển và hoàn thiện khi các em trình bày bài tập, nhất là những bài tập yêu cầu đánh giá về một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đó

- Về thái độ:

Bài tập giúp HS tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập Khi làm bài tập, HS phải tự mình tìm hiểu sách giáo khoa, tự mày mò tìm hiểu các nguồn thông tin khác để tìm câu trả lời Qua đó, rèn luyện cho HS phẩm chất cần cù, chịu khó, nhẫn nại, cẩn thận, …những phẩm chất đó không chỉ cần thiết khi

HS đang ngồi trên ghế nhà trường mà còn trở thành hành trang cho các em suốt đời trong quá trình tự học và trong cuộc sống

Như vậy, việc sử dụng bài tập để rèn luyện KNTH cho học sinh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình học tập của học sinh, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo của các em

1.1.5 Những kĩ năng tự học cần hình thành cho học sinh trung học phổ thông khi sử dụng bài tập lịch sử

Xuất phát từ quá trình nhận thức của học sinh và đặc trưng của kiến thức lịch sử, việc sử dụng bài tập lịch sử góp phần hình thành những kĩ năng tự học sau:

- Kĩ năng ghi nhớ, tái hiện kiến thức lịch sử

Trí nhớ là “một quá trình tâm lí phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ ghìn giữ và tái tạo sau

đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trước đây” Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người cũng như trong học tập “Không có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không thể có bất cứ hoạt động nào cũng như không

Trang 37

thể hình thành nhân cách được” [7; tr.172] trong học tập Lịch sử, việc ghi nhớ kiến thức lại càng quan trọng, là cơ sở để học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử, là nền tảng để học tập bộ môn Lịch

sử hiệu quả Vì vậy phát triển kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử cho HS là nhiệm vụ quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

Kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử cho học sinh bao gồm các hoạt động

là sự nhớ lại trong óc tài liệu học tập đã ghi nhớ

+ Tái hiện kiến thức: tái hiện là “một quá trình trí nhớ làm sống lại những nội dung đã được ghi nhớ và giữ gìn” [4; tr.75] Quá trình tái hiện kiến thức lịch sử được biểu hiện dưới ba hình thức: nhận lại, nhớ lại, hình dung tưởng tượng lại

- Kĩ năng phân tích, tổng hợp các sự kiện, hiện tượng lịch sử

Sử dụng BTLS giúp học sinh rèn luyện kĩ năng phân tích, từ phân tích người học có thể nghiên cứu vấn đề đẩy đủ, sâu sắc, nhận thức trọn vẹn, sự kiện, hiện tượng lịch sử Thông qua việc sử dụng BTLS, kĩ năng phân tích sự kiện, hiện tượng lịch sử được rèn luyện ở HS Đó là quá trình rèn luyện các kĩ năng phân tích, tổng hợp có mục đích, từ thấp đến cao Kĩ năng tổng hợp là việc HS biết liên kết, xác lập mối liên hệ giữa sự kiện, hiện tượng để tìm ra đơn vị kiến thức nhất định

- Kĩ năng làm việc với sách giáo khoa lịch sử

Sách giáo khoa là tài liệu học tập cơ bản để học sinh học tập Nội dung

Trang 38

sách giáo khoa lịch sử cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức khoa học, chính xác về tiến trình phát triển hợp quy luật của lịch sử loài người và lịch sử dân tộc, qua đó rèn luyện khả năng tư duy logic, năng lực tự học lịch sử, giáo dục thế giới quan khoa học, tư tưởng tình cảm đúng đắn cho các em

Để phát triển kĩ năng làm việc với sách giáo khoa lịch sử, giáo viên cần hướng dẫn học sinh rèn luyện hệ thống kĩ năng liên quan, như: kĩ năng đọc và phát hiện kiến thức cơ bản, kĩ năng lập dàn ý bài viết sách giáo khoa, kĩ năng khai thác nội dung kiến thức qua kênh hình sách giáo khoa, kĩ năng khai thác kiến thức qua đoạn chữ in nhỏ trong sách giáo khoa, kĩ năng tìm ý để trả lời câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa, kĩ năng kết hợp nghe giảng và tự ghi chép, kĩ năng diễn đạt kiến thức sách giáo khoa, kĩ năng kết hợp đối chiếu sách giáo khoa để hoàn thiện kiến thức

- Kĩ năng khai thác tài liệu tham khảo

Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, tài liệu tham khảo là nguồn kiến thức quan trọng, góp phần cụ thể hóa, mở rộng và khắc sâu kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa Đồng thời rèn luyện cho học sinh thói quen tốt, như: ý thức tự đọc sách, tập dượt nghiên cứu khoa học, lòng say mê tự giác học tập, phát triển tư duy và vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Trong quá trình học bộ môn, GV cần rèn luyện cho HS thực hiện tốt một

số kĩ năng cơ bản, như: kĩ năng tự nghiên cứu đoạn trích từ trong tài liệu tham khảo, kĩ năng trình bày tài liệu tham khảo, kĩ năng ghi chép, thắc mắc về những vấn đề rút ra sau khi đọc tài liệu tham khảo, …

Để đạt được hiệu quả cho HS khi khai thác tài liệu tham khảo, GV cần cung cấp tài liệu, hoặc giới thiệu địa chỉ tin cậy để học sinh tiếp cận với tài liệu (thư viện, mạng Internet, ); nêu yêu cầu, nội dung, mức độ, hướng dẫn cách học, cách ghi chép và trình bày tài liệu

- Kĩ năng so sánh, đánh giá, khái quát hóa, trừu tượng hóa

Đây là kĩ năng ở mức độ cao của tư duy cần rèn luyện cho HS trong quá

Trang 39

trình làm bài tập Trên cơ sở kiến thức đã học, các em phải xác định được sự giống và khác nhau của sự kiện, hiện tượng lịch sử So sánh, phân tích, tổng hợp là cơ sở để phát triển kĩ năng đánh giá, như là: đánh giá nhân vật, sự kiện, vương triều, giai đoạn lịch sử Ở mức độ cao hơn, kĩ năng trừu tượng hóa, khái quát hóa là khả năng tổng hợp các đặc trưng từ một sự kiện, hiện tượng đơn lẻ hoặc tổng hợp nhiều sự kiện, hiện tượng

- Kĩ năng khai thác đồ dùng trực quan và phương tiện dạy học hiện đại

Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng vừa là nguyên tắc vừa là một phương pháp dạy học quan trọng Khai thác đồ dùng trực quan không chỉ là nguồn kiến thức quan trọng nhằm cụ thể hóa, bổ sung cho kênh chữ mà còn gây hứng thú học tập cho học sinh, tạo sự sinh động, hấp dẫn trong giờ học

Có nhiều loại đồ dùng trực quan cần khai thác và sử dụng để phát triển

kĩ năng tự học cho học sinh, như: kĩ năng khai thác bản đồ, lược đồ lịch sử theo đúng phương pháp bộ môn; kĩ năng khai thác nội dung cơ bản qua tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu; kĩ năng hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức qua

sơ đồ, đồ thị, biểu đồ; kĩ năng sử dụng các phương tiện trực quan hiện đại (máy tính, mạng Internet, ….)

- Kĩ năng trình bày một vấn đề lịch sử

Trong qúa trình dạy học cùng với quá trình tổ chức học sinh lĩnh hội kiến thức, GV phải không ngừng rèn luyện cho các em kĩ năng diễn đạt, trình bày bài theo ngôn ngữ văn phong sử học

Kĩ năng làm bài thi của học sinh cũng rất cần thiết, nó đòi hỏi HS có kĩ năng diễn đạt nội dung lịch sử bằng cách hiểu và trình bày qua ngôn ngữ riêng của mình Có kĩ năng làm bài tốt, bài thi điểm sẽ đạt được cao hơn, điều

đó sẽ khích lệ HS ham học hỏi, rèn luyện kĩ năng tự học thường xuyên hơn

- Kĩ năng tự ôn tập, củng cố kiến thức lịch sử

Ôn tập là “học và luyện lại những gì mà mình đã học để nắm chắc” [4;

Trang 40

tr.75], là học lại những điều đã học để hiểu kĩ, nhớ lâu hơn Ôn tập nhằm giúp người học lưu giữ những kiến thức đã học vào trí nhớ, đồng thời có khả năng vận dụng những điều đã biết vào những tình huống mới Việc tự ôn tập này giúp học sinh khắc sâu kiến thức, bổ sung, hoàn thiện kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, góp phần giáo dục tư tưởng vả thái độ học tập đúng đắn của học sinh

- Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử

Tự kiểm tra, đánh giá trong học tập lịch sử là quá trình người học tự mình phát hiện được những kiến thức nào đã hiểu rõ, phần nào còn mơ hồ, thiếu sót để chủ động khắc phục Sau đó, GV là người chữa, HS sẽ phát hiện

ra những điểm mạnh, yếu của mình về phương pháp, nội dung Từ đó sẽ tự mình sửa chữa, khắc phục hạn chế để bản thân ngày càng tiến bộ hơn

Như vậy, trên đây là những KNTH cơ bản cần được rèn luyện ở HS thông qua sử dụng bài tập Những kĩ năng đó là cơ sở để tôi xác định các biện pháp sử dụng bài tập nhằm rèn luyện KNTH cho học sinh

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng của việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

Thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, chúng ta thấy tồn tại hai thực trạng trái ngược nhau:

Thực trạng tốt (theo chiều hướng đi lên): Có một số GV có lòng tâm huyết với nghề, có kiến thức vững vàng, biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với từng nội dung môn học và đối tượng học sinh Do

đó, bài dạy lôi cuốn được học sinh tham gia tích cực xây dựng bài, nắm vững kiến thức, và có hứng thú học tập cao

Thực trạng chưa tốt (theo chiều hướng xấu đi): Có nhiều GV không có tâm huyết với nghề, khi giảng bài chỉ bê nguyên kiến thức trong sách giáo khoa mà không hề có sự đầu tư chuyên môn, chỉ dạy cho xong tiết, không quan tâm tới nhận thức của học sinh Do đó, học sinh nhàm chán, coi thường

Ngày đăng: 16/09/2017, 08:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w