Điệu Xòe cổ là một thành tố văn hóa dân gian của tộc người Thái, là sự sáng tạo và tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của tộc người làm nên nhiều giá trị văn hóa.. Mường Lò cũng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
ĐIỆU XÒE CỔ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI TRONG THỜI KÌ 1986 - 2016
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS BÙI NGỌC THẠCH
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ thư viện trường Đại học
sư phạm Hà Nội 2 và Thư Viện huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái đã giúp đỡ trong quá trình thu thập tư liệu để làm khóa luận
Em xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 03 tháng 05 Năm 2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Mai Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung mà em đã trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em dưới sự hướng dẫn của thầy giáo,
TS Bùi Ngọc Thạch Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Em xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa luận này
Hà Nội, Ngày 03 tháng 05 Năm 2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Mai Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Kết cấu của đề tài 9
Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH ĐIỆU XÒE CỔ CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÕ TRƯỚC NĂM 1986 10
1.1 CƠ SỞ RA ĐỜI CỦA ĐIỆU XÒE CỔ CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÕ TRƯỚC NĂM 1986 10
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 10
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 13
1.1.3 Văn hóa 17
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐIỆU XÒE CỔ CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÕ TRƯỚC NĂM 1986 19
1.2.1 Điệu Xòe cổ bắt nguồn từ hình thức sơ khai trong các điệu múa dân gian Thái trước 1986 19
1.2.2 Hoạt động của điệu Xòe cổ ở Mường Lò trước năm 1986 21
Chương 2 HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ, PHÁT TRIỂN ĐIỆU XÒE CỔ TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ TRONG THỜI KÌ 1986 - 2016 24
2.1 CHỦ TRƯƠNG DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN ĐIỆU XÒE CỔ Ở TỈNH YÊN BÁI TRONG THỜI KÌ 1986 - 2016 24
Trang 52.1.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về duy trì và phát triển bản sắc
văn hóa dân tộc 24
2.1.2 Chủ trương của tỉnh Yên Bái về duy trì và phát triển điệu Xòe cổ 27
2.2 HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN ĐIỆU XÒE CỔ Ở MƯỜNG LÒ 30
2.2.1 Hoạt động duy trì, bảo tồn điệu Xòe cổ của người Thái đen ở Mường Lò trong thời kì 1986 – 2016 30
2.2.2 Sưu tầm các điệu Xòe cổ trong dân gian, khai thác những nguồn tài liệu về điệu Xòe cổ 32
2.2.3 Tổ chức các hình thức học tập, khôi phục điệu Xòe cổ 34
2.2.4 Tổ chức các hoạt động biểu diễn điệu Xòe cổ 36
2.2.5 Tổ chức in ấn tài liệu, phát hành băng đĩa về điệu Xòe cổ 38
2.3 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ, BẢO TỒN ĐIỆU XÒE CỔ Ở MƯỜNG LÒ 40
2.3.1 Thuận lợi 40
2.3.2 Khó khăn 41
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐIỆU XÒE CỔ Ở MƯỜNG LÒ TRONG THỜI KÌ 1986 - 2016 45
3.1 ĐẶC ĐIỂM 45
3.1.1 Sáu điệu Xòe cổ là cái nôi khởi nguồn của 36 điệu Xòe Thái Tây Bắc 45
3.1.2 Xòe cổ chứa đựng triết lý âm - dương, đất - trời, lửa - nước và ý nghĩa nhân sinh cao cả 51
3.1.3 Xòe cổ có mối liên hệ mật thiết với tín ngưỡng cầu mùa nói lên khát vọng về tình yêu đôi lứa 54
3.1.4 Điệu Xòe cổ là sự kết hợp của các thế tay chân cơ bản và nhạc cụ đặc trưng của Xòe cổ 56
Trang 63.1.5 Điệu Xòe cổ là một thành tố văn hóa dân gian của tộc người Thái,
là sự sáng tạo và tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của tộc người
làm nên nhiều giá trị văn hóa 61 3.2 VAI TRÒ 64 3.2.1 Xòe cổ góp phần gắn kết bền vững của cộng đồng trong đời sống
tinh thần của người Thái đen ở Mường Lò 64 3.2.2 Xòe cổ có tác dụng giáo dục tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, lao
động, quê hương của người Thái đen ở Mường Lò 67 3.2.3 Xòe cổ góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân gian
của dân tộc 69 3.2.4 Xòe cổ là cầu nối quảng bá hình ảnh con người và đất nước Việt
Nam với khu vực và thế giới 71 KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 7rõ điều đó Những đặc trưng về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của người Thái ở Việt Nam đã được tái hiện khá phong phú trong những công trình ấy Tuy vậy, phạm vi nghiên cứu thường tập trung ở một số khu vực như Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu), Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An) mà ít chú ý đến nơi khác có người Thái cư trú
Ở tỉnh Yên Bái, người Thái (cả Thái đen và Thái trắng) chiếm 6% dân
số toàn tỉnh tập trung đông nhất ở huyện Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ và huyện Mù Căng Chải Đặc biệt, người Thái đen tập trung đông tại cánh đồng Mường Lò rộng 2300 ha Địa danh Mường Lò đã quen thuộc trong câu
“Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” và gần đây đã được các nhà nghiên
cứu chỉ ra rằng đây là một trong những trung tâm cư trú của người Thái đen
ở Việt Nam
Ai đã một lần đến Tây Bắc, đặc biệt là đặt chân đến đất Mường Lò mà chưa được đắm mình trong các điệu Xòe nồng say với các cô gái Thái thì
Trang 8chuyến đi ấy dường như chưa trọn vẹn Xòe để mùa màng bội thu, cây đơm hoa kết trái, Xòe trong say đắm tình người Khi ta lẫn vào vòng Xòe mới cảm nhận được sự quyến rũ khó lường của Xòe tay cầm tay quyện tròn xung quanh đống lửa hồng rực sáng Ở Mường Lò có Xòe Mường, Xòe Tày và Xòe Thái Múa Xòe của mỗi dân tộc nơi đây đều có nét độc đáo riêng Truyền thống Xòe Thái nổi bật hơn, trầm bổng hơn, có nhạc nền cho người múa Thực tế cuộc sống và những ước mơ khát vọng được diễn ra sinh động, tinh tế trong những động tác Xòe Sức hấp dẫn của Xoè chính là sự sôi nổi, gần gũi, đậm hơi thở cuộc sống Xoè vòng thu hút được tất cả mọi người, không phân biệt già hay trẻ, lạ hay quen, mọi người nắm tay nhau thân ái
Vì vậy, Xoè vòng thu hút cả khách du lịch trong và ngoài nước với số lượng lớn tham gia, tạo ra không gian văn hóa Mường Lò Từ các điệu Xoè
cổ, các nghệ nhân dân gian phát triển thành 36 điệu Xoè như điệu Xòe múa nón, múa chai, hái rau, múa sạp, múa ống… Truyền thống văn hóa vẫn tiếp biến trong cuộc sống hôm nay Mường Lò cũng là nơi lưu giữ những điệu Xòe cổ một trong những nét đặc sắc của đồng bào dân tộc Thái đen, Xòe cổ chính là sự thăng hoa của văn hóa dân gian có giá trị vật thể và phi vật thể quan trọng cần được bảo tồn và phát triển Mặc dù Xòe cổ đã và đang được
nỗ lực bảo tồn và phát triển nhưng vẫn không thể tránh khỏi nguy cơ Xòe cổ
bị mai một dần theo thời gian
Việc nghiên cứu về điệu Xòe cổ của người Thái đen ở Mường Lò có ý nghĩa to lớn:
Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ đường lối của Đảng ta trong duy trì, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Mối quan hệ giữa phát triển kinh
tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 9Về thực tiễn: Nêu bật lên được thực trạng hoạt động duy trì, bảo tồn, phát triển về điệu Xòe cổ của người Thái đen ở Mường Lò trong thời kỳ 1986 – 2016 Những thuận lợi và khó khăn trong việc duy trì và bảo tồn phát triển làn điệu Xòe cổ trong thời kỳ đổi mới
Mặc dù đã có nhiều tác giả, tác phẩm nghiên cứu về điệu Xòe cổ của người Thái đen, nhưng chưa có tác phẩm, công trình nào đi sâu về điệu Xòe
cổ của người Thái đen ở Mường Lò trong thời kỳ 1986 – 2016 Việc nghiên cứu về vấn đề này rất cần thiết Vì vậy, em đã quyết định lựa chọn đề tài
“Điệu Xòe cổ trong đời sống văn hóa của người Thái đen ở Mường Lò, tỉnh Yên Bái trong thời kì 1986 – 2016” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình, với mong muốn góp sức mình để giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống cho quê hương
- Viết về Mường Lò có công trình của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam
“Tìm hiểu một số tục cúng vía của người Thái đen ở Mường Lò” của nhóm
tác giả Hoàng Thị Hạnh - Lò Văn Biến - Nguyễn Mạnh Hùng Hai cuốn sử thi
của người Thái là “Quắm tố mương” (Kể chuyện bản mường) và “Táy pú xấc” (Dõi theo bước đường chinh chiến của các ông) là 2 tác phẩm đã dựng
lên quá trình di cư - tụ cư và sinh sống của người Thái đen Những công trình trên ít nhiều có nghiên cứu về một số mặt của văn hóa Mường Lò, nhưng
Trang 10chưa đi sâu vào nghiên cứu có hệ thống, chi tiết về Xòe cổ của người Thái đen nơi đây
- Tác giả Lê Quý Đôn đã viết cuốn “Kiến văn tiểu lục” vào năm 1777,
trong tác phẩm này các tác giả viết nhiều về vùng nhiều tộc người khác nhau trên đất Hưng Hóa trong đó có vùng Mường Lò, các tác giả có đề cập đến việc ở vùng này này có tộc người Thái (với 2 nghành Thái đen và Thái trắng)
và điểm sơ qua một số phong tục của họ mà chưa đào sâu nghiên cứu cụ thể
về các truyền thống văn hóa nói chung cũng như điệu Xòe cổ nói riêng của người dân tộc Thái đen ở nơi đây
- Theo thống kê của Giáo sư, Tiến sĩ Shigêharu Tanabê (người Nhật Bản) thì cuối thế kỉ XIX đến năm 1991 đã có 1.303 tác giả viết về các tộc người nói tiếng Thái Nội dung các bài viết đó đã đề cập đến các lĩnh vực liên quan tới người Thái ở Đông Nam Á
- Năm 1987, tác giả Cầm Trọng đã viết cuốn “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” Nghiên cứu lịch sử, kinh tế, xã hội, tập quán của người Thái ở
Tây Bắc Việt Nam Có thể khẳng định, đây là công trình của tác giả Việt Nam đầu tiên giới thiệu khá sâu sắc về văn hóa, phong tục tập quán của người Thái Tây Bắc nước ta Nhưng tác giả mới chỉ đề cập sơ qua về điệu Xòe cổ của người Thái đen ở Mường Lò
- Thấy được giá trị văn hóa, lịch sử, và dân tộc học của cộng đồng các tộc người ngữ hệ Thái - Kadai, từ hơn 20 năm nay (1991) Viện Việt Nam học
và khoa học phát triển - Đại học quốc gia Hà Nội đã sáng lập chương trình Thái học nhằm nghiên cứu những đặc điểm về quá trình tộc người, mối quan
hệ văn hóa tộc người, không gian văn hóa và các mối quan hệ của cộng đồng trong khu vực Tây Bắc Việt Nam Từ đó tới nay đã tổ chức được sáu Hội thảo khoa học Qua đó góp phần khẳng định hơn nữa người Thái - Kadai nói chung
và văn hóa Thái nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Một điều
Trang 11quan trọng nữa được khẳng định là đây là một môi trường hết sức ý nghĩa nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa của các tộc người nói tiếng Thái ở thế giới và Việt Nam
- Tác phẩm“Văn hóa Thái Việt Nam” của nhóm tác giả Cầm Trọng,
Phan Hữu Dật, nhà xuất bản văn hóa dân tộc Hà Nội năm 1995, công trình này giới thiệu tổng quát về người Thái và Thái học, về văn hóa Thái trong cội nguồn chung của Việt Nam và Đông Nam Á và mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn hóa các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơme ở Tây Bắc Việt Nam, trong đó có nhắc tới người Thái đen ở Mường Lò
- Năm 1995, Phạm Hữu Dật đã viết cuốn “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” được xuất bản bởi nhà xuất bản văn hóa dân tộc, với nội
dung là giới thiệu văn hóa Thái trong lịch sử, sự phân chia các vùng văn hóa, các nhóm địa phương, nơi cư trú, sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt ăn uống, ở, mặc,
đi lại, quan hệ gia đình, xã hội Tuy nhiên lại chưa đề cập sâu sắc về làn điệu Xòe cổ ở Mường Lò
- Năm 2002, tác giả R.Rô-ber đã xuất bản cuốn “Nhận xét về người Tày Đèng và Lang Chánh” Đây là công trình nghiên cứu về địa lý, về con người
và một số phong tục của người Thái ở Lang Chánh - Thanh Hóa Đặc biệt tác giả đã dày công quan sát văn hóa con người nơi đây và đưa ra những đánh giá, nhận xét khá thú vị về phong cách sinh hoạt, đời sống thường ngày, về văn hóa tâm linh của người Thái ở Lang Chánh, Thanh Hóa và một
số tỉnh vùng Tây Bắc Nhưng hạn chế của tác giả là chưa đi sâu vào nghiên cứu về sự phàn triển của làn điệu Xòe cổ của Người Thái đen ở Mường Lò qua các thời kỳ
- Có thể kể tên các tác phẩm như: tác giả Trần Bình trong tác phẩm “Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội xuất
bản năm 2007, đã đi sâu nghiên cứu về văn hóa các tộc người thiểu số vùng
Trang 12Tây Bắc, trong đó có dân tộc Thái Công trình này mang tính chất tổng quan
về lịch sử cư trú, văn hóa, xã hội, kinh tế… Của người Thái ở Tây Bắc từ khi
di cư vào Việt Nam, công trình này có nhắc tới Mường Lò là quê tổ của người Thái đen nhưng chỉ khái quát chung về vùng đất này mà chưa đi sâu nghiên cứu về điệu Xòe cổ
Như vậy, thông qua các công trình nghiên cứu ở trên, cho chúng ta hình dung sự ưu ái, quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, các nhà sưu tầm về văn hóa Thái Đồng thời góp phần quan trọng cho việc giới thiệu và bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng Thái song hành cùng nền văn hóa của đại gia đình dân tộc Việt Nam
Ở Yên Bái, người Thái đen ở Mường Lò là một trong những tộc người tiêu biểu Tuy nhiên việc nghiên cứu về người Thái đen nơi đây chưa được quan tâm đúng mức Từ trước tới nay hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về văn hóa Thái
ở Mường Lò, chỉ có một số công trình nghiên cứu về người Thái ở Tây Bắc
có nhắc tới người Thái ở Mường Lò nhưng chỉ dừng lại ở mức độ so sánh, liên hệ sơ lược Những công trình trên có thể đề cập đến điệu Xòe cổ của người Thái đen nhưng không đi sâu vào nghiên cứu về Xòe cổ của người Thái đen ở Mường Lò mà chỉ dừng lại ở mức độ khái quát một cách sơ lược về Xòe của người Thái Tây Bắc
Vì vậy, đây là những tài liệu tham khảo vô cùng quý báu giúp tôi tham khảo, học tập, kế thừa thành tựu của các nhà khoa học đi trước, tạo điều kiện
cho tôi nghiên cứu đề tài: “Điệu Xòe cổ trong đời sống văn hóa của người Thái đen ở Mường Lò, tỉnh Yên Bái trong thời kì 1986 – 2016”
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Khóa luận nghiên cứu về vấn đề điệu Xòe cổ của người dân tộc Thái đen
ở Mường Lò, với một đề tài cụ thể là:“Điệu Xòe cổ trong đời sống văn hóa người dân tộc Thái đen ở Mường Lò, tỉnh Yên Bái trong thời kì 1986 - 2016”
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2016
- Phạm vi về không gian là: Là địa bàn vùng đồng bào dân tộc Thái đen
ở Mường Lò mà hiện nay là khu vực thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này, tôi thực hiện mục đích sau đây:
- Làm rõ giá trị to lớn của điệu Xòe cổ trong đời sống văn hóa của người Thái đen ở Mường Lò, tỉnh Yên Bái trong thời kỳ 1986 - 2016
- Nêu lên được những thuận lợi và khó khăn của hoạt động Xòe cổ hiện nay
- Rút ra những đặc điểm, vai trò của Xòe cổ của người Thái đen trong thời kì 1986 – 2016
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày sự hình thành hoạt động của điệu Xòe cổ của người Thái đen
Trang 145 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi khai thác các nguồn tài liệu chủ yếu như sau:
- Nguồn tài liệu thứ nhất: Tài liệu văn kiện của Đảng: Do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản đã đăng tải các văn kiện của Đảng qua các
kỳ Đại Hội, trong đó thể hiện rõ đường lối của Đảng về đổi mới đất nước, nhất là đường lối duy trì, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
- Nguồn tài liệu thứ hai: Là các cuốn thông sử, lịch sử Việt Nam
- Nguồn tài liệu thứ ba: Tài liệu lịch sử địa phương: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 1986 – 1996, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ 1996 –
2000 Trong đó có đề cập đến những chủ trương, chính sách, biện pháp của tỉnh Yên Bái về duy trì, bảo tồn làn điệu Xòe cổ
- Nguồn tài liệu thứ tư: Là các tài liệu chuyên sâu: Đó là những bài viết, nghiên cứu trên các sách, báo về văn hóa đặc biệt là điệu Xòe cổ của người dân tộc Thái đen ở Mường Lò, tỉnh yên Bái Những báo cáo của thị xã Nghĩa
Lộ và huyện Văn Chấn về dân số các tộc người trong huyện, diện tích đất đai, tình hình văn hóa
- Nguồn tài liệu thứ năm: Tài liệu điền giã: Tư liệu do đồng bào dân tộc Thái đen, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu lịch sử địa phương cung cấp, những tranh ảnh thu thập được liên quan đến Xòe cổ Ngoài ra, còn trực tiếp quan sát những điệu Xòe cổ của người dân tộc Thái đen nơi đây
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa vào quan điểm và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ chí Minh về lịch sử
- Sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp loogic, trong đó phương pháp lịch sử là phương pháp chủ yếu
Trang 15- Sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu để xác minh sự kiện
- Thực hiện phương pháp điền giã để khai thác tư liệu
6 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu đề tài này, bài khóa luận tốt nghiệp có 1 số đóng góp như:
- Thu thập, sưu tầm được những tài liệu phim ảnh và điệu Xòe cổ của người Thái đen ở Mường Lò tỉnh Yên Bái
- Khái quát về sự hình thành, hoạt động của điệu Xòe cổ của người Thái đen trước năm 1986
- Nêu rõ hoạt động bảo tồn, phát triển của điệu Xòe của người Thái đen
ở Mường Lò thời kỳ 1986 – 2016
- Rút ra những đặc điểm, vai trò của điệu Xòe cổ của người Thái đen ở Mường Lò trong thời kỳ 1986 - 2016
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, bài khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1 Sự hình thành điệu Xòe cổ của người dân tộc Thái đen ở
Mường Lò trước 1986
Chương 2 Hoạt động bảo tồn, phát triển Xòe cổ trong đời sống của
người Thái đen ở Mường Lò trong thời kì mới 1986 – 2016
Chương 3 Đặc điểm và vai trò của làn điệu Xòe cổ ở Mường Lò trong
thời kì mới 1986 – 2016
Trang 161.1.1 Điều kiện tự nhiên
Mường Lò thuộc thị xã Nghĩa Lộ Thị xã Nghĩa Lộ nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, cách trung tâm tỉnh lỵ 84 km theo quốc lộ 32 về phía Bắc, phía Đông, phía Nam giáp huyện Văn Chấn, phía Tây giáp huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái Nằm ở trung tâm vùng lòng chảo Mường Lò rộng lớn, thị xã có địa hình tương đối bằng phẳng, theo hướng nghiêng từ Tây sang Đông, từ Nam lên Bắc, độ cao trung bình 250 m so với mặt nước biển, xung quanh là những dãy núi cao bao bọc
Cách thành phố Yên Bái 80 km về phía Tây Mường Lò nằm gọn trong lòng chảo thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn Miền Tây vùng lòng chảo Mường Lò là nơi hội cư của hơn 10 dân tộc khác nhau cùng chung sống: Thái, Mường, Tày, Kinh, Nùng, Mông , các dân tộc đã góp sức mình để tạo dựng nét độc đáo trong văn hóa dân tộc có một không ở khu vực miền Tây hoa ban trắng này Mường Lò được bao bọc bở dãy Hoàng Liên ngàn năm mây trắng, là điểm mút của dãy Hoàng Liên dài 180 km, rộng 30km Từ lâu, nơi đây đã được coi như vùng đồng bằng lớn thứ hai của vùng Tây Bắc, chỉ sau Mường (Mường Thanh - Điện Biên), đứng trên hai cánh đồng nổi tiếng khác là Mường Than (Than Uyên - Lai Châu) và Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La), là một vùng núi hùng vĩ, lên thơ Mảnh đất rộng chưa đầy 3000 ha này là nơi sinh sống của người dân tộc Thái đen chiếm hơn 44% dân số, cùng số dân
lên tới 27.000 người “Theo tác giả Cầm Trọng trong tác phẩm “Người Thái
Trang 17ở Tây Bắc Việt Nam” thì ở Mường Lò xưa bao gồm ba mường trung tâm là: Mường Lò Luông, Mường Lò Cha, Mường Lò Da và các mường nhỏ xung quanh như: Mường Hồng, Mường Hằng (nay thuộc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái), Mường Nặm, Mường Piu (nay là xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái), Mường Pục, Mường Mẻng (nay là xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái), Mường Min (nay là xã Gia Hội, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái), Mường Lùng (nay là xã Tú Lệ, huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái)” [19, tr.9]
Mường Lò thuộc phía Tây của tỉnh Yên Bái nơi có địa hình đa dạng và nhiều con suối, mương, ngòi Vùng lòng chảo này được hình thành do sự chênh lệch về độ cao của dãy núi và sự chia cắt đột ngột của dãy Hoàng Liên
từ Nghĩa Lộ đến đèo Lũng Lô, nơi có đường Yên Bái - Sơn La chạy qua - để lại một vùng đồi thấp tỏa rộng từ hữu ngạn sông Hồng tới tả ngạn sông Đà tạo
ra những thung lũng và bồn địa được phù sa bồi đắp khá rộng ở Tú Lệ, Gia Hội và Mường Lò
Cánh đồng Mường Lò rộng khoảng 2300 ha, địa thế dốc dần từ phía nam xuống phía bắc Độ cao tuyệt đối so với mực nước biển từ 260 đến 280 mét Cao nhất là vùng lòng chảo là đại bàn của xã Phúc Sơn, Thạch Lương (thuộc huyện Văn Chấn), thấp nhất là xã Sơn A, Sơn Lương (thuộc thị xã Nghĩa Lộ) Đồng bằng Mường Lò, phía Đông có dãy núi Bu và núi Dông, phía Tây là dãy núi Sà Phình, hai dãy núi này vòng ra như một vành đai kiên cố bảo vệ 9
xã vùng đồng bằng Mường Lò Nhìn từ trên cao xuống, theo quan niệm xưa,
đây là thế “tả Thanh Long – hữu Bạch Hổ”, một thế địa hình để dựng nghiệp
muôn đời
Cánh đồng Mường Lò được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi phong phú chảy vào cánh đồng như: Ngòi Thia (156 km) phần chảy vào Lòng Chảo là 20 km, bắt nguồn từ xã Phúc Sơn, kết thúc là xã Sơn Lươn, ngòi Nậm
Trang 18Tăng, ngòi Nhì, ngòi Nậm Đông (Ngòi Nung), ngòi Min (Gia Hội) Các sông ngòi là nguồn thủy sinh cho việc cấp nước ở cánh đồng Mường Lò - cũng là nơi có tổng trữ năng về điện khá lớn, cung cấp thức ăn và thủy sản Toàn bộ vùng lòng chảo Mường Lò là đất phù sa của con ngòi bồi đắp từ xa xưa
Khí hậu ở nơi đây mang tính chất Á nhiệt đới Trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (thường gây bão lụt), mùa khô từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau (lượng mưa ít, thời tiết hanh khô, do đó mùa đông ở đây lạnh nhưng không ẩm ướt) Cũng do địa thế của vùng lòng chảo nên ở đây ít có bão lớn mà chỉ có lốc cục bộ và lũ quét
“Dân tộc Thái có khoảng 41.000 người chiếm 6,1% dân số tỉnh Yên Bái, 4 đơn vị hành chính phía Tây tỉnh là thị xã Nghĩa Lộ, các huyện: Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải là nơi người Thái tập trung sinh sống nhưng đông hơn cả là ở 11 xã gồm: Tú Lệ, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Thanh Lương, Phù Nham, Sơn A, Sơn Lương, Gia Hội và Nghĩa Phúc (huyện Văn Chấn), Nghĩa An, Nghĩa Lợi (thị xã Nghĩa Lộ) Riêng người Thái sinh sống ở Văn Chấn chiếm 89,6% tổng số người Thái ở Yên Bái Ngoài ra, người Thái còn có ở 4 phường của thị xã Nghĩa Lộ, xã Hát Lừu (huyện Trạm Tấu) và một số ít ở huyện
Mù Cang Chải Huyện Văn Chấn gồm 31 đơn vị hành chính trực thuộc: 28 xã, 3 thị trấn với 351 thôn, bản, tổ dân phố Văn Chấn được chia làm hai tiểu vùng: vùng trong gồm 23 xã – thị trấn lấy Đèo ách làm ranh giới, vùng ngoài gồm 8 xã Người Thái Đen sinh sống tại một số xã của huyện Văn Chấn quanh cánh đồng Mường Lò như: Phù Nham, Sơn Thịnh, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Sơn Lương, Sơn A, Thạch Lương, Gia Hội Phần lớn còn lại của vùng lòng chảo Mường Lò thuộc địa giới của thị xã Nghĩa Lộ” [20, tr.47-50]
Qua quá trình lịch sử và các lần thay đổi địa dư hành chính, Mường Lò
Trang 19là thị xã Nghĩa Lộ (thuộc tỉnh Yên Bái) Như vậy, khi nhắc đến Văn Chấn – Nghĩa Lộ là nói đến Mường Lò Mường Lò trở thành điểm kết nối, hội tụ, kết tinh văn hóa đậm nét, riêng có của người Thái đen ở Yên Bái nói riêng và trung tâm văn hóa của người Thái Tây Bắc Việt Nam nói chung
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Kinh tế
“Nguồn tài nguyên đất của thị xã Nghĩa Lộ mang đặc trung địa hình bồn địa, được kiến tạo bồi đắp bằng vật liệu rửa trôi Với tầng mùn tương đối, tầng dày phong hóa lớn, độ dốc nhỏ đã tạo nên một vùng trọng điểm cây lương thực mà chủ yếu là cây lúa của tỉnh Trong tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích nhóm đất nông nghiệp chiếm 2.069,9 ha, trong đó, đất sản xuất nông nghiệp 1.297,4 ha, đất lâm nghiệp chiếm 725,05 ha, nhóm đất phi nông nghiệp 587,33 ha, đất chưa sử dụng 333,51 ha” [20, tr.10]
Về nông – lâm ngư nghiệp: Mường Lò là một trong bốn cánh đồng rộng lớn chủa Tây Bắc Cánh đồng Mường Lò rộng lớn, bằng phẳng, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với nhiều loại gạo ngon, đặc sản Đây là điều kiện thuận lợi cho việc định cư,
tụ cư và sinh sống lâu đời của người Thái đen nơi đây cũng như các dân tộc anh em khác
Trong sản xuất nông nghiệp, đồng bào đã tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng, công tác khuyến nông được cán bộ địa phương đẩy mạnh, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Vì vậy năng suất một số loại cây trồng Nhất là cây lúa tăng nhiều so với những năm trước đây Sản xuất lâm nghiệp với quy mô nhỏ
Về tiểu thủ công nghiệp: Các ngành thủ công truyền thống tiêu biểu là dệt vải thổ cẩm, chế biến gỗ, chế biến lương thực, thực phẩm tiếp tục được
Trang 20duy trì Bên cạnh đó, các nghành cơ khí, sửa chữa cơ khí xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất nước sạch cũng đã từng bước có sự phát triển
“Dệt thổ cẩm với các sản phẩm đa dạng như vải, chăn, quần
áo, túi, khăn và các loại đệm bông lau, bông gạo, gối Trước đây chỉ phục vụ cho sinh hoạt của cá nhân và gia đình nay đã trở thành hàng hóa Chế biến gỗ mỹ thuật cũng là một trong những nghành nghề may mặc, xay xát, chế biến lương thực, thực phẩm có bước phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu của vùng và khu vực lân cận Tuy nhiên, các nghành nghề tiểu thủ công nghiệp có quy mô, giá trị sản xuất còn nhỏ bé, chưa có thị trường ổn định, chưa tạo được một thương hiệu riêng cho sản xuất của vùng” [24, tr.5]
Chính những đặc điểm kinh tế thuần nông của vùng đất này đã là cơ sở hình thành những văn hóa truyền thống nơi đây, trong đó có điệu Xòe cổ của người dân tộc Thái đen
có vài trăm, trung bình là ba, bốn chục nóc nhà” [23, tr.17]
Bản đơn vị cư dân có tổ chức nên từ lâu đã là tổ hợp cộng đồng xã hội
mang màu sắc văn hóa dân tộc “Kể từ khi có cách mạng, vai trò tổ chức bản
do còn giữ được tâm thức cộng đồng nên vẫn tiếp tục phát huy những mặt tích cực của mình Nó đã góp phần vào sự thành công của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và ngày nay, tuy không ghi rõ thành văn
Trang 21bản của Nhà nước ta, nhưng bản vẫn không thể không theo tập quán của mình là một tổ chức cơ sở tập hợp thành đơn vị xã của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [23, tr.19]
Mường được hình thành trong lịch sử, mường của người Thái có bốn cấp:
Nhỏ nhất là mường lộng, gọi tắt là lộng và mường quen, gọi tắt là quen Cấp trên mường lộng (quen) có đơn vị tổ chức xã hội mang tên mường phìa
Năm mường phìa hợp thành một đơn vị tổ chức xã hội cấp trên gọi là châu mường
Bốn mường phìa khác thì gọi là mường phìa ngoài (mương phia nọk), mường ngoài mường (mương nọk mương) hay mường ngoài (mương nọk)
“Trước thế kỉ XIX, các châu mường Thái được tập hợp thành khu vực gọi là MƯỜNG SÁU CHÂU THÁI (XÍP HỐC CHÂU TAY) Khu vực này có một châu mường đóng vai trò trung tâm mường lăm châu mường khác được tập hợp dưới hình thức thần phục hay quy phục Đơn vị châu mường trung tâm ấy tiếng Thái gọi là mường luông (mường lớn) Đây mới là đơn vị trực thuộc triều đình phong kiến trung ương tập quyền Việt nam trong các triều đại: Lý, Trần, Lê
và đầu Nguyễn Các triều đại phong kiến ấy gọi đơn vị tổ chức xã hội này là đại tri châu Đến năm 1834, Minh Mệnh đã bãi bỏ chế độ đại chi châu và đặt các châu mường Thái vào tỉnh Hưng Hóa, trung tâm là thành Hưng Hóa nằm bên bờ sông Thao thuộc tỉnh Phú Thọ hiện nay Đến năm 1884, đất nước ta đã bị mất 6 châu mường Thái nhập vào bản đồ Trung Quốc theo hiệp ước Thiên Tân ký giữa thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh.” [20, tr.24]
Trang 22Như vậy ta thấy rằng, tổ chức xã hội theo các đơn vị mường như thế là
theo quy cách VÕNG ĐỒNG TÂM XOAY QUANH trục không phải theo thứ
cấp trên dưới như cung cách: trung ương, tỉnh, huyện, xã bản như hiện nay
Gia đình và quan hệ dòng họ
Ở trong các bản người Thái xưa, thường tồn tại hai loại gia đình phụ hệ (gia đình nhỏ và gia đình lớn) Các gia đình trong bản có mối quan hệ thân tộc, khăng khít và phức tạp, trong đó chứa đựng cả những tàn dư của mối quan hệ có tính chất sơ khai và những mối quan hệ đã phát triển cao hơn Người Thái Đen ở Mường Lò hiện nay, gia đình là kiểu tiểu gia đình phụ
hệ hay gia đình hạt nhân gồm một cặp vợ chồng có thể đã, chưa hoặc không
có con (nếu có thì cũng chưa trưởng thành, hoặc chưa đủ điều kiện để lập gia đình riêng) Song các gia đình hạt nhân này thường dựng nhà quây quần xung quanh nhà bố mẹ đẻ (trừ các cô gái đi lấy chồng xa) Đặc trưng của gia đình hạt nhân là độc lập về kinh tế và giữ chặt chẽ văn hóa tinh thần Vì vậy, mỗi nóc nhà tượng trưng bằng chiếc cột chính ở đầu mỗi cột treo các vật linh thiêng, người chủ nhà nằm bên cạnh cột chính, cạnh bàn thờ tổ tiên – nơi thờ
ma nhà là nơi linh thiêng nhất, không ai được quét dọn, mang thịt sống, rau xanh vào trong đó, những việc này chỉ làm khi nhà có cỗ to hay hiếu hỉ
Hôn nhân của người Thái rất bền vững và được đặc biệt chú trọng Dư luận xã hội lên án những cặp vợ chồng bất hòa bỏ nhau, việc ngoại tình, loạn luân bị xã hội lên án bằng những tập tục hết sức nghiêm khắc
Đồng bào Thái định cư thành bản, mường đơn vị cư trú nhỏ nhất là bản Rộng hơn mối quan hệ của gia đình lớn là quan hệ thân tộc (gia đình – dòng họ) Các gia đình sinh sống trong bản thường có mối quan hệ thân tộc khá chặt
chẽ là mối quan hệ “không anh, cũng em” (báu ải, cọ noong), không anh em
phía vợ cũng anh em phía chồng các chị gái, cũng là anh em phía chồng các
con gái (bái nhính, cọ xao) Như vậy, “trong một bản sẽ có sự giàng buộc bởi
Trang 23các quan hệ chằng chịt nhau của ba mối mà tiếng Thái gọi là “ải noọng” cha con, “lung ta” họ ngoại và “nhinh xao” họ nội Trong mỗi bản của người Thái
có một vài họ cùng chung sống Những dòng họ chủ yếu ở Mường Lò như họ
Lò, họ Lường, họ Vi, họ Hà, họ Hoàng Một số bản ở Mường Lò, Nghĩa lộ chứng minh cho mối quan hệ trên đó là bản Căng Na Bản Pỏ Khết, bản Tụng Cok gần 100% là dân tộc Thái đen chủ yếu là họ Lò sinh sống” [21, tr.8]
Với những điều kiện tự nhiên và kinh tế như vậy, người dân tộc Thái đen
đã hình thành nên mối quan hệ xóm làng láng giềng gần gũi, mang đậm tính chất của cư dân nông nghiệp lúa nước
Trong sinh hoạt, những xóm nhà, bản làng trên những quả đồi, những ngọn núi đã giúp cho đồng bào nơi đây mang tính cố kết cộng đồng sâu sắc Con người nơi đây sống chất phác, chịu khó, cần cù
Như vậy, với những đặc điểm về mặt xã hội đó đã tạo nên nếp sống văn hóa của vùng đất của điệu Xòe cổ
1.1.3 Văn hóa
Người Thái đen ở Mường Lò nổi tiếng với những nét đẹp văn hóa thuần khiết từ bao đời nay, từ nếp nhà sàn đến nghề dệt thổ cẩm, trang phục, ẩm thực, đặc biệt là những điệu khắp (hát, ngâm), những điệu Xòe đầy lãng mạn, mượt mà, cùng bước Xòe uyển chuyển, những tiếng khèn bay bổng, tiếng trống, tiếng chiêng sâu lắng mà rộn ràng khiến con người thêm yêu quý, gần gũi, chan hòa với nhau hơn
Vùng đất này cũng là nơi ẩm thực nảy sinh với những món ăn đặc trưng như: bánh chưng đen, thịt châu sấy, thịt hun khói, xôi cá đặc biệt là món ngon chế biến từ côn trùng, rêu đá, hay những món ngon độc đáo mang đậm dư vị miền Tây Bắc như: măng chua héo, thịt châu sấy, thịt gà xôi, hoa chuối thái nhỏ, lá nhuội, rau húng rừng, hạt sẻn, nước mắm cá là sản vật do chính bàn tay khéo léo của các cô sơn nữ Thái làm nên Sinh hoạt ẩm thực của đồng bào
Trang 24Thái cũng khá cầu kỳ trong cách chế biến, sắp đặt, sử dụng gia vị và các phụ gia, gia vị nào đi theo món ăn đó, một món ăn của người Thái thường được chế biến khá công phu với các kỹ thuật chế biến làm sao không mất đi các hương vị
đặc trưng của món ăn “Cách chế biến của người Thái có nhiều loại như nướng, lam, xôi, đồ, ủ, hấp, luộc, sấy, xào, rán và ăn sống trong đó cách xôi và nướng, lam, sấy được đồng bào sử dụng nhiều hơn cả Cá là một thực phẩm khá phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày của người dân trong đó món cá nướng
“Pa Pỉnh tộp” là một đặc sản nổi tiếng của người Thái Nghĩa Lộ” [30, tr.4] Câu ca xưa đã từng nói “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Thanh, tứ Tấc” là nói
lên vị trí và sự so sánh tiềm năng của vùng đất Mường Lò cổ, nay là thị xã Nghĩa Lộ Đất Nghĩa Lộ là xứ Mường Lò thủa trước không chỉ nổi tiếng với
gạo tẻ ngon “nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò” Mà còn là một trong những cái nôi
văn hóa của người Thái đen Mặc dù có đi đâu về đâu, người Thái đen vẫn luôn coi nơi đây là quê hương yêu dấu
Không chỉ vậy Mường Lò còn được biết đến với các lễ hội độc đáo nhưng giàu bản sắc dân tộc, lễ hội dân gian là một phần thiết yếu trong sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của người Thái vùng Mường Lò, theo chu kỳ một năm, đồng bào có nhiều lễ hội lớn mang tính chất cộng động làng bản như: lễ xên bản, xên mường, xên đông, lễ hội cầu mưa, lễ hội xuống đồng, lễ hội xên lẩu nó, lễ hội xé then… cho tới các lễ hội trong phạm vi gia đình như các nghi
thức cúng vía “tám khuôn”, các lễ cúng ruộng “tám tế na”, cúng vía trâu
“tám khuôn quai” hay các nghi thức khác liên quan tới thờ cúng tổ tiên và các nghi thức gia đình mà trong đó tết “Síp xí” rằm tháng bảy là một trong những
tết lớn nhất của người Thái ở Yên Bái
Trang 251.2 TỔNG QUAN VỀ ĐIỆU XÒE CỔ CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ TRƯỚC NĂM 1986
1.2.1 Điệu Xòe cổ bắt nguồn từ hình thức sơ khai trong các điệu múa dân gian Thái trước 1986
Dân vũ đơn giản, dễ thuộc nên các điệu nhảy mang tính cộng đồng rất cao, ai cũng có thể tham gia, tạo nên sự gần gũi, thân thiện và có sức lan tỏa mạnh mẽ từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ mọi lứa tuổi đến mọi ngành nghề Có thể nói không có phân biệt trình độ hay giới tính…
Nghệ thuật của dân tộc Thái nói chung và các điệu múa dân gian của người Thái Tây Bắc nói riêng được hình thành lâu đời từ thực tế cuộc sống được khát vọng tự do vươn tới ấm no hạnh phúc và chắp cánh, thổi hồn cho tình yêu Những điệu dân vũ bỗng trở lên sống động và trường tồn trước dòng chảy của thời gian
Đến cuối năm 1968, người ta đã sưu tầm được 36 điệu múa cổ truyền
của người Thái Tây Bắc Nếu các điệu “xé vòng” - Xòe vòng, điệu múa của
cả tập thể mạnh mẽ sôi nổi bao nhiêu thì các bài Xòe điệu lại tinh tế bấy nhiêu Có thể nói Xòe vòng là điệu múa sơ khai cổ xưa nhất trong hệ thống dân vũ Thái Đây là điệu múa tập thể không cần sự luyện tập Tất cả các thành viên của cộng đồng, từ cụ già tới phụ nữ, trẻ nhỏ đều có thể tham gia Động tác múa đơn giản, mọi người hồ hởi nắm tay nhau kết thành vòng tròn rồi tiến lên, lùi lại nhịp nhàng theo nhịp 2/4 của trống chiêng Có khi vừa múa các vũ công vừa hát đối theo kiểu ứng tác thơ, một người cất tiếng hát, tất cả cất tiếng hò hưởng ứng khiến không khí vô cùng sôi nổi Người hát chuyển sang hát thơ, ngâm nga đôi câu thơ rồi hò, tất cả cùng hò theo, làm cho tiếng thơ nổi bật sự trong trẻo, tươi vui Xòe vòng cùng hát thơ có thể kéo dài thâu đêm bên đống lửa Dần dần hình thức múa sơ khai phát triển thêm các điệu múa
diễn tả những sinh hoạt của đời sống hàng ngày như: “Xe cúp” - múa nón,
Trang 26“xe tẳng chai” - múa chai, “xe kếp phắc” - múa hái rau, “xe vy” - múa quạt,
“xe cáp” - múa sạp, “xe lảng xe pén” - múa mộc múa khiên Qua thời gian các điệu múa được các nghệ nhân cải biên, nâng cao như : “xe tó cáy” - múa chọi gà cải biên từ từ “xe vy” - múa quạt, điệu múa “xe nhụm hứa” - múa đẩy thuyền cải biên từ “xe khăn” - múa khăn, “xe tằng xa” - múa vợt cải biên cũng từ “xe khăn” - múa khăn Với điệu múa “nhụm hứa”, điệu múa của
người Thái trắng Với quan niệm có thể cho linh hồn người thoát khỏi thể xác
để có thể lên được cõi trời, chơi và hưởng những lạc thú không có ở chốn trần gian Các vũ công với đạo cụ là chiếc khăn được ngôn ngữ múa diễn tả như mái chèo, cùng động tác chân mạnh mẽ đã diễn tả hình ảnh con thuyền giả tưởng lướt trên sông Ta Khái - con sông trong truyền thuyết rất hung dữ, nếu hồn rơi xuống, người sẽ chết Trên con đường tới miền đất hứa, con thuyền gặp bao thác ghềnh vực xoáy nguy hiểm, song đoàn người vẫn vững tay chèo, đưa con thuyền tới bến Then - trời Đề tài lấy từ thần thoại, với thực tế của vùng sông nước Đà Giang, các nghệ nhân đã cách điệu trong mỗi bước vũ, làm cho người xem như thấy đấy chính là cuộc sống của chính họ Các nghệ nhân còn khéo léo đưa các khúc hát thơ vào để khắc họa rõ nét thêm sự tương phản giữa một bên là sức mạnh của thiên nhiên, một bên là tài trí của con
người với hình tượng đẹp mang tầm vũ trụ: “Nước Ta Khái sóng cuồn cuộn Bên bến đò nước vỗ xô bờ Nghe ầm ầm thác đổ từ trên cao Bọt tung cuồn cuộn tựa ngôi nhà lớn Từng đợt cuộn tung lên rồi tan bọt trắng xóa tự sao trời” Với điệu “xe tô pét” - múa số 8, điệu múa cổ của người Thái Mường
Lò, trong điệu khèn bè da diết như tâm tình, mời gọi, các vũ công từ hai phía đối diện, bên nam thanh, bên nữ tú tiến vào, nhập thành hàng so le nhau, một nam một nữ rồi kết thành hai vòng tròn như số tám Trên bàn tay các vũ công gài “mắc hính” - quả nhạc, vừa nhún chân vừa lắc bàn tay, quả nhạc nẩy lên những âm thanh rộn rã như tiếng gọi của mùa xuân, tình yêu và ước mong
Trang 27hạnh phúc vẹn tròn Bắt nguồn từ cuộc sống, những khuôn múa dân gian của người Thái Tây Bắc sống mãi với thời gian, là món ăn tinh thần không thể thiếu Để rồi qua mỗi bước vũ, đêm Xòe, mỗi người thêm yêu đời, yêu người,
tự tin bước vào một ngày mới tốt đẹp hơn Cũng vì vậy các điệu múa Thái đã trở thành vốn văn hóa quý báu, là niềm tự hào của người Thái Tây Bắc và dân tộc Việt Nam” [15, tr.10]
Khái niệm về Xòe: “Khái niệm điệu Xòe, bài Xòe được hiểu như một đơn vị múa biểu diễn có độ dài, ngắn, co dãn không ổn định Một điệu múa như một đơn vị múa có kết cấu nhiều động tác, tổ hợp động tác múa cũng gọi
là điệu múa” [16, tr.11] Trải qua quá trình phát triển, người Thái thiên di từ
phương Bắc xuống phương Nam, một số bộ phận định cư ở vùng Tây Bắc Việt Nam, họ đã mang theo những câu chuyện thần thoại, chuyện cổ tích, những bài dân ca, những bản nhạc dân gian, những họa tiết hoa văn đẹp, độc đáo, thêu trên chăn gối, trên quần áo, khăn Piêu và những điệu Xòe sơ khai từ thời cổ đại, qua nhiều thế kỉ người Thái đã không ngừng phát triển và xây dựng cho bộ tộc mình một nền nghệ thuật Xòe dân gian truyền thống hết sức giàu có, đa dạng, phong phú, đặc sắc và rất nổi tiếng
1.2.2 Hoạt động của điệu Xòe cổ ở Mường Lò trước năm 1986
“Xòe được dịch ra theo tiếng Thái ghi trong cuốn “Quam tố mương” (tức “Chuyện bản mường”) có nghĩa là “xe”, Xòe cổ là “xe cáu ké” nhằm chỉ một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tập thể của đồng bào dân tộc Thái Có thể nói xòe là biểu hiện nghệ thuật dân gian Thái đặc trưng và trở thành biểu trưng cơ bản và là thành tố quan trọng trong giá trị văn hóa đặc thù của dân tộc Thái” [35, tr.5]
Mường Lò được người Thái đen ở Tây Bắc Việt Nam coi là quê tổ, bởi thế đồng bào cũng quan niệm đây là nơi sản sinh ra các điệu Xòe cổ, là ngọn nguồn của những vòng Xòe Theo ông Lò Văn Biến, thì chỉ có ở Mường Lò
Trang 28mới lưu giữ được cuốn tài liệu viết về sáu điệu Xòe cổ này bằng chữ Thái cổ Chính ông là người dịch và phổ biến tài liệu này, để rồi ngày nay các điệu Xòe
cổ được sống dậy và thể hiện sức sống mãnh liệt của mình trong cộng đồng Xòe được hình thành và phát triển cùng với quá trình lịch sử hình thành bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng người Thái, nó gắn liền với cuộc sống, sinh hoạt, thể hiện đời sống vật chất và tinh thần của người Thái Người Thái khi đặt chân đến Mường Lò kinh tế truyền thống là nông nghiệp, sống quần tụ trong các bản làng ở các vùng lòng chảo, ven các sông suối Trong cuộc mưu sinh để tồn tại và phát triển, người Thái luôn cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên, anh dũng đấu tranh chống lại thú
dữ Mỗi khi hoàn thành một công việc trọng đại, chinh phục được thiên nhiên hat chiến thắng kẻ thù thú dữ mọi người lại nắm tay nhau không phân biệt nam, nữ, già, trẻ và nhảy múa ăn mừng quanh đống lửa Hoạt động ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần, dần dần được nâng lên cả động tác lẫn ý thức, hình thành lên các điệu Xòe Như vậy có thể nói chính từ môi trường tự nhiên, môi trường lao động sản xuất, khát vọng về cuộc sống tốt đẹp và nhu cầu về đời sống tinh thần của tộc người Thái đã hình thành nên những điệu Xòe để mô phỏng những hoạt động lao động sản xuất từ việc khai phá đất đai, phát rẫy, trồng lúa, lấy nước và phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của người Thái
“Người dân ở Mường Lò, Nghĩa Lộ và vùng lân cận nơi đây thường gọi nghệ thuật múa của mình là Xòe cổ, các cụ già trên 60 tuổi nơi đây gọi là Xe Cáu Ké (Xòe cổ), còn thanh niên và thế hệ trẻ gọi là Xòe cổ “Gọi Xé Cáu Ké” hay Xòe cổ vì không biết ai đặt tên
là như vậy, chỉ biết Xòe cổ có từ đời ông, bà, tổ tiên truyền lại, trong tất cả các cuộc cũng không thể thiếu vắng những điệu Xòe cổ Nó là món ăn tinh thần trong đời sống thường hằng của người dân, nếu các cuộc vui đó không có Xòe như “ăn cơm không có canh chan,
Trang 29không có rượu uống” Theo cách hiểu của họ; cổ là thuộc về xa xưa, không ai còn rõ gốc tích nó có từ khi nào, chỉ biết rằng khi họ sinh
ra thì đã thấy ông bà, cha mẹ Xòe và trong mọi sinh hoạt cộng đồng Xòe là món ăn không thể thiếu” [30, tr.8]
Xoè trở thành sức hút mãnh liệt, nó thu hút mọi người đủ tầng lớp, mọi lứa tuổi tham gia, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, thành phần xã hội Xòe có tác động kích thích lao động sản xuất, sau những giờ lao động vất
vả, con người được hoà nhập với không khí vui tươi, hoà nhập với thiên nhiên, cùng nhau nắm tay Xòe để quên hết mọi âu lo, mệt nhọc, cân bằng lại được tâm sinh lý, tạo tâm lý hứng khởi giữa người với người yêu quý nhau hơn, yêu cuộc sống hơn, hăng say lao động sản xuất hơn Xòe để được gần nhau hơn và từ đó thêm yêu làng bản, quê hương mình Thời trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong sinh hoạt cộng đồng cũng có sự phân biệt,
dân Xòe với dân, quan Xòe với quan
* Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã khái quát những nét cơ bản về vấn đề có liên quan đến người Thái Đen ở Mường Lò Bao gồm những đặc điểm tự nhiên, dân cư, những đặc sắc trong văn hóa Mường Lò, đồng thời cho thấy lịch sử hình thành của người Thái Đen ở nơi đây, một trong những cái nôi của điệu Xòe cổ mượt mà, sâu nắng Từ đó khơi dậy tình yêu quê hương đất nước, đặc biệt là tình yêu đối với Mường Lò nói riêng và Tây Bắc nói chung Cho thấy tiềm năng du lịch của Mường Lò là rất lớn
Trang 30Chương 2 HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ, PHÁT TRIỂN ĐIỆU XÒE CỔ TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ TRONG THỜI KÌ
đề phát triển văn hóa xã hội luôn được Đảng ta coi trọng
Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, song thành công được phải có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Đảng ta luôn khẳng định vị trí, tầm quan trọng của văn hóa trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là trong thời kỳ đổi mới Sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đòi hỏi phải phát huy cao độ năng lực tinh thần của người Việt Nam để góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
năm 1991 của Đảng ta nêu rõ: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam và có vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [10, tr.56]
Trang 31Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII, Đảng ta đã nêu quan điểm
chỉ đạo cơ bản sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa của nước ta: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân mà đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; Văn hóa là một mặt trận, xây dựng văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, cần phải có ý chí cách mạng, đồng thời phải có sự kiên trì và thận trọng” [10, tr.21] Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 5 khóa
VIII của Đảng vạch rõ định hướng phát triển của nghành văn hóa nước ta
trong các giai đoạn tới là: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” [11, tr.34] với tư tưởng, mục tiêu chỉ đạo “coi trọng, bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, mở rộng mạng lưới thông tin trên phạm
vi cả nước” [11, tr.39]
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội Nâng cao chất lượng và
mở rộng diện phổ biến các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân
Một trong bốn giải pháp lớn được đề ra trong Nghị quyết Trung ương 5
khóa VIII là phát triển phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” [10, tr 41], nhằm đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân
dân, tranh thủ sự đồng tình hưởng ứng và tự giác tham gia, khơi dậy nguồn
Trang 32lực, truyền thống đoàn kết, tạo nên sức mạnh nội lực ngay trong mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng Triển khai thực hiện nội dung của cuộc vận động tới các tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhất trí và đồng thuận trong xã hội, tăng cường và mở rộng khối đoàn kết dân tộc Góp phần đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, loại bỏ những hủ tục lạc hậu, giữ gìn và phát huy tích cực trong phát triển đời sống kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo giữ gìn trật tự an ninh, đồng thời taoh nên môi trường văn hóa lành mạnh và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Từ
đó hướng tới mục tiêu “Lấy sức dân để xây dựng cuộc sống cho nhân dân”
như lời Bác Hồ kính yêu và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương
Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Đảng ta luôn nhận định xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách đổi mới đúng đắn trên nhiều lĩnh vực trong đó có văn hóa, chỉ đạo hoạch định các chính sách văn hóa nhằm thực hiện thuận lợi mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc
Chủ trương và đường lối tiếp tục sự nghiệp đổi mới đất nước từ năm
1986, những nhận thức mới của Đảng về văn hóa có bước chuyển quan trọng Nền văn hóa mà Đảng ta xác định là một nền văn hóa với những đặc trưng dân tộc, hiện đại, nhân văn Một hệ thống lý luận văn hóa hợp thành với lý luận chung trong quá trình đổi mới tư duy của toàn xã hội
Tháng 11 năm 1987, Bộ chính trị ra Nghị quyết 05 về văn hóa Việt Nam trong cơ chế thị trường Nghị quyết của Bộ chính trị và các kết luận về văn hóa, văn nghệ (tháng 11 năm 1988) Tháng 8 năm 1989, Ban Bí thư Trung ương ra chỉ thị số 52– CT/TW về công tác Quản lý văn học nghệ thuật, tháng
Trang 331 năm 1993, Ban chấp hành Trung ương ra Nghị quyết trung ương số 4 về một số nhiệm vụ Văn hóa văn nghệ những năm trước mắt
Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII ra Nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc
2.1.2 Chủ trương của tỉnh Yên Bái về duy trì và phát triển điệu Xòe cổ
Xòe cổ là giá trị văn hóa phi vật thể vô cùng quý giá của dân tộc cần được bảo tồn, chính vì vậy từ sau thời kì đổi mới đất nước (1986 – 2016), Đảng và Nhà nước cũng như tỉnh Yên Bái đã đề ra những chủ trương và hoạt động nhằm duy trì, bảo tồn, tuyên truyền và quảng bá về điệu Xòe cổ:
UBND tỉnh triển khai dự án bảo tồn và phát huy nghệ thuật Xòe Thái Mường Lò – Nghĩa Lộ Tiếp tục đưa Xòe Thái vào chương trình ngoại khóa dạy trong các trường học, nhằm bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể này một cách lâu dài và bền vững Kiểm kê cụ thể tên địa bàn, số lượng nghệ nhân, số lượng nhạc cụ sử dụng trong nghệ thuật Xòe, cách thức trình diễn để có kế hoạch khai thác và phát huy tốt nhất giá trị của di sản
Tổ chức hội thi Xòe, đưa nghệ thuật Xòe vào các chương trình lễ hội của địa phương Xây dựng bản đồ các địa điểm trình diễn nghệ thuật Xòe phục vụ khách du lịch tham quan tìm hiểu, nghiên cứu về nghệ thuật Xòe
và văn hoá dân gian của người Thái nói chung Tham gia các cuộc Liên hoan trình diễn nghệ thuật Xòe để trao đổi kinh nghiệm và học tập lẫn nhau
về công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá phi vật thể nghệ thuật Xòe
Đề xuất việc xét tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân cho các nghệ nhân có nhiều đóng góp cho công tác sưu tầm, nghiên cứu và truyền dạy nghệ thuật Xòe Trên cơ sở đó đề xuất chính sách đãi ngộ phù hợp cho các nghệ nhân Quan tâm đào tạo lớp trẻ gắn bó lâu dài với nghệ thuật Xòe, cần có sự đào tạo bài bản, chính quy cho những người yêu nghệ thuật
Trang 34Xòe Rà soát, có chính sách đãi ngộ với những người có công lưu giữ, truyền dạy nghệ thuật Xòe ngoài cộng đồng [32, tr.9-10]
Và đặc biệt là “ngày 26/10/2016, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp UBND tỉnh Yên Bái tổ chức hội nghị xây dựng hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Xoè Thái” trình UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể
đại diện của nhân loại Xoè Thái có tên trong Danh sách di sản Văn hoá phi
vật thể dự kiến lập Hồ sơ trình UNESCO giai đoạn 2012-2016 theo Công văn
số 8868/VPCP-KGVX ngày 5 tháng 11 năm 2012 của Văn phòng Chính phủ Mục tiêu đặt ra, sẽ ghi danh nghệ thuật Xoè Thái ở 4 tỉnh Tây Bắc trong danh sách Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2019” [32, tr.23-25]
Nghệ thuật Xoè Thái là loại hình múa truyền thống đặc sắc, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của cộng đồng người Thái ở 4 tỉnh Tây Bắc của Việt Nam Tiêu biểu ở các huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, huyện Mường Lay, tỉnh Điện Biên, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
Sở Văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh Yên Bái đã đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển Xòe cổ như sau:
“Thứ nhất: Trước hết là phải coi trọng vai trò của chủ thể văn hóa trong mọi hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản Xòe cổ Luôn lấy người dân là đối tượng, là trung tâm trong các hoạt động khai thác di sản phục vụ các chương trình du lịch của địa phương Có chính sách, chế độ cho các nghệ nhân, các cá nhân có công sức trong việc giữ gìn, bảo tồn di sản Thứ 2: Tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng về giá trị của di sản nhằm nâng cao nhận thức, khơi dậy tình yêu, lòng tự hào với truyền thống của cộng đồng trong việc giữ gìn và phát huy giá trị của di sản
Trang 35Thứ 3: Tập hợp nhóm các nghệ nhân, những người hiểu biết về
6 điệu Xòe cổ để thành lập một nhóm chuyên gia giảng dạy, thực hiện truyền dạy 6 điệu Xòe cổ cho các đội văn nghệ mà thành viên là các hạt nhân có niềm đam mê Xòe và có khả tiếp cận truyền dạy nghệ thuật Xòe cổ cho cộng đồng
Thứ 4: Định kỳ tổ chức hội thi trình diễn sáu điệu Xòe cổ từ cấp
xã, phường đến thị xã, đề nghị tỉnh bồi dưỡng và công nhận các nghệ nhân Xòe cổ trên địa bàn thị xã
Thứ 5: Gắn loại hình di sản này với các hoạt động du lịch, các hoạt động quảng bá văn hóa tại địa phương cũng như các lễ hội khác trong vùng và trong nước nhằm giới thiệu tới bạn bè trong nước và quốc tế về giá trị của loại hình nghệ thuật này, giúp cho người dân tự quảng bá về các giá trị văn hóa của chính mình, để rồi
từ đó họ tự bảo vệ, tự trao truyền và nuôi dưỡng các giá trị văn hóa
ấy một cách lâu dài và bền vững nhất
Thứ 6: Bảo quản tốt kho tư liệu khoa học về di sản, tổ chức phổ biến tại các cộng đồng dân cư, giảng dạy tại các trường học để mỗi người dân Mường Lò ý thức được việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản truyền thống của chính mình
Thứ 7: Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với di sản nhằm đảm bảo cho di sản được duy trì, bảo tồn và phát huy một cách bền vững và hiệu quả nhất Đưa di sản văn hóa phi vật thể sáu điệu Xòe cổ của tộc người Thái ở thị xã Nghĩa Lộ (Mường Lò), tỉnh Yên Bái vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia để công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản đạt hiệu quả cao hơn nữa”
[32, tr 15-16]
Trang 362.2 HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN ĐIỆU XÒE CỔ Ở MƯỜNG LÒ
2.2.1 Hoạt động duy trì, bảo tồn điệu Xòe cổ của người Thái đen ở Mường Lò trong thời kì 1986 – 2016
Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy: Văn hóa dân tộc là vốn quý, là chìa khóa
và bệ đỡ cho nền văn hóa nước nhà Phải biết nâng niu, quý trọng văn hóa dân tộc mới có khả năng khai thác và phát triển nó lên Để rồi những người con của vùng đất Nghĩa Lộ Mường Lò luôn đau đáu, trăn trở làm sao gìn giữ được các làn điệu Xòe cho các thế hệ mai sau Nhất là trong thời buổi ngày nay, lớp thanh niên ngày càng hờ hững với những làn điệu Xòe, dân ca của dân tộc mình Những nghệ nhân, những cán bộ làm văn hóa của Thị xã Nghĩa Lộ đã trải qua một hành trình dài miệt mài đi đến khắp các tỉnh Tây Bắc từ Sơn La - Điện Biên - Lai Châu để được gặp những nghệ nhân dân tộc Thái Tây Bắc nghiên cứu sưu tầm để chứng minh xác thực nhất, chính xác nhất Mường Lò nơi sản sinh nuôi dưỡng và gìn giữ báu vật 6 điệu Xòe cổ xủa dân tộc Thái Tây Bắc Năm 2015, Xòe Thái ở Mường Lò đã được bộ văn hóa thể thao và
du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Xòe thái Mường Lò Nghĩa Lộ trở thành di sản cấp quốc gia” Đây cũng là sự ghi nhận những nỗ
lực của cấp ủy, chính quyền và nhân dân Mường Lò trong việc bảo tồn và phát huy vốn truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc Thái
“Việc giữ gìn phát huy và bảo tồn những giá trị văn hóa đặc sắc của người Thái Mường Lò mà đặc biệt là 6 điệu Xòe cổ là việc cần thiết không chỉ làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân nơi đây mà còn góp phần “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” như Nghị quyết Trung ương
5 (khóa VIII) của Đảng đề ra” [10, tr.14-15]
Xòe cổ là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với cộng đồng người
Trang 37bảo tồn và duy trì thường xuyên, liên tục trong đời sống của mình dù là mức
độ và hình thức biểu hiện có khác nhau Đồng thời, cộng đồng cũng tự trao truyền cho nhau qua các thế hệ Những năm gần đây, có sự tác động của các cấp, các ngành, hoạt động nghệ thuật Xòe có những bước tiến mới gần với truyền thống hơn, quy mô và chất lượng được nâng lên, điển hình nhất là việc khôi phục và phổ biến được 6 điệu Xòe cổ trong cộng đồng đã làm cho giá trị của di sản được nâng lên nhiều lần
Những năm gần đây, có sự tác động của các cấp, các ngành, hoạt động nghệ thuật Xòe có những bước tiến mới gần với truyền thống hơn, quy mô và chất lượng được nâng lên, điển hình nhất là việc khôi phục và phổ biến được sáu điệu Xòe cổ trong cộng đồng đã làm cho giá trị của di sản được nâng lên nhiều lần
Để bảo tồn và phát huy giá trị của sáu điệu Xòe cổ, chính quyền địa phương đã có những biện pháp bảo vệ cụ thể như: tổ chức mời các nghệ nhân hướng dẫn, truyền dạy sáu điệu Xòe cổ cho tất cả các xã, phường của thị xã Nghĩa Lộ và một số xã trong vùng lòng chảo Mường Lò, tổ chức các cuộc thi Xòe cổ với sự tham gia của nhiều thế hệ, tổ chức tuần văn hóa với nhiều hoạt động trong đó không thể thiếu nghệ thuật Xòe, …
“Xòe Thái ở Mường Lò – Nghĩa Lộ đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trong loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian theo quyết định số 1877 ngày 8/6/2015 của Bộ Văn hóa thể thao và du lịch về việc công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Theo đó Xòe Thái ở Mường Lò – Nghĩa Lộ là 1 trong 26 di sản văn hóa phi vật thể được công nhận trong quyết định này Xòe Thái ở Mường Lò – Nghĩa Lộ được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là sự ghi nhận những nỗ lực của cấp ủy, chính quyền và nhân dân thị xã Nghĩa Lộ trong việc bảo tồn và phát
Trang 38huy vốn truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc Thái Đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ cho các cấp các ngành của thị xã trong việc thực hiện đồng bộ các giải pháp lưu giữ, phát huy những giá trị độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật trình diễn này trong phát triển kinh tế,
xã hội của địa phương nhất là gắn với đề án xây dựng thị xã văn hóa
du lịch Nghĩa Lộ giai đoạn 2013 – 2020 mà thị xã Nghĩa Lộ đang triển khai thực hiện” [32, tr.20-21]
2.2.2 Sưu tầm các điệu Xòe cổ trong dân gian, khai thác những nguồn tài liệu về điệu Xòe cổ
Nghệ nhân dân gian Lò Văn Biến - người nổi tiếng trong giới nghiên cứu
về chữ Thái cổ và những điệu Xòe cổ độc đáo của người Thái xứ Mường Lò Ông cũng là người duy nhất am hiểu, tinh thông chữ Thái cổ ở Mường Lò,
người được mệnh danh là “pho sử sống” của dân tộc Thái hiện nay “Những cuốn sách như “Quam xon côn” (Đạo lý làm người), “Quam tố mướng” (Chuyện bản mường), “Táy púk xấc” (Bước đường chinh chiến của cha ông),
“Căm hánh tặp sấc cớ lương” (Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng) và đặc biệt, truyện thơ “Xống chụ xon xao” (Tiễn dặn người yêu), tác phẩm được đưa vào trích giảng trong sách giáo khoa Ông cũng góp công lớn vào việc khôi phục các lễ hội: Xên bản xên mường, Lồng tồng, sinh hoạt “Hạn khuống” - tức sàn sân ngoài trời, một hình thức diễn xướng sân khấu sơ khai, nơi trai gái hát đối đáp giao duyên ở vùng đất này Mường Lò nổi tiếng với các điệu Xòe làm say đắm lòng người, trong đó có 6 điệu Xòe cổ, được các nghệ nhân coi là khởi nguồn của 36 điệu Xòe khác Màn đại Xòe cổ xác lập kỷ lục Việt Nam năm
2013 được tổ chức với sự tham gia của 2.033 người, trong đó, có 2.013 người tập luyện 6 điệu Xòe cổ và 20 người tham gia dàn nhạc cụ dân tộc” [39, tr.4]
Đến nay, tất cả 7 xã, phường của thị xã Nghĩa Lộ đều có đội văn nghệ, lúc nào cũng có thể phục vụ du khách phương xa Trong đó, 6 điệu Xòe cổ
Trang 39trên, đội văn nghệ nào cũng biểu diễn thuần thục Sáu điệu Xòe cổ của người Thái đen Mường Lò được coi là gốc, là khởi nguồn của các điệu Xòe khác, bởi nó thể hiện đầy đủ nghệ thuật dân vũ của người Thái Trong 6 điệu Xòe
cổ được sắp xếp theo tuần tự ý nghĩa nhân văn và giáo dục trong đời sống của người Thái thể hiện qua các thái cực tình cảm của gia chủ với khách mời và trong không gian giao lưu văn hóa cộng đồng
Trong thời gian trước năm 2005, khi địa phương chưa tổ chức các chương trình du lịch về cội nguồn, các điệu Xòe vẫn được cộng đồng duy trì thường xuyên trong các dịp lễ hội của bản làng nhưng chỉ là các điệu Xòe tự
do có cách điệu, biến tấu như Xòe vòng, Xòe khăn, Xòe chai, Xòe quạt, Xòe nón, Xòe nắm tay, Xòe hoa, Xòe đôi nam nữ,… mà vắng bóng các điệu Xòe
cổ Những điệu Xòe này thường là do thế hệ trẻ thể hiện, nó mang hình thức, điệu bộ và tiết tấu mới nhưng nó vẫn dựa trên cơ sở, nền tảng, chất liệu của Xoè cổ Đây có thể coi là nền tảng để duy trì và thực hành các điệu Xòe cổ trong những năm tiếp theo
“Từ năm 2005, các chương trình du lịch, các tuần văn hóa được tổ chức nhiều hơn, thường xuyên hơn thì các điệu Xòe được mở rộng hơn về quy mô, chú ý hơn về hình thức và nội dung thể hiện Lúc này, không chỉ là Xòe trong mỗi bản làng, Xòe trong mỗi xã, phường mà cả vùng cùng tham gia Xòe, hàng nghìn người cùng tham gia Xòe Thêm vào đó, các nghệ nhân đã dịch thuật và phổ biến sáu điệu Xòe cổ tới cộng đồng nên nghệ thuật Xòe cổ đã bước đầu được phục hồi và dần phát triển” [38, tr.5]
Năm 2013, thị xã Nghĩa Lộ đã tổ chức biên soạn cuốn bài giảng “Nghệ thuật Xòe cổ của đồng bào dân tộc Thái vùng Nghĩa Lộ - Mường Lò” do ông
Lò Văn Biến là chủ biên để truyền dạy sáu điệu Xòe trong cộng đồng
Trang 40Thời gian truyền dạy nhạc Xòe cho 20 người được tiến hành từ ngày 21/08/2014 đến ngày 10/9/2014 do ông Lò Văn Biến trực tiếp truyền dạy Đến nay, 2 đội nhạc công đã nắm vững nội dung bản nhạc giai điệu, tiết tấu, kỹ thuật sử dụng các nhạc cụ, nhạc khí để phục vụ trình diễn sáu điệu Xòe cổ
Đến nay, Xòe cổ nói riêng cũng như nghệ thuật Xòe nói chung của đồng bào Thái ở Mường Lò đã trở một sản phẩm tinh thần không thể thiếu của cộng đồng Hình thức nghệ thuật này không chỉ để phục vụ cho các hoạt động
xã hội mà đã đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân vùng lòng chảo này
2.2.3 Tổ chức các hình thức học tập, khôi phục điệu Xòe cổ
Trong những năm qua, thị xã Nghĩa Lộ đã có nhiều hoạt động gìn giữ phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của người dân nơi đây Đặc biệt là sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về
“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” thị xã Nghĩa Lộ đã đầu tư, nghiên cứu, sưu tầm và tổ chức truyền dạy
những nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc, trong đó có 6 điệu Xòe cổ của đồng bào Thái cho các thế hệ trẻ Đến nay tất cả 7 xã, phường của thị xã Nghĩa Lộ đều có đội văn nghệ, trong đó 6 điệu Xòe được coi là mũi nhọn Chính những hoạt động tích cực của đội văn nghệ quần chúng ở cơ sở đã góp phần gìn giữ, khôi phục và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Thái nơi đây Nhiều lễ hội đã được khôi phục, tổ chức, đáp ứng được nhu cầu của bà con, từ đó làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân nơi đây Điển hình là đội văn nghệ bản Đêu – xã Nghĩa An hay đội văn nghệ bản Tông Pọng – phường Tân An, đội văn nghệ bản Cang Nà – phường Trung Tâm Trước đây, không phải đội văn nghệ nào cũng biết thể hiện các điệu Xòe cổ Do đó, chính quyền địa phương rất quan tâm tới việc mời các nghệ nhân hiểu sâu sắc về 6 điệu Xòe cổ tổ chức truyền dạy cho lớp