1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ trong thời kì 1986-2016

116 385 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 7,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ là một ngôi đền có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Hiền Lương nói riêng và củ

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS BÙI NGỌC THẠCH

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân,

em xin gửi lời cảm ơn những sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử và đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – TS Bùi Ngọc Thạch – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận này

Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và Ban quản lí khu di tích lịch sử đền Mẫu Âu Cơ ở

xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ trong quá trình thu thập tư liệu để làm khóa luận

Em xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2017 Tác giả khóa luận

Hà Thị Kim Oanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan những nội dung mà em đã trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, TS Bùi Ngọc Thạch

Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Em xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa luận này

Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2017

Tác giả khóa luận

Hà Thị Kim Oanh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 3

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Bố cục của khóa luận 6

Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỀN MẪU ÂU

CƠ TRƯỚC NĂM 1986 7

1.1 Sự hình thành đền Mẫu Âu Cơ 7

1.1.1 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu 7

1.1.2 Truyền thuyết Mẫu Âu Cơ 12

1.2 Sự hình thành đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ trước năm 1986 15

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa của xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa 15

1.2.2 Kiến trúc đền Mẫu Âu Cơ 16

1.2.3 Hoạt động của đền Mẫu Âu Cơ trước năm 1986 19

Chương 2 HOẠT ĐỘNG Ở ĐỀN MẪU ÂU CƠ TRONG THỜI KÌ 1986 – 2016 22

2.1 Công tác tổ chức, quản lí hoạt động ở đền Mẫu Âu Cơ 22

2.1.1 Về công tác tổ chức quản lí 22

2.1.2 Các hoạt động hàng ngày ở đền Mẫu Âu Cơ 27

2.2 Hoạt động xây dựng, tôn tạo đền Mẫu Âu Cơ 29

Trang 5

2.2.1 Đầu tư cơ sử hạ tầng 29

2.2.2 Đầu tư xây dựng tôn tạo 31

2.3 Tổ chức các hoạt động tế lễ ở đền Mẫu Âu Cơ 37

2.3.1 Hoạt động chuẩn bị lễ vật để tế 37

2.3.2 Hoạt động tế nam, tế nữ 39

2.4 Tổ chức lễ hội ở đền Mẫu Âu Cơ 41

2.4.1 Tổ chức lễ hội 41

2.4.2 Tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao 47

2.5 Những ưu điểm và hạn chế về hoạt động ở đền Mẫu Âu Cơ trong thời kì 1986-2016 48

2.5.1 Ưu điểm 48

2.5.2 Hạn chế 49

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỀN MẪU ÂU CƠ TRONG THỜI KÌ 1986-2016 51

3.1 Đặc điểm 51

3.1.1 Các nghi lễ tế nam, tế nữ được duy trì, phát triển 51

3.1.2 Các lễ vật dâng cúng ở đền Mẫu Âu Cơ trong ngày chính lễ là đồ chay 53

3.1.3 Ở Đền Mẫu Âu Cơ không tổ chức hát chầu văn 54

3.2 Vai trò của đền Mẫu Âu Cơ trong đời sống văn hóa của người dân Phú Thọ 56

3.2.1 Là trung tâm cố kết cộng đồng, hướng về cội nguồn 56

3.2.2 Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 58

3.2.3 Thúc đẩy phát triển du lịch và kinh tế địa phương 59

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 1

Trang 6

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Đền Mẫu Âu Cơ là một công trình kiến trúc cổ được xây dựng ở thời

Lê Sơ tại xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

Đây là nơi tôn thờ Quốc Mẫu Âu Cơ thể hiện đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam nói chung và của người dân xã Hiền Lương nói riêng Đền Mẫu Âu Cơ là ngôi đền tiêu biểu có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân luôn luôn tri ân, tưởng nhớ công đức của Quốc Mẫu Âu Cơ

Trải qua quá trình lịch sử, đền Mẫu Âu Cơ được nhân dân nơi đây duy trì, bảo vệ, tôn tạo Đặc biệt, trong thời gian từ 1986-2016 chính quyền các cấp ở đây đã chú trọng đầu tư, tôn tạo, xây dựng đền, xây dựng cơ sở hạ tầng, cảnh quan, tổ chức các hoạt động lễ hội, duy trì phục dựng lại nghi thức tế lễ ở đền Mẫu Âu Cơ để đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân và khách du lịch hướng về cội nguồn

Việc nghiên cứu đền Mẫu Âu Cơ trong thời gian 1986-2016 có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc

Về lí luận: Làm sáng tỏ đường lối của Đảng ta về duy trì, phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì đổi mới, làm rõ đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc

Về thực tiễn: Làm rõ sự hình thành đền Mẫu Âu Cơ, hoạt động của đền Mẫu Âu Cơ, những đặc điểm và vai trò của đền Mẫu Âu Cơ trong thời

kì 1986-2016

Việc nghiên cứu đền Mẫu Âu Cơ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm với những cách tiếp cận khác nhau Tuy vậy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến đền Mẫu Âu Cơ từ năm 1986-2016 một cách đầy đủ, cụ thể, có hệ thống

Trang 7

Vì vậy em quyết định lựa chọn vấn đề “Đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ trong thời kì 1986-2016” làm đề tài khóa luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ là một ngôi đền có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Hiền Lương nói riêng và của người dân Phú Thọ nói chung

Năm 1996, tác giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên) đã cho xuất bản cuốn sách “Đạo Mẫu ở Việt Nam”, tác giả đã đưa ra những luận chứng khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam đã trở thành Đạo Mẫu Trong tác phẩm này, tác giả chỉ đề cập sơ lược về Mẫu Âu Cơ trong hệ thống thờ Mẫu ở Việt Nam

Năm 1998, tác giả Trần Kim Thau xuất bản cuốn sách “Di tích và danh thắng vùng đất tổ” có đề cập đến di tích đền mẫu Âu Cơ ở Hạ Hòa, Phú Thọ, tuy nhiên tác giả mới chỉ nói sơ qua về ngôi đền này

Năm 2005 cuốn sách “ Lễ hội truyền thống vùng đất tổ” của nhiều tác giả, trong đó có bài viết “ Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ – Hiền Lương – Hạ Hòa” của tác giả Đặng Đình Thuận nhưng chỉ đề cập đến các hoạt động diễn ra trong ngày lễ chính, đó là ngày mùng 7 tháng Giêng

Năm 2007, tác giả Phạm Bá Khiêm có bài “Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ” đăng trên báo Văn hóa nghiệ thuật số 14 Bài báo đã nói đến lễ hội đền Mẫu Âu Cơ ở Hạ Hòa, Phú Thọ từ truyền thuyết đến các hoạt động lễ hội chính ở đây Tuy nhiên tác giả phần lớn đề cập đến các hoạt động lễ hội truyền thống mà chưa có một cái nhìn khái quát về mọi phương diện

Năm 2009, tác giả Phan Duy Kha xuất bản cuốn sách “Nhìn về thời đại Hùng Vương” Trong đó, cuốn sách đã phản ánh về truyền thuyết Lạc

Trang 8

Lạc Long Quân và Âu Cơ, cùng với đó là quá trình kết duyên của hai người tuy nhiên vì là hai dòng giống khác nhau nên không thể ở với nhau nên đã phải chia mỗi người đem 50 người con đi theo Trong truyền thuyết ấy có nhắc đến di tích đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên, cuốn sách này mới chỉ dừng lại ở đó mà chưa đề cập sâu đến các hoạt động chính của đền Mẫu Âu Cơ

Năm 2012, tác giả Nguyễn Khắc Thuần xuất bản cuốn sách “Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỉ XIX” do NXB Giáo dục xuất bản

Năm 2014, cùng tác giả Nguyễn Khắc Thuần cho phát hành cuốn sách

“Đại Nam văn hiến”

Cả hai tác phẩm trên đều nói về thời Hồng Bàng, trong đó có nhắc đến cuộc gặp gỡ của Lạc Long Quân và Âu Cơ, mà chưa đi sâu vào mọi vấn đề liên quan đến mọi hoạt động của ngôi đền này

Năm 2015, cuốn “ Khu di tích lịch sử đền mẫu Âu Cơ” của Ban quản

lí khu di tích đền Mẫu Âu Cơ có đề cập đến vị trí của xã Hiền Lương, kiến trúc của đền Mẫu nhưng vẫn chỉ đề cập ở mức độ chung nhất

Nhìn chung, các công trình nói trên do mục đích, yêu cầu nghiên cứu, cho nên các công trình này đã quan tâm, đề cập, tiếp cận đền Mẫu Âu Cơ với những mức độ khác nhau mà chưa có một công trình nào nghiên cứu về đền Mẫu Âu Cơ trong thời kì từ 1986-2015

Vì vậy, việc đầu tư nghiên cứu vấn đề “Đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ trong thời kì 1986-2016” là rất cần thiết

Trang 9

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Dựng lại bức tranh lịch sử về “Đền Mẫu Âu Cơ” trong thời kỳ 2016) một cách tương đối đầy đủ, cụ thể Qua đó rút ra nhũng đặc điểm, vai trò của đền Mẫu Âu Cơ trong thời kỳ 1986-2016

(1986-3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày sự hình thành của đền Mẫu Âu Cơ và hoạt động của nó

trước năm 1986

- Nêu rõ hoạt động của đền Mẫu Âu Cơ trong thời kỳ 1986-2016

- Rút ra những đặc điểm, vai trò của đền Mẫu Âu Cơ trong thời kỳ 1986-2016

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về đền Mẫu Âu Cơ trong thời kì

1986-2016 ở xã Hiền Lương, huyện Hạ hòa, tỉnh Phú Thọ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ 1986 đến 2016

- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu là địa bàn xã

Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Đề tài sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau đây:

- Nguồn thông sử: : bao gồm các bộ chính sử, các tư liệu về địa lí học, lịch sử và truyền thuyết

Trang 10

- Nguồn lịch sử địa phương: lịch sử huyện Hạ Hòa, lịch sử xã Hiền Lương

- Nguồn tài liệu báo chí: báo Phú Thọ, báo nhân dân, báo văn hóa, tạp chí

- Nguồn tư liệu điền dã: thực tế địa phương, khai thác tư liệu dân gian

- Nguồn tài liệu Internet

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng một số phương pháp sau đây:

- Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về lịch sử để nghiên cứu đề tài

- Kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lô gic trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu

- Phương pháp khảo sát thực địa: quan sát, ghi chép, thu thập tài liệu,

mô tả

- Phương pháp tổng hợp thông tin, tài liệu: Tổng hợp và phân tích số liệu thu thập, đánh giá những kết quả đạt được

- Phương pháp điền dã

6 Đóng góp của khóa luận

- Dựng lại bức tranh lịch sử một cách khách quan, trung thực, đầy đủ

về đền Mẫu Âu Cơ trong thời kì 1986-2016

- Làm rõ hoạt động của đền Mẫu Âu Cơ trong thời kì 1986-2016

- Nêu bật những giá trị của đền Mẫu Âu Cơ trong đời sống tâm thức của người dân Việt Nam nói chung và người dân Phú Thọ nói riêng Góp phần khẳng định hơn nữa những giá trị văn hóa, giá trị tinh thần to lớn mà đền Mẫu Âu Cơ mang lại Đồng thời làm rõ thêm các đức tính tốt đẹp của người dân Việt là “ Uống nước nhớ nguồn”

Trang 11

- Nêu rõ những đặc điểm và vai trò của đền Mẫu Âu Cơ trong thời kì 1986-2016

- Trở thành nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử địa phương

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, Bài nghiên cứu gồm 3 chương sau:

Chương 1: Sự hình thành và hoạt động của đền mẫu Âu Cơ trước năm

1986

Chương 2: Hoạt động của đền Mẫu Âu Cơ trong thời kì 1986 – 2016 Chương 3: Đặc điểm và vai trò của đền mẫu Âu Cơ trong thời kì đổi mới từ 1986 – 2016

Trang 12

Chương 1

SỰ HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỀN MẪU ÂU CƠ

TRƯỚC NĂM 1986 1.1.Sự hình thành đền Mẫu Âu Cơ

1.1.1 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian của dân tộc Việt Nam, được hình thành từ ngàn đời xưa, nó ăn sâu vào tiềm thức của dân tộc và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam Cho đến tận ngày nay thì tín ngưỡng thờ Mẫu không hề bị mai một hay mất đi mà nó vẫn còn đang phát triển mạnh m trong đời sống sinh hoạt của nhân dân Tín ngưỡng thờ Mẫu được ra đời ở một đất nước nông nghiệp mà nền canh tác lúa nước và xã hội mang tàn tích mẫu hệ đã có dấu ấn to lớn của vai trò người phụ nữ Từ thời xa xưa, vai trò của người phụ nữ Việt Nam đã

được đánh giá cao lên đến mức tôn sùng “M

ô ả ”[10,

tr.73] Bởi thế, mỗi khi con người cảm thấy cô đơn, cảm thấy thấy bơ vơ và không có nơi nương tựa việc họ tìm về mẫu để nhận được sự quan tâm và cứu giúp của “ngài” như một phản ứng rất đỗi là tự nhiên

“Mẫu” là xuất phát từ Hán-Việt, còn thuần Việt là Mẹ, Mụ Nghĩa ban đầu Mẫu (mẹ) đều chỉ người phụ nữ sinh ra con Mẫu (mẹ) còn có ý nghĩa tôn vinh, tôn xưng như Mẫu nghi thiên hạ, Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn Trong tâm thức của người Việt, Mẫu cũng có nghĩa là sự sinh sôi, nảy nở của vạn vật trong vũ trụ Cho dù được hiểu như thế nào thì vị trí của Mẫu trong tiềm thức của người Việt Nam luôn là sự thành kính, sự tôn trọng trong đời sống của họ

Trang 13

Việt Nam là nước đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với đặc điểm nổi bật là sự bao dung, sự hòa hợp lẫn nhau giữa các tôn giáo trong cùng một quốc gia, vì thế trên khắp đất nước ta trải dài từ bắc vào nam có khoảng 1000 di tích văn hóa trong đó có 250 di tích thờ cúng các vị thần hay danh thần là nữ Chính vì thế trong kho tàng văn hóa dân gian về truyền thuyết hay thần thoại đều có những câu chuyện về các nữ thần như: Nữ thần Mặt Trời, Nữ thần Mặt Trăng người đã soi sang xuống trái đất tạo nên đất trời Mưa, Sấm, Chớp đây là những yếu tố mang tính bản thế của vũ trụ cũng được dân gian nữ tính hóa hay là nguyên bản đầu tiên của thế giới như: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cũng được nhân dân ta gọi là Bà

Cho đến thế kỉ XVI tín ngưỡng thờ Mẫu được làm phong phú hơn với hình tượng công chúa Liễu Hạnh được tôn làm Thánh Mẫu Khác với Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa đều có nguồn gốc từ tự nhiên thì Mẫu Liễu Hạnh là hình tượng con người trần thế có thật được con người Việt Nam sáng tạo ra có đầy đủ các yếu tố và đức tính quý báu của người phụ nữ Việt Nam Chính vì thế người Việt Nam tôn vinh Liễu Hạnh là Tiên, là Thánh, là một trong tứ bất tử của mình Trong tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt Nam, nhân dân ta còn tôn thờ những bà mẹ có công sinh thành ra dân tộc như Mẫu

Âu Cơ, những người phụ nữ có tài dựng nước và giữ nước trong lịch sử

Như vậy chúng ta có thể thấy tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng thờ nữ thần (nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu), là một bộ phận của ý thức xã hội, được hình thành từ chế độ thị tộc Mẫu hệ, để tôn vinh những người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức, xã hội… làm Thánh Mẫu, Vương Mẫu, và qua đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ của các lực lượng siêu nhiên

Trang 14

Tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng cũng

ra đời từ điều kiện kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý tình cảm Theo quan điểm Mác xít thì tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng lịch sử xã hội, là một

bộ phận ý thức xã hội cho nên nó có quy luật hình thành và phát triển riêng, được nảy sinh trên cơ sở kinh tế, xã hội nhất định, chịu sự quy định của tồn tại xã hội

Việt Nam là một quốc gia nằm ở vùng Đông Nam Á, có địa hình phong phú và đa dạng với những đồng bằng rộng lớn, hệ thống song ngòi dày đặc, bên cạnh đó còn có địa hình rừng núi hiểm trở, vùng biển rộng với đường bờ biển dài và có nhiều bãi biển đẹp hơn thế nữa Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, có 4 mùa: xuân, hạ , thu, đông Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và màu khô Đây chính là những yếu tố quan trọng góp phần hình thành những sắc thái riêng biệt trong tập tục sản xuất, canh tác của cư dân nông nghiệp cũng như nét sinh hoạt trong đời sống văn hóa tinh thần trong đó có tôn giáo tín ngưỡng

Việt Nam là một nước thuần nông, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Thời gian đầu khi công cụ sản xuất chưa phát triển, phương thức canh tác còn lạc hậu nên con người sống còn phụ thuộc vào tụ nhiên Chính trong cuộc sống sản xuất nông nghiệp của nhân dân luôn thể hiện khao khát, mong sự che chở của một thế lực bên ngoài từ đó dẫn đến việc con người thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên và vô hình chung gắn cho các hiện tượng tự nhiên một sức mạnh siêu nhiên và tôn thờ nó Vì thế trong đời sống tâm linh của người Việt xuất hiện tín ngưỡng thờ thần trong đó thần thánh hóa các vị nữ thần vì theo quan niệm của họ sản xuất nông nghiệp gắn liền với các yếu tố như đất, nước ( là yếu tố âm ) hay các yếu tố khác như mặt trăng, mặt trời Như vậy đó là những cơ sở ban đầu cho sự hình thành tục thờ Mẫu ở Việt Nam Tuy nhiên cho tới nay, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta chưa biết

Trang 15

chính xác có từ khi nào Có ý kiến cho rằng “ N ười ta tin mẹ thần linh này

ã x ất hi n từ buổi hông hoang hay ít nhất từ ười Vi k á ồng bằng Bắc bộ” [22, tr.100]

Các nhà nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ III hoặc thứ II trước công nguyên bởi vì Phật giáo

là tôn giáo ngoài đưa vào Việt Nam sớm nhất, có tác giả đã viết: “ Có tài li u

ó o Phật vào ta khoảng thế kỉ III ước côn ê ưới thời vua Dục” [9, tr.141]

Một số nhà nghiên cứu cho rằng tục thờ Mẫu có nguồn gốc từ thời Tiền

sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên như: trời, đất, sông nước, rừng núi….Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tôn vinh các vị thần được cho là có khả năng siêu phàm, có thể điều khiển được thiên nhiên vốn mang tính quy luật Trong quá trình mưu sinh tìm nguồn sống, con người luôn vẫn phải dựa vào thiên nhiên vì thế họ đã tôn thờ các hiện tượng tự nhiên như đấng tối cao là Mẫu và thờ Mẫu, mong muốn Mẫu s là người bảo trợ và che trở cho đời sống con người, là cứu cánh của mọi khổ đau bất hạnh

Các vị được thờ trong các đền, chùa, miếu, điện; đặc biệt là có Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ trong một loại hình kiến trúc riêng là Phủ: Phủ Dầy, Phủ Tây Hồ Vào đến miền Nam, “Ðạo” này đã hoà nhập “Mẫu” với các nữ thần trong tín ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)

Theo GS Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu bắt nguồn từ thờ nữ thần (thần Lúa) và thờ mẫu thần (bà Ỷ Lan), nó mang tính bản địa, cái đó có từ thời nguyên thủy Phát hiện khảo cổ học hiện nay người ta đã đào được tượng của

nữ thần, tượng của phụ nữ với những đặc tính nữ tính rất rõ rệt Những yếu tố bản địa phải đến thế kỷ thứ XV-XVI khi đạo thờ nữ thần, mẫu thần bản địa

Trang 16

Việt Nam tiếp xúc với đạo giáo Trung Hoa, chúng ta đã tiếp nhận một số đặc điểm nào đó và từ đó mới hình thành nên đạo mẫu tam phủ, tứ phủ

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa và

“ ó ể í ưỡ ớ ấ ườ V ướ k ập tam

á P ậ N Đ ” [10, tr.145]

Trên một đất nước đa dân tộc và tồn tại nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng, khi muốn nhận diện, phân biệt nhất là đối với những hình thức tín ngưỡng bản địa còn mang nhiều dấu vết nguyên thuỷ của cư dân nông nghiệp,

ta không thể tránh khỏi những khó khăn

Với đạo Mẫu cũng vậy, sự nhận diện dễ dàng cũng không thể có được, bởi những nơi thờ riêng, vì bề ngoài nó cũng giống như một ngôi chùa, một ngôi đình, hay một ngôi đền bất kỳ nào khác Điện thờ Mẫu có ở khắp mọi nơi trên đất nước, từ đồng bằng lên miền núi, và cả ở trong khu cư trú của cộng đồng người Việt ở nước ngoài Có nơi nó tồn tại là một đền phủ nguy nga, có nơi nó chỉ là một ban thờ khiêm tốn đặt tại một góc trong một ngôi chùa, một điện thờ nhỏ trong từng gia đình Cho nên người ta chỉ nhận diện được nơi thờ Mẫu khi quan sát từng nét riêng trong từng chi tiết của kiến trúc tổng thể của điện thần, và nhất là ở sự bày bố điện thờ, và những nghi thức cầu cúng Chính những nét riêng ấy đã làm nên những đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (xuất phát từ quan niệm nguyên thủy: mọi vật đều sinh ra từ Mẹ) khiến cho tín ngưỡng này là một hình thức tín ngưỡng thuần phác, đặc biệt của dân tộc Việt

Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu chính là tín ngưỡng hướng về đời sống trần thế hiện tại, chứ không phải là mai sau hay ở thế giới bên kia, đây là điểm khác biệt của tín ngưỡng thờ Mẫu với nhiều tôn giáo khác Hiếm có một tôn giáo, tín ngưỡng bản địa nào mà lại tiềm tàng sức tự biến đổi, “tr hóa” như là tín ngưỡng thờ Mẫu Nó không chỉ có sức sống ở trong chế độ phong kiến

Trang 17

quân chủ mang nặng hệ ý thức Nho giáo, mà nó còn tiềm ẩn và bùng phát trong xã hội đô thị hóa, công nghiệp hóa hiện tại

1.1.2 Truyền thuyết Mẫu Âu Cơ

Truyền thuyết kể lại rằng: Vua Đế Minh phong cho Đế Nghi làm Vua ở phương bắc, Lộc Tục làm Vua ở phương nam Lộc Tục lên ngôi Vua khoảng năm 2879 (TCN) xưng là Kinh Dương Vương Năm 2793 trước công nguyên, Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Sùng Lãm xưng là Lạc Long Quân Thần thọa kể rằng, ngày xưa Lạc Long Quân đi tuần thứ gặp Âu Cơ như một lời thơ đã tả:

“T ầ ươ N ếc cõi trời

Mâ ă ẻ d ă ươ Gặp tiên kết nối duyên thần tho i Sinh h ă ối trị ời”[8, tr 21]

Lạc Long Quân đã kết duyên cùng với nàng Âu Cơ là con gái của Đế Lai và Ngọc Nương ở động Lăng Xương (huyện Thanh Thuỷ ngày nay) Tục truyền rằng khi Ngọc Nương phu nhân sinh nàng Âu Cơ thấy có mây lành che chở, hương thơm tỏa ngát khắp nơi, là điềm “Tiên Nữ giáng trần” Nàng Âu

Cơ rất xinh đẹp “So hoa hoa biết nói, so ng c ng á ươ ” ă c

chữ, giỏ á ô â ậ “k á Tươ k é é t

t a nàng Lộng Ng c tài cao”[4, tr 15]

Theo các nguồn tư liệu hiện biết sau khi Lạc Long Quân (con trai của Kinh Dương Vương) kết duyên cùng Âu Cơ (con gái của Đế Lai), tại vùng núi đất tổ Nghĩa Lĩnh, Âu Cơ đã sinh ra một bọc trứng, rồi từ bọc trứng đó, nở thành một trăm người con trai Khi các con lớn lên, một hôm Lạc Long Quân

nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồ ứ ầu th y tộc, nàng là giống Tiên

sống trên c n là chính, th y hỏ ươ k ắc, k í â ươ ợp l i mà sinh

Trang 18

ược” [13, tr 173] Nói rồi, họ bèn chia 50 người con theo cha xuống biển, 50

người con theo mẹ lên núi, để được truyền đời lâu dài, về sau tất cả các con đều hóa thần

Trong số 50 người con theo Âu Cơ, người con cả được nối ngôi vua, lấy hiệu là Hùng Vương, lập ra nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (vùng đất

tổ, nơi có đền Quốc Tổ Hùng Vương hiện nay) Các Vua Hùng truyền ngôi cho nhau, qua 18 đời, trị vì đất nước trong 2621 năm (từ năm Nhâm Tuất

2879 đến năm 258 TCN)

Âu Cơ vốn nổi tiếng là người phụ nữ xinh đẹp, tài giỏi Thường ngày,

Bà thường cùng các con du ngoạn khắp nơi Đi đến đâu, Bà cũng cùng các con chăm lo việc dạy dân làm ăn, vun đắp phong tục đẹp,… để có cuộc sống tốt lành, nên được mọi người hết sức quý trọng

Tương truyền, vùng đất Hiền Lương thuở ấy là nơi Âu Cơ đã qua lại nhiều lần và đã có nhiều công lao, để lại nhiều kỷ niệm tốt đẹp với nhân dân trong vùng Bà cùng các con đã cho khai hoang lập ấp, dạy dân cấy lúa, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, làm bánh, rồi đào giếng Loan, giếng Phượng để lấy nước sạch,… Khi vùng đất Hiền Lương đã trở nên trù phú, Âu Cơ đã quyết định để người con trai thứ hai của mình (là Đột Ngột Cao Sơn), cùng hai người cháu (các con của ngài Cao Sơn - là Hùng Trấn Quý Minh và Hùng Trấn Bảo Quốc) ở lại để tiếp tục trông nom đất này, rồi Mẫu hóa về trời

Về việc này, theo nhân dân trong vùng lưu truyền, thì vào lúc nửa đêm ngày 25 tháng Chạp, giữa lúc trời nổi mưa to gió lớn, Mẫu đã bay về thượng giới Vì không muốn các con biết mình rời hạ giới, Mẫu vội vàng ra đi đến nỗi để dải yếm của mình bị rơi lại, vướng vào cành đa cổ thụ ở cạnh giếng Loan, giếng Phượng Để tỏ lòng nhớ ơn thánh Mẫu, nhân dân Hiền Lương đã

lập đền thờ Mẫu ngay dưới gốc đa cổ thụ này Một văn bản cổ - “N c phu

nhân Quốc m  Cơ ổ truyề ” (với ghi chú là được lập từ thời vua Lê

Trang 19

Thánh Tông, được Thượng thư Nguyễn Hiền sao lục), hiện đang lưu tại đền,

có nội dung cho biết: “Thánh Mẫu (Âu Cơ) lúc tuổi già thường đi du sơn thủy Vào mùa Xuân, ngày 7 tháng Giêng, đến đây (Hiền Lương) thấy núi non sơn thủy hữu tình, đông đúc khí thiêng, là nơi sinh ra anh hào Lập tức truyền dừng xa giá, trú tại bản trang, lập trại, mệnh cho một vương tử ở đây để khai

hóa nhân dân Sau mỗi năm, thánh Mẫu ắt đến trại một lần để thăm quang

cảnh vật trù dân phú, phong tục thuần hậu, bèn triệu tập phụ lão trong trang đến tuyên thị đức ý và dạy dân biết lấy đường mía và gạo nếp làm thành bánh chay để dùng vào việc cúng tế mùa xuân Thánh Mẫu cùng dân vui v Dân trong trang hàm ý kính yêu thánh Mẫu như từ mẫu, vỗ về an ủi như thần tiên xuống trần giới Hạc giá bay về trời, đó là ngày 25 tháng 12, mùa Đông Triều đình truyền lễ thành phục, truyền chỉ toàn quốc để tang Sau triều đình xem xét biết thánh Mẫu lập trại ở bản trang, bèn sai sứ giả đến bản trang triệu tập nhân dân lập đền kỷ niệm thờ tự, bốn mùa quanh năm hưởng cúng tế”

Đến thời Lê Sơ (1428-1527), dưới triều vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức năm thứ 6 (1465), vua sai ngài giám quốc sư đến Hiền Lương phong thần, cấp tiền, xây dựng đền Mẫu Âu Cơ, giao cho nhân dân xã Hiền Lương thờ phụng Thật là lâu dài tốt đẹp, rực rỡ ngàn năm, càng ngắm càng cao, muôn thủa càng truyền càng kính, đời đời khói hương không dứt

Đền Âu Cơ với vị trí của nó, đánh dấu con đường đi lên miền núi khai hoang mở đất của bà Âu Cơ, bà mẹ của dân tộc ta Có một điều thú vị là nếu

ta lấy Đền Hùng làm trung tâm thì khoảng cách từ đây đến Bình Đà (Thanh Oai, Hà Tây), dến Thuận Thành, Gia Lương (Bắc Ninh) nơi đây có những địa điểm thờ Lạc Long Quân và đến đền Hiền Lương thờ Âu Cơ có độ dài tương đương nhau

Kể từ sau khi Thánh Mẫu Âu Cơ hóa, cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng

Trang 20

thường được gọi là ngày “Tiên giáng”, nhân dân Hiền Lương lại mở lễ hội để

cúng tế và tổ chức các hoạt động nhằm tưởng nhớ, tri ân công đức của Thánh Mẫu với địa phương Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ đã được ra đời trong bối cảnh đó

và được lưu truyền đến ngày nay, trở thành một lễ hội lớn trong vùng

Như vậy theo thần tích và truyền thuyết thì Hiền Lương là nơi tập trung trang ấp và là nơi mất của Tổ Mẫu Âu Cơ

1.2 Sự hình thành đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ

Hòa, tỉnh Phú Thọ trước năm 1986

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa của xã Hiền

Lương, huyện Hạ Hòa

Huyện Hạ Hòa xưa kia thuộc tỉnh Sơn Tây, phủ Lâm Thao, ở phía Tây Bắc Phủ Từ phía Đông đến phái Tây cách nhau 14 dặm, từ phía Nam đến phía Bắc cách nhau 38 dặm Phía Đông đến địa giới huyện Thanh Ba 3 dặm; phía tây đến địa giới huyện Trấn Yên và Văn Chấn tỉnh Hưng Hóa 11 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Cẩm Khê 9 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện Trấn Yên tỉnh Hưng Hóa và địa giới châu Thu tỉnh Tuyên Quang 29 dặm

“ Huy ê ất quận Giao Chỉ thời Hán Từ ờ Đ Lí ề

sau g i là H Hòa Thời thuộc Minh v ể ư ộc châu Thao Giang

c a ph Tam Gian Đờ Lê ổi thuộc ph T G Nă T u Trị thứ

ă (1845) ổi l ê Nă T Đức thứ ă (1852) ỏ chức Tri huy n,

do huy n Thanh Ba kiêm nhiế Nă ứ 17 (1864), khôi phục l ư lãnh tám tổ 19 xã ô ường”[18, tr 1434 - 1435]

Hạ Hòa nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Phú Thọ, gồm 33 xã, 1 thị trấn nằm ở hai bên sông Thao, phía Đông Bắc giáp huyện Đoan Hùng trên một đoạn dài 32,15 km, phía Nam giáp huyện Cẩm Khê (19,369km), phía Đông Nam giáp huyện Thanh Ba (19,618km), phía Tây Nam giáp huyện Yên Lập (16,475km), phía Tây Bắc giáp hai huyện Trấn Yên, Yên Bình (Yên Bái- 37,511km)

Trang 21

Huyện có diện tích 339,34km2 Tính đến năm 2003, Hạ Hoà có 108.712 người, tỷ lệ tăng dân số trung bình là 1%/ năm Phần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn (chiếm trên 90%) Trong đó có 56.940 người trong độ tuổi lao động, chiếm 52,5%

Trong số 33 xã của huyện Hạ Hòa thì đền Mẫu Âu Cơ ngự tại xã Hiền Lương Hiền Lương ở phía Tây Bắc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; phía Bắc giáp xã Liên Phương (huyện Hạ Hòa), phía Tây giáp các xã Minh Quân, Việt Cường, Vân Hội (huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái), phía Tây Nam và phía Nam giáp xã Quân Khê (huyện Hạ Hòa), phía Đông giáp xã Động Lâm (huyện Hạ Hòa) Hiện nay, xã Hiền Lương bao gồm 07 thôn (cũng gọi là 07 khu): Việt Hồng, Tân Trường, Quyết Tiến, Tân Tiến, Hạnh Phúc, Nang Sa và Minh Tiến

Từ xa xưa, Hiền Lương đã nổi danh là vùng đất địa linh Đây là vùng đất nằm trong địa bàn trung tâm của nước Văn Lang thời các Vua Hùng, với nét cảnh quan đặc biệt là có sông Thao từ phía Bắc (Lào Cai, Yên Bái) chảy qua địa phận xã, rồi tiếp tục chảy xuôi về châu thổ Bắc Bộ, như một mạch nối/chuyển tiếp các yếu tố địa lý - nhân văn quan trọng giữa miền núi cao (ở trên) với vùng đồng bằng/châu thổ thấp (ở dưới) Cảnh quan địa lý - nhân văn đặc biệt đó chính là một trong những cội nguồn quan trọng đưa tới sự ra đời đền thờ thánh Mẫu Âu Cơ và Lễ hội của đền trong lịch sử, được lưu truyền đến ngày nay, trên mảnh đất Hiền Lương

1.2.2.Kiến trúc đền Mẫu Âu Cơ

Trong lịch sử tồn tại mấy ngàn năm, đền thờ Mẫu Âu Cơ đã ba lần được các triều đại nhà nước Việt Nam sắc phong Lần thứ nhất dưới triều vua Lê Thánh Tông (1428-1527), nhà vua đã sai giám quốc sư lên Hạ Hòa phong thần và cấp tiền cho nhân dân tôn tạo đền Mẫu Âu Cơ Dưới triều Nguyễn,

Trang 22

Mẫu Âu Cơ được Bộ Văn hóa thể thao cấp bằng công nhận di tích lịch sử quốc gia

Đền Mẫu Âu Cơ được xây dựng thời Hậu Lê Kiến trúc ngôi đền này tuy rằng không đồ sộ nhưng có những bức chạm gỗ quý được coi là những tiêu bản của nghệ thuật đương thời

Đền Mẫu Âu Cơ là một công trình nghệ thuật kiến trúc có giá trị cao với các kết cấu kiến trúc đền chùa cổ, các pho tượng quý như tượng Âu Cơ, tượng Đức Ông, các bức chạm quý và nhiều cổ vật vô giá Khu vực đền là một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài khoảng 200m và chiều rộng khoảng 150m với tường cao bao quanh

Đền Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên một khoảng đất rộng giữa cánh đồng Nơi này trước đây là một quả gò, xung quanh có nhà dân ở nên được gọi là xóm Gò Thị Năm 1975 khi quan giám quốc sư của triều đình về thấy giữa cánh đồng có một gò đất cao nổi lên Ngôi đất ấy có dòng nước chảy đến, có án che phía trước (núi Gián), sau có rồng bao ( sông Hồng), ngôi đất này phát anh tài, nhân dân thanh tú, nhân vật phú cường nên bèn cho xây dựng đền Tổ Mẫu Âu Cơ Trải qua nhiều thế kỉ, do sự bồi đắp của phù sa sông Hồng đến nay quả gò đã trở thành bình địa

Trang 23

như cánh chim Lạc, trụ biểu đá giống như cây bút đang viết lên trời xanh cho nhân dân ta vừa cảm giác gần gũi với mẹ vừa thiêng liêng cao quý

Xưa kia đền dựng kiểu 5 gian thờ dọc, mái lợp ngói ngũ hài cổ kính Các cột dọc đều được làm bằng gỗ tứ thiết, sơn son thiếp vàng v hình rồng cuốn rất trang nghiêm Kết cấu vì kèo theo kiểu chồng giường hạ bẩy Trên các đâu tư, đầu bảy, xà ngang, cốn nách, câu đầu được đục chạm tỉ mỉ hình tứ linh, hoa lá có giá trị mĩ thuật cao, kỹ thuật tinh xảo Đặc biệt các bức chạm trên cốn mê, cửa võng và xung quanh cửa thượng cung được trạm khắc hết sức công phu các hình tứ linh, tứ quý với kĩ thuật đục bong, trạm nổi đuôi sơn son thiếp vàng lộng lẫy, uy nghi

Gian trong cùng của ngôi đền tạo dựng một thượng cung thờ cao 2,2m rất bề thế Trên đặt khám thờ lồng kính 3 mặt Thượng cung và khám mẫu đặt tượng Mẫu Âu Cơ ngồi uy nghiêm trên ngai dáng v hiền hòa, nhân từ Diềm xung quanh cửa khám chạm thủng nhiều lớp theo đề tài tứ quý: tùng, cúc, trúc, mai rất đẹp mắt và mềm mại trong lòng khám tượng đặt tổ Mẫu Âu Cơ ngồi uy nghi trên ngai Tượng cao 0,95m, thể hiện bà Mẫu Âu Cơ mình mặc

áo đỏ yếm hồng, đầu đội mũ lấp lánh kim cương, cổ đeo vòng vàng, một tay cầm viên ngọc, tay kia đặt trên gối thư thái Đây là pho tượng được tạo khắc vào thời Lê, có giá trị cao về nghệ thuật tạo hình và thẩm mĩ

Ngoài ra trong đền còn có nhiều di vật quý khác như tượng Đức Ông nhiều long ngai, sập thờ, án gian được đục chạm tỉ mỉ và tinh tế

Nhìn chung đền Mẫu Âu Cơ không to lớn, đồ sộ nhưng có giá trị cao về nghệ thuật chạm khắc, thể hiện ở trang trí kiến trúc và trên các cổ vật còn lại Cách đền Mẫu Âu Cơ 500m về phía Đông xưa kia có đình Hiền Lương Đình thờ Đức Ông Đột Ngột Cao Sơn Thánh Vương nước Nam Việt thời các vua Hùng và hai người con là Hùng Trấn Quý Minh và Hùng Trấn Quốc Bảo

Trang 24

ướ ậ ô á ơ ố ộ k ắ ấ â ĩ ể òa

ụ ô ậ ớ ” [4, tr 21]

Cách không xa về phía Tây Nam xưa kia là chùa Hiền Lương, tên chữ là Linh Phúc Tự Trong chùa có 20 pho tượng cổ và một chuông đồng đề 4 chữ lớn “ Linh Phúc Tự Chung” Chùa được xây dựng trên đỉnh gò độc đạo tạo nên khung cảnh thâm nghiêm tĩnh mịch

Như vậy đền Mẫu Âu Cơ không phải là một công trình nguy nga, tráng

lệ mà đây là một công trình mang đậm kiến trúc địa phương, tuy ngôi đền và không gian nhỏ nhưng kiến trức của đền được xây dựng rât tinh tế Nhìn chung đền tuy không đồ sộ nhưng nó hàm chưa ý nghĩa văn hóa tâm linh vô cùng to lớn, thể hiện tín ngưỡng truyền thống của các thế hệ người Việt về mẹ

Âu Cơ huyền thoại đã cùng lạc Long Quân sinh ra dân tộc Việt Nam

1.2.3 Hoạt động của đền Mẫu Âu Cơ trước năm 1986

Trải qua hơn năm thế kỉ từ khi vua Lê Thánh Tông cho xây dựng cho đến nay di tích đền Mẫu Âu Cơ, đình và chùa Hiền Lương đã có nhiều thay đổi

Cuối năm 1946, khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, ta lại phá đình nhằm thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến của Đảng Nhân dân đưa tượng Đột Ngột Cao Sơn và bài vị hai ngài Hùng Trấn Quý Minh và Hùng Trấn Quốc Bảo vào thờ trong đền Mẫu

Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ xưa kia do nhân dân xã Hiền Lương tổ chức Xã

Hiền Lương xưa (ít nhất là đến đầu thế kỷ XIX) “là một trong 8 xã thuộc tổng

Động Lâm, huy n H Hoa, ph Lâm Thao, trấ Sơ Tâ (8 xã: Động Lâm, Lâm Lợi, Tiểu Ph m, Hiề Lươ Bảo Lợi, Bằng Ki n, Nang Sa, Tùng Xuân)

- Đế ă 1841 N ễn mớ ổi tên huy n H Hoa thành huy n H Hòa” [25, tr 1433] Sau Cách mạng tháng Tám, xã Hiền Lương xưa thuộc về

Trang 25

xã Âu Cơ, huyện Hạ Hòa Một số già làng còn cho biết, xã Hiền Lương xưa, thường gọi là làng Hiền, có 03 xóm, gồm xóm Chợ, xóm Gò Thị và xóm Lón

Xã Hiền Lương (huyện Hạ Hòa) hiện nay, là xã được thành lập sau này,

bao gồm 7 thôn làng xưa (nay gọi là các “khu”), trong đó có xã Hiền Lương xưa Bảy “khu” của xã Hiền Lương hiện nay là: Việt Hồng, Tân Trường, Hạnh Phúc, Quyết Tiến, Tân Tiến, Nang Sa, Minh Tiến; trong đó, thuộc về xã/làng Hiền Lương xưa là các “khu”: Tân Trường, Việt Hồng, Hạnh Phúc Theo nhân dân địa phương cho biết, Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ xưa kia là

do nhân dân xã Hiền Lương xưa/làng Hiền (tức là nhân dân thuộc về các

“khu” Việt Hồng, Tân Trường, Hạnh Phúc hiện nay) tổ chức

Diễn trình lễ hội: Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ xưa kia diễn ra trong ba ngày,

từ mồng 7 đến mồng 9 tháng Giêng, chính hội là ngày mồng 7

Mồng bảy trong tiết tháng Giêng Dân Hiền tế lễ trống chiêng vang trời

Ngay từ khi đền được xây dựng thì hàng năm đều tổ chức các hoạt động lễ hội thường niên mà cho đến tận ngày nay vẫn được tiếp tục duy trì và ngày càng phát triển hơn

Mọi công việc chuẩn bị cho lễ hội luôn được thực hiện một cách khẩn trương nhất Đó là chuẩn bị chọn người cho đội tế nam và tế nữ, chuẩn bị lễ vật cúng dâng lên thánh Mẫu

Đặc biệt sau những năm tháng kháng chiến chống Pháp thì khu đình thờ Đức Thánh Cả bị phá, vì vậy những năm tiếp sau đó, tức là khoảng những năm 60-80 của thế kỉ XX nhân dân cố gắng phục dựng lại khu đình thờ Đức Thánh Cả để lễ tế nam được thực hiện đúng nghi lễ của nó

Mặc dù trong thời gian những năm 60-80 của thế kỉ XX có rất nhiều biến động của tình hình đất nước, tuy nhiên mọi hoạt động ở đền Mẫu Âu Cơ không bao giờ bị gián đoạn mà vẫn được tổ chức

Trang 26

Tiểu kết chương 1

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng truyền thống có từ lâu đời của dân tộc Việt Nam nhất là cư dân khu vực đồng bằng Bắc Bộ Sự phát triển mạnh m của tín ngưỡng thờ Mẫu xuất phát từ tính nhân văn, tính nghệ thuật

và khả năng đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân Đặc biệt trong đó là tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

Có thể nói, Hạ Hòa là một vùng đất có giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể sâu sắc Trên nền tảng kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lễ hội ở huyện Thanh Thủy càng trỏe nên phong phú, đa dạng Những hoạt động ấy gắn liền với đền Mẫu Âu Cơ một cách chặt ch từ xưa cho đến nay

Đền Mẫu Âu Cơ ở Hạ Hòa từ khi được xây dựng luôn được nhà nước quan tâm để chăm lo, tu sửa với mục đích gìn giữ những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp này Điều này thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam nói chung và người dân Phú Thọ nói riêng

Trang 27

Chương 2

HOẠT ĐỘNG Ở ĐỀN MẪU ÂU CƠ TRONG THỜI KÌ 1986 – 2016 2.1 Công tác tổ chức, quản lí hoạt động của đền

2.1.1 Về công tác tổ chức quản lí

Hoạt động của công tác quản lý di tích là xây dựng đề án, dự án, nhằm bảo tồn tôn tạo, xã hội hóa các hoạt động văn hóa góp phần nâng cao chất lượng phục vụ du khách Tuyên truyền quảng bá phát huy các giá trị lịch sử văn hóa của di tích gắn với phát triển du lịch

Năm 2006, UBND tỉnh đã ra quyết định thành lập Ban quản lý Khu di tích Đền Mẫu Âu Cơ trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện Hạ Hòa - đơn vị trực tiếp quản lý và tổ chức các hoạt động tại di tích, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa toàn bộ các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị khu di tích, trong đó có việc thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ đi vào nề nếp, chất lượng và hiệu quả

Cơ chế hoạt động của Ban quản lý xuất phát từ thực tế nhu cầu của nhân dân và yêu cầu đòi hỏi phát triển bền vững của đất nước Phát huy vai trò tích cực tự nguyện của nhân dân tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội

về vai trò ý nghĩa, giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng ngày càng được nâng cao Xã hội hóa công tác bảo tồn tôn tạo di tích phát huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng đạo đức Vinh dự và tự hào cho Đảng bộ và nhân dân huyện Hạ Hoà được thay mặt cho nhân dân cả nước trực tiếp quản lý hương khói phụng thờ nơi duy nhất mà Mẫu đã chọn để gắn bó với cuộc đời mình và hóa về trời Hình

Trang 28

mãi trong tư tưởng tình cảm và tâm trí của các thế hệ người Việt Nam, đó là kết tinh một bài học lịch sử có ý nghĩa xuyên suốt chính là sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc

Huyện Hạ Hòa đã đề ra chủ trương, biện pháp củng cố tổ chức, bộ máy của Ban quản lý khu di tích đền Mẫu Âu Cơ theo hướng tinh gọn, nhưng phải đảm bảo yêu cầu hoạt động quản lý, bảo tồn, gắn với tuyên truyền quảng bá phát huy các giá trị lịch sử văn hóa của khu di tích gắn với phát triển du lịch đảm bảo phát triển bền vững trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng

Xác định cụ thể vị trí việc làm trong đơn vị để tăng cường năng lực hoạt động của Ban quản lý, lấy hiệu quả hoạt động là trọng tâm Để đáp ứng được hiệu quả hoạt động tốt nhất đồng thời để phù hợp với năng lực và trình độ của các cá nhân mà cần xác định vị trí việc làm, số lượng người làm việc, cơ cấu nhân sự theo chức danh nghề nghiệp

Trước hết là việc xác định vị trí việc làm thì chia ra làm ba loại: thứ nhất

là vị trí lãnh đạo, quản lí, điều hành Đây là vị trí cao nhất của ban quản lí di tích, gồm có cấp trưởng và cấp phó Cấp trưởng có nhiệm vụ là trưởng ban lãnh đạo, quản lý, điều hành chung mọi hoạt động của đơn vị Vị trí cấp phó

có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo xây dựng kế hoạch, phương án công tác bảo vệ, tiếp nhận công đức, quản lý chăm sóc vườn cây lưu niệm, trực đón tiếp khách

Thứ hai, Vị trí việc làm gắn với công việc hoạt động nghề nghiệp: viên

chức giữ gìn tôn tạo bảo quản, khu di tích và hướng dẫn viên

Thứ ba, Vị trí việc làm gắn với công việc hỗ trợ, phục vụ, bao gồm: kế toán, văn thư, thủ quỹ, bảo vệ, tạp vụ

Trên cơ sở xác định được vị trí việc làm các công việc cụ thể như trên để xác định được chính xác số lượng người làm việc được thể hiện qua bảng số liệu sau đây:

Trang 29

TT Vị trí việc làm Số lượng

người làm việc

I Vị trí việc làm gắn với công việc lãnh đạo quản lý, điều

hành

2

1 Vị trí cấp trưởng đơn vị sự nghiệp công lập 1

2 Vị trí cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp

công lập

1

II Vị trí việc làm gắn với công việc hoạt động nghề nghiệp

1 Viên chức giữ gìn tôn tạo bảo quản, khu di tích 2

III Vị trí việc làm gắn với công việc hỗ trợ, phục vụ

nhiệm)

[23, tr 5 ]

Cơ cấu cụ thể của Ban quản lí khu di tích lịch sử đền Mẫu Âu Cơ hiện nay gồm có hai bộ phận chính: lãnh đạo ban quản lí và viên chức Lãnh đạo ban quản lí khu di tích gồm có Trưởng ban là bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó trưởng ban là ông Nguyễn Minh Hảo Giúp việc cho trưởng phó ban quan lí bao gồm tổ trưởng các bộ phận và trưởng ca trực

Viên chức trong Ban quản lí đền gồm có: ông Nguyễn Công Chuyên (tổ trưởng tổ bảo vệ), ông Phùng Thế Tài (phụ trách công tác tuyên truyền, in

Trang 30

ấn), bà Lê Thị Thanh Tâm (tổ trưởng công đoàn cơ quan), bà Nguyễn Thị Huyền Trang (kế toán)

Nhân viên hợp đồng cuả Ban quản lí đền gồm có: ông Nguyễn Việt Thắng (tổ phó bảo vệ cơ quan), bà Nguyễn Thị Thanh Duyên (tổ trưởng tổ vệ sinh môi trường), bà Lê thị Kim Dung ( lễ tân kiêm hướng dẫn viên), bà Bui Thị Đức ( đón tiếp khách và ghi công đức), bà Đào Thị Hồng Mận (đón khách

và ghi công đức), ông Lê Chiến Thịnh ( bảo vệ và trông giữ xe), ông Phạm Huy Tùng (bảo vệ cơ quan), ông Vũ Ngọc Sơn ( chăm sóc vườn cây), bà Hoàng Thị Đồng (tạp vụ, nấu cơm, vệ sinh cơ quan), bà Nguyễn Thị Liên (thay nước, thay hoa)

Cơ cấu tổ chức của Ban quản lí khu di tích đền Mẫu Âu Cơ rất chặt ch , quy củ, gồm một hệ thống từ cấp trên xuống Những người làm việc trong Ban quản lí đền đều được tuyển chọn rất chặt ch , họ là những người có hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực văn hóa nói chung và về khu di tích đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa) nói riêng Ban quản lí này hoạt động theo sự chỉ đạo của Sở Văn hóa du lịch của tỉnh, huyện

Cùng với sự quan tâm của UBND tỉnh và UBND huyện Hạ Hòa, Ban quản lý khu di tích cùng chính quyền địa phương đã tích cực huy động các nguồn lực khác, với sự đóng góp của nhiều tổ chức, cá nhân, để tiến hành tu

bổ, tôn tạo khu di tích và tăng cường cơ sở vật chất cho việc thực hành tín ngưỡng Mặt khác, công tác tuyên truyền, quảng bá giá trị của khu di tích đền Mẫu Âu Cơ và Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương, Hạ Hòa đã được triển khai khá tích cực và hiệu quả trong những năm qua Cùng với việc biên soạn, xuất bản (và tái bản) tập sách Khu di tích lịch

sử đền Tổ Mẫu Âu Cơ, Ban quản lý khu di tích còn thường xuyên phối hợp triển khai việc tuyên truyền, quảng bá giá trị của di tích và tín ngưỡng trên các báo, tạp chí, các đài phát thanh, truyền hình ở trung ương, địa phương Bên

Trang 31

cạnh đó, Ban quản lý khu di tích còn thường xuyên phối hợp với các trường học trên địa bàn huyện tổ chức đưa nội dung giáo dục về truyền thống lịch sử văn hóa của địa phương, trong đó có nội dung giáo dục về di tích đền Mẫu Âu

Cơ và Tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ vào giáo dục học đường Những hoạt động đó đã thực sự góp phần quảng bá ngày càng rộng rãi giá trị của khu di tích và tín ngưỡng này trong nhân dân địa phương cùng công chúng cả nước Ngoài ra hàng năm, lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch và lãnh đạo Huyện ủy, UBND cùng các cơ quan chức năng của huyện Hạ Hòa đều có chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra sát sao công tác quản lý,

tổ chức thực hành tín ngưỡng Nhờ đó, việc thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu

Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương, Hạ Hòa ngày càng được tổ chức nề nếp hơn, đảm bảo giữ gìn và phát huy tốt nhất những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng Những năm gần đây, các hoạt động thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu

Âu Cơ tại đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương, Hạ Hòa có được sự chỉ đạo trực tiếp của UBND huyện Hạ Hòa và sự hướng dẫn, hỗ trợ của các cơ quan chức năng thuộc huyện, trực tiếp là Ban quản lý Khu di tích đền Mẫu Âu Cơ Trong quá trình này, do không gian văn hóa gắn với tín ngưỡng có ít nhiều thay đổi (Khu đình thờ Đức Thánh Cả bị phá trong những năm kháng chiến chống Pháp) và do một số nhận thức, biện pháp liên quan đến việc thực hành tín ngưỡng có những điểm còn hạn chế, nên trong các hoạt động thực hành tín ngưỡng, việc tổ chức lễ hội đã có một số biến đổi Nhận thức được điều này, với quyết tâm phục hồi và duy trì tín ngưỡng theo nét đẹp truyền thống, cùng với việc Nhà nước quan tâm đầu tư tu bổ, tôn tạo Khu đền Mẫu, Ban quản lý Khu di tích đền Mẫu cùng chính quyền và nhân dân địa phương đã chủ động, tích cực huy động các nguồn lực để khôi phục thành công khu đình thờ Đức Thánh Cả, đồng thời tổ chức nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, tích cực chuẩn

Trang 32

bị, để bắt đầu từ năm 2017, lễ hội s được tổ chức với những nội dung, diễn trình và giá trị truyền thống

2.1.3 Các hoạt động hàng ngày ở đền Mẫu Âu Cơ

Không chỉ trong thời gian diễn ra lễ hội, mà ngay cả trong các hoạt động thường nhật hàng ngày thì mọi hoạt động của đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa) đều được diễn ra trong khuôn khổ chỉ đạo của Ban quản lí khu di tích Để đảm bảo cho tất cả các công việc đều được thực hiện đầy đủ thì Ban quản lí luôn phải quan tâm, theo dõi và có kế hoạch hoạt động cụ thể Mỗi một người trong Ban quản lí đều được phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng

Trước hết, nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, hướng về cội nguồn của nhân dân trong vùng cũng như tấm lòng của khách thập phương nên đền Mẫu

Âu Cơ ở xã Hiền Lương, Hạ Hòa (Phú Thọ) mở cửa đón tiếp khách vào tất cả các ngày trong năm, kể cả ngày lễ tết

Theo sự phân công của Ban quản lí thì ban lãnh đạo gồm có bốn vị trí quan trọng, đó là: trưởng ban là thủ trưởng cơ quan, phụ trách chung, là chủ tài khoản, chịu trách nhiệm trước Huyện Ủy, UBND huyện về toàn bộ hoạt động của Ban quản lí Trực tiếp chỉ đạo công tác tổ chức, kế toán tài vụ, thi đua khen thưởng, đón tiếp khách, công tác tuyên truyền, công tác vệ sinh môi trường Triệu tập và chủ tọa các buổi họp của Ban quản lí, phân công nhiệm

vụ cho phó trưởng ban, các tổ trưởng, trưởng ca và viên chức, nhân viên, phân công lịch trực và làm việc của Ban quản lí

Phó ban là người thực hiện những nhiệm vụ do trưởng ban phân công và chịu trách nhiệm trước trưởng ban về các lĩnh vực mình phụ trách Thay trưởng ban giả quyết các công việc được trưởng ban đi vắng hoặc được ủy quyền Trực tiếp chỉ đạo công tác bảo vệ, công tác đón nhận công đức, vườn cây lưu niệm Trực tiếp đón khách, thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác Phụ trách chùa Linh Phúc

Trang 33

Tổ trưởng các bộ phận chịu trách nhiệm trước Ban quản lí về các nhiệm

vụ đã được phân công, chỉ đạo bộ phận mình phụ trách thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao Tham mưu, đề xuất với lãnh đạo ban công việc của bộ phận đó

Trưởng ca trực có nhiệm vụ thực hiện điều hành ca trực trên các lĩnh vực theo sự chỉ đạo của Ban quản lí, báo cáo, tham mưu cho lãnh đạo Ban xử lí các công việc trong ca trực

Trên đây là bốn vị trí then chốt trong ban chỉ đạo của Ban quản lí khu di tích đền Mẫu Âu Cơ Ngoài ra để giúp việc cho Ban quản lí đó là cac nhân viên, viên chức Những người trược tiếp được giao những nhiệm vụ cụ thể Mọi công việc trong đền đều được phân công rõ ràng cho từng nhóm hay

cá nhân Trước hết là bộ phận bảo vệ s có nhiệm vụ hàng ngày là bảo vệ an ninh của khu di tích cũng như trông giữ xe, trực tiếp đón khách, ghi công đức

Về công tác tuyên truyền cũng được giao cụ thể cho một người quản lí việc tuyên truyền, trang trí khách tiết, phụ trách bán hàng lưu niệm

Để đảm bảo cho công tác vệ sinh khu di tích luôn được sạch s Ban quản

lí đã giao cho một tổ làm công tác vệ sinh môi trường Đông thời, có một công việc rất quan trọng ở khu di tích là việc thay nước và thay hoa thì đây là một công việc rất được quan tâm, có một bộ phận chuyên làm nhiệm vụ bao sái, thay nước, thay hoa cho các ban thờ và sắp đồ cúng lễ cho khách Hơn nữa mỗi ngày đều có một bộ phận trực để trược tiếp hướng dẫn khách đến sắp

đồ lễ, thắp hương và ghi nhận công đức

Như vậy tất cả mọi công việc hàng ngày của đền Mẫu Âu Cơ đều được

tổ chức, sắp xếp một cách hợp lí để luôn đáp ứng được nhu cầu tâm linh và hơn nữa góp phần gìn giữ được nét đẹp của khu di tích đền Mẫu Âu Cơ

Trang 34

2.2 Hoạt động xây dựng, tôn tạo đền Mẫu Âu Cơ

2.2.1 Đầu tư cơ sử hạ tầng

Đền Mẫu Âu Cơ ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ là một

di tích lịch sử có giá trị quan trọng Việc đầu tư cơ sở hạ tầng bao gồm đầu tư

mô đảm bảo tưới và tiêu nước cho cánh đồng sản xuất nông nghiệp của địa phương

“Đối với h thố ường giao thông theo các tiêu chuẩn hi n hành:

- TCVN 4054 - 1998 ( ường ô tô - yêu cầu thiết kế), tham khảo 22TCN

Trang 35

- Đ ều l báo hi ường bộ 22 TCN 237 – 01.” [24, tr 7]

bãi:

- Khu tiếp giáp với đường QL32C (2 bãi đỗ xe máy), diện tích 6.202m2

- Khu tiếp giáp với cổng chính đền mẫu (1 bãi đỗ xe ô tô), diện tích 9.119m2

- Kết cấu mặt bãi đỗ xe bằng bê tông nhựa nóng

Hệ thống cấp điện: Hiện đã có lưới điện 0,4KV vào Đền mẫu, cột cao 7,5m, xà sứ dây đảm bảo tiêu chuẩn

Hệ thống cấp thoát nước: Cấp nước, hiện nay Đền mẫu Âu Cơ đã có đường ống cấp nước sạch d=32 từ mạng của địa phương tới Đền, đình Đức Ông, chùa Linh Phúc và bãi đỗ xe Thoát nước, theo địa hình tự nhiên và hệ thống kênh tưới tiêu của địa phương

Ngoài các hạng mục như điện, đường, nước thì các công trình khác cũng

được quan tâm đầu tư, cụ thể: “sân hội kết hợp làm bằng bê tông nh a nóng

và bê tông xi mă Cổ ền xây d ng theo kiểu cổng tam quan, có cổng chính giữa rộng 2,7m; cổng vào 2 bên rộng 1,22m; cổng chính cao 7,05m, cổng phụ cao 3,6m, các chi tiế ă ờ ê Tườ 4 í ều xây bằng g ch chỉ ặc cao 1,52m, ộ cao 1m có gắn hàng g ch gốm màu xanh ng kí ước 300x300”[24, tr 9]

Miếu thượng thiên dịên tích xây dựng là 32m2, miếu được xây dựng bằng gạch chỉ, tầng 1 có diện tích 15m2 cao 4,96 thờ thổ địa, sân 17m2 đổ bê tông sỏi M100, lát gạch bát phục chế kích thước 300x300 Miếu cô tại gốc đa (thờ đệ nhất, đệ nhị vương cô)

Ngoài ra còn có các hạng mục khác: được phục dựng theo ngôn ngữ dân gian phù hợp với tổng thể khu Đền cả về hình thức và quy mô

Trang 36

Nhà đón tiếp khách: Diện tích xây dựng 153,78m2, phục vụ việc khách đến tham quan Đền vì công trình nằm trong tổng thể diện tích Đền mẫu nên hình thức kiến trúc được phục dựng theo ngôn ngữ kiến trúc dân gian 5 gian 2

dĩ, nền lát gạch bát phục chế, kết cấu gỗ nhóm II, nhà 4 mái có đầu đao cong, mái lợp bằng ngói mũi hài, tường bao xây gạch chỉ để trần không trát

Nhà trưng bày lưu niệm có diện tích 153,78m2 là nơi trưng bày và giới thiệu lịch sử Đền mẫu Âu Cơ, có hình dáng kiến trúc giống như là nhà khách

vì công trình nằm trong tổng thể Đền mẫu nên hình thức kiến trúc được phục dựng theo ngôn ngữ dân gian 5 gian 2 dĩ Nền lát gạch bát phục chế, kết cấu

gỗ nhóm II, nhà bốn mái được lợp bằng ngói mũi hài

2.2.2 Đầu tư xây dựng tôn tạo

Trải qua một thời gian dài tồn tại cũng như thăng trầm của lịch sử khu di tích đền mẫu Âu Cơ bị xuống cấp, biến dạng, thậm chí mất đi hoàn toàn Những hạng mục tu sửa trước đây như Đền thờ mẫu Âu Cơ; khu di tích cơ bản giữ được hiện trạng và từng bước sửa chữa, tu bổ đi vào hoàn thiện, trong quá trình tu bổ đã theo nguyên tắc tu bổ, tôn tạo di tích Với lượng khách thập phương về thăm viếng Đền như hiện nay từng bước đáp ứng được nhu cầu tâm linh và nhu cầu sinh thái cho cả vùng Vì vậy với cụm di tích Đền mẫu

Âu Cơ nói chung bao gồm Đền thờ Mẫu Âu Cơ, chùa Linh Phúc, đình Đức Ông, phải bố trí quy hoạch cổng vào cụm di tích

Những năm gần đây, lễ hội đền Mẫu Âu Cơ nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân huyện Hạ Hòa và sự hướng dẫn, hỗ trợ của các cơ quan chức năng thuộc huyện; Ban quản lý Khu di tích đền Mẫu Âu Cơ phối hợp cùng chính quyền, đoàn thể và nhân dân Hiền Lương trực tiếp tổ chức lễ hội Trong quá trình này, do không gian văn hóa gắn với lễ hội có ít nhiều thay đổi (Khu đình thờ Đức Thánh Cả bị phá trong Chín năm kháng chiến chống Pháp) và do một số nhận thức, biện pháp liên quan đến việc tổ chức lễ

Trang 37

hội có những điểm còn bất cập, nên nội dung và diễn trình lễ hội đã có một số biến đổi Nhận thức được điều này, với quyết tâm phục hồi và duy trì lễ hội theo nét đẹp truyền thống, cùng với việc nhà nước quan tâm đầu tư tu bổ, tôn tạo Khu đền Mẫu, Ban quản lý Khu di tích đền Mẫu cùng chính quyền và nhân dân địa phương đã chủ động, tích cực huy động các nguồn lực để khôi phục thành công khu đình thờ Đức Thánh Cả

Đền mẫu Âu Cơ trong quá trình tồn tại đã trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo gần đây, trong các năm 1996, 1997, 1998, 2007 đền đã được hỗ trợ kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau để khôi phục lại một số hạng mục Trong các năm 2003 -2007, di tích Đền mẫu âu cơ đã được nhà nước đầu tư quy hoạch

và tu bổ giai đoạn I một số hạng mục như: Nhà khách, nhà bán đồ lưu niệm, nhà tả, hữu vu, giếng loan, giếng phượng, cổng tam quan tường rào, nhà vệ sinh, sân đền, ao sen, mẫu thượng thiên, miếu cô Hiện tại hạng mục cổng đền thờ Mẫu âu cơ đã và đang xuống cấp

Đền mẫu Âu Cơ: Được đầu tư tu bổ năm 1998 và năm 2007 Căn cứ Luật di sản văn hóa và các yêu cầu quy tắc bảo tồn di tích thì việc bảo tồn

di tích, việc tu bổ tôn tạo khu di tích Đền mẫu âu cơ cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Bảo tồn nguyên tắc gồm các thành phần kiến trúc hiện có của di tích,

tu bổ chống xuống cấp các thành phần bị hư hại Chỉ phục hồi các thành phần bị mất, biến dạng khi có các tư liệu đảm bảo độ chính xác, tin cậy về mặt khoa học

Kết hợp công tác bảo tồn với công tác tôn tạo di tích, nhằm nâng cao giá trị thẩm mỹ, tính biểu cảm cho di tích Tuy nhiên việc tôn tạo di tích cần đảm bảo phù hợp, hài hòa với cảnh quan chung cả về kết cấu, kiến trúc cà kỹ thuật

hạ tầng

Trang 38

Đẩy mạnh công tác quản lý, bảo dưỡng thường xuyên nhằm giữ gìn nguyên trạng và lâu dài di tích, phát huy hết các giá trị của di tích trong đời sống tâm linh, kinh tế, văn hóa, xã hội

Năm 1998 được tu bổ theo hình thức Đền có bố cục hình chữ đinh, bái đường 5 gian, hậu cung 3 gian, có kiến trúc nhà kiểu tường hồi bít đốc, 2 trụ biểu làm mới không theo nguyên tắc phục chế hình thức xa rời ngôn ngữ kiến trúc truyền thống, lai tạp không có tỷ lệ, hai bia đá hai bên đền được làm mới

và có hình thức đơn giản, sơ sài, trên khắc rồng chầu không có giá trị về mặt điêu khắc, chữ trên bia đá được dùng là chữ quốc ngữ không có giá trị về mặt nghệ thuật Bậc tam cấp xây dựng gạch chỉ nhưng do chỉ trát và láng vữa xi măng nên hiện tại chân cổ bậc đã bị nứt, toàn bộ bề mặt cũng có hiện tượng như vậy Hàng lan can hiện được làm bằng con tiện xi măng có hình thức kiến trúc này được dùng chủ yếu cho nhà ở kiểu pháp Các chi tiết trang trí hồi bờ nóc gần như không có

Hệ cửa ra vào vách gỗ được tu bổ lần gần nhất không có ngưỡng và toàn

bộ dùng bản lề, ke thép, không tuân thủ theo hình thức cửa công trình truyền thống Nền nhà được lát bằng gạch lá nem thủ công mỏng, chất lượng nung thấp nên đã xuống cấp nhanh chóng Toàn bộ cột gỗ táu được kê trên chân tảng đúc bằng xi măng khi trời mưa dầm thường có hiện tượng thấm mao dẫn làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới cấu kiện gỗ Tường xây bao quanh nhà trát vữa xi măng cát nhưng chưa quét hoặc sơn vôi, tại các vị trí cột bê tông cốt thép trong tường được đắp nổi cột có hình thức kiến trúc lai căng kiểu phương tây Hệ thống kết cấu mái đã xuống cấp toàn bộ ngói đã bị xô gây ra hiện tượng thấm dột, toàn bộ mái theo hệ hoành đã bị mục và xuống cấp Do trước đây khi tiến hành tu bổ đền (năm 1998) không có phương án phòng, chống mối mọt cho công trình vì vậy toàn bộ hệ cột gỗ bắt đầu mọt và xuống cấp

Trang 39

Năm 2007 đền đã được tu bổ theo hình thức: hạ giải toàn bộ ngôi đền cũ (đánh giá giữ lại một số mảng trạm khắc bằng gỗ có giá trị nghệ thuật cao) Xây dựng mới ngôi đền theo kiểu kiến trúc văn hóa cổ, mặt bằng hình chữ đinh Tiền đường gồm 5 gian, 2 dĩ, hậu cung 3 gian, diện tích xây dựng 232.5m2 Kết cấu: Móng cột, móng tường bao che xây gạch chỉ đặc M75, VXM M75, xà, cột, vì kèo, sườn mái bằng gỗ lim chất lượng cao được ngâm tẩm phòng chống mối mọt theo tiêu chuẩn; tường bao che xây gạch bát, nền xung quanh nhà sử lý chống mối, mái lợp hai lớp ngói chiếu, một lớp ngói hài, đắp đầu đao con lân, con giống đầu kìm trên mái, theo kiến trúc văn hóa

cổ, hệ thống điện, phòng cháy chữa cháy theo cấp công trình “ Móng trụ

BTCT chịu l ường xây g ch bao che, trát vữa toàn nhà bằng vữ x ă

ơ 01 ướ ó 02 ước mầu trên di í á ; á á ổ BTCT t i chỗ M200 á ó 75 / 2; H thống cử ửa sổ khuôn kép gỗ nhóm 1; nền lát g ch 400x400; mặt bậ á á Granit, h thố n chiếu sáng thiết kế ồng bộ theo công trình ’’[24, tr 5]

Giải pháp kiến trúc: đối với các hạng mục công trình tu bổ, tôn tạo phục dựng theo lối kiến trúc cổ sử dụng các vật liệu cổ phục chế như gạch vồ, gạch bát, ngói mũi hài, vôi giấy, gốm sứ, đối với các kết cấu gỗ sử dụng

gố lim chất lượng cao, các hoa văn trạm khắc theo các niêm luật cổ thời Hậu Lê Bố cục hình khối công trình theo đúng cách thức cổ truyền dân tộc Đối với các công trình kiến trúc như đền mẫu Âu Cơ, một công trình

đã được tu sửa nhiều lần trong một thời gian ngắn, ngôn ngữ kiến trúc lai tạp nhiều, các di tích gốc gần như không có, vì vậy khi tu bổ cần phải căn

cứ vào niên đại của công trình

Giải pháp vật liệu: Do cụm công trình tu bổ, tôn tạo phục hồi theo lối

Trang 40

chế Đầu đao con giống sử dụng vật liệu cổ truyền kết hợp với vật liệu hiện đại để đảm bảo bền vững công trình Hệ thống chân tảng, bậc tam cấp được

sử dụng bằng đá phiến tự nhiên

Năm 2007 đền Chính được tu bổ lại: Hạ giải toàn bộ ngôi đền cũ các kết cấu cột, xà, dầm, tường, mái, phân loại, đánh giá các giá trị sử dụng, giá trị kiển trúc Thay mới toàn bộ hệ thống kết cấu cũ cho hợp lý và nâng cao giá trị thẩm mỹ của ngôi đền, sử dụng gỗ lim chất lượng cao được ngâm tẩm chống mối mọt cho tất cả các bộ phận của công trình Đánh giá và bảo tồn lại một số mảng trạm khắc có giá trị nghệ thuật cao Nền nhà xử lý phòng chống mối, mọt theo tiêu chuẩn và quy phạm (Hình thức kiến trúc và kết cấu ngôi Đền tuân thủ theo phương án đã được cục di sản văn hóa - Bộ văn hóa thông tin chấp thuận) Đối với các công trình phục dựng mới theo ngôn ngữ dân gian cần tuân thủ các bước kỹ thuật xây dựng truyền thống kết hợp các biện pháp kỹ thuật thi công hiện đại Đối với các công trình phụ trợ xây dựng mới dùng kết cấu BTCT đổ tại chỗ kết hợp gạch đá, vữa xi măng Bố cục, chất lượng công trình tuân theo các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành

Mặt đứng công trình có hình thức bốn mái đầu đao cong, đắp bờ chảy,

bờ nóc Hệ thống cửa bức bàn có ngưỡng kiểu thượng song hạ bản Nội thất bên trong Đền mẫu Âu Cơ được thiết kế theo kiến trúc truyền thống gồm các bài vị bằng gỗ lim chất lượng cao và ngâm tẩm sử lý chống mối, sơn son theứep bạc phủ hoàn kim; đồ để thờ theo thất sự đúc bằng đồng

Giếng Loan, giếng Phượng: Giếng loan là hình tròn có diện tích là 21,2m2, sâu 6,1m, giếng hình nón cụt, thành giếng xây bằng đá đ o Ninh Bình, tang giếng cũng được xây bằng đã đ o Ninh Bình, trên chồng gạch hoa văn gốm, nền lát gạch bát đỏ, phía tây bắc ở thành giếng có miếu thờ theo cổ truyền, sân giếng rộng 3,15m, phía ngoài có tường hoa cao 0,97m được xây theo hình tròn xunh quanh giếng, sân giếng cao 0,45m so với tự nhiên

Ngày đăng: 16/09/2017, 08:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w