II CÁO TRẠNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT: Viện Kiểm Sát cho rằng hành vi của các bị can Lê Hy Minh Hải, Lê Quang Trung, Tống Hữu Thành và Trần Thị Mỹ Thảo đã can tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định ởđiểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự. Điều 194 BLHS quy định: • Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt 2 năm đến 7 năm • Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm b) Phạm tội nhiều lần Do đó Viện Kiểm Sát truy tố ra trước toà án nhân dân quận 7 TP.HCM để xét xử đối với: Lê Hy Minh Hải, Lê Quang Trung, Tống Hữu Thành và Trần Thị Mỹ Thảo (có lý lịch nêu trên) về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự. III XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG 1 Hội đồng xét xử: ● Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN HOÀNG LONG ● Các hội thẩm nhân dân: Bà NGUYỄN THỊ THẢO MY Chủ tịch Hội phụ nữ Quận 7 Ông: PHAN HUY THÁI NGUYÊN Cán bộ Đoàn Thanh niên Quận 7 2 Đại diện Viện Kiểm Sát: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Ông VŨ VĂN NGUYÊN Ông LÊ MINH NHẬT 3 Bị cáo: ● Lê Hy Minh Hải Sinh năm 1978 Trú tại: 211D7 Bến Ba Đình, Phường 8, Quận 8, TP.HCM ● Lê Quang Trung Sinh năm 1982Trú tại: 922 Khu phố 3, Phường Tân Thuận Đông, Quận 7, TP.HCM ● Tống Hữu Thành Sinh năm 1974Trú tại: 3346A Tôn Đản, Phường 4, Quận 4, TP.HCM ● Trần Thị Mỹ Thảo Sinh năm 1995Trú tại: 435 Đường 18, Khu phố 6, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP.HCM 4 Đại diện gia đình bị cáo là người chưa thành niên: Đại diện gia đình của bị cáo Trần Thị MỹThảo:Ông: NGUYỄN TÂM Sinh năm: 1974 (là cha của bị cáo Thảo)
Trang 1I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN.
Khoảng vào lúc 1h ngày 16/03/2012, đội cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý quận 7 kết hợp với công an phường Bình Thuận quận 7 kiểm tra phòng số 101 khách sạn khách sạn Khánh Ngọc địa chỉ số 30A đường số 1 phường Bình Thuận quận 7 phát hiện các đối tượng
Lê Quang Trung, Phạm Ngọc Thành, Võ Quý Hiếu, Nguyễn Thị Diễm đang sử dụng trái phép chất ma tuý tổng hợp Vật chứng thu giữ gồm : 20 gói ma túy tổng hợp tên gọi Methmphetamine (MA), trọng lượng : 4,0852 gram, một máy điện thoại hiệu NOKIA; 3,500,000 đồng và một số dụng cụ để sử dụng ma túy tổng hợp.Trung khai số ma túy tổng hợp trên Lê Quang Trung mua của Lê Hy Minh Hải để bán lẻ cho các đối tượng nghiện, đội điều tra mời Hải về làm rõ và mở rộng điều tra đến khoảng 16 giờ 45 ngày 16/03/2012, tại ngã
ba đường Phan Huy Thực và đường Lê Văn Lương phường Tân Kiểng, quận 7, đội ma túy phát hiện Tống Hữu Thành đang được tên Võ Quốc Cường dùng xe NOUVO biển số
54Z4-2723 chở Thành mang ma túy đi bán cho đối tượng nghiện (Nhưng Cường không biết Thành
đi bán ma túy) Thu giữ của Thành 01 gói ma túy tổng hợp (MA), trọng lượng 0,0852gram, 01 điện thoại di động và 300.000 đồng và xe gắn máy mang biển số 54Z4-2723 Tại trụ sở công
an phường Tân Kiểng, quận 7, trong lúc lập hồ sơ bắt quả tang Tống Hữu Thành thì có các đối tượng nghiện gọi điện cho Thành để mua ma túy nên bị đội ma túy mời về làm việc; Phạm Văn Chính; (tự Ty) sinh năm: 1984; HKTT: ấp 2, thị trấn Cần Giuộc, Long An; Phạm Quốc Hiệp; sinh năm 1988, HKTT: C84 xóm Chiếu, phường 14, quận 4.Khoảng 0h 30 ngày 17/03/2012 trước khách sạn Lan Anh địa chỉ A77 khu dân cư Kim Sơn, phường Tân Phong, quận 7,Đội ma túy Công an quận 7 đã phát hiện Trần Thị Mỹ Thảo đi xe ôm của Nguyễn Văn Hoa (sinh năm 1956 HKTT: 245A/22 đến Ba Đình, phường 8, quận 8) mang ma túy đi bán Thu giữ của Thảo 01 gói ma túy tổng hợp tên gọi Methamphetaminne, trọng lượng 2,3947 gram, 2 máy ĐTDĐ và 600.000 đồng Tại cơ quan cảnh sát điều tra công an quận 7, Trần Thị
Mỹ Thảo khai nhận đã được Dũng nhờ đem ma túy đi bán 02 lần, ngoài việc bán ma túy cho
Tống Hữu Thành ra, Thảo còn 02 lần bán ma túy cho một đối tượng khác (không rõ nhân thân lai lịch) trên địa bàn quận 7 Việc Trần Thị Mỹ Thảo bán ma túy cho Dũng, Thảo được Dũng cho tiền hai lần, tổng cộng là 3.000.000 đồng Số tiền này Thảo đã ăn xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết Ngoài việc bán ma túy cho Lê Quang Trung, Lê Hy Minh Hải còn bán ma túy của Thúng và Minh bê đê (không xác định nhân thân và lai lịch) Các bị cáo bị Viện Kiểm Sát nhân dân Quận 7 truy tố vền tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo Điểm b Khoản 2 Điều
194 Bộ luật hình sự Vào ngày …tháng … năm 201 , Vụ án được tòa án nhân dân quận 7 đưa ra xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét số …
Trang 2II- CÁO TRẠNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT:
Viện Kiểm Sát cho rằng hành vi của các bị can Lê Hy Minh Hải, Lê Quang Trung, Tống Hữu Thành và Trần Thị Mỹ Thảo đã can tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Tội phạm
và hình phạt được quy định ởđiểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự.
Điều 194 BLHS quy định:
Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt 2 năm đến 7 năm
Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm
b) Phạm tội nhiều lần
Do đó Viện Kiểm Sát truy tố ra trước toà án nhân dân quận 7 TP.HCM để xét xử đối
với: Lê Hy Minh Hải, Lê Quang Trung, Tống Hữu Thành và Trần Thị Mỹ Thảo (có lý lịch nêu
trên) về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2 điều 194 Bộ luật hình
sự.
III- XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
1- Hội đồng xét xử:
● Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN HOÀNG LONG
● Các hội thẩm nhân dân:
- Bà NGUYỄN THỊ THẢO MY - Chủ tịch Hội phụ nữ Quận 7
- Ông: PHAN HUY THÁI NGUYÊN - Cán bộ Đoàn Thanh niên Quận 7
2- Đại diện Viện Kiểm Sát:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Ông VŨ VĂN NGUYÊN
- Ông LÊ MINH NHẬT
3- Bị cáo:
● Lê Hy Minh Hải - Sinh năm 1978- Trú tại: 211D/7 Bến Ba Đình, Phường 8, Quận 8, TP.HCM
● Lê Quang Trung - Sinh năm 1982-Trú tại: 92/2 Khu phố 3, Phường Tân Thuận Đông, Quận 7, TP.HCM
● Tống Hữu Thành - Sinh năm 1974-Trú tại: 334/6A Tôn Đản, Phường 4, Quận 4, TP.HCM
● Trần Thị Mỹ Thảo - Sinh năm 1995-Trú tại: 43/5 Đường 18, Khu phố 6, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP.HCM
4- Đại diện gia đình bị cáo là người chưa thành niên:
- Đại diện gia đình của bị cáo Trần Thị MỹThảo:Ông: NGUYỄN TÂM - Sinh năm:
1974 (là cha của bị cáo Thảo)
2
Trang 3Trú tại: Tân Mỹ, Ninh Xuân, Ninh Hòa, Khánh Hòa
5- Người bào chữa:
NHẬT
MÙI
II KẾ HOẠCH XÉT HỎI.
(***)Với tư cách là luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mỹ Thảo, do đó, phần xét hỏi
của luật sư trọng tâm là làm rõ những tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Thảo, những câu hỏi đối với các bị cáo khác chỉ mang tính chất tham khảo và sẽ được luật sư của mỗi bị cáo tham gia phần xét hỏi
1- Hỏi bị cáo Lê Quang Trung:
- Bị cáo nghiện ma túy lâu chưa?
- Trước đây, ngoài việc mua ma túy của Hải ra bị cáo có mua ma túy của ai để sử
dụng nữa không?
- Trước đây có bao giờ bị cáo Hải cho bị cáo ma túy để sử dụng không?
- Theo như lời bị cáo khai bị cáo đi bán ma túy cho Hải có đúng không?
- Thù lao của bị cáo được Hải trả cho là như thế nào?
- Bị cáo Hải có cho bị cáo sử dụng ma túy miễn phí không?
- Tại sao lúc đầu bị cáo khai 20 gói ma túy công an quận 7 thu giữ là do bị cáo mua
của Lê Hy Minh Hải?
- Bị cáo khai là bị cáo lấy 20 gói ma túy của Minh bê đê, vậy việc lấy 20 gói ma túy
này, bị cáo có ý định bán không?Mục đích dùng để làm gì ?
2- Hỏi bị cáo Lê Hy Minh Hải:
- Vào ngày 16/03/2012 tại phòng 101 khách sạn Khánh Ngọc, công an quận 7 thu giữ của bị cáo Trung 20 gói ma túy tổng hợp, bị cáo có biết hay không?
- 20 gói ma túy nêu trên có phải là của bị cáo bán cho bị cáo Trung không?
- Vậy tại sao trong biên bản lời khai khi mới bị bắt, bị cáo nói số ma túy trên là do bị cáo báncho Trung?
- Trước đây bị cáo có bán ma túy cho Trung hay nhờ bị cáo Trung vận chuyển ma túy dùmkhông ?
- Bị cáo có chắc chắn câu trả lời của mình là đúng sự thậtkhông?
3- Hỏi Tống Hữu Thành:
Trang 4- Bị cáo có mua ma túy của bị cáo Lê Quang Trungkhông ?
- Bị cáo có mua ma túy của Lê Hy Minh Hải không?
- Bị cáo cho biết mối quan hệ giữa bị cáo và Thảo?
- Bị cáo liên lạc và thương lượng về việc mua bán với Dũng hay với Thảo?
4-Hỏi bị cáo Thảo: (***)
Để
xác định rõ mối quan hệ giữa bị cáo và Dũng
nào?
về giá?
Hỏi để làm rõ nhân thân, tình tiết giảm nhẹ
(Nếu nghỉ học) thì vì sao nghỉ học ?
lạc, động viên hay chăm sóc bị cáo không?
cáo như thế nào?
đang mang thai phải không?
5-Hỏi Cha bị cáo Thảo
trợ tài chính cho bị cáo hay không?
4
Trang 5III- BÀI LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO BỊ CÁO TRẦN THỊ MỸ THẢO
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BẢN LUẬN CỨ
- Kính thưaHội đồng xét xử
- Thưa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân
- Thưa quý Luật sư đồng nghiệp
Tôi là luật sư Nguyễn Thị Thảo My, đến từ Văn Phòng Luật Sư ABC, thuộc Đoàn Luật
Sư Tp.Hồ Chí Minh Theo đề nghị của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận 7 và sự phân công của Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố Hồ Chí Minh, tôi có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay với tư cách là luật sư được chỉ định bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mỹ Thảo, bị Viện kiểm sát nhân dân quận 7 truy tố về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 tại Cáo trạng ngày 22 tháng 08 năm 2012
Thưa Hội Đồng Xét Xử,căn cứ vào những tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ vào những lời khai đã được xem xét tại phiên tòa Tôi xin trình bày lời bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mỹ Thảo như sau:
Theo cáo trạng ngày ngày 22 tháng 08 năm 2012 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận 7, trong quá trình mở rộng điều tra hành vi mua bán ma túy trái phép diễn ra vào lúc 1h ngày 16/03/2012 do Đội cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an quận 7 tiến hành, các đối tượng gồm: Lê Quang Trung, Phạm Ngọc Thành, Võ Quý Hiếu và Nguyễn Thị Diễm đang sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp
Tại cơ quan điều tra, Trung khai số ma túy trên là do Trung mua của Lê Hy Minh Hải và ngoài bán cho Trung, Hải còn bán ma túy cho Thúng (không rõ lai lịch nhân thân) và Minh bê đê (không rõ lai lịch nhân thân).Hải còn bán ma túy cho Thành 3 lần Ma túy Thành mua lần 2 là bán lại cho Tuấn (không rõ nhân thân lai lịch) Còn 02 lần kia là thì mua về phân thành các gói nhỏ cất sẵn trong người, ai cần thì liên hệ điện thoại cho Thành để mua lẻ sử dụng Các đối tượng thường mua gồm: Phạm Văn Chính, Phạm Quốc Hiệp, Nguyễn Văn Lành, Võ Quốc Cường và 5 đối tượng khác (không rõ tên) Nơi Thành hay bán ma túy là những địa bàn vắng người trên quận 4 và quận 7
Nguồn mua ma túy của Thành ngoài Hải còn có Dũng (không rõ lai lịch nhân thân) Thành mua ma túy từ Dũng 02 lần Cả 02 lần đều là Trần Thị Mỹ Thảo (gọi tắt là “Thảo”) đi giao thay cho Dũng Lúc 0h30 ngày 17/03/2013, trước khách sạn Lan Anh, công an đã phát hiện Thảo đi xe ôm của Nguyễn Văn Hoa mang ma túy đi bán Công an đã giữ của Thảo 01 gói ma túy tổng hợp MA trọng lượng 2.3947g; 02 điện thoại di động và 600.000đ Thảo khai
đi giao ma túy của Dũng (không rõ nhân thân lai lịch) cho Thành 02 lần, ngoài ra còn cho đối tượng khác nhưng không rõ Thảo nhận thù lao từ Dũng tổng cộng 3.000.000đ và đã tiêu xài
Trang 6Viện Kiểm Sát Nhân Dân quận 7 đã truy tố các bị cáo gồm Lê Minh Hy Hải, Lê Quang Trung, Tống Hữu Thành, Trần Thị Mỹ Thảo về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm
b, khoản 2 Điều 194 Bộ Luật hình sự
Theo đó, định hướng bào chữa của tôi đối với bị cáo Thảo như sau:
Về tội danh: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét các quy định pháp luật có liên
quan một cách kĩ lưỡng, qua quá trình điều tra, tham gia phần xét hỏi tại phiên tòa, Bị cáo Trần Thị Mỹ Thảocũng đã thừa nhận hành vi của mình theo tội danh mà VKS đã truy tố về tội
“mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 BLHS, do đó tôi xin phép không tranh luận về tội danh
Tuy nhiên sau khi xem xét hành vi của bị cáo và những tình tiết được ghi nhận trong hồ
sơ vụ án, tôi đưa ra một số ý kiến để Hội đồng xét xử có cơ sở đưa ra mức hình phạt phù hợp nhất cho bị cáo:
- Khi bị bắt quả tang vận chuyển chất ma túy vào ngày 17/3/2012, bị cáo Thảo vừa
đủ 16 tuổi 5 tháng 7 ngày, nghĩa là bị cáo là người chưa thành niên khi phạm tội Ở lứa tuổi này, kiến thức pháp luật và xã hội còn hạn chế
- Hơn nữa,về điều kiện sinh sống, giáo dục thì bản thân bị cáo chỉ học đến lớp 9, cha
mẹ bị cáo ly dị từ sớm,mẹ bị cáo tái hôn nhiều lần và sau khi li hôn cũng không quan tâm và chăm sóc đến bị cáo nhiều như những đứa trẻ bình thường khác.Sự giáo dục và yêu thương củagia đình là rất quan trọng trong việc hình thành tính cách và sự phát triển toàn diện của một đứa trẻ Bản thân bị cáo đã thiếu hụt cả 2 yếu tố này, hành vi của bị cáo là kết quả của sự thiếu nhận thức, đây có thể được xem là một phần trách nhiệm của gia đình, đồng thời là của xã hội
- Thêm vào đó, bị cáo rời khỏi gia đình vào sống một mình, không có nơi nương tựa, nghề nghiệp không ổn định, vì được hứa hẹn cho tiền tiêu xài nên bị cáo Thảo đã nhiều lần được đối tượng Dũng nhờ mang ma túy đi giao cho người mua.Tuy đã 02 lần nhờ bị cáo Thảo mang ma tuý đi giao cho các đối tượng theo sự sai khiến và xúi giục nhưng bị cáo Thảo lại không biết gì về lý lịch của Dũng đã cho chúng ta thấy được sự thiếu nhận thức đúng đắn của lứa tuổi bị cáo và hành vi đi giao ma túy chỉ là hành vi đơn giản là để kiếm thêm thu nhập, không có sự suy nghĩ sâu xa về tính chất nguy hiểm có tổ chức của tội phạm
- Xem xét trong quá trình điều tra, xét hỏi bị cáo trả lời một cách thành khẩn, không
có ý đồ che dấu và đã tường thuật lại diễn biến sự việc một cách đầy đủ và chính xác nên đáng được hưởng tình tiết khoan hồng tại điểm p, khoản 1, điều 46 BLHS
- Thưa HĐXX, tôi xin đưa ra các bằng chứng chứng minh hiện tại bị cáo đang mang thai, và thời điểm ngày 29/5/2012 bị cáo phạm tội thì bị cáo được xác định đã mang thai
11 tuần tuổi (Bút lục 128) Kính xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 46 BLHS
6
Trang 7- Về mặt tố tụng, Bị can Thảo sau khi bị bắt quả tang thì bị tạm giam từ ngày 17/03/2012 đến ngày 29/05/2012 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ Tạm giam sang biện pháp Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú do bị can đang có thai 11 tuần tuổi Tuy nhiên ngoài Biên bản bắt người do phạm tội quả tang (vào ngày 17/3/2012) đối với bị can Thảo, trong hồ sơ không tồn tại Lệnh tạm giam trong thời gian điều tra đối với bị can Thảo của cơ quan có thẩm quyền Do đó,thủ tục tố tụng đã bị vi phạmnhưng không gây hậu quả cho diễn biến của vụ án, nên Luật sư chỉ kính mong các cơ quan rút kinh nghiệm cho các công tác xét xử sau này
Từ những phân tích trên và căn cứ vào các quy định của pháp luật có liên quan, tôi xin
đề nghị hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội củabị cáo Thảovì bị cáo lúc phạm tội thuộc đối tượng người chưa thành niên, phạm tội lúc nhận thức pháp luật và xã hội còn hạn chế sẽ được xử lý theo nguyên tắc tại:
“Điều 91 Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 (Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội) của Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội ”
Và Bị cáo Thảo xứng đáng được hưởng những tình tiết giảm nhẹ tại điểm l, p khoản 1 điều 46
bộ luật hình sự và được áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự
Hơn nữa, kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự,Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP để đưa ra mức hình phạt cho bị cáo Thảo:
Khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự 1999 quy định như sau:
“Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:
Trang 81 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.”
Tại mục 11 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn về quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội như sau:
11.1 Khi quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội thì cần thực hiện như sau:
a Xác định mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội như đối với trường hợp người phạm tội là người đã thành niên;
b Trường hợp người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì hình phạt áp dụng đối với họ là 3/4 mức hình phạt áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 11.1 này;
c Trường hợp người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì hình phạt áp dụng đối với họ là 1/2 mức hình phạt đối với người đã thành niên phạm tội được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 11.1 này.
11.2 Khi quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, cần phân biệt:
a Trường hợp theo cách tính được hướng dẫn tại tiểu mục 11.1 mục 11 này, mà mức hình phạt tù được xác định đối với người chưa thành niên phạm tội thấp hơn mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn (ba tháng) thì cần áp dụng loại hình phạt khác nhẹ hơn đối với họ
mà không được quyết định hình phạt tù dưới ba tháng
Như vậy, Vì những lý do trên đây, thiết nghĩ sự cách ly khỏi sự hoà nhập cộng đồng đối với bị cáo là điều không cần thiết nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 194 Bộ Luật hình sự,điểm i khoản 1 Điều 46 BLHS,Điều 47 BLHS,Khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự,mục 11 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP cho bị cáođược giảm mức án còn 02 năm tù để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời và nuôi dưỡng con nhỏ
Cảm ơn Hội đồng xét xử đã chú ý lắng nghe!
Luật sư Nguyễn Thị Thảo My
Nhận xét cáo trạng VKS tại phiên tòa :
8
Trang 9
V NHẬN XÉT DIỄN ÁN 1 Thư ký Tòa (trang phục, trình bày)
2 Thẩm phán (điều khiển, nội dung)
3 Hội thẩm
Trang 10
4 Kiểm sát viên
5 Bị cáo
10