1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LVTS 2014 quyền giám sát của quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

114 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền giám sát của Quốc hội và việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện vai trò của cơ quan đại

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CAO MẠNH LINH

QUYỀN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2006

Trang 2

MỤC LỤC

Trang bìa phụ Lời cam đoan Mục lục

Mở đầu 1

Chương 1 - một số vấn đề lý luận về quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 6

1.1 Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân 6

1.1.1 Khái niệm về khiếu nại, tố cáo 6

1.1.2 Vị trí, vai trò của quyền khiếu nại, tố cáo 12

1.2 Quyền giám sát tối cao của Quốc hội 15

1.2.1 Vị trí pháp lý của Quốc hội 15

1.2.2 Quyền giám sát tối cao của Quốc hội, cơ sở pháp lý hình thành quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 18

1.3 Quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 24

1.3.1 Khái niệm quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 24

1.3.2 Vai trò giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 26

1.3.3 Nội dung quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 28

1.3.4 Hình thức thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 29

Chương 2 - Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 43

2.1 Quá trình hình thành, phát triển hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân từ 1945 đến trước khi ban hành Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 43

Trang 3

2.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1960 43

2.1.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1980 45

2.1.3 Giai đoạn từ 1980 đến 1992 47

2.1.4 Giai đoạn từ 1992 đến 1998 50

2.2 Quyền giỏm sỏt của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cỏo của cụng dõn từ khi Quốc hội ban hành Luật khiếu nại, tố cỏo năm 1998 đến nay 54

2.2.1 Về hoạt động giỏm sỏt của Quốc hội tại kỳ họp 55

2.2.2 Về hoạt động giỏm sỏt của Quốc hội giữa hai kỳ họp 56

2.3 Thực trạng hoạt động giỏm sỏt của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cỏo của cụng dõn từ khi Quốc hội ban hành Luật khiếu nại, tố cỏo năm 1998 đến nay

60 2.3.1 Hoạt động giỏm sỏt việc giải quyết khiếu nại, tố cỏo của cụng dõn tại cỏc kỳ họp Quốc hội 60

2.3.2 Hoạt động giỏm sỏt của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cỏo của cụng dõn 63

2.3.3 Hoạt động giỏm sỏt của Hội đồng dõn tộc, Uỷ ban của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cỏo của cụng dõn 66

2.3.4 Hoạt động giỏm sỏt của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cỏo của cụng dõn

69 Chương 3 - Một số giải phỏp nõng cao hiệu quả thực hiện quyền giỏm sỏt của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cỏo của cụng dõn 76

3.1 Yêu cầu khách quan phải tăng c-ờng hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 76

3.1.1 Yêu cầu xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân 77

3.1.2 Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật 78 3.1.3 Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công

Trang 4

dân và từ thực trạng khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố

cáo của công dân 79

3.2 Một số quan điểm cơ bản về nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 80

3.3 Giải pháp đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 83

3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất và đồng bộ cho hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 83

3.3.2 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Quốc hội 85

3.3.3 Hoàn thiện ph-ơng thức hoạt động của Quốc hội 87

3.3.4 Tăng c-ờng các điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 92

3.3.5 Phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Quốc hội bảo đảm quyền lực nhà n-ớc thực sự thuộc về nhân dân 94

Kết luận 97

Danh mục tài liệu tham khảo 99

Phụ lục 105

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân Trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội thì Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản của đất nước Đồng thời Quốc hội là cơ quan có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó có nội dung giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Quyền giám sát của Quốc hội và việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện vai trò của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, trong thời gian qua, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội đã thường xuyên tiến hành giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thông qua các phương thức: xem xét các báo cáo của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, báo cáo của Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; thành lập đoàn giám sát thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại các Bộ, ngành, địa phương; giám sát việc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo cụ thể có dấu hiệu vi phạm pháp luật v.v

Trang 6

Thông qua các hoạt động này, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội đã kiến nghị nhiều vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy, biên chế, hoạt động… nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, làm cơ sở để Quốc hội, Chính phủ, Toà

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao kịp thời sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm không còn phù hợp với thực tiễn, đề xuất những giải pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót xảy ra, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song công tác giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội trong thời gian qua vẫn còn có nhiều hạn chế Qua công tác giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho thấy, tình hình khiếu nại, tố cáo vẫn diễn biến phức tạp, số lượng đơn, thư khiếu nại,

tố cáo ngày càng tăng, nhiều đơn, thư gửi vượt cấp, gửi đến các cơ quan không

có thẩm quyền giải quyết và gửi đến nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo mà Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội chuyển đến các cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu xem xét, giải quyết theo thẩm quyền còn chiếm một tỷ lệ thấp so với số lượng đơn, thư đã tiếp nhận Số lượng đơn, thư được xử lý lại tập trung chủ yếu vào những vụ việc có ý kiến đề nghị của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việc theo dõi, đôn đốc, giám sát việc giải quyết cũng chưa được chú trọng nên số vụ việc được các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xem xét, trả lời cũng đạt tỷ lệ thấp Ví dụ như :

trong năm 2005, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý 20.250 đơn thư

Trang 7

khiếu nại, tố cáo của công dân, đã chuyển 1.331 đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và chỉ nhận được 433 văn bản trả lời, chiếm 32,5% [3]

Vì vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động này trong thời gian qua ở nước ta để có những giải pháp hữu hiệu, sát thực, nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại,

tố cáo của công dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động giám sát của Quốc hội là vấn đề cấp thiết, được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên các nghiên cứu thường mới chỉ tập trung vào các vấn đề chung về quyền giám sát tối cao mà chưa đi sâu vào những hoạt động cụ thể để thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội Đối với hoạt động tiếp nhận, xử lý và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố

cáo của Quốc hội tuy cũng đã được nghiên cứu tại Đề tài "Nghiên cứu thực

trạng và những vấn đề cần đổi mới trong công tác dân nguyện của Quốc hội" do Vụ Dân nguyện, Văn phòng Quốc hội thực hiện năm 1996 nhưng Đề

tài này lại chủ yếu đề cập đến việc cải cách các thủ tục hành chính trong việc

xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân mà chưa đi sâu làm rõ các vấn đề lý luận

về quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân để có những giải pháp thực sự hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội Cũng có nhiều bài báo, hội thảo, hội nghị được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà khoa học đã bàn về hoạt động giám sát của Quốc hội nhưng vẫn chưa chú trọng tới hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân hoặc nếu có thì chủ yếu chỉ chú ý tới hoạt động của đại biểu Quốc hội trong việc tiếp công dân, nhận

Trang 8

và xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân Chính vì vậy, đề tài luận văn "Quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân" là phương hướng nghiên cứu mới đáp ứng nhu cầu lý luận và thực tiễn

bức xúc hiện nay

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và thực tiễn thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, đánh giá thực trạng thực hiện quyền này trong những năm qua, nêu ra những bất cập, tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

4 Cơ sở khoa học của đề tài

- Cơ sở lý luận : Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước ta

- Cơ sở thực tiễn : Đề tài được thực hiện dựa trên thực tiễn hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đánh giá những thành tựu và những hạn chế để đưa ra những giải pháp hoàn thiện

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, lịch

sử, thống kê và so sánh đối chiếu để nghiên cứu về những vấn đề lý luận của hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, thực tiễn thực hiện trong thời gian qua và từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động này

Trang 9

6 Điểm mới của đề tài

- Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền giám sát tối cao của Quốc hội và việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; phân tích và chỉ ra những nhược điểm, vướng mắc cần khắc phục;

- Đề tài nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong thời gian tới như hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới cơ cấu, tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân

7 Kết cấu của Luận văn

Luận văn được kết cấu gồm ba chương và phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

Chương 1 - Một số vấn đề lý luận về quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Chương 2 - Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Chương 3 - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát

của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Trang 10

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN

1.1 QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN

1.1.1 Khái niệm về khiếu nại, tố cáo

Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo đảm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ngày 10 tháng 12 năm 1948 trong

Chương 8 đã ghi nhận “Mọi người đều có quyền khiếu nại hữu hiệu đến các

cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền chống những hành động vi phạm các quyền cơ bản của con người đã được Hiến pháp hoặc luật pháp thừa nhận” [56, tr.5] Trong phạm vi quốc gia, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử,

điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước mà nội dung quyền khiếu nại, tố cáo được quy định khác nhau Điều 41 Hiến pháp của nước Cộng hòa

nhân dân Trung Hoa năm 1993 quy định “ Các công dân có quyền khiếu nại,

tố cáo hoặc kiện bất kỳ cơ quan hoặc công chức nhà nước nào về những vi phạm pháp luật hoặc vì thiếu tinh thần trách nhiệm trong thi hành công vụ nhưng nghiêm cấm việc xuyên tạc, bịa đặt với mục đích bôi nhọ, lừa dối hoặc

vu cáo ” [27, tr.980] Ở nước ta, quyền khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của

công dân và được Hiến pháp ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 29 Hiến pháp

1959 : "Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ và nhân viên nhà nước Các khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường” Từ đó đến nay, quyền khiếu nại, tố cáo

của công dân đã tiếp tục được khẳng định và hoàn thiện trong các bản Hiến pháp sau này cũng như trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như

Trang 11

Luật khiếu nại, tố cáo, các luật về tổ chức, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố

tụng hình sự v.v., cụ thể là Điều 74 Hiến pháp 1992 đã quy định : "Công dân

có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định "

Để thấy rõ quyền khiếu nại, tố cáo, quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thì cần phải phân tích khái niệm khiếu nại, tố cáo

1.1.1.1 Khái niệm khiếu nại

Ở nhiều nước, người ta quan niệm khiếu nại là việc công dân, pháp nhân hay một nhóm công dân yêu cầu được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc đe dọa bị xâm phạm bởi hoạt động của cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước [32]

Ở nước ta, tuy quyền khiếu nại đã được ghi nhận trong Hiến pháp cũng như được quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng có thể nói chưa có một văn bản nào chính thức ghi nhận khái niệm khiếu nại là

gì Luật khiếu nại, tố cáo tuy cũng có quy định về khiếu nại nhưng đó chỉ là khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính Đề cập tới khiếu nại một cách chung nhất chỉ có Thông tư số 60/UB.TTR ngày 22 tháng 5 năm

1971 của Uỷ ban Thanh tra Chính phủ về hướng dẫn phân loại đơn khiếu nại

và tố cáo, trong đó xác định "Đơn khiếu nại là chỉ những sự việc của đương

sự khiếu vì quyền lợi bị thiệt hại, yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giải quyết (đơn đề đạt nguyện vọng xếp vào loại đơn khiếu nại)" [21, tr.48]

Trong khoa học pháp lý có những quan niệm khác nhau về khái niệm này, được các tác giả lý giải từ những giác độ khác nhau Theo Từ điển Tiếng

Trang 12

Việt, khiếu nại thường được hiểu là "đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý" [52,

tr.483]

Theo cuốn Thuật ngữ pháp lý phổ thông, khiếu nại là việc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay của người khác [41, tr 202]

Cũng có quan điểm khác cho rằng, khiếu nại theo nghĩa chung nhất là việc cá nhân hay tổ chức đề nghị cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào đó xem xét, sửa chữa lại một việc làm mà họ cho là không đúng đắn, gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ và đòi bồi thường thiệt hại do việc làm không đúng gây ra [28]

Tuy nhiên, theo các khái niệm này, các tác giả đã có sự nhầm lẫn giữa quyền khiếu nại của công dân với quyền kiến nghị, yêu cầu của các cơ quan,

tổ chức, cá nhân Có thể dẫn chứng qua quy định về trách nhiệm của đại biểu Quốc hội khi phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị với người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm (Điều 87 Luật khiếu nại, tố cáo) Hoặc, khi giữa các cá nhân, tổ chức xảy ra tranh chấp khi tham

gia một "quan hệ dân sự", dựa trên nguyên tắc tự thoả thuận thì bên cho rằng

mình bị thiệt hại có thể yêu cầu bên kia sửa chữa, khắc phục hoặc bồi thường Đồng thời, bên cạnh việc “trông chờ” bên vi phạm có hành động khắc phục thì bên bị vi phạm có quyền chủ động bảo vệ quyền, lợi ích của mình (khởi kiện ra Tòa án, phạt hợp đồng )

Phân tích nội dung các quy định của Hiến pháp, pháp luật về quyền khiếu nại của công dân có thể thấy một số đặc trưng của khiếu nại như sau:

Trang 13

Thứ nhất, khiếu nại xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu

nại cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm [22, tr.64] Nói cách khác, khiếu nại là một hình thức phản ứng của công dân, cơ quan, tổ chức với những hiện tượng vi phạm các quyền và lợi ích của họ được pháp luật bảo vệ

Thứ hai, khiếu nại luôn mang trong mình thông tin về sự vi phạm các

quyền và lợi ích của công dân được pháp luật quy định hoặc bắt nguồn từ những nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa và những quy định của cộng đồng cũng như sự vi phạm các quyền lợi cá nhân khác của công dân Việc xác định loại vi phạm cụ thể hoặc thiệt hại cụ thể bởi những việc làm trái pháp luật là yếu tố nhất thiết của nội dung khiếu nại [56, tr.37]

Thứ ba, người khiếu nại không thể tự khôi phục những quyền và lợi ích

hợp pháp của mình bị xâm hại bởi việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Sự khiếu nại của họ trông chờ vào quyết định của cơ quan, người

có thẩm quyền

Vì vậy, có thể hiểu khiếu nại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu

cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét lại việc làm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ

1.1.1.2 Khái niệm tố cáo

Tố cáo là một quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định

Khoản 2 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: “ Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá

Trang 14

nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”

Thông tư số 60/UB.TTR ngày 22 tháng 5 năm 1971 của Uỷ ban Thanh tra Chính phủ về hướng dẫn phân loại đơn khiếu nại và tố cáo quy định :

“Đơn tố cáo là đơn nói những hành vi sai phạm của cán bộ, cơ quan làm sai chế độ, chính sách, pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích tập thể và của Nhà nước”

Theo Từ điển Tiếng Việt, tố cáo là "Báo cho mọi người hoặc cơ quan

có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó" hay "Vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn"

[52, tr.973]

Ở các nước, người ta quan niệm tố cáo là một hình thức thông tin giúp cho các cơ quan nhà nước đấu tranh có hiệu quả đối với các hành vi vi phạm pháp luật và tố cáo vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân Pháp luật các

nước đều có xu hướng khuyến khích mọi người phát hiện và thông báo cho cơ quan nhà nước về những hành vi vi phạm pháp luật Ở nhiều nước như Mỹ, Hàn Quốc, Malaixia người ta lập ra các hòm thư đặc biệt hoặc các đường dây điện thoại nóng để tiếp nhận các thông tin tố cáo 24/24 giờ [32]

Như vậy, tố cáo thực chất là việc phát hiện và báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi trái pháp luật nào đó diễn ra trong đời sống xã hội Tố cáo khác với khiếu nại về tính chất, nội dung, mục đích Tố cáo, thông thường đó là sự phát hiện những vi phạm nào đó của hoạt động bình thường diễn ra trong đời sống xã hội mà không liên quan đến quyền và lợi ích của những con người cụ thể; đó là sự thông báo về những hành vi lạm dụng, những việc làm trái pháp luật và những vi phạm khác đối với pháp chế

xã hội chủ nghĩa mà chính những vi phạm đó không xâm phạm đến quyền và lợi ích của những người tố cáo hoặc của những người cụ thể khác [56, tr.39]

Trang 15

Ở nước ta, quyền tố cáo là một quyền cơ bản, quan trọng của công dân,

là “phương tiện” để công dân bảo vệ mình, bảo vệ người khác Thực hiện quyền tố cáo tức là công dân tỏ rõ trách nhiệm của mình trong việc giám sát hoạt động quản lý của Nhà nước, để xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng vững mạnh và trong sạch, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước ta thật sự là “công bộc của nhân dân”, loại trừ những hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu quần chúng của một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước [22, tr.101]

Mặt khác, tố cáo không chỉ có ý nghĩa đối với người dân mà còn có giá trị to lớn đối với Nhà nước Nhờ có thông tin từ nhân dân qua việc tố cáo, Nhà nước sẽ kịp thời nắm bắt được phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức để kịp thời làm trong sạch đội ngũ cán bộ bảo vệ pháp chế, lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Có thể nói, đại đa số những cán bộ, công chức tham nhũng, cố ý làm trái, thiếu tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại cho Nhà nước, bao che cho tội phạm bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự phần lớn do nhân dân phát hiện và tố cáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Tố cáo diễn ra trong thực tế rất đa dạng, phức tạp nhưng có thể chia thành một số loại sau:

- Tố cáo chứa đựng trong đó yêu cầu được pháp luật quy định trước;

- Tố cáo không liên quan đến việc vi phạm các quyền cụ thể của công dân, nhưng chứa đựng những thông báo về những khuyết tật hoặc những vi phạm trong công tác của từng cơ quan riêng biệt;

- Tố cáo về những việc làm trái pháp luật của một cá nhân trong bộ máy Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế [49, tr.168]

Từ những phân tích trên, có thể hiểu tố cáo là việc công dân phát hiện

và báo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật

Trang 16

của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

1.1.2 Vị trí, vai trò của quyền khiếu nại, tố cáo

1.1.2.1 Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân

Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhà nước không còn là bộ máy thống trị của giai cấp bóc lột, mà là Nhà nước của nhân dân, tổ chức thành cơ quan quyền lực chính trị Mục tiêu, phương hướng phát triển cơ bản của Nhà nước ta là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Điều 2 Hiến pháp 1992) Đồng thời, ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng và bảo đảm thực hiện, thể hiện ở các quyền công dân được quy định trong Hiến pháp (Điều 50 Hiến pháp 1992) và các văn bản pháp luật

Qua các Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992) và hệ thống văn bản pháp luật nước ta, quyền và nghĩa vụ của công dân có thể chia làm 3 nhóm chính:

- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản trong lĩnh vực chính trị và xã hội: quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản trong lĩnh vực kinh tế - văn hoá như: quyền và nghĩa vụ lao động, quyền được bảo vệ sức khoẻ, quyền tự do kinh doanh, quyền về nhà ở, quyền và nghĩa vụ học tập, nghiên cứu khoa học, phát minh sáng chế…

Trang 17

- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản trong đời sống riêng như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở, thư tín, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền tự do tín ngưỡng

Hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản nêu trên là những quyền chủ thể của công dân, thể hiện những lợi ích riêng của cá nhân công dân được pháp luật bảo hộ, đồng thời bảo đảm sự hài hoà, thống nhất với lợi ích chung của toàn xã hội

Trong các quyền cơ bản của công dân, quyền khiếu nại, tố cáo được Hiến pháp ghi nhận thể hiện địa vị pháp lý của công dân, nó được xác lập như một phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thông qua khiếu nại, tố cáo, công dân bày tỏ ý nguyện của mình đối với Nhà nước, vạch ra trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền những việc làm trái chính sách, pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng Họ có quyền yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật, nhằm khôi phục lại quyền lợi đã bị xâm phạm, giúp các tổ chức, đoàn thể, cơ quan nhà nước đấu tranh chống các hành vi lạm quyền, lộng hành, làm sai chính sách, pháp luật [26, tr.207] Ngược lại, thông qua khiếu nại, tố cáo, Nhà nước sẽ biết và kiểm tra được tính đúng đắn trong các đường lối, chính sách, pháp luật, thấy được hành vi của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước có đúng pháp luật, có hợp lòng dân hay không để có sự điều chỉnh phù hợp

1.1.2.2 Quyền khiếu nại, tố cáo là một hình thức dân chủ trực tiếp để công dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Sự ra đời của Nhà nước chuyên chính vô sản đồng thời cũng tạo ra tiền

đề cho sự ra đời của một chế độ dân chủ mới trong lịch sử, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, công dân tham gia vào

Trang 18

quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thông qua hai hình thức: dân chủ trực tiếp

và dân chủ đại diện

Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện trực tiếp ý chí, nguyện vọng của mỗi chủ thể quan hệ pháp luật, qua đó công dân trực tiếp bày tỏ ý kiến, tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tạo nên tính tích cực chính trị, tính trách nhiệm trong xã hội, trong nhà nước của mỗi công dân, nâng cao tính chủ động, sáng tạo và sự tham gia tích cực của mỗi công dân vào hoạt động quản lý nhà nước

Dân chủ đại diện là hình thức công dân sử dụng quyền dân chủ của mình thông qua các cơ quan, tổ chức và người đại diện mà mình bầu ra; các

cơ quan, tổ chức và đại diện dân cử phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của cử tri, thể hiện ý chí, nguyện vọng của cử tri

Công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, trực tiếp kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước, trực tiếp góp ý phản ánh với Nhà nước về các vấn đề quan tâm đó là thể hiện đặc thù của hình thức dân chủ trực tiếp Thông qua con đường khiếu nại, tố cáo, công dân chủ động kiểm tra, giám sát, phát hiện, phản ánh với Nhà nước về những sai sót, khiếm khuyết trong hoạt động của bộ máy nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước mà gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trên cơ sở đó, công dân yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền có những biện pháp giải quyết kịp thời nhằm bảo vệ lợi ích của mình, của Nhà nước, của tập thể khi bị xâm hại

Về phương diện lý luận, khiếu nại, tố cáo là một “nguồn thông tin” từ

xã hội, từ công dân đến Nhà nước vô cùng quan trọng Thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, nhân dân có thể tự mình phát hiện cho Nhà nước những vấn đề khiếm khuyết của cơ chế, chính sách để Nhà nước xem xét điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, giúp cho công tác quản lý nhà

Trang 19

nước, quản lý xã hội ngày càng hiệu quả hơn Tuy nhiên, để phát huy yếu tố tích cực của nó phụ thuộc vào cơ chế, biện pháp bảo đảm dân chủ của thể chế chính trị

Thực tế hiện tượng khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương những năm gần đây cho thấy, tình trạng mất dân chủ trong quản lý, sự yếu kém và những khuyết tật của bộ máy chính quyền, sự lỏng lẻo và vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước là những vấn đề được quần chúng phát hiện, báo động cho xã hội, cho Nhà nước Từ nguồn thông tin này, Nhà nước đã kịp thời có điều chỉnh mạnh mẽ về chính sách, pháp luật cho phù hợp, qua đó thể hiện tác động tích cực của quyền khiếu nại, tố cáo - một hình thức dân chủ trực tiếp đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

1.2 QUYỀN GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI

1.2.1 Vị trí pháp lý của Quốc hội

Vị trí pháp lý của Quốc hội được xác định bởi những quy định của Hiến pháp, văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao của Nhà nước ta cũng như được thể hiện trong nhiều quy định của các văn bản pháp luật khác như Luật

tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật khiếu nại tố cáo, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội Trong đó, Điều 83 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, được sửa đổi bổ sung

năm 2001 đã quy định :"Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp

Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc

Trang 20

chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước"

Quy định trên cho thấy vị trí, vai trò của Quốc hội trong bộ máy nhà nước thể hiện ở hai đặc điểm: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

1.2.1.1 Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân

Tính đại biểu cao nhất của Quốc hội nước ta trước hết thể hiện ở cách thức thành lập và cơ cấu tổ chức của Quốc hội

- Về cách thức thành lập, Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Bầu cử đại biểu Quốc hội là kết quả lựa chọn thống nhất của nhân dân cả nước [23, tr.267]

- Về thành phần, Quốc hội luôn có cơ cấu thành phần đại biểu đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân, phản ánh được cơ cấu kết hợp đa dạng, thể hiện Quốc hội là khối đại đoàn kết dân tộc

- Về cơ cấu thành phần theo đơn vị hành chính (cấp tỉnh), Quốc hội có đại biểu ở tất cả các đơn vị hành chính Theo Điều 8 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có ít nhất ba đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương;

số đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương

Ngoài ra, tính đại biểu cao nhất của Quốc hội còn thể hiện ở việc Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình dựa vào sự tín nhiệm của nhân dân, do nhân dân ủy quyền đồng thời chịu sự giám sát và chịu trách

Trang 21

nhiệm trước nhân dân Xuất phát từ tính đại diện nhân dân mà Quốc hội được giao những chức năng, nhiệm vụ hết sức quan trọng như quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Do đó, nhân dân có quyền xem xét, đánh giá tư cách, phẩm chất, năng lực của các đại biểu có xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân hay không Đại biểu Quốc hội có thể bị bãi nhiệm khi không còn sự tín nhiệm của nhân dân

1.2.1.2 Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất

Đặc điểm này được thể hiện rõ qua các quy định của Hiến pháp và pháp luật về chức năng, quyền hạn của Quốc hội, theo đó:

Thứ nhất, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp

Hiến pháp và luật có vị trí vô cùng quan trọng, nó chứa đựng các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý và thể hiện những đường lối cơ bản, những chủ trương lớn của Đảng đã được Nhà nước thể chế hóa và có hiệu lực thi hành trên toàn lãnh thổ nước ta Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền thông qua, sửa đổi Hiến pháp và luật Chỉ có Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao mới có quyền thông qua những loại văn bản này

Và ngược lại cũng chính việc Quốc hội, cơ quan duy nhất được quyền thông qua các loại văn bản này mới chứng tỏ Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất [23, tr.273]

Thứ hai, Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

Những vấn đề quan trọng nhất của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội gồm các nội dung chủ yếu :

- Các vấn đề về tổ chức và nhân sự cấp cao của Nhà nước như : Thành lập, bãi bỏ các cơ quan trung ương trong bộ máy nhà nước; miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn các chức vụ cao cấp nhất của Nhà nước và những

Trang 22

người đứng đầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính

- Các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, trong đó quyết định kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; quyết định chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo của Nhà nước

- Các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại như : quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế

Thứ ba, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

Giám sát là một chức năng quan trọng của Quốc hội, được bắt nguồn từ quyền làm chủ tập thể của nhân dân và là một bộ phận không thể thiếu trong toàn bộ hệ thống kiểm tra, thanh tra và giám sát của Đảng, Nhà nước và nhân dân Hoạt động giám sát của Quốc hội chính là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Phạm vi và nội dung giám sát của Quốc hội bao gồm nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau như kinh tế-ngân sách, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh và thi hành pháp luật Mục đích hoạt động giám sát của Quốc hội là nhằm góp phần bảo đảm cho bộ máy nhà nước

và các cơ quan nhà nước hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ của mình; bảo đảm Hiến pháp, pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh; bảo đảm Nhà nước ta

là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

1.2.2 Quyền giám sát tối cao của Quốc hội, cơ sở pháp lý hình thành quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Trang 23

Để hiểu đúng và đầy đủ nội dung và ý nghĩa của quyền giám sát tối cao

của Quốc hội, trước hết chúng ta cần tìm hiểu về thuật ngữ "giám sát"

Qua nghiên cứu một số tài liệu cho thấy, hiện nay thuật ngữ "giám sát"

Với nhiều cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của thuật ngữ "giám sát" khác nhau như vậy, nên để xác định tính chất quyền giám sát của Quốc hội với tính cách là một biểu hiện của quyền lực nhà nước, chúng ta cần xuất phát

từ việc xem xét nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, mối tương quan giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp ở nước ta hiện nay

Hiện nay, tuỳ thuộc sự khác biệt trong nguyên tắc tổ chức và cơ chế vận hành của quyền lực nhà nước mà ở các nước có những sự khác biệt trong việc quy định về quyền giám sát và chức năng giám sát của các cơ quan trong

bộ máy nhà nước Với mục đích duy trì và bảo vệ pháp chế, bảo đảm các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức và mọi công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của mình, các nước đều tìm cách thiết lập một cơ chế giám sát hữu hiệu nhất để ngăn chặn

sự vi phạm pháp luật, đặc biệt là chống lại sự lạm quyền từ phía các cơ quan công quyền, trong đó có hoạt động giám sát từ Quốc hội Ở nhiều nước đã

Trang 24

thành lập các cơ quan nhà nước chuyên môn để tiến hành hoặc hỗ trợ hoạt động giám sát của Quốc hội (các Toà án hiến pháp và Hội đồng hiến pháp để giám sát việc tuân thủ Hiến pháp; Thanh tra Quốc hội, những nhà chức trách khác của Quốc hội để giám sát việc thực hiện nhân quyền; cơ quan kiểm toán để giám sát hoạt động hành chính - tài chính của các cơ quan nhà nước ) Thực tế các nước cho thấy, giám sát của Quốc hội đã thể hiện là một phương thức hữu hiệu để cân bằng quyền lực và bảo đảm cho quyền lực nhà nước thực thi có hiệu quả

Các nhà nước tư sản, mặc dù có những nét riêng, nhưng cơ chế giám sát được thực hiện về cơ bản là giống nhau Trên cơ sở nguyên tắc phân quyền, các Nhà nước tư sản áp dụng cơ chế kìm chế, đối trọng, dùng quyền lực hạn chế quyền lực Với cơ chế như vậy, các cơ quan trong Nhà nước thực hiện sự giám sát lẫn nhau một cách mạnh mẽ quyết liệt và cũng rất hiệu quả Mặt khác, do thực hiện chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng, các đảng phái chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng giữ vai trò rất lớn trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước Cũng bởi vậy, cách thức tổ chức hoạt động giám sát cũng như cơ chế giám sát ở các Nhà nước tư sản không giống như mô hình và cơ chế giám sát ở nước ta [35, tr.376]

Ở Việt Nam, theo quan điểm của Đảng cũng như các quy định của pháp luật, bộ máy nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc "quyền lực nhà nước

là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp"[4, tr.45] Trong đó, Quốc hội, với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước nên Quốc hội có quyền theo dõi, xem xét, kiểm tra việc thực hiện chúng trong đời sống thực tiễn Về bản chất, quyền giám sát tối cao của Quốc

Trang 25

hội mang bản chất của quyền lực nhà nước nghĩa là thực hiện ý chí của nhân dân

Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao với mục đích là kiểm soát hệ thống các cơ quan hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện chức năng, quyền hạn của bộ máy hành chính, bộ máy tư pháp, việc thực thi pháp luật và các quyết định của Quốc hội Việc Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp xuất phát từ một vấn

đề có tính nguyên tắc: Cơ quan quyền lực nhà nước cần phải kiểm soát các hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm duy trì sự vận hành của bộ máy nhà nước theo hướng đáp ứng tốt nhất ý chí và nguyện vọng của nhân dân Với tư cách là cơ quan đại diện của dân, Quốc hội giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước ta là nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân, đặc biệt là thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa [35, tr.376]

1.2.2.1 Các đặc trưng cơ bản của quyền giám sát của Quốc hội:

Thứ nhất, giám sát của Quốc hội là giám sát mang tính quyền lực nhà

nước [54, tr.144] Nội dung của quyền này thực chất là quyền của Quốc hội với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

áp dụng các biện pháp đối với các đối tượng chịu sự giám sát nhằm bảo đảm

cho Hiến pháp, pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh Ở nước ta “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” (Điều 2 - Hiến pháp 1992) và “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân

là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” (Điều 6 - Hiến pháp 1992)

Vì thế, thực hiện quyền giám sát tối cao chính là Quốc hội thay mặt nhân dân

sử dụng quyền lực nhà nước do chính nhân dân giao cho

Thứ hai, quyền giám sát của Quốc hội là quyền giám sát tối cao Bởi vì,

Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất được nhân dân giao cho thực hiện

Trang 26

quyền giám sát đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước và không thể có một

cơ quan nào đứng trên Quốc hội trong việc xem xét thi hành Hiến pháp, luật

là những văn bản mà chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành Tính chất tối cao quyền giám sát của Quốc hội bắt nguồn từ vị trí pháp lý tối cao của Quốc hội trong bộ máy nhà nước [54, tr.145] Tuy nhiên, Quốc hội dù là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thay mặt nhân dân cả nước thực thi quyền lực mà nhân dân giao cho, vừa quyết định luật, vừa giám sát các cơ quan nhà nước thi hành luật, nhưng phải bảo đảm "không lẫn lộn với quyền hành pháp của Chính phủ cũng như quyền độc lập xét xử của Toà án" [48, tr.14]

1.2.2.2 Chủ thể của quyền giám sát tối cao

Hiến pháp, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định chủ thể duy nhất thực hiện quyền giám sát tối cao là Quốc hội, như vậy Quốc hội nói ở đây không phải là các cơ quan của Quốc hội mà là toàn thể các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội mới là chủ thể thực hiện quyền giám sát tối cao [54,

tr.146] Mặt khác, với quy định "Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước" có nghĩa, không có bất kỳ một hoạt

động nào của các cơ quan nhà nước là không thuộc đối tượng giám sát của Quốc hội Đây là vấn đề có tính nguyên tắc khẳng định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, do Quốc hội hoạt động không thường xuyên nên khó có thể giám sát được mọi hoạt động của mọi cơ quan nhà nước và nếu có giám sát thì chỉ

có thể giám sát các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước Vì vậy, để Quốc hội có thể thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước trong khi Quốc hội hoạt động không thường xuyên, Hiến pháp thực hiện cơ chế uỷ quyền giám sát [54, tr.191]

Trang 27

Điều 1, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định:" Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội"

Như vậy, quyền giám sát tối cao của Quốc hội đã được ủy quyền cho các chủ thể theo quy định của Hiến pháp và pháp luật gồm có : Uỷ ban

thường vụ Quốc hội (cơ quan thường trực của Quốc hội), Hội đồng dân tộc,

các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội

Mặc dù hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội không được xác định là giám sát tối cao nhưng là một bộ phận cấu thành của quyền giám sát tối cao Trên cơ sở các thông tin có được qua hoạt động giám sát của các chủ thể này, toàn thể các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội mới có đầy đủ thông tin để xem xét, đánh giá chính xác, toàn diện

về thực trạng thi hành Hiến pháp, pháp luật trên phạm vi cả nước để từ đó

"thực hiện quyền giám sát tối cao" có hiệu lực, hiệu quả và kịp thời hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như đưa ra những quyết định phù hợp về những vấn đề quan trọng của đất nước

1.2.2.3 Đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội

Về đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội, hiện nay còn có nhiều cách tiếp cận khác nhau Có quan điểm cho rằng, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước có nghĩa là Quốc hội giám sát tất cả các lĩnh vực hoạt động Nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp), tất cả các cơ quan Nhà nước (cơ quan nhà nước ở trung ương, các cơ quan nhà nước ở địa phương, các ngành, các cấp) và mọi công dân [35, tr.376] Quan điểm khác lại cho rằng, đối tượng của giám sát tối cao chỉ có

Trang 28

thể là các cơ quan và cá nhân do Quốc hội thành lập, bầu hoặc phê chuẩn Hay nói cách khác, đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội đó là các chủ thể cao nhất của bộ máy nhà nước bao gồm Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu các cơ quan này và các thành viên của Chính phủ [54, tr.147]

Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, Quốc hội nước ta không phải là Quốc hội hoạt động chuyên trách, thời gian diễn ra các kỳ họp Quốc hội còn

ít, vì vậy để Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao có hiệu quả thì Quốc hội phải được tổ chức chặt chẽ, có sự phân công, phân cấp rành mạch về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền cho các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tức là phải xác định cơ chế thực hiện quyền giám sát của Quốc hội Nói cách khác, quyền giám sát tối cao của Quốc hội

được ủy quyền cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ

ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội Điều này được thể hiện qua các quy định của Hiến pháp, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và nhiều văn bản pháp luật khác về thẩm quyền giám sát của các chủ thể này Do đó, có thể khẳng định rằng, mọi lĩnh vực hoạt động Nhà nước, mọi cơ quan nhà nước đều thuộc đối tượng giám sát của Quốc hội

1.2.2.4 Nội dung của hoạt động giám sát

Căn cứ các quy định của Hiến pháp 1992 và các văn bản pháp luật có liên quan, hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm các nội dung :

- Thứ nhất, giám sát hoạt động và việc ban hành văn bản quy phạm

pháp luật của các đối tượng chịu sự giám sát

Trang 29

- Thứ hai, xử lý các hành vi vi phạm bằng các biện pháp chế tài như:

bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh cấp cao trong bộ máy nhà nước; đình chỉ, bãi bỏ các văn bản trái với Hiến pháp, pháp luật

1.2.2.5 Phương thức thực hiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện tại kỳ họp và giữa hai

kỳ họp Quốc hội

Thứ nhất, Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét

báo cáo của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại các kỳ họp Quốc hội

Thứ hai, Giám sát thông qua chất vấn của đại biểu Quốc hội trong hoặc

ngoài kỳ họp

Thứ ba, Giám sát bằng hoạt động kiểm tra thực tế việc tuân theo Hiến

pháp và pháp luật ở cơ sở, địa phương của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội hoặc của Uỷ ban lâm thời của Quốc hội

Thứ tư, Giám sát qua việc xem xét việc khiếu nại, tố cáo của công dân

1.3 QUYỀN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN

1.3.1 Khái niệm quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Từ việc xem xét vị trí pháp lý của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp, pháp luật, trong mối quan hệ giữa Quốc hội với các thiết chế khác trong

bộ máy nhà nước thì Quốc hội đứng ở vị trí cao nhất về mặt quyền lực nhà

nước Hiến pháp năm 1992 quy định “Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (Điều 83), “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội”(Điều 84) nghĩa là không có bất kỳ một hoạt động nào của các cơ quan

Trang 30

nhà nước là không thuộc đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội [54, tr.191], đồng thời, mọi quy định của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội đều phải được Quốc hội theo dõi, xem xét, kiểm tra việc thực hiện chúng trong đời sống thực tiễn

Mặt khác, như đã phân tích ở trên, khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định và bảo vệ Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp luật khác mới cụ thể hoá, xác lập những cơ chế để bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo được thực hiện trong thực tế Thực tiễn cho thấy, hầu hết các đạo luật đều có các điều khoản ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo đi kèm như một chế định đảm bảo cho quyền, lợi ích của các bên khi họ tham gia vào quan hệ pháp luật mà đạo luật đó điều chỉnh Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước

ta Bản chất của luật là xác lập và điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể Mối quan hệ đó suy cho cùng không ngoài những vấn đề về quyền, nghĩa

vụ, lợi ích của các bên liên quan mà Nhà nước và pháp luật dự liệu, bảo vệ

Do vậy, mỗi khi có sự vi phạm các quyền, lợi ích nào đó thì pháp luật cũng quy định cho các bên được dùng quyền khiếu nại, tố cáo để tự bảo vệ thông qua sự can thiệp của Nhà nước Các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân phải xem xét, giải quyết kịp

thời Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền

tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định” Như vậy, giải quyết

khiếu nại, tố cáo của công dân chính là việc các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền "sử dụng quyền lực nhà nước" mà Hiến pháp, pháp luật giao để xem xét, xử lý các thông tin, yêu cầu được nêu trong khiếu nại, tố cáo của

Trang 31

công dân, qua đó bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của

cơ quan, tổ chức, cá nhân Do đó, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân cũng là “hoạt động của Nhà nước” và chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội

Vì vậy, có thể hiểu quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là quyền của Quốc hội tiến hành các biện pháp giám sát tối cao nhằm bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được thi hành nghiêm chỉnh

Về bản chất, quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân không phải là một “nhánh” quyền lực độc lập được quy định trong Hiến pháp mà nó là quyền phái sinh từ quyền giám sát tối cao của Quốc hội, là một bộ phận của quyền giám sát tối cao của Quốc hội Chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện quyền này là một trong những yếu tố chỉ mức độ hiệu quả của quyền giám sát tối cao và cũng là một trong những yếu

tố khẳng định vị trí pháp lý của Quốc hội trong thực tiễn vận hành của cơ chế

thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân nói chung và quyền khiếu nại, tố cáo nói riêng, Quốc hội là cơ quan có vị trí cao nhất Một mặt,

Trang 32

mỗi cá nhân bằng việc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín bầu ra các đại biểu Quốc hội để thông qua đó thực hiện quyền lực nhà nước của mình Mặt khác, Quốc hội là cơ quan có vị trí pháp lý cao nhất trong bộ máy nhà nước bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân với tư cách

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân

Quốc hội bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung và việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng thông qua các phương thức như bằng hoạt động lập hiến, lập pháp, bằng hoạt động giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của mình, bằng hoạt động quyết định những vấn đề cơ bản quan trọng nhất của đất nước, trong đó hoạt động giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

là một phương thức thực hiện quyền lực của nhân dân có ý nghĩa quan trọng

Cụ thể là:

a) Việc khiếu nại, tố cáo của công dân một mặt biểu hiện quyền giám

sát trực tiếp của nhân dân đối với bộ máy nhà nước, mặt khác lại là nguồn thông tin quan trọng cho hoạt động giám sát Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng và những yêu cầu bức xúc của người dân và qua đó kiến nghị những giải pháp kịp thời, phù hợp góp phần vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi bị xâm hại

b) Qua giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Quốc hội có thể phát hiện những tồn tại trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, từ đó kiến nghị giải pháp khắc phục những khó khăn, bất cập, chấn chỉnh về mặt tổ chức, hoạt động, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và thúc đẩy cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước

Trang 33

trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta

c) Việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội không chỉ tác động tích cực đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát mà nó còn có sự liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với việc thực hiện chức năng lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Một mặt, thông qua hoạt động giám sát đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Quốc hội có thể phát hiện những bất cập trong hệ thống pháp luật cũng như trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, phát hiện những vấn đề nào, quan hệ nào cần có sự điều chỉnh của pháp luật, những quy định nào, chế định nào không còn phù hợp với thực tiễn để từ đó có những sửa đổi, bổ sung kịp thời Mặt khác, hoạt động giám sát sẽ giúp Quốc hội có thể hoạch định những chính sách lớn và quyết định những vấn đề quan trọng được sát với thực tiễn, yêu cầu của xã hội

1.3.3 Nội dung quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

1.3.3.1 Chủ thể thực hiện quyền

Qua việc phân tích về quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn

bộ hoạt động của Nhà nước cũng như phân tích khái niệm về quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, có thể thấy chỉ có Quốc hội mới là chủ thể duy nhất thực hiện quyền giám sát tối cao đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, do tính chất hoạt động không thường xuyên nên Quốc hội không thể trực tiếp giám sát đối với mọi đối tượng, mọi khâu trong quá trình thực hiện Hiến pháp và pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân nên quyền giám sát tối cao của Quốc hội đã được uỷ quyền cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu

Trang 34

Quốc hội và đại biểu Quốc hội Các chủ thể này có quyền tiến hành các hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong phạm vi được phân công

1.3.3.2 Đối tượng chịu sự giám sát

Mọi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định đều là đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội Trong đó, đối tượng trực tiếp, thường xuyên chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội chỉ tập trung vào các đối tượng ở trung ương, là các chủ thể cao nhất của bộ máy nhà nước bao gồm Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu các cơ quan này và các thành viên của Chính phủ

1.3.3.3 Phạm vi giám sát

Quốc hội có quyền giám sát tối cao việc thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu các cơ quan này

và các thành viên của Chính phủ Căn cứ vào kết quả hoạt động giám sát, Quốc hội có thể ra quyết định miễn nhiệm, bãi nhiệm nếu thấy có hành vi vi phạm pháp luật hoặc phê chuẩn đề nghị của người có thẩm quyền về việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc cách chức các chức vụ Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội được thực hiện trên cơ sở hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trên phạm vi toàn quốc

1.3.4 Hình thức thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Trang 35

Để bảo đảm hiệu quả công tác giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Luật khiếu nại, tố cáo, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác đã quy định

cụ thể các hình thức giám sát của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

1.3.4.1 Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội tại kỳ họp

Quốc hội nước ta họp thường lệ 2 kỳ mỗi năm, làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số Tại kỳ họp, nơi biểu hiện trực tiếp và tập trung nhất quyền lực nhà nước, ngoài việc xây dựng pháp luật và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội còn thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng Hoạt động giám sát của Quốc hội tại

kỳ họp là phương thức giám sát quan trọng nhất, có tác động lớn nhất đến hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như toàn xã hội Tại kỳ họp, Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua các hình thức:

Thứ nhất, xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Đây là một nội dung quan trọng trong toàn bộ hoạt động giám sát của Quốc hội Tại kỳ họp Quốc hội cuối năm, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải báo cáo Quốc hội về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của mình Xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là việc tập thể Quốc hội cùng thảo luận, phân tích đánh giá kết quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các

Trang 36

cơ quan nhà nước Qua xem xét thảo luận các báo cáo, Quốc hội nắm được thông tin đầy đủ, chính xác và toàn diện về hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan này Trên cơ sở đó, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này theo Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Quốc hội và xem xét, đánh giá về trách nhiệm của họ trong công tác giải quyết, khiếu nại tố cáo của công dân Để việc xem xét đánh giá của Quốc hội

có chất lượng, một mặt đại biểu Quốc hội phải thu thập thông tin thật đầy đủ, khách quan, có thể từ nhiều nguồn khác nhau như thông tin được nêu trong các báo cáo, thông tin qua việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo của công dân, thông tin từ phương tiện thông tin đại chúng, thông tin được đề cập trong báo cáo thẩm tra của Uỷ ban pháp luật (Cơ quan của Quốc hội được giao thẩm tra các báo cáo này), từ báo cáo công tác dân nguyện của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Mặt khác, yêu cầu các báo cáo của các cơ quan trình Quốc hội phải đầy đủ, khách quan, nêu đúng thực trạng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, những kết quả đã đạt được, những khó khăn, yếu kém còn tồn tại, từ đó đề ra được những biện pháp giải quyết và có những kiến nghị, đề xuất việc giải quyết Thông qua việc xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, Quốc hội có quyền :

- Ra nghị quyết về tình hình thực hiện pháp luật trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trong đó, yêu cầu Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có biện pháp đẩy mạnh công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, kịp thời giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo không để tồn đọng, kéo dài,

xử lý nghiêm minh đối người vi phạm

Trang 37

- Quyết định việc xem xét trách nhiệm đối với Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Thứ hai, xem xét việc trả lời chất vấn của Thủ tướng Chính phủ, Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ đối với các chất vấn của đại biểu Quốc hội về tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong phạm vi trách nhiệm quản lý nhà nước của mình

Chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp là một trong những hình thức giám sát quan trọng của Quốc hội Chất vấn của đại biểu Quốc hội không phải là câu hỏi mang tính chất cung cấp thông tin thông thường mà mang tính quyền lực Khi đại biểu Quốc hội chất vấn thì đấy là chất vấn của cơ quan quyền lực, phát sinh quyền và trách nhiệm pháp lý bắt buộc những cá nhân và

cơ quan hữu quan phải nghiên cứu trả lời

Tại kỳ họp, đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Thủ tướng Chính phủ,

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, yêu cầu giải trình về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm giải quyết của họ Người bị chất vấn, theo quy định của pháp luật, buộc phải giải trình trước Quốc hội về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và nếu có sai sót thì phải nêu về những nhược điểm, tồn tại trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền cá nhân người đó phụ trách, đồng thời phải trả lời về nguyên nhân và biện pháp khắc phục tình trạng trên

Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thể hiện trực tiếp quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước hữu quan trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Đại biểu Quốc hội lúc này nhân danh quyền lực nhà nước cao nhất mà phán xét trách nhiệm

Trang 38

pháp lý của các cá nhân bị chất vấn Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ các nội dung vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn Nếu việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn không thoả đáng với nội dung chất vấn thì đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó hoặc đưa ra thảo luận tại Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc phiên họp khác của Quốc hội Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn

Căn cứ vào kết quả chất vấn và trả lời chất vấn, Quốc hội có thể thảo luận và ra nghị quyết về vấn đề chất vấn nếu thấy cần thiết

Thứ ba, khi tình hình khiếu nại, tố cáo trở nên bức xúc hoặc có vụ việc khiếu nại, tố cáo gay gắt, kéo dài, được dư luận quan tâm, Quốc hội có thể thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra và xem xét báo cáo kết quả điều tra của

Uỷ ban lâm thời về việc giải quyết của cơ quan hữu quan đối với khiếu nại, tố cáo đó

Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc của đại biểu Quốc hội trình Quốc hội quyết định thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra về thực trạng khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một vùng, một địa phương hay điều tra đối với một vụ việc

cụ thể mà đương sự khiếu nại gay gắt, kéo dài hoặc được dư luận quan tâm

Có thể nói, việc thành lập Uỷ ban lâm thời là phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao không có tính phổ biến Phương thức này thường chỉ xảy ra khi tiến hành giám sát tối cao bằng các phương thức khác nhưng có một hay một số hoạt động nào đó của đối tượng bị giám sát chưa được làm rõ

mà các chủ thể như đã nói ở trên yêu cầu làm rõ thêm [54, tr.155]

Khi tiến hành điều tra, Uỷ ban lâm thời có quyền yêu cầu các cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan đến vấn đề cần điều tra cung cấp tài liệu hoặc

Trang 39

trực tiếp đến trình bày những vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo mà Uỷ ban lâm thời đang tiến hành xem xét, thẩm tra Báo cáo kết quả điều tra của

Uỷ ban lâm thời được trình bày trước Quốc hội để Quốc hội xem xét, thảo luận và cho ý kiến Căn cứ vào kết quả thảo luận của đại biểu Quốc hội đối với Báo cáo kết quả điều tra của Uỷ ban lâm thời, Quốc hội sẽ ra nghị quyết

Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội Với tính chất là cơ quan thường trực của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Uỷ ban thường vụ Quốc hội được Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản pháp luật khác có liên quan quy định cụ thể những nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Xuất phát từ tính chất của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có thẩm quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước nên phạm vi giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng rất rộng bao gồm giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp ở trung ương và địa phương

Việc xem xét báo cáo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một trong những hình thức giám sát chính và quan trọng của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Thông qua hoạt động xem xét báo cáo của các cơ quan này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Trang 40

đánh giá được thực trạng khiếu nại, tố cáo của công dân và tình hình, chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước, từ đó có những kiến nghị kịp thời tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để có biện pháp khắc phục những tồn tại, nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Nguồn thông tin để Uỷ ban thường vụ Quốc hội làm cơ sở xem xét các báo cáo được thu thập từ nhiều nguồn như thông tin ngay trong các báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tin từ việc tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, thông tin

từ dư luận xã hội, từ báo cáo của các đoàn giám sát, từ báo cáo công tác dân

nguyện của Ban dân nguyện của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ( là cơ quan giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân) cũng như các báo cáo chuyên đề về giám sát việc

giải quyết khiếu nại, tố cáo của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, thông tin từ báo cáo thẩm tra của Uỷ ban pháp luật Đây là những nguồn thông tin quan trọng để Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét một cách khách quan, đầy đủ đối với báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm của các cơ quan này

Thông qua việc xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền:

- Ra nghị quyết về tình hình thực hiện pháp luật trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Kiến nghị, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với những người vi phạm cũng như đề nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm

Ngày đăng: 15/09/2017, 13:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w