1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LVTS 2014 phòng, chống tham nhũng từ phương diện giáo dục pháp luật đối với cán bộ công chức bộ máy hành chính

98 277 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đó, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật về PCTN cho đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính còn bộc lộ những hạn chế sau đây: Thứ nhất, hoạt

Trang 1

§¹I HäC QUèC GIA Hµ NéI

KHOA LUËT

*************

NGUYÔN THÞ KIM NHUNG

PHßNG, CHèNG THAM NHòNG Tõ ph-¬ng DIÖN GI¸O DôC PH¸P LUËT §èI VíI C¸N Bé, C¤NG CHøC

Bé M¸Y HµNH CHÝNH NHµ N¦íC

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử NN & PL

Mã số: 60.38.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Hồng Anh

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Kim Nhung

Trang 3

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GDPL: Giáo dục pháp luật PCTN: Phòng chống tham nhũng QLNN: Quản lý nhà nước

TTCP: Thanh tra Chính phủ XHCN: Xã hội chủ nghĩa VKSNDTC: Viện kiểm sát Nhân dân tối cao

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng

và lãnh đạo đã thu được những thành tựu quan trọng, song đất nước ta cũng còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có sự hoành hành của tệ tham nhũng Tham nhũng đã trở thành "quốc nạn" Tham nhũng cản trở quá trình phát triển kinh tế Tham nhũng làm đảo lộn các giá trị đạo đức Tham nhũng làm vẩn đục các quan hệ xã hội Do vậy, công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng luôn được coi là nhiệm vụ chiến lược của Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay mà Thanh tra Nhà nước giữ một vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng

Tham nhũng là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất của các chế độ xã hội và đặc biệt nguy hiểm đối với chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trước hết, nó làm tha hoá bộ máy Nhà nước, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, nhất là những viên chức ở cấp cao, có quyền lớn Những cán bộ, viên chức có hành vi tham nhũng mất đi khả năng điều hành, xử lý công việc một cách đúng đắn Một khi chính họ đã trở thành những kẻ phạm pháp thì nói gì đến chức năng "Cầm cân nẩy mực" trong đời sống xã hội Tham nhũng làm cho nhân dân mất tin tưởng, thậm chí bất bình, oán thán bộ máy Nhà nước, do đó làm cho Nhà nước tách rời, thậm chí đối lập với nhân dân Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với Nhà nước ta, bởi nó như một sự làm trái, thậm chí phản bội lại những lý tưởng cao cả mà quần chúng vẫn tin tưởng hết

Trang 5

lòng hy sinh phấn đấu Trong cơ chế thị trường hiện nay, ngoài những thế mạnh cần được phát huy để phát triển kinh tế, xã hội, cơ chế thị trường còn có những tồn tại nhất định, trong đó nạn tham nhũng đang

có xu hướng nẩy nở lan rộng, trở thành một trong bốn nguy cơ của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta và đã thật sự trở thành quốc nạn

Công tác PCTN đã trở thành một yêu cầu bức xúc của toàn xã hội, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tư tưởng, tổ chức của từng thành viên trong xã hội Một trong những giải pháp quan trọng nhằm PCTN có hiệu quả đó là công tác giáo dục pháp luật về PCTN cho mọi chủ thể nhằm góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các tầng lớp nhân dân, không những thế còn góp phần nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật và hiệu quả quản lý nhà nước Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác GDPL, trong những năm qua, các cơ quan nhà nước, các cơ sở, các tổ chức đã rất quan tâm đến công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTN đăc biệt cho đối tượng là đội ngũ cán bộ, công chức, vì vậy công tác này đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đó, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật về PCTN cho đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính còn bộc lộ những hạn chế sau đây:

Thứ nhất, hoạt động thông tin, tuyên truyền pháp luật của các cơ quan, tổ

chức nhiều khi chưa gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị Việc xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật hàng năm chưa đều, chất lượng chưa cao Các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng thời gian qua được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, song một số

Trang 6

văn bản không được tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt thường xuyên, nên quá trình triển khai thực hiện còn thiếu thống nhất, công dân, cơ quan, tổ chức gặp khó khăn khi thực hiện các quy định pháp luật

Thứ hai, nội dung giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng,

chống tham nhũng chưa phong phú, đa dạng, chưa được chuẩn hoá Đối tượng được tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng còn hẹp, thời gian qua mới tập trung vào thực hiện Đề án 137 đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng Bên cạnh đó hình thức, phương pháp tuyên truyền còn đơn điệu, tự phát, thiếu sự gắn kết giữa các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật; chưa thu hút được sự tham gia sâu của báo chí và các phương tiện thông tin chúng

Thứ ba, các cơ quan, tổ chức làm công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ

biến pháp luật về PCTN chưa có đội ngũ báo cáo viên được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật; nghiệp vụ về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa được nghiên cứu, hướng dẫn đầy đủ, do vậy, khi triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã gặp nhiều khó khăn, nhất là khâu tổ chức và mời báo cáo viên

Thứ tư, điều kiện về trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động

tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng cũng còn khiêm tốn; kinh phí phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhiều khi chưa được ưu tiên, đảm bảo

Trước những hạn chế, bất cập nêu trên thì cần phải triển khai nghiên cứu thấu đáo về công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tạo cơ sở nâng cao hiệu quả việc tuyên truyền, phổ biến trong thực tế, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các

cơ quan nhà nước Do vậy, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về PCTN nói riêng cho đội ngũ cán bộ, công chức trong

Trang 7

hệ thống cơ quan là vô cùng quan trọng và cần thiết Với lý do đó, tôi

chọn đề tài “Phòng, chống tham nhũng từ phương diện giáo dục pháp

luật đối với cán bộ, công chức bộ máy hành chính nhà nước” làm luận

văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nói rằng GDPL là một vấn đề mang tính cấp thiết của nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây cũng là vấn đề được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm Trong thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố như:

- Luận án Phó tiến sĩ của Lê Đình Khiêm (1993), Nâng cao ý thức pháp

luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính ở nước ta hiện nay, Hà Nội

- Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật(1995), do

TSKH Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội

- Một số vấn đề giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu

số(1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Luận án tiến sĩ của Dương Thanh Mai (1996), Công tác tuyên truyền

giáo dục pháp luật ở nước ta – thực trạng và giải pháp;

- Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay(1997),

của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật Bộ Tư pháp, Nxb Thanh niên, Hà Nội

- Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện nhà nước và Pháp luật, Học viện

chính trị Quốc gia (2000), Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các

Trường chính trị ở nước ta hiện nay, Hà Nội

- Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Văn Trầm(2002), Giáo dục pháp

luật cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Bình Định, Hà Nội

Trang 8

- Luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị của Quách Văn Trang (2002),

Tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, chính quyền cơ sở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội

- Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện

nay(2003), của tác giả Tô Tử Hạ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, …

- Luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị của Lê Thị Xuân Hương

(2009), Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp xã ở các huyện miền

núi tỉnh Thanh Hóa hiện nay, Hà Nội

- Luận văn thạc sĩ luật học của Đinh Thị Loan(2010), “Giáo dục pháp

luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang, Hà Nội

Những công trình nghiên cứu, tài liệu nêu trên là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị, mang tính lý luận và thực tiễn cao Nhưng các công trình nay chỉ mới dừng lại nghiên cứu ở góc độ lý luận chung về các vấn đề giáo dục pháp luật nói chung cho đội ngũ cán bộ, công chức trong tỉnh hoặc trong cơ quan nhà nước mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan nhà nước Vì vậy, đây là đề tài mới, đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề có tính lý luận về phòng, chống tham nhũng; giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, từ đó đánh giá đúng thực trạng và nhằm xác định những phương hướng, giải pháp để đổi mới công tác giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng cho đối tượng nêu trên

Trang 9

* Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có các nhiệm

vụ sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tham nhũng; phòng, chống tham nhũng từ phương diện giáo dục pháp luật đối với cán bộ, công chức trong bộ máy cơ quan hành chính nhà nước

- Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ công chức và công tác giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong hệ thống

cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

- Từ thực trạng đó, đưa ra những yêu cầu, quan điểm và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ

máy hành chính nhà nước

* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

- Những vấn đề lý luận về phòng, chống tham nhũng; giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

- Thực trạng công tác giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

cho cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay

- Yêu cầu, quan điểm, giải pháp đổi mới công tác giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

Trang 10

và pháp luật Cùng với các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước kiểu mới, về việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng hoạt động công vụ phục vụ nhân dân

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: đề tài sẽ sử dụng một cách linh hoạt và hợp lý các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp khảo sát thực tế; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp phân tích, đối chiếu; Phương pháp so sánh; Phương pháp tọa đàm trao đổi

6 Tính mới và những đóng góp của luận văn

- Nhìn nhận thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của chúng ta hiện nay

- Nhận thức được vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước

- Cho thấy rõ tác hại của tê nạn tham nhũng đối với sự phát triển của xã hội

- Đổi mới công tác giáo dục pháp luật để góp phần phòng, chống tham nhũng có hiệu quả

- Góp phần đưa ra những giải pháp nhằm giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong thời gian tới đem lại hiệu quả cao

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 03 chương:

Chương I: Cơ sở lý luâ ̣n về phòng , chống tham nhũng , giáo dục pháp luâ ̣t về phòng, chống tham nhũng cho cán bô ̣ , công chức trong bô ̣ máy hành chính nhà nước

Trang 11

Chương II: Thực tra ̣ng phòng , chống tham nhũng , giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bô ̣, công chức trong bô ̣ máy hành chính nhà nước ở nước ta

Chương III: Yêu cầu, quan điểm, giải pháp đổi mới giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bô ̣, công chức trong bô ̣ máy hành chính nhà nước ở nước ta

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG,

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY

HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1 Quan niệm về tham nhũng, phòng, chống tham nhũng

1.1.1 Quan niê ̣m về tham nhũng

Tham nhũng là mô ̣t p hạm trù xã hội mang tính lịch sử , tham nhũng luôn gắn bó chă ̣t chẽ với sự tồn ta ̣i và phát triển của bô ̣ máy nhà nước Về mă ̣t

lý luận, không thể có tê ̣ tham nhũng ngoài nhà nước , tách khỏi bộ máy quản

lý, cai tri ̣ Tham nhũng là căn bệnh đồng hành, đă ̣c trưng của mo ̣i nhà nước, là khuyết tâ ̣t bẩm sinh của quyền lực, là biểu hiện của sự “tha hóa quyền lực nhà nước”, là căn bệnh không thể tránh khỏi của các chế đô L.Montesquieue nhà

tư tưởng lớn người Pháp ở thế kỷ thứ XVI đã chỉ rõ : “ mo ̣i người có quyền lực đều có xu hướng la ̣m du ̣ng quyền lực đó”

Giữa các quốc gia khác nhau , biểu hiê ̣n của hành vi tham nhũng và quan niê ̣m về tham nhũng cũng khác nhau Trong mô ̣t quốc gia thì ở các giai đoa ̣n li ̣ch sử khác nhau điều kiê ̣n xã hô ̣i và các chủ thể mang quyền lực khác nhau thì hành vi tham nhũng cũng có những biểu hiê ̣n khác nhau Vì vậy, viê ̣c đưa ra mô ̣t khái niê ̣m hay đi ̣nh nghĩa hoàn chỉnh phản ánh đúng bản chất hành

vi tham nhũng và được chấp nhâ ̣n rô ̣ng rãi là điều không đơn giản

Tuy nhìn nhâ ̣n dưới nhiều góc đô ̣ khác nhau , nhưng nhìn chung các quốc gia, các học giả đều nhận định: Tham nhũng là mô ̣t hiê ̣n tượng xã hô ̣i có tính lịch sử , xuất hiê ̣n trong xã hô ̣i có phân chia giai cấp và hình thành nhà nước Tham nhũng là mô ̣t biểu hiê ̣n của sự lợi du ̣ng hay la ̣m du ̣ng quyền lực nhà nước và được thực hiện bởi chủ thể được nhà nước trao quyền Tham

Trang 13

nhũng ngày nay không còn là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề toàn cầu Các quốc gia trên thế giới đang cùng nhau thực hiện các biện pháp mạnh mẽ để phòng ngừa và đấu t ranh chống tham nhũng Đó cũng là lý

do khiến 136 quốc gia trên thế giới phê chuẩn , tham gia và áp du ̣ng các biê ̣n pháp thực thi công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (United nations Convention Against Corruption, viết tắt là: UNCAC, được thông qua ngày 31/10/2003 Viê ̣t Nam phê chuẩn UNCAC ngày 1/7/2009)

UNCAC không đưa ra đi ̣nh nghĩa về tham nhũng mà chỉ có mô ̣t số điều khoản mô tả các loại hành vi tham nhũng , đồng thời yêu cầu các quốc gia trong điều kiê ̣n thực tế của mình có trách nhiê ̣m nô ̣i luâ ̣t hóa để xử lý nghiêm minh những hành vi tham nhũng như : hối lô ̣, tham ô, biển thủ công quỹ hoă ̣c hành vi của công chức lợi dụng chức vụ , quyền ha ̣n chiếm đoa ̣t tài sản , lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi

Ở Việt Nam khái niệm “tham nhũng” được nhiều nhà khoa học , nhà làm luật và người áp dụng luật quan tâm nghiên cứu Cho đến nay trước khi

có Luật PCTN được ban hành đã có nhiều khái niệm khá c nhau về tham nhũng được đưa ra như:

“Tham nhũng là hiê ̣n tượng những người có chức vu ̣, quyền ha ̣n cố tình làm trái với những qui định chung nhằm vơ vét tài sản của công cho bản thân mình hoặc cho người khác” hoặc

“Tham nhũng là hành vi lợi dụng quyền lực để nhũng nhiễu , lấy tiền của của nhà nước và nhân dân phục vụ cho lợi ích cá nhân” hay

“Tham nhũng là viê ̣c những người trong bô ̣ máy Đảng , Nhà nước , trong đơn vi ̣ kinh tế và tổ chức xã hội lợi dụng địa vị công tác của mình để vụ lợi cho cá nhân , gây thiê ̣t ha ̣i đến lợi ích nhà nước và của nhân dân” [57,tr.21-22]

Trang 14

Thuâ ̣t ngữ “tham nhũng” được sử du ̣ng sớm nhất trong các văn bản pháp luật của nhà nước Việt Nam ta ̣i Quyết đi ̣nh số 240- HĐBT (ngày 26/6/1990) về đấu tranh chống tham nhũng của Hô ̣i đồng Bô ̣ trưởng (nay là Chính phủ) và nghị quyết của Quốc hội (ngày 30/12/1993) về thực hành tiết kiê ̣m chống lãng phí,

Theo từ điển Ti ếng Việt, “tham nhũng” được hiểu là hành vi “lợi du ̣ng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân và lấy của”[18, tr 910]

Theo Từ điển giải thích thuâ ̣t ngữ Luâ ̣t ho ̣c, “tham nhũng” được hiểu là (hành vi) lợi du ̣ng chức vu ̣ , quyền ha ̣n hưởng lợi ích vâ ̣t chất trái pháp luâ ̣t , gây thiê ̣t ha ̣i cho tài sản của Nhà nước , tâ ̣p thể, cá nhân, xâm pha ̣m hoa ̣t đô ̣ng đúng đắn của cơ quan, tổ chức” [56, tr 109]

Theo quy đi ̣nh của pháp lê ̣nh chống tham nhũng của Viê ̣t Nam năm

1998 thì tham nhũng “là hành vi của người có chức vụ, quyền ha ̣n đã lợi du ̣ng chức vu ̣, quyền ha ̣n đó để tham ô , hối lô ̣ hoă ̣c cố ý làm trái pháp luâ ̣t vì đô ̣ng

cơ vu ̣ lợi , gây thiê ̣t ha ̣i cho tài sản của nhà nước , tâ ̣p thể và cá nhân , xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức”

Theo quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 2 Điều 1 Luâ ̣t PCTN năm 2006, khái niệm tham nhũng được hiểu : “là hành vi của người có chức vu ̣ , quyền ha ̣n đã lợi dụng chức vụ , quyền hạn đó vì vụ lợi” Đi ̣nh nghĩa này được giữ nguyên trong Luâ ̣t sửa đổi , bổ sung mô ̣t số điều của Luâ ̣t PCTN đã được Quốc hô ̣i xem xét thông qua ta ̣i kỳ ho ̣p thứ 4 (tháng 10-11/2012)

Qua khái niê ̣m “tham nhũng” trong pháp lê ̣nh chố ng tham nhũng (1998) và Luật PCTN (2006) đã cho thấy sự khác nhau ở nhâ ̣n thức và quan niê ̣m của nhà lâ ̣p pháp về tham nhũng Nếu như trong pháp lê ̣nh đi ̣nh nghĩa

“tham nhũng” dưới da ̣ng liê ̣t kê các hành vi thì luâ ̣t PCTN đã đi ̣nh nghĩa

“tham nhũng” có tính khái quát cao hơn thông qua viê ̣c nêu ra các đă ̣c điểm của “tham nhũng” Căn cứ vào đó , các cơ quan chức năng sẽ xem xét , đánh giá hành vi để xác định hành vi tham nhũng

Trang 15

Khái niệm tham nhũng trong Luậ t PCTN (2006) phản ánh được đầy đủ hơn về tham nhũng hiê ̣n nay vì cũng giống như các nước khác trên thế giới , tham nhũng ở Viê ̣t nam có biểu hiê ̣n rất đa da ̣ng dưới nhiều hình thức khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vâ ̣y, viê ̣c mô tả, liê ̣t kê những hành

vi tham nhũng cùng với những đă ̣c điểm cu ̣ thể của nó là điều không thể và không cần thiết và sẽ dẫn đến tình tra ̣ng “bỏ lo ̣t”

1.1.2 Quan niệm về phòng, chống tham nhũng

Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, ngay từ những ngày đầu Cách mạng mới thành công, trong nhiều bài nói, bài viết và trong các bức thư gửi các cơ quan dân chính của Nhà nước, Hồ Chí Minh đã luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Trên cơ sở nhận thức sâu sắc sự nguy hiểm, tìm ra bản chất, nguyên nhân của tham ô, lãng phí, quan liêu, Hồ Chủ Tịch đã nêu ra hàng luật biện pháp nhằm đấu tranh PCTN Người nói: “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp” [21, tr.576] Theo Hồ Chủ Tịch, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu chính là biện pháp phòng ngừa tham ô, lãng phí hữu hiệu nhất Để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân hiệu quả,

Người chỉ thị, “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý

tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên” [20, tr.439]

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục xây dựng, hoàn thiện quan điểm, chủ trương, giải pháp, quy định về PCTN, theo đó Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí” đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo đối với công tác PCTN như sau:

Trang 16

Thứ nhất, Đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác PCTN, lãng phí, phát huy

sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn dân, thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự

PCTN liên quan đến ổn định chính trị, đến sự tồn vong của chế độ, do vậy Đảng phải lãnh đạo sát sao lĩnh vực công tác này, từ việc đề ra chủ trương, giải pháp, chỉ đạo tổ chức thực hiện cho đến thường xuyên kiểm tra việc thực thi trên thực tế Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, của tất cả tổ chức Đảng và đảng viên

Thứ hai, PCTN phải phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh

Thứ ba, vừa tích cực, chủ động phòng ngừa; vừa kiên quyết đấu tranh

chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính, gắn PCTN, lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy dân chủ, thực hành tiết kiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu

Thứ tư, PCTN, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; phải

tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục nhưng bước đi vững chắc, tích cực, có trọng tâm, trọng điểm

Thứ năm, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chú trọng tổng kết

thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài

Về cơ bản tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật hướng tới mục đích

vụ lợi của những người có quyền lực Chính vì vậy mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng là hết sức cam go, phức tạp, cần có một sức mạnh tổng hợp của

cả hệ thống chính trị và sự tham gia của toàn xã hội Ở đây chính là sự thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng, hoạt động của các cơ quan nhà nước và sự tham gia của quần chúng nhân dân Mặt khác PCTN là cuộc đấu tranh lâu dài

và toàn diện, bao gồm các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và phát hiện, xử

lý các hành vi tham nhũng, chính vì vậy mà khi bàn đến cơ chế đấu tranh chống tham nhũng sẽ là đề cập đến một vấn đề hết sức rộng lớn

Trang 17

Vậy PCTN được hiểu là tổng thể các biện pháp của các cơ quan có thẩm quyền nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh của các chủ thể được trao quyền lực công lợi dụng quyền lực công đó để thực hiện hành vi tư lợi

Các biện pháp PCTN là cách thức tác động mà các cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp và mọi cá nhân trong xã hội sử dụng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống mầm mống phát sinh tham nhũng, các hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác cho mình hoặc cho người khác

Xuất phát từ đặc trưng của “tham nhũng” là: Chủ thể có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao và hành động vì mục đích vụ lợi,

có thể thấy, PCTN có những đặc điểm như sau:

- Tham nhũng là căn bệnh của quyền lực, đấu tranh PCTN chủ yếu và trước hết là chống tham nhũng trong bộ máy quyền lực Đối tượng của nó chính là bản thân những con người và khuyết tật của hệ thống các cơ quan trong bộ máy Đảng và Nhà nước Trong số các đối tượng tham nhũng, có những người có chức vụ cao, là đảng viên đảm nhiệm những vị trí lãnh đạo quan trọng trong hệ thống các cơ quan của bộ máy Đảng và Nhà nước Lực lượng đấu tranh luôn phải chịu những sức ép, lực cản vô hình và đối đầu với những cám dỗ không dễ vượt qua Vì thế, cần có quyết tâm và nỗ lực tập trung cao độ; thiếu quyết tâm, nỗ lực sẽ không thể PCTN

- Chống tham nhũng nhằm tìm ra những kẻ thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, công chức, vạch ra những hành vi vi phạm để trừng trị và quan trọng hơn là chúng ta tìm ra được những khiếm khuyết của bộ máy nhà nước, để từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện bộ máy bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong QLNN ở các cấp các ngành Do vậy, rất cần

sự chung tay của toàn hệ thống chính trị

Trang 18

- Tính chất của công tác đấu tranh PCTN là rất nghiêm trọng, phức tạp,

nó liên quan đến sự ổn định chính trị, an ninh kinh tế và sự tồn vong của dân tộc, các đối tượng tham nhũng liên quan đến nhiều cấp nhiều ngành, nhiều địa phương, có sự thông đồng, móc nối, che chắn từ nhiều phía Do đó các cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và xác minh, điều tra các vụ việc liên quan đến tham nhũng

- Lực lượng chủ yếu và trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh PCTN là các cơ quan QLNN và cơ quan bảo vệ pháp luật Những cơ quan này có trọng trách rất lớn trong việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm về tham nhũng

1.2 Khái niệm giáo dục pháp luật, giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước

1.2.1 Khái niệm giáo dục pháp luật

Cho đến nay, ở Việt Nam chúng ta vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về GDPL, nhìn chung khái niệm GDPL chưa được thật sự có hệ thống Và về cơ bản có các quan niệm như sau:

- Trước hết, quan niệm cho rằng, pháp luật là những quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung Vì vậy mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tuân thủ thủ theo pháp luật, theo đó không cần đặt vấn đề giáo dục pháp luật nữa Pháp luật không thể là cái thuộc tính tuyên truyền, vận động, ngược lại, bản thân pháp luật sẽ tự thực hiện chức năng của mình bằng chính các quy định về quyền và nghĩa vụ thông qua các chế tài đối với những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh

- Quan điểm thứ hai, đồng nhất hoặc coi GDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức Vì thế chỉ cần thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức thì mọi công dân sẽ có ý thức

Trang 19

pháp luật cao, từ đó có sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật Với quan niệm này

đã từng tồn tại trong một thời gian khá dài ở nước ta Do đó, việc đào tạo các chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực pháp luật chưa được nhà nước chú trọng đào tạo đúng mức, mãi đến năm 1979 mới có cơ sở chuyên ngành đào tạo các luật gia ở bậc đại học và đến những năm 1987- 1988, việc GDPL mới bắt đầu đưa vào chương trình giáo dục ở bậc phổ thông

- Quan niệm thứ ba, cho rằng GDPL đồng nhất với việc tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật Và với quan niệm này, việc GDPL thực chất chỉ là các đợt tuyên truyền, vận động khi có văn bản pháp luật quan trọng của nhà nước mới được ban hành như: Hiến pháp, Bộ luật Dân Sự, Bộ luật đất đai, Bộ luật Hình sự hoặc trước các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp….Một khi thực hiện tốt công tác này là đã thực hiện tốt công tác GDPL Chính vì vậy mà coi công tác này là của các phương tiện thông tin đại chúng, của các cơ quan có chức năng tuyên truyền, vận động

Qua tất cả các quan niệm trên đây về GDPL có thể thấy rằng ở chúng đều có chung các đặc điểm là còn mang tính phiến diện, một chiều chưa thấy hết sự đặc trưng, sự tác động to lớn của công tác GDPL, do dó đã vô tình hoặc

có thể là cố ý hạ thấp vai trò, giá trị xã hội của giáo dục pháp luật, nhiều quan

hệ xã hội chủ yếu điều chỉnh bằng đạo lý chứ chưa được điều chinh bằng pháp luật theo kiểu “ phép vua thua lệ làng”

- Vì vậy để có khái niệm hoàn chỉnh đúng đắn nhất về GDPL chúng ta cần phải nhận thức khái niệm giáo dục theo hai nghĩa như sau:

+ Thứ nhất, GDPL là quá trình truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật

giúp cho đối tượng được tác động hiểu và hình thành ở họ những tri thức pháp luật, tình cảm, niềm tin, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành

Trang 20

+ Thứ hai, GDPL là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các

công đoạn phục vụ cho việc thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật (xây dựng chương trình, kế hoạch GDPL; triển khai chương trình, kế hoạch GDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp GDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch GDPL)

Theo đó, luận văn xin được tiếp cận theo nghĩa thứ hai vì những nội dung sau đây:

- Một là, Có thể nói quá trình hình thành và phát triển ý thức của con

người là sản phẩm của cả một quá trình ảnh hưởng, tác động đồng thời của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Qua đó các điều kiện khách quan có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức của con người, đến việc hình thành nhân cách con người Đó là những hoạt động chủ động, có mục đích, có tính định hướng, do con người thực hiện, khi con người được cung cấp những tri thức khoa học, tri thức về cuộc sống thì trong lòng họ sẽ dần hình thành lòng tin, tình cảm Có như vậy, họ mới có được những nhận thức đúng đắn và điều chỉnh hành vi của con người một cách phù hợp với đòi hỏi của xã hội Vì vậy, quá trình GDPL phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, có định hướng, có tổ chức Điều này, càng thấy rõ hơn trong điều kiện hiện nay, khi

mà nền kinh tế - xã hội đã có những biến đổi to lớn thu được nhiều thành tựu

to lớn trên các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội…

Hai là, khái niệm GDPL còn có ý nghĩa trong việc phân biệt phạm trù

giáo dục với phạm trù ý thức pháp luật, hai phạm trù này có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là đồng nhất với nhau Hoạt động GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan, là hoạt động có tính định hướng, có chủ định, có tính tổ chức, trong khi sự hình thành ý thức pháp luật là hình ảnh, sản phẩm của điều kiện khách quan

Trang 21

Từ những sự phân tích trên đây chúng ta có thể thấy được rằng, những quan niệm về giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp là cơ sở để đưa ra được

khái niệm hoàn chỉnh về GDPL: GDPL là hoạt động định hướng có tổ chức,

có chủ định của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ những tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành

1.2.2 Khái niệm giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước

Khái niệm GDPL về PCTN được hiểu trong quan niệm chung về hoạt động GDPL được nhiều người thừa nhận, song có những đặc thù của hoạt động tuyên truyền pháp luật trong lĩnh vực này Căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành chúng ta thấy rằng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chức năng cơ bản trong đấu tranh phòng , chống tham nhũng có trách nhiệm chủ động phát hiện các hành vi tham nhũng, xử lý vi phạm theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị đó, thì nhiệm vụ GDPL về PCTN đối với đội ngũ cán bộ , công chức trong bô ̣ máy hành chính nhà nước được coi là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần để cơ quan, tổ chức, cá nhân đó hoàn thành chức năng, nhiệm

vụ chính trị của mình Trên thực tế, nhiều văn bản pháp luật hiện hành về phòng, chống tham nhũng đã ghi nhận GDPL là nội dung của quản lý nhà

nước Xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành, vai trò của các cơ quan

trong quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng và quan niệm tuyên truyền pháp luật, phổ biến pháp luật được nhiều người thừa nhận, có thể nói

rằng, GDPL về PCTN là hoạt động định hướng có tổ chức , có chủ định của

các cơ quan nhà nước, các chủ thể khác thông qua các hình thức , phương tiện và phương pháp , giáo dục , tuyên truyền, phổ biến pháp luật phù hợp, nhằm tác động tới các đối tượng được tuyên truyền, phổ biến pháp luật để hình thành tri thức, tình cảm và hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật

phòng, chống tham nhũng ở các đối tượng đó

Trang 22

Trên cơ sở khái niệm GDPL về PCTN có thể nhận thấy , công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng , chống tham nhũng của chủ thể giáo du ̣c là toàn bộ những hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật của chủ thể từ việc xác định nội dung, hình thức, đối tượng tuyên truyền, phổ biến, cho đến bố trí, phân công trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị tổ chức

thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Với cách hiểu này và trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay

ở nước ta, việc trang bị kiến thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng, xây dựng tình cảm và thói quen pháp luật về phòng , chống tham nhũng cho đô ̣i ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước là trách nhiệm của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền , đồng thời là của các cơ quan nhà nước khác, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội Vì thế, tăng cường công tác, GDPL về PCTN là nhiệm vụ rất quan trọng , vì hiệu quả công tác GDPL về PCTN không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực pháp luật về phòng, chống tham nhũng mà còn góp phần vào việc hình thành văn hoá pháp lý nói chung cho mọi công dân, cơ quan, tổ chức trong xã hội đă ̣c biê ̣t là với đô ̣i ngũ cán bô ̣ , công chức trong bô ̣ máy hành chính nhà nước

1.3 Vai trò của giáo dục pháp luật về đấu tranh phòng, chống tham nhũng cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thông cơ quan hành chính nhà nước

1.3.1 Nâng cao nhận thức, ý thức kỷ luật về phòng, chống tham nhũng cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước

GDPL về PCTN giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước nói chung và trong bộ máy hành chính nhà nước nói riêng ý thức được một cách đúng đắn cũng như thực thi một cách có hiệu quả quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người cán bộ, công chức trong sự nghiệp xây

Trang 23

dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, góp phần thiết thực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình hội nhập của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa… ngày càng sâu rộng trong phạm vi khu vực và trên toàn thế giới; GDPL về PCTN là một trong những khâu quan trọng tạo ra tiền đề ý thức kỷ luật và nâng cao nhận thức của người cán bộ, công chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ công vụ của mình Thông qua hoa ̣t đô ̣ng GDPL về PCTN cho cán bô ̣ , công chức , mỗi người cán bô ̣ , công chức được trang bi ̣ những tri thức cơ bản về trách nhiê ̣m cũng như nghĩa vu ̣ của ho ̣ trong quá trình thực thi công vụ , mỗi người trong số ho ̣ cần thấy rõ rằng viê ̣c mình làm

là để phục vụ Nhà nước , xã hội và nhân dân Từ nhâ ̣n thức đó người cán bô ̣ , công chức phải luôn gương mẫu trong lời nói viê ̣c làm để xứng đáng là công

bô ̣c của dân

1.3.2 Xây dựng niềm tin cho nhân dân vào đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước

Cán bộ, công chức là những người trưởng thành , môi trường công tác của họ là các cơ quan Nhà nước , tổ chức chính tri ̣, tổ chức chính tri ̣ - xã hội Trong pha ̣m vi chức năng , nhiê ̣m vu ̣ của mình , cán bộ , công chức thường tham gia vào các quan hê ̣ pháp luâ ̣t với tư cách là người đa ̣i diê ̣n cho Đảng và Nhà nước thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể trong quan hệ với nhân dân

Vì vậy , thái độ và hành vi ứng xử đúng mực, tác phong làm việc nghiêm túc, trong sa ̣ch , liêm chính , chí công, vô tư có tác đô ̣ng rất lớn đến niềm tin của nhân dân Có như vậy , nhân dân mới thực sự tin vào đảng , chế đô ̣ và nhà nước Viê ̣c giáo du ̣c pháp luâ ̣t về PCTN cho cán bô ̣ , công chức trong

hê ̣ thống cơ quan hành chính không chỉ là giáo du ̣c kiến thức về PCTN đơn thuần mà còn phải kết hợp cả viê ̣c giáo du ̣c phong cách làm viê ̣c , đa ̣o đức , lối sống… , không có đa ̣o đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân

Trang 24

Nguồn gốc xuất phát của mỗi người cán bộ, công chức đều từ nhân dân,

ở trong nhân dân mà ra, nhưng họ lại có nhiệm vụ quản lý và phục vụ nhân dân Người cán bộ, công chức là đầy tớ nhân dân trong thời ký đổi mới nên cũng sẽ có nhiều vấn đề phát sinh so với người cán bộ trong thời chiến, đó là đối tượng họ quản lý, phục vụ, đó là sự chi phối của cơ chế thi trường, bối cảnh toàn cầu hoá… Vì vậy phải hiểu được người cán bộ, công chức có gì, cần gì để đánh giá đúng và sử dụng hiệu quả Một người cán bộ, công chức không thể tốt khi đạo đức, và năng lực họ kém hơn so với nhân dân - đối tượng mà họ phục vụ Công việc họ đảm nhiệm là công vụ nên tất yếu không cho phép nãy sinh tư lợi trong quá trình họ làm việc Xuất phát từ những vấn

đề đó, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, giúp họ có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phải được coi trọng hơn, phải từng bước được nâng lên theo yêu cầu của xã hội Đặc biệt, cần quan tâm đến công tác giáo dục các

kỹ năng mềm như: kỹ năng sắp xếp thời gian, kỹ năng bố trí và quản lý công việc, kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống …

Học tập đạo đức Hồ Chí Minh tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng

viên, dù ở bất cứ cương vị nào phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với

dân Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo đói

Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm

Chúng ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và

vì dân Để đa ̣t được mu ̣c đích đó trước hết đô ̣i ngũ cán bô ̣ , công chức phải hiểu biết về pháp luâ ̣t đă ̣c biê ̣t những văn bản pháp luâ ̣t liên quan đến cán bô ̣ ,

Trang 25

công chức như luâ ̣t cán bô ̣ , công chức ; luâ ̣t phòng chống tham nhũng ; luâ ̣t thực hành tiết kiê ̣m , chống lãng phí…Bên ca ̣nh sự hiểu biết về pháp luâ ̣t , người cán bô ̣, công chức phải thành tha ̣o về chuyên môn , phải chí công vô tư như lời Bác Hồ da ̣y : “cán bô ̣ phải đoàn kết nhất trí, giữ vững đa ̣o đức , cần, kiê ̣m, liêm, chính; kiên quyết chống quan lieu , tham ô, lãng phí; hết lòng, hết

dạ phục vụ nhân dân ; chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của chính phủ và pháp luật của nhà nước” [20, tr.134]

1.3.3 GDPL về PCTN cho đội ngũ cán bộ , công chức trong bộ máy hành chính nhà nước tạo ra những điều kiện và nhân tố thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước

Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp Thực hiện pháp luật bao gồm những cấp độ khác nhau, từ việc tuân thủ đến việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà pháp luật quy định Dù ở cấp độ nào thì để thực hiện pháp luật đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải có trình độ và sự hiểu biết về pháp luật để thực thi nhiệm vụ theo chức trách của mình

Sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sự hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, đồng thời tạo ra những thuận lợi và những thử thách mới đối với mỗi chúng ta trong lĩnh vực đạo đức Hơn lúc nào hết, hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm đầy đủ đến vấn đề đạo đức, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức đúng đắn, tiến bộ; đẩy mạnh giáo dục, rèn luyện và tăng cường quản lý đạo đức trong Đảng và trong nhân dân

Kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của ông cha, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp quan trọng để

Trang 26

khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm lành mạnh nền đạo đức xã hội, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội, tạo động lực cho sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững Vấn đề

cơ bản nhất khi thực hiện cuộc vận động là mỗi người chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của vấn đề đạo đức, thường xuyên tự giác, nỗ lực học tập, rèn luyện, tu dưỡng theo gương Bác Hồ vĩ đại

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay” đã đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cần phải làm ngay

để xây dựng , chỉnh đốn Đảng , làm trong sạch đội ngũ c án bộ , đảng viên , trong đó điều cốt lõi là công tác cán bô ̣ và đấu tranh với tê ̣ quan liêu , tham nhũng, thái độ vô cảm, vô trách nhiê ̣m của mô ̣t bô ̣ phâ ̣n cán bô ̣, đảng viên thâ ̣t đáng lo nga ̣i, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng, thâ ̣m chí là nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế đô ̣ Vì vậy, các cấp ủy đảng, chính quyền cần nhận thức sâu sắc việc GDPL về phòng , chống tham nhũng có hiê ̣u quả là đòi hỏi cấp thiết nhằm nâng cao hiê ̣u lực , hiê ̣u quả trong quản lý nhà nước

1.4 Nội dung giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước

1.4.1 Giáo dục về ý thức đạo đức mới của người cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ

Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc ứng xử quy định hành

vi, quan hệ của con người đối với nhau, được dư luận xã hội thừa nhận, tôn trọng và tự giác thực hiện mà không cần đến sự cưỡng chế Nhà nước ghi nhận những giá trị đạo đức, văn hoá phù hợp và cụ thể hoá các giá trị đó thành những nguyên tắc, quy định pháp luật có giá trị bắt buộc thi hành với các chủ thể trong xã hội, đồng thời bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước

Trang 27

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tác động vào ý thức và hình thành, củng cố, phát triển lòng tin của con người đối với những nguyên tắc cơ bản của đạo đức, lòng tin của xã hội đối với các giá trị pháp luật, hướng đến hoàn thiện mối quan hệ giữa con người với con người Pháp luật về phòng chống tham nhũng là công cụ trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; bảo vệ sự trong sạch của bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, do vậy tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống tham nhũng có vai trò củng cố và phát triển các giá trị pháp luật trong lĩnh vực này và điều này góp phần hình thành, củng cố và phát triển ý thức

đạo đức mới trong xã hội Nguyên tắc đạo đức được hình thành ở đây là:

+ Đối với cán bộ, công chức Nhà nước: biết yêu nhân dân, bảo vệ nhân dân, bảo vệ pháp luật, yêu quý và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; tiết kiệm của công, thanh liêm chính trực, phụng công thủ pháp, chí công vô tư; thực

hành đúng phận công bộc của dân

+ Đối với nhân dân: biết yêu quý và bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; tích cực tham gia xây dựng nhà nước, xây dựng đội ngũ cán

bộ, công chức nhà nước trong sạch vững mạnh, cần, kiệm, liêm, chính; tích cực đấu tranh bảo vệ pháp luật, phòng, chống tham nhũng; thực hành sống và làm việc theo pháp luật

1.4.2 Giáo dục về quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công tác phòng, chống tham nhũng

Theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t cán bô ̣, công chức thì người cán bô ̣, công chức phải trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia ; tôn tro ̣ng nhân dân, tâ ̣n tu ̣y phu ̣c vu ̣ nhân dân; liên hê ̣ chă ̣t chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến

và chịu sự giám sát của nhân dân ; chấp hành ng hiêm chỉnh đường lối , chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Trang 28

Khi bàn về vấn đề cán bô ̣, Hồ Chủ Ti ̣ch đã viết “cán bô ̣ là những người đem chính sách của Đảng , của chính phủ giải thích cho dân chúng hi ểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng , cho Chính phủ hiểu rõ , để đặt chính sách đúng , vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi công viê ̣c…”

Để “thực hiê ̣n tốt nhiê ̣m vu ̣ , công vu ̣ được giao” để “đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành” và để

“đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng , cho Chính phủ hiểu rõ , để

đă ̣t chính sách đúng” thì người cán bô ̣ , công chức trư ớc hết phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối , chủ trương của Đảng và chính sách , pháp luật của Nhà nước; phải thi hành nhiệm vụ, công vu ̣ theo đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Cán bộ, công chức chi ̣u trách nhiê ̣m trước pháp lu ật về việc thi hành nhiệm

vụ, công vu ̣ của mình; cán bộ, công chức giữ chức vu ̣ lãnh đa ̣o còn phải chi ̣u trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ , công vu ̣ của cán bô ̣, công chức thuô ̣c quyền theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t

Trong quá trình đổi mới và cải cách bộ máy nhà nước pháp quyền xã

hô ̣i chủ nghĩa của dân , do dân và vì dân , Đảng và Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiê ̣n các chuẩn mực về đa ̣o đức , các chuẩn mực pháp lý về tiêu c huẩn và hành vi của cán bô ̣ , công chức trong hoa ̣t đô ̣ng công vu ̣ Luâ ̣t cán bô ̣ , công chức ; luâ ̣t PCTN ; Luâ ̣t thực hành tiết kiê ̣m , chống lãng phí…đã có những quy đi ̣nh cu ̣ thể về tiêu chuẩn , nghĩa vụ , quyền lợi của cán bô ̣ , công chức

Nhiê ̣m vu ̣, quyền ha ̣n của cán bô ̣ , công chức đều được pháp luâ ̣t quy

đi ̣nh Để hoàn thành chức năng , nhiê ̣m vu ̣ được giao , cùng với việc phải có trình độ chuyên môn , nghiê ̣p vu ̣, có kiến thức quản lý nhà nước , quản lý x ã

hô ̣i, mô ̣t trong những yêu cầu mang tính bắt buô ̣c đối với cán bô ̣, công chức là phải nắm vững quy định của pháp luật vì pháp luật là công cụ đồng thời là

Trang 29

phương tiê ̣n để cán bô ̣ , công chức thực thi nhiê ̣m vu ̣ , đảm bảo thự c hiê ̣n quyền lợi , nghĩa vụ chính đáng của nhân dân Giáo dục pháp luật về PCTN cho cán bô ̣, công chức, trang bi ̣ cho ho ̣ những kiến thức cơ bản cần thiết về pháp luật nói chung và những văn bản pháp luật liên quan đến PCTN nó i riêng để ho ̣ vâ ̣n du ̣ng vào quá trình thực thi nhiê ̣m vu ̣ theo pháp luâ ̣t là điều rất quan tro ̣ng

Hiê ̣n nay vấn đề GDPL về PCTN cho cán bô , công chức chưa được quan tâm đúng mức , chưa được đă ̣t ngang tầm với yêu cầu quản lý xã h ội bằng pháp luâ ̣t, chưa được tiến hành thường xuyên , liên tu ̣c và đồng bô ̣, chưa

có trọng tâm, trọng điểm; chưa có sự phối kết hợp giữa các cấp các ngành để huy đô ̣ng sức ma ̣nh của cả hê ̣ thống chính tri ̣ và sự tham gia của toàn xã hội vào công cuộc đấu tranh phòng , chống tham nhũng Do vâ ̣y vẫn còn tồn ta ̣i

mô ̣t số bô ̣ phâ ̣n cán bô ̣ , công chức vi pha ̣m pháp luâ ̣t , tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu nhân dân…Điều đó đặt ra cho chúng ta phải tăng cườn g GDPL về PCTN trong đó có vấn đề nâng cao trách nhiê ̣m và nghĩa vu ̣ của mỗi cán bô ̣

công chức để ho ̣ thực sự là công bô ̣c của dân

1.4.3 Cung cấp kiến thức về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng

Phòng ngừa tham nhũng là một trụ cột của Luật phòng, chống tham nhũng, được coi là hình thức chống tham nhũng căn bản, nền tảng cho toàn bộ

hệ thống các biện pháp chống tham nhũng Nhận thức về vấn đề này hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn, phòng ngừa tham nhũng đòi hỏi ít chi phí hơn và mang lại hiệu quả rộng lớn, lâu dài hơn Tuy nhiên lại đòi hỏi sự nỗ lực, kiên trì toàn diện từ phía các chủ thể có trách nhiệm Kinh nghiệm chống tham nhũng của các nước trên thế giới cho thấy, công tác phòng ngừa đóng vai trò rất quan trọng Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng khuyến cáo các quốc gia thành viên lưu ý trong việc xây dựng và duy trì một chiến lược phòng ngừa tham nhũng liên tục, toàn diện và có hiệu quả Pháp luật Việt Nam hiện hành

Trang 30

quy định khá đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đang được nhiều nước trên thế

giới áp dụng hiện nay Chính vì vậy, trong Luật phòng, chống tham nhũng năm

2005, nội dung về phòng ngừa tham nhũng chiếm tỉ lệ rất lớn, phần lớn những

điểm mới trong quy định của pháp luật về chống tham nhũng nằm trong các biện pháp phòng ngừa tham nhũng

Trong công tác GDPL về PCTN một trong những nội dung cơ bản, thiết thực đó là tuyên truyền, giáo dục các nhóm biện pháp phòng, ngừa tham nhũng đến đối tượng giáo dục, bao gồm:

- Thực hiện công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị Đây là biện pháp trụ cột quan trọng trong hệ thống phòng ngừa tham nhũng Công khai minh bạch giúp giảm thiểu tham nhũng, tăng cường khả năng kiểm soát và phát hiện tham nhũng Luật PCTN đã giành nhiều quy định cho công khai, minh bạch, đây là một thiết chế rất quan trọng giúp cho công tác phòng, chống tham nhũng được tốt và hiệu quả Trong những lĩnh vực

cụ thể cần được công khai, minh bạch bao gồm: mua sắm tài sản công, quản lý

dự án đầu tư, xây dựng, tài chính và ngân sách nhà nước, huy động, sử dụng các khoản đóng góp của cán bộ, công chức, nghiên cứu khoa học…

- Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực công Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng tham nhũng, lãng phí tiền, tài sản của nhà nước đó

là hệ thống chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong quản lý nhà nước chưa đầy đủ

và hoàn thiện, việc thực hiện không đúng hoặc cố ý làm trái dẫn đến vi phạm pháp luật Vì vậy hoàn thiện và đảm bảo thực hiện đúng chế độ định mức, tài chính là yêu cầu quan trọng trong phòng ngừa tham nhũng

- Quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức Xét một cách tổng thể, quy tắc ứng

xử của cán bộ, công chức không chỉ góp phần phòng, chống tham nhũng mà

Trang 31

còn có vai trò rất lớn trong việc xây dựng nền quản lý nói chung và quản lý hành chính nói riêng trong sạch, liêm chính, trách nhiệm

- Minh bạch tài sản, thu nhập, đây là một biện pháp có tác dụng phòng ngừa tham nhũng hiệu quả Việc tài sản, thu nhập được kiểm soát chặt chẽ và minh bạch hóa sẽ triệt tiêu đáng kêt động cơ tham nhũng của một bộ phận cán

bộ, công chức Bởi vì không thể che dấu tài sản tham nhũng và việc sử dụng tài sản này có nguy cơ bị phát hiện cao thì cán bộ, công chức có ý định tham nhũng buộc phải đắn đo và phần lớn sẽ thay đổi ý định tham nhũng của mình

- Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng Vấn đề trách nhiệm của người đứng đầu là một yếu tố quan trọng trong quản lý nhà nước nói chung nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng Việc phân định cụ thể và đảm bảo thực hiện nghiêm túc chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu sẽ giúp tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý và giảm tham nhũng

- Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán Cải cách hành chính có quan hệ mật thiết và có vai trò quan trọng trong hoạt động phòng, chống tham nhũng Thực tiễn cho thấy những quốc gia có nền quản lý công tốt, minh bạch và mang tính phục vụ đều là những nước ít có tham nhũng

1.5 Đặc điểm giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước

1.5.1 Đặc điểm về mục đích của giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Xét về mặt lý luận thì mục đích của GDPL là nhằm nâng cao hiểu biết

về pháp luật, tạo cho cán bộ và nhân dân hình thành niềm tin vào luật pháp, từ

đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành của cán bộ và nhân dân

Trang 32

Do đó, nếu xác định đúng đắn mục đích của GDPL có ý nghĩa to lớn trong lý luận và thực tiễn Vì về mặt lý luận, việc xác định mục đích GDPL sẽ

là cơ sở khách quan của việc xác định hình thức, nội dung, phương tiện, phương pháp giáo dục Về mặt thực tiễn, việc xác định đúng mục đích của GDPL sẽ phát huy được vai trò của nó trong toàn bộ hoạt động giáo dục và đối với toàn xã hội

Với những biê ̣n pháp giáo du ̣c cơ bản về PCTN áp du ̣ng tới các chủ thể

là cán bộ , công chức trong cơ quan hành chính nhà nước nhằm đa ̣t được những mu ̣c đích sau đây:

- Nâng cao nhâ ̣n thức , vai trò của đô ̣i ngũ cán bô ̣, công chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ Hoạt động công vụ của người cán bộ thực chất là nhằm mu ̣c đích phu ̣c vu ̣ nhân dân, không nhằm mưu cầu lợi ích cá nhân

- Ngăn chă ̣n, làm triệt tiêu các điều kiện và cơ hội phát sinh tham nhũng

- Nâng cao tính trách nhiê ̣m, tính chuyên nghiệp, sức chiến đấu và hiê ̣u quả hoạt động của các chủ thể trong đấu tranh PCTN

- Hiểu rõ chính sách xử lý đối vớ i tham nhũng , đă ̣c biê ̣t là chính sách hình sự, tố tu ̣ng hình sự và pháp lê ̣nh xử pha ̣t vi pha ̣m hành chính

Phân tích ở trên cũng cho thấy , mục đích chung của việc GDPL về PCTN là hoạt động nhằm hình thành ở đối tượng được tuyên truyền tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật trong các lĩnh vực này GDPL về PCTN đóng vai trò quan trọng vào việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về PCTN của đô ̣i ngũ cán bộ , công chức, đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật và hiệu quả quản lý nhà nước

Từ bản chất đó, thì mục đích, ý nghĩa của công tác GDPL về PCTN được thể

hiện dưới các khía cạnh sau: GDPL về PCTN góp phần hình thành ở đối

tượng được tuyên truyền, phổ biến tri thức pháp lý, tình cảm và cách xử sự

Trang 33

phù hợp với pháp luật về phòng chống tham nhũng Thực tế cho thấy , giáo

dục, tuyên truyền , phổ biến pháp luật nói chung và giáo du ̣c , tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống tham nhũng được thực hiện thông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau Tuy nhiên, dù với hình thức, biện pháp nào thì hoa ̣t động này luôn tác động trực tiếp đến ý thức của đối tượng với mục đích là góp phần hình thành ở đối tượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật nói chung và các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng Hoạt động này tạo ra sự quan tâm của đối tượng đối với pháp luật, từ chỗ không biết, đối tượng được tuyên truyền, phổ biến dành sự quan tâm của mình đối với pháp luật, dần dần hình thành thói quen, ý thức tìm hiểu, nghiên cứu những khái niệm, kiến thức pháp luật được truyền tải tới họ và thông qua sự hiểu biết , ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng sẽ ngày càng được nâng lên Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòn g, chống tham nhũng cũng tạo niềm tin của công dân vào pháp luật và khi đã có niềm tin thì họ sẽ biết tự điều chỉnh hành vi theo đúng các quy định; đồng thời tạo được sự ủng hộ, tinh thần phê phán, lên

án những hành vi vi phạm, đi ngược lại với các quy định của pháp luật Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta, pháp luật không chỉ là phương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý xã hội mà còn là phương tiện cho các cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình , vì vậy công tác giáo du ̣c , tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng có ý nghĩa to lớn trong việc giúp các tầng lớp nhân dân nói chung và đô ̣i ngũ cán bô ̣ , công chức trong bô ̣ máy hành chính nhà nước nhận thức được các giá trị cao đẹp của pháp luật , trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi để họ chấp hành, thực hiện pháp luật, đồng thời vận dụng đúng trong cuộc sống

Đối với Việt Nam, khi mà điều kiện trình độ văn hoá pháp lý còn khá thấp, đời sống kinh tế của đa số người dân hiện nay còn gặp khó khăn; số

Trang 34

đông nhân dân lao động trong xã hội chưa có điều kiện tiếp cận với pháp luật thì tuyên truyền, phổ biến pháp luật càng quan trọng và cần được đẩy mạnh Tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải đáp ứng yêu cầu truyền tải những thông tin, nội dung và các quy định pháp luật đến với mọi tầng lớp nhân dân; giúp cho người dân biết, hiểu và nắm bắt kịp thời các quy định của pháp luật,

từ đó sử dụng đúng pháp luật trong cuộc sống của mình

Thực tế pháp luật về phòng, chống tham nhũng chỉ ra rằng, muốn phát huy hiệu lực, hiệu quả của pháp luật thì không chỉ giải quyết hiệu quả các yếu

tố phụ thuộc vào đối tượng chấp hành là người dân, cán bộ, công chức mà còn phải giải quyết nhiều yếu tố liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước Một trong những nguyên nhân của vi phạm pháp luật

là do trình độ văn hoá pháp lý của người dân, một bộ phận cán bộ, công chức còn thấp, song muốn pháp luật được tuân thủ thực hiện triệt để trong cuộc sống thì ngoài việc đưa pháp luật đến với đối tượng chấp hành thì chính những người thực thi công vụ cũng cần phải thường xuyên được cập nhật kiến thức pháp luật Để thực hiện được điều này, bên cạnh nỗ lực cá nhân của họ, các cơ quan nhà nước hữu quan cần có sự định hướng, giúp đỡ thông qua việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật Pháp luật về phòng chống tham nhũng là một bộ phận hợp thành hệ thống pháp luật Việt Nam, mang đặc thù pháp luật của Nhà nước ta, cho nên tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật này

từ lâu đã trở thành một khâu quan trọng trong tổ chức thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước và là khâu đầu tiên manh tính quyết định trong chu trình tổ chức thực hiện pháp luật về phòng chống tham nhũng

Pháp luật về phòng, chống tham nhũng quy định nhiều hoạt động quan trọng phát sinh giữa một bên là nhà nước, các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước với một bên là công dân , tổ chức, cá nhân trong

xã hội Các hoạt động này có ảnh hưởng lớn đến việc củng cố , tăng cường

Trang 35

pháp chế, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa , vì thế giáo du ̣c , tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng được thực hiện tốt có nghĩa là huy động được sự tham gia của xã hội vào việc phòng ngừa, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, vào bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân và góp phần phát huy dân chủ và bảo vệ tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật Ngoài việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật thì tự bản thân hoạt động phòng, chống tham nhũng cũng chiếm một vị trí quan trọng trong việc tăng cường pháp chế và mở rộng dân chủ và trên thực tế vai trò này của công tác phòng, chống tham nhũng đã không ngừng được củng cố, phát triển qua các thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước ta

1.5.2 Đặc điểm về chủ thể của giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Một khi đã đánh giá hoạt động có mục đích của con người thì yếu tố chủ thể luôn được coi trọng như là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thành công của hoạt động đó

Theo lý luận giáo dục học thì chủ thể giáo dục là thầy cô giáo và những người làm công tác giáo dục khác Vận dụng vào giáo dục pháp luật, có thể hiểu “ Chủ thể giáo dục pháp luật là tất cả những người mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích giáo dục pháp luật” Vậy chủ thể giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng có thể hiểu như sau: “ Chủ thể giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng là những người mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội tham gia vào việc thực hiện các mục đích giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Có thể phân ra hai loại chủ thể giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở đây là chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp

Trang 36

- Chủ thể chuyên nghiệp: là những người mà chức năng, nhiệm vụ chủ yếu, trực tiếp của họ là thực hiện các mục đích, nội dung pháp luật bao gồm các báo cáo viên, tuyên truyền viên về pháp luật phòng, chống tham nhũng Ở

hệ thống các cơ quan Đảng, Đài phát thanh truyền hình phụ trách chuyên mục pháp luật nói chung và pháp luật phòng, chống tham nhũng nói riêng Các giảng viên dạy môn pháp luật phòng, chống tham nhũng ở các trường bồi dưỡng cán bộ, trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các trường phổ thông trên cả nước, cán bộ làm công tác nghiên cứu và chỉ đạo giáo dục pháp luật phòng, chống tham nhũng tại các cơ quan Nhà nước, tổ chức nghề nghiệp

- Chủ thể không chuyên nghiệp: không phải là lực lượng nòng cốt trong hoạt động GDPL, nhưng nó lại là lực lượng có vai trò to lớn Đôi khi những hoàn cảnh cụ thể chủ thể không chuyên nghiệp lại thực hiện một cách có hiệu quả, tính hiệu quả của hoạt động không chuyên nghiệp có thể là sự kết hợp hài hòa giữa những tri thức mà họ giáo dục, phổ biến với chính tư cách, uy tín của họ trong từng cương vị công tác Những người này làm ở nhiều cơ quan khác nhau như đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp, các cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan thực hiện chức năng về phòng, chống tham nhũng từ trung ương xuống địa phương như: Thanh tra Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở địa phương, cơ quan báo chí và chủ thể không thể thiếu giữ vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục phòng chống tham nhũng đó là vai trò của của toàn thể nhân dân Biết khai thác thế mạnh của lực lượng này

sẽ góp phần tích cực vào việc xã hội hóa công tác GDPL, là một trong các chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

1.5.3 Đặc điểm về đối tượng của giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Quá trình giáo dục pháp luật thực chất là quan hệ xã hội giữa một bên

là người giáo dục hay chủ thể GDPL và một bên là người được giáo dục hay đối tượng GDPL Mối quan hệ này có sự tác động qua lại với nhau giữa các

Trang 37

bên tham gia trong mối quan hệ Sự tác động giáo dục là những hoạt động có

ý thức, có định hướng, có kế hoạch nhằm đạt tới mục đích, mục tiêu nhất định Nói cách khác chủ thể giáo dục pháp luật tác động lên đối tượng giáo dục pháp luật với những mong muốn cụ thể là xây dựng ý thức và những hành

vi hợp pháp cho đối tượng giáo dục pháp luật

Phần lớn các quan điểm đều cho rằng đối tượng của giáo dục pháp luật

về PCTN đơn giản chỉ là những người có chức vụ, quyền hạn Người có chức

vụ, quyền hạn được hiểu là cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan của Nhà nước, chính đảng, đoàn thể (trong hệ thống chính trị), được giao thực hiện một quyền lực chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng… Nhưng cũng có thể hiểu người có chức vụ, quyền hạn theo một nghĩa rộng hơn, không chỉ giới hạn là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước, chính đảng, đoàn thể mà còn cả những người được tin tưởng, giao nhiệm vụ để quản lý tài sản hoặc được giao thực hiện một công việc, một quyền năng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế - xã hội, bao gồm cả lĩnh vực tư, nhưng họ đã có sự lợi dụng hoặc lạm quyền để vụ lợi Có quan điểm khác lại cho rằng, chủ thể tham nhũng không chỉ là cá nhân mà còn là của tập thể, là sự lợi dụng chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí, vai trò của

cơ quan, tổ chức, đơn vị, đi ̣a phương để thu lợi nhằm phu ̣c vu ̣ lợi ích riêng cho tâ ̣p thể của ho ̣

Pháp luật thực định của Việt Nam cũng quy định chủ thể của tham nhũng hay đối tượng của GDPL về PCTN được thể hiện trong Bộ luật Hình

sự, Luật PCTN và các quy định của pháp luật ngày càng đầy đủ và chi tiết hơn Theo pháp luật Việt Nam thì chủ thể của hành vi tham nhũng được thể hiện ở góc độ hẹp đó là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện Theo khoản 3 Điều 1 Luật PCTN, người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc

Trang 38

phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó Việc quy định “người có chức vụ, quyền hạn” bao gồm cả “người được giao thực hiện nhiệm vụ, công

vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó” đã có những bao quát về các đối tượng và có tính chất bao trùm , không chỉ bao gồm các chủ thể đã được nêu trước đó (cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan ), mà còn là các đối tượng khác thuộc các cơ quan, tổ chức nói chung được giao nhiê ̣m vụ, công vu ̣ có quyền ha ̣n trong khi thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣, công vu ̣ đó

Vâ ̣y đối tượng của GDPL về PCTN là những người có chức vu ̣ , quyền hạn, bao gồm những người giữ các chức vu ̣ trong các cơ quan của Đảng , Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, các thành phần kinh tế và những người không giữ chức vu ̣ nhưng được giao nhiê ̣m vu ̣ , công vu ̣ và có quyền ha ̣n trong thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣, công vu ̣ đó

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG,

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH

cơ quan chức năng Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại của tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời và đã đạt được những kết quả ban đầu đáng ghi nhận Tuy nhiên, nạn tham nhũng vẫn diễn ra hết sức phổ biến, làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, gây bất bình trong nhân dân Tại Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung

ương Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận định “Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn

ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”.[60, tr.5]

Trang 40

Trong lĩnh vực quản lý , sử du ̣ng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tham nhũng chủ yếu diễn ra trong việc quy hoạch ; chuyển đổi mục đích sử dụng đất; thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị; giao đất, cho thuê đất; định giá đất khi thu hồi, đền bù; cấp phép khai thác tài nguyên, khoáng sản… Một số người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giao đất không đúng thẩm quyền; lập hồ sơ khống hoặc khai tăng diện tích đất khi đền bù Điển hình là vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại dự án phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long

- Vân Trì (Hà Nội) thiệt hại ước tính khoảng 14 tỷ đồng; vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, gây thiệt hại gần 11 tỷ đồng; vụ tham nhũng về đất đai tại Đồ Sơn và tại Quán Nam, thành phố Hải Phòng

Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, nổi lên tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ trong ngành ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại hoặc cán bộ trong ngành ngân hàng tiếp tay, móc nối với người bên ngoài thông qua các hoạt động cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, đầu

tư tài chính, ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư… để chiếm đoạt tài sản, gây thất thoát lớn Ví dụ như vụ Lê Hoài Phương, cán bộ Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Cầu Giấy (Hà Nội) tham ô 24 tỷ đồng; vụ Phan Văn Tưởng, cán bộ Ngân hàng Techcombank cùng các đồng phạm tham ô trên 10 tỷ đồng; vụ Đoàn Tiến Dũng, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư

và phát triển Việt Nam nhận của khách hàng 5 tỷ đồng, là khoản trích 3-10% trong số tiền mà khách hàng được vay của ngân hàng này…

Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản , phần lớn các công trình xây dựng đều xảy ra thất thoát tài sản, chủ yếu do tham ô và cố ý làm trái Sai phạm xảy ra ở hầu hết các khâu, từ việc lập dự án, thiết kế, dự toán, phê duyệt

kế hoạch cấp vốn đến đấu thầu, tư vấn, giám sát, thi công, nghiệm thu, quyết

Ngày đăng: 15/09/2017, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w