1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LVTS 2014 bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm về các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự

101 172 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 678,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Về thực tiễn: Thông qua những ví dụ cụ thể để đánh giá sự bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành.. Về thực tiễn Thông qua cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHÙNG THANH MAI

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG

CÁC QUY PHẠM VỀ CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN

TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHÙNG THANH MAI

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG

CÁC QUY PHẠM VỀ CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính tin cậy

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phùng Thanh Mai

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

MỤC LỤC 0

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: 10

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 10

1.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của quyền con người 10

1.1.1 Khái niệm quyền con người 10

1.1.2 Các đặc điểm cơ bản của quyền con người 13

1.2 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam 21

1.2.1 Khái niệm các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam 21

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam 22

1.3 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam 29

1.3.1 Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam 29

1.3.2 Những đặc điểm cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam 31

Chương 2: 37

SỰ THỂ HIỆN NỘI DUNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 37 2.1 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng các chế định: thời hiệu, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt và miễn chấp hành hình phạt 38

2.1.1 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng chế định thời hiệu 38

Trang 5

2.1.2 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng chế định miễn

trách nhiệm hình sự 44

2.1.3 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng các chế định miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt 49

2.2 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng các chế định: hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, giảm mức hình phạt đã tuyên và án treo 54

2.2.1 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng chế định hoãn chấp hành hình phạt tù, chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 54

2.2.2 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng chế định giảm mức hình phạt đã tuyên 57

2.2.3 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng chế định án treo 60

2.3 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng các chế định: đặc xá, đại xá và xóa án tích 64

2.3.1 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng chế định đặc xá64 2.3.2 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng chế định đại xá 67 2.3.3 Sự thể hiện nội dung bảo vệ quyền con người bằng chế định xóa án tích 70

Chương 3: 75

HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM VỀ BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng bảo vệ quyền con người 75

3.2 Nội dung hoàn thiện 77

3.2.1 Chế định thời hiệu 82

3.2.2 Chế định miễn trách nhiệm hình sự 84

3.2.3 Chế định miễn chấp hành hình phạt 85

3.2.4 Chế định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 86

3.2.5 Chế định giảm mức hình phạt đã tuyên 87

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Người ta sinh ra tự do, bình đẳng về quyền lợi; phải luôn được tự do

và bình đẳng về quyền lợi

Đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được” [3, tr.25]

Chân lý hết sức đanh thép này được trích dẫn từ Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02/9/1945) nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - đã góp phần khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập, tự do của nước Việt Nam trước toàn thế giới

Bên cạnh đó Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người (Universal Declaration of Human Rights - UDHR) của Liên hợp quốc năm 1948 cũng đã khẳng định:

Theo Điều 10, mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các

quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ Điều 11 bổ sung thêm một số khía cạnh cụ thể, theo đó: Mọi người, nếu bị

cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên Tòa xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi hoặc sự tắc trách nào mà không cấu thành một phạm tội hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi hay có sự tắc trách đó Cũng không ai

bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện [30]

Tuy nhiên, ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, tình hình tội phạm cũng gia tăng với mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm cho xã hội

Trang 7

luật là công cụ hữu hiệu để hạn chế sự phát triển của tội phạm Việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vừa góp phần bảo đảm yêu cầu của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, vừa tạo lòng tin của nhân dân vào pháp luật Vì vậy, bất cứ người nào thực hiện tội phạm (ở các mức độ: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) đều bị pháp luật hình sự xử lý kịp thời, nghiêm minh Bên cạnh việc nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng thì pháp luật hình sự còn thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng với người phạm tội, trong bất kỳ bản án nào các giá trị của quyền con người luôn được tôn trọng và bảo vệ Bởi thế các biện pháp tha miễn được quy định trong pháp luật hình sự là một tất yếu để góp phần tạo ra những giá trị nhân đạo, bảo vệ quyền con người trong pháp luật hình sự Hơn nữa, Hiến pháp năm

2013 đã dành một Chương riêng (Chương II) để quy định về quyền con người nên việc nghiên cứu, lý giải vấn đề này để góp phần bảo vệ các quyền cơ bản của con người, tránh sự xâm phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm sự công bằng của pháp luật, đồng thời góp phần xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa dựa trên sự bảo đảm về quyền con người là rất cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu về quyền con người không phải là mới nhưng luôn có tính thời sự Hiện nay đã có Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (Tuyên ngôn) của Liên hợp quốc nhưng không phải quốc gia nào cũng tham gia, công nhận và thực hiện Việt Nam là một trong những quốc gia đã ghi nhận và từng bước thực hiện có hiệu quả Tuyên ngôn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt là lĩnh vực tư pháp hình sự

Trang 8

Việc nghiên cứu và hoàn thiện chế định bảo vệ quyền con người nói chung (trong đó có bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng) đã được nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài nghiên cứu dưới nhiều hình thức như:

Hình thức sách chuyên khảo về quyền con người (nói chung): 1) GS

TS Nguyễn Đăng Dung, TS Vũ Công Giao, ThS Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2009; 2) PGS TS Nguyễn Văn Động, Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, NXB Khoa học xã hội Hà Nội 2005; 3) GS TS Trần Ngọc Đường , Bàn về quyền con người, quyền công dân, NXB Chính trị quốc gia

Hà Nội 2004; 4) Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội - Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Luật Nhân quyền quốc tế những vấn

đề liên quan, NXB Lao động xã hội Hà Nội 2011; 5) GS TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo dục quyền con người - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội Hà Nội 2010; v.v.v

Để làm rõ hơn về quyền con người trong thực tiễn ở nước ta có Tạp chí Nhân quyền là diễn đàn để các nhà nghiên cứu công khai ý kiến, quan điểm

để ngày càng hoàn thiện hơn vấn đề về nhân quyền Tuy nhiên, những vấn đề được tạp chí đưa ra mới là nghiên cứu ở những góc độ chung nhất về quyền con người trong xã hội, quyền con người từ nhiều góc độ như: tôn giáo-đạo đức, lịch sử-xã hội, triết học, chính trị-pháp lý

Để nghiên cứu toàn diện và tiếp tục hoàn thiện chế định quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự thì nghiên cứu chế định này một cách toàn diện trong lĩnh vực hình sự là một điều cần thiết Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực hình sự,

như nghiên cứu dưới hình thức sách chuyên khảo (về quyền con người trong lĩnh

vực tư pháp hình sự: 1) GS TSKH Lê Cảm, Hệ thống tư pháp hình sự trong

Trang 9

giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2009; 2) Tòa án nhân dân tối cao - Vụ hợp tác Quốc tế, Quyền con người

trong thi hành công lý, NXB Lao động-Xã hội Hà Nội 2010… Nghiên cứu

dưới hình thức tạp chí: 1) GS TSKH Lê Cảm, Những vấn đề lý luận về bảo

vệ các quyền con người bằng pháp luật tư pháp hình sự, tạp chí Tòa án nhân dân, số 13/2006, tr.8-17; 2) PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 23/2007, tr.64-80; 3) TS Nguyễn Quang Hiền, Bảo vệ quyền con người của bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số

13/2011, tr.4-11… Nghiên cứu dưới hình thức luận văn: 1) Nguyễn Văn

Luận, Việt Nam và vấn đề bảo vệ quyền con người, Trường Đại học Luật Hà Nội 2001; 2) Tống Đức Thảo, Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền con người ở nước ta hiện nay, Trường đại học Luật Hà Nội 2001…

Việc nghiên cứu về quyền con người dưới các hình thức trên hoặc tập trung vào những vấn đề chung về quyền con người (quyền dân sự, chính trị, văn hóa xã hội…) hoặc nghiên cứu trong một lĩnh vực rộng (quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự, trong đấu tranh chống tội phạm…) Tuy nhiên, trên thực tế dưới góc độ luận văn thạc sỹ luật học cho tới nay chưa có

công trình nào nghiên cứu về bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm về

các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành Vì vậy,

tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu rõ ràng có tính thời sự và cấp thiết

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó: Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Luận văn nghiên cứu những vấn đề về lý luận và một phần nhỏ thực tiễn về chế định bảo vệ quyền con người trong pháp luật hình sự nói chung và

áp dụng chế định bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm về biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự nói riêng Luận văn đi sâu nghiên cứu sự bảo

vệ quyền con người thể hiện qua các biện pháp tha miễn được quy định trong

Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ khái niệm, đặc điểm quyền cơ bản của con người được bảo vệ thông qua các chế định về các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Đồng thời, đi sâu phân tích tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam được thể hiện thông qua các biện pháp tha miễn Qua đó, căn cứ vào xu thế hội nhập, định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực tiễn bảo vệ pháp luật… ở nước ta để đưa ra những đề xuất, giải pháp bảo đảm thực hiện, góp phần hoàn thiện các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng bảo vệ quyền con người

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

* Về lý luận: Trên cơ sở những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam

năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về các biện pháp tha miễn phân tích khái niệm, bản chất của các biện pháp tha miễn để làm sáng tỏ ý nghĩa của sự bảo vệ quyền con người thông qua các biện pháp tha miễn đó

* Về thực tiễn: Thông qua những ví dụ cụ thể để đánh giá sự bảo vệ

quyền con người bằng các biện pháp tha miễn được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành Từ đó, đóng góp một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các biện pháp tha miễn theo hướng bảo vệ quyền con người

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Trang 11

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như thành tựu của các ngành khoa học pháp lý về tư pháp hình sự như: Luật hình sự, tội phạm học… những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên các tạp chí của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Luật hình

sự như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê… để làm sáng tỏ về mặt lý luận và một phần thực tiễn các vấn đề đưa ra trong luận văn

6 Điểm mới của luận văn

6.2 Về thực tiễn

Thông qua các ví dụ thực tiễn trong quá trình phân tích sự bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm về các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự hiện hành luận văn góp phần làm rõ tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự nước ta với người phạm tội Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các biện pháp tha miễn theo hướng tăng cường việc bảo vệ quyền con người

Trang 13

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của quyền con người

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Ngay sau chiến tranh thế giới thứ II, lần đầu tiên Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định giá trị quyền con người: Mọi thành viên trong gia đình, nhân loại đều có quyền bình đẳng và đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được Các quyền này được thực hiện không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo, đồng thời được ghi nhận chính thức trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người năm 1948 của Liên Hợp quốc và được các thành viên của Tuyên ngôn này thừa nhận Tuy được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận nhưng không phải thời điểm nào tinh thần của Tuyên ngôn

và các công ước về quyền con người cũng được vận dụng thống nhất do mỗi quốc gia có sự vận dụng linh hoạt bảo đảm tính phù hợp với thực tiễn

Các Công ước quốc tế về nhân quyền mà cụ thể là Tuyên ngôn Toàn thế giới năm 1948 về quyền con người là văn kiện pháp lý xác lập các tiêu chuẩn quốc tế cho việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Bằng việc phê chuẩn các công ước, các quốc gia chấp nhận và tự cam kết thực hiện các quyền con người ở phạm vi quốc gia Hệ thống công ước về nhân quyền có ý nghĩa quan trọng ở cấp độ quốc gia, các chuẩn mực thỏa thuận quốc tế này đòi hỏi phải thực thi có hiệu quả ở tầm quốc gia, để bảo đảm chúng được thụ hưởng bởi tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ em trong mỗi quốc gia ấy

Ý thức được giá trị của các công ước, hiện nay Việt Nam đã là thành viên của các công ước về quyền con người như: Công ước quốc tế Giơ-ne-vơ

Trang 14

về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh (năm 1957); Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (năm 1981); Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội ác của chủ nghĩa Apácthai (năm 1981); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (năm 1982); Công ước quốc

tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1982); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (năm 1982); Công ước quốc tế về quyền trẻ em (năm 1989); Công ước quốc tế về các quyền của Người khuyết tật (năm 2007)… và Việt Nam cũng đang từng bước hoàn thiện pháp luật quốc gia về bảo vệ quyền con người (Luật Dân sự, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình…), đặc biệt trong Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã dành riêng một chương (chương II) quy định về quyền con người

Với mục đích bảo đảm quyền con người và nghiêm trị những hành vi xâm phạm quyền con người cần phải có cách hiểu và áp dụng thống nhất vấn

đề này

Quyền là nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một xã hội nhất định Chỉ có một quyền cơ bản đó là quyền con người - quyền của con người đối với đời sống cá nhân (quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, tất cả các quyền khác là kết quả hoặc hệ quả tất yếu của quyền con người)

Vì vậy, đối với mỗi cá nhân, quyền trước hết là sự thừa nhận về mặt đạo đức Quyền sống là nguồn của mọi quyền, là cơ sở duy nhất để có thể phái sinh các quyền khác

Tuy nhiên, cho tới đầu thế kỷ XX nhiều người vẫn không nắm bắt được

nó một cách đầy đủ về quyền con người và khái niệm quyền con người Theo hai luận thuyết về đạo đức học - thần bí và xã hội - một số người khẳng định

Trang 15

quyền là tặng phẩm của Chúa Trời, những người kia thì cho rằng quyền là tặng phẩm của xã hội Nhưng trong thực tế, nguồn gốc của quyền là bản chất con người

Qua thành tựu của công cuộc đổi mới, toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam đã có sự biến đổi sâu sắc Hàng loạt vấn đề mới xuất hiện, hàng loạt vấn đề của cơ chế cũ đang được xem xét, nhìn nhận lại trong điều kiện mới sự hội nhập quốc tế và khu vực Bằng cách đánh giá khách quan, khoa học tại Việt Nam và trên thế giới chúng ta càng nhận thức rõ hơn về quyền con người

Trước thực tế đó để việc bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người khi bị tội phạm xâm hại và đặc biệt là bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn đạt hiệu quả cao, cần phải có cách hiểu

chính xác về quyền con người

“Nhân quyền đòi hỏi ba nhân tố tương tác lẫn nhau: các quyền này phải hoàn toàn tự nhiên (liên quan mật thiết đến con người), phải bình đẳng (như nhau với tất cả mọi người) và phải mang tính toàn cầu (được áp dụng ở khắp mọi nơi) Tất cả loài người ở mọi nơi trên trái đất đều có quyền lợi như nhau không phân biết địa vị xã hội [36, tr 41,42]

“Khái niệm quyền con người đã từng được đề cập trong Thỏa ước của Hội Quốc liên - văn kiện làm nền tảng cho việc thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế Năm 1945, tại Hội nghị San Freacisco đề xuất về việc xây dựng

“Tuyên ngôn các quyền thiết yếu của con người” đã được đưa ra nhưng không được hội nghị xem xét bởi tại thời điểm đó một vấn đề như vậy cần xem xét một các chi tiết hơn” [6, tr.31] Đến năm 1968, Tuyên bố Tê-hê-ran được thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người được tổ chức tại Iran đã khẳng định: “Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người đã xác nhận một nhận thức chúng của các dân tộc trên thế giới về các quyền bất di, bất dịch và

Trang 16

không thể bị xâm phạm của mọi thành viên trong gia đình, nhân loại và thiết lập một nghĩa vụ cho các thành viên của cộng đồng quốc tế Hội nghị này cũng khẳng định sự tin tưởng với các nguyên tắc được đề cập trong Tuyên ngôn và kêu gọi các dân tộc và các Chính phủ: phấn đấu cho những nguyên tắc được ghi nhận trong Tuyên ngôn và tăng cường hơn nữa những nỗ lực nhằm bảo đảm cho mọi người có một cuộc sống phù hợp với tự do và nhân phẩm cũng như sự hạnh phúc về thể chất, tinh thần, xã hội và văn hóa” [6,

tr.37] Theo đó, Quyền con người là những xử sự đương nhiên không bị ai

ngăn cấm, hạn chế và được xã hội thừa nhận rộng rãi, bảo đảm thực hiện thống nhất bằng sự tự giác kết hợp với sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

1.1.2 Các đặc điểm cơ bản của quyền con người

“Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất trong nền văn hóa, là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của cả nhân loại, nhằm cải tạo xã hội và thiên nhiên, giải phóng con người khỏi mọi áp búc, bất công” [36, tr.4] Quyền con người là một vấn đề đã được đề cập từ lâu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội - đây là cơ sở đầu tiên, quan trọng để con người được hưởng quyền công dân trong xã hội, nhưng với lịch sử lập hiến của nước ta lần đầu tiên quyền con người được đề cập trong Hiến pháp được sửa đổi năm 2013, theo đó quyền con người có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Quyền con người có tính pháp định:

“Kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn cao cả của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống văn hóa dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại Con người và quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”” [36, tr.4]

Trang 17

Quyền con người và bảo vệ quyền con người là hai lĩnh vực không thể tách rời Chúng tồn tại song hành và biện chứng trong nhau “Quyền con người là quyền và lợi ích của tất cả mọi người Mức độ bảo đảm quyền con người là một trong những thước đo sự phát triển của xã hội Bảo đảm quyền con người không chỉ là việc thực hiện các cam kết quốc tế,mà chính là động lực của sự phát triển, là bản chất tốt đẹp của xã hội ta” [36, tr.5] Trong thực

tế, quyền con người muốn được thực thi đúng đắn và nghiêm chỉnh phải đi liền với việc bảo vệ quyền con người Bảo vệ quyền con người tốt và nghiêm minh là động lực để bảo đảm quyền con người và quyền con người chỉ được bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt nhất thông qua pháp luật Bởi vậy, bảo vệ quyền con người bằng pháp luật đồng nghĩa với việc được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế cao nhất - sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Bên cạnh đó pháp luật cũng là tiền đề, là nền tảng để công dân cũng như các cơ quan Nhà nước đấu tranh chống lại mọi biểu hiện, hành vi vi phạm quyền con người

Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người cũng khẳng định việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người có thể phải chịu những giới hạn nhất định, những giới hạn đó quy định trong pháp luật, với mục đích bảo đảm sự thừa nhận các quyền và tự do của người khác, hoặc để bảo đảm các yêu cầu về đạo đức, trật tự công cộng và sự thịnh vượng nói chung trong một xã hội dân chủ Đồng thời, các quyền được ghi nhận trong các công ước

có thể hạn chế bởi pháp luật của quốc gia nhưng chỉ trong một chừng mực tương thích với bản chất những quyền đó và chỉ để nhằm mục đích thúc đẩy phúc lợi chung trong xã hội dân chủ, công bằng “Tuy nhiên, có một số quyền nhất định trong các công ước không bao giờ bị hạn chế hoặc tạm dừng việc thực hiện, thậm chí trong những trường hợp khẩn cấp, đó là quyền: sống, tự

Trang 18

do không bị tra tấn, tự do không bị nô lệ hoặc nô dịch thừa nhận tư cách con người trước pháp luật và tự do tín ngưỡng, tư tưởng, tôn giáo” [6, tr.40]

Ngày nay, “nhân quyền trở nên có nhiều ý nghĩa hơn chỉ khi chúng có được những nội dung chính trị Nhân quyền không chỉ là quyền lợi của mỗi người trong tự nhiên mà còn bao hàm quyền lợi của họ trong xã hội Chúng được bảo vệ bởi Luật pháp và hiến pháp” [36, tr.42] Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi bổ sung lần thứ 2 năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) đã dành một chương riêng để quy định về quyền con người… Bên cạnh những nghĩa vụ con người còn có một số quyền cơ bản: quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối

xử nào khác xâm phạm sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; quyền hiến

mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác theo quy định của pháp luật; quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, quyền bải vệ danh dự, uy tín của mình, quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức trao đổi thông tin khác; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; quyền khiếu nại, quyền tố cáo; không bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án

có hiệu lực pháp luật; quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp; quyền tự do kinh doanh; quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế; quyền nghiên cứu khoa học, công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và hưởng thụ lợi ích từ các hoạt động đó; quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa; quyền sống trong môi trường trong lành

“Các quy định về quyền con người trong Chương II của Hiến pháp năm

2013 đã thể hiện những điểm mới như:

Trang 19

Khẳng định Nhà nước ta công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân Hiến pháp năm 2013 đã phân định rõ hơn giữa quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

Quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm việc thực hiện quyền con người…

Tập trung quy định các quyền cơ bản trong các quyền con người… Quy định về các cơ chế bảo đảm quyền con người và quyền công dân

để tạo cơ sở cho việc cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật và quan trọng hơn là việc thực hiện các quyền đó;

Các quy định tại Hiến pháp không quá chi tiết, chỉ có tính chất nguyên tắc, định hướng;

Xây dựng được nguyên tắc chung trong việc giao quyền và hạn chế quyền con người và quyền công dân Theo đó việc hạn chế các quyền phải do Hiến pháp, văn bản luật quy định và chỉ trong bốn trường hợp cần thiết là: Vì

lý do quốc phòng, an ninh quốc gia; vì trật tự, an toàn xã hội; vì đạo đức xã hội và vì sức khỏe cộng đồng;

Quyền không đồng thời là nghĩa vụ mà mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ đã được đặt trong một mối quan hệ xã hội cụ thể;

Các quyền cơ bản được quy định trong Hiến pháp phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” [1,

tr 50]

- Quyền con người gắn liền với nhân thân và được thừa nhận rộng rãi:

Quyền con người khác quyền công dân, quyền công dân gắn với quốc tịch của con người đó và được nhà nước có quốc tịch bảo hộ, còn quyền con người gắn liền với cá nhân người đó (cả người có quốc tịch và không có quốc tịch), khi sinh ra và tồn tại trong một xã hội nhất định họ đã có sẵn những quyền ấy và những quyền ấy vĩnh viễn gắn liền với nhân thân người đó -

Trang 20

người đó còn tồn tại là còn quyền Quyền con người đã “trở thành một công

cụ thiết yếu để ngăn ngừa xung đột, quyền con người còn là cơ sở chủ đạo trong quản lý nhà nước và dân chủ” [30, tr.69] Tùy từng hệ thống pháp luật quốc gia mà quyền con người sẽ được thừa nhận và bảo vệ ở các mức độ khác nhau Việt Nam là thành viên hoặc ra nhập nhiều Công ước khác nhau về vấn

đề bảo vệ quyền con người nên vấn đề quyền con người ở nước ta được thừa nhận rộng rãi, coi trọng và thực hiện tương đối tốt

Để cụ thể hóa vấn đề này ở nước ta, ngay sau đại hội VII năm 1991, ngày 12/7/1991 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có chỉ thị số 12-CT/TW - một văn bản quan trọng về vấn đề quyền con người, ghi nhận những quan điểm quan trọng, đó là:

Thứ nhất: Quyền con người là thành quả của quá trình đấu tranh lâu dài trong tự nhiên và trong xã hội qia các thời đại, trở thành giá trị chung của nhân loại

Thứ hai: Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc

Thứ ba: Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thi quyền con người mới có điều kiện bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất

Thứ tư: Quyền con người của cá nhân gắn với việc bảo đảm lợi ích của tập thể, của cộng đồng xã hội

Thứ năm: Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa

vụ và trách nhiệm của công dân

Thứ sáu: Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia

Thứ bảy: Quyền con người luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước Do vậy,

Trang 21

không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc cá tiêu chuẩn, mô thúc của nước này cho nước khác

Đến Đại hội VIII năm 1996, Đảng ta nêu rõ chủ trương bồi dưỡng và phát huy nguồn lực quyền con người và khẳng định: chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng gia đình, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân

Bước sang Thế kỷ XXI với những sự kiện lịch sử trọng đại, Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ IX, xác định: Chăm lo cho con người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc

tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Nội dung đề cập trên thể hiện tính hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng về quyền con người, đây cũng là cơ sở cho việc ghi nhận quyền con người luôn gắn liền với nhân thân và thừa nhận quyền con người một cách hệ thống, rộng rãi, toàn diện trong xã hội [21]

- Quyền con người có tính đặc thù:

Mặc dù các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận và thực hiện việc bảo

vệ quyền con người nhưng do hoàn cảnh xã hội, kinh tế mà quyền của con người ở những nhà nước khác nhau được thừa nhận và bảo vệ khác nhau Ở những quốc gia có nền kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, chế độ

an sinh xã hội được thực hiện tốt thì con người sẽ được hưởng thụ các giá trị văn hóa, vật chất tốt hơn các quốc gia khác không có điều kiện như vậy

Trong mỗi quốc gia cụ thể, để giải quyết các vấn đề cụ thể về quyền con người phải kết hợp giữa tính phổ biến và tính đặc thù Thừa nhận tính phổ biến của quyền con người với những giá trị chung của nhân loại, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh khi giải quyết vấn đề nhân quyền phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Ngoài những giá trị phổ biến, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia tuỳ theo chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hoá dân tộc, tôn giáo

Trang 22

có những giá trị riêng không ai có thể xâm phạm được (nếu nó không đi ngược lại những giá trị chung của nền văn minh nhân loại) Nhà nước ta tôn trọng những giá trị đã được quốc tế thừa nhận, như: Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau; trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo Đảng ta đã chỉ đạo: Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, từng bước thể chế hoá nội dung các quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể nước ta và với tiêu chuẩn tiến bộ về quyền con người đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi.Tính đặc thù của quyền con người chỉ có thể được bảo đảm chắc chắn khi tính đến những đặc thù khác nhau ở mỗi khu vực, trong những điều kiện cụ thể về lịch sử, văn hoá, tôn giáo, chế độ chính trị, chế độ kinh tế

Như ở nước Việt Nam “từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của nhân dân được nâng cao Tất cả mọi công dân đều có quyền đóng góp ý kiến với tính chất xây dựng, nghiêm túc, có trách nhiệm vào tất cả các chủ trương, chính sách hoặc các vấn đề quan trọng của quốc gia Người dân

đã tự giác, hăng hái tham gia các tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp để hội tụ những tấm lòng nhân ái và đóng góp rất to lớn vào việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo” [36, tr.7]

- Quyền con người ở Việt Nam được thể hiện qua quyền và nghĩa vụ của công dân:

“Nói đến quyền con người là nói tới quyền và tự do của cá nhân, là nói tới trách nhiệm của Nhà nước và công dân Hồ Chí Minh cho rằng, quyền và

tự do của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm Với Người, xã hội xã hội

Trang 23

chủ nghĩa không đối lập với lợi ích cá nhân, Người nói: “Không có chế độ

nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”” [36, tr.12]

Quyền con người thống nhất với quyền dân tộc cơ bản, nhân quyền không được cao hơn chủ quyền Đây là nguyên tắc bất di, bất dịch, xuyên suốt Đảng ta cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người, đưa lại các quyền tự

do cá nhân gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, cải tạo xã hội cũ Bài học “nước mất - nhà tan” đã trở thành chân lý của dân tộc Việt Nam được đúc rút qua lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước Qua kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, Đảng ta khẳng định rằng, chỉ ở một nước độc lập thực sự, chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người mới được thực thi đầy đủ và có điều kiện để bảo đảm một cách chắc chắn Đấu tranh chống các thế lực thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc cũng là nhằm giành quyền tự do cho cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập cũng

chẳng có ý nghĩa gì Chủ quyền quốc gia hay quyền dân tộc tự quyết và quyền

con người tuy là những phạm trù khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết

và thống nhất với nhau Thực thi quyền con người phải dựa trên cơ sở ưu tiên bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, chủ quyền quốc gia Nếu dân tộc không được độc lập, chủ quyền quốc gia không được xác lập thì không có quyền con người

Quyền con người ở Việt Nam được thể hiện trong quyền và nghĩa vụ công dân, thực hiện quyền con người gắn liền với quá trình thực hiện dân chủ hoá xã hội Cương lĩnh của Đảng chỉ rõ, dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thể hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử

Trang 24

ra và bằng hình thức dân chủ trực tiếp; dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hoá bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm Quyền con người là sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ công dân, giữa quyền, lợi ích

cá nhân với quyền và lợi ích cộng đồng Các quyền và lợi ích của công dân nước ta luôn được gắn với nhau, được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật Công dân Việt Nam được thực hiện các quyền tự do cá nhân

mà pháp luật không cấm, nhưng quyền tự do cá nhân không được xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và cộng đồng, không được thực hiện các hành vi gây nguy hại đến an ninh quốc gia và trật tự luật pháp xã hội chủ nghĩa

1.2 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Khái niệm các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam

“Trong bất kỳ một nhà nước pháp quyền đích thực nào, các quy định của pháp luật hình sự đều có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng là nhằm bảo vệ các quyền tự do của con người và của công dân với tư cách là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận của của nền văn minh nhân loại tránh khỏi không chỉ sự xâm hại có tính chất tội phạm của công dân khác, mà còn tránh khỏi sự tùy tiện của một số quan chức trong bộ máy công quyền…” [11, tr.7] Tuy Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành chưa chính thức ghi nhận thuật ngữ biện pháp tha miễn nhưng theo GS.TSKH Lê Văn Cảm - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội thì biện pháp tha miễn là những biện pháp nhân đạo của pháp luật áp dụng với người phạm tội gồm 12 chế định: 1) Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự); 2) Thời hiệu thi hành bản án (không phải chấp hành hình phạt do hết thời hiệu thi hành bản án); 3) Miễn trách nhiệm hình sự; 4) Miễn hình phạt; 5) Miễn chấp hành hình phạt; 6) Giảm mức hình phạt đã

Trang 25

tuyên; 7) Án treo; 8) Hoãn chấp hành hình phạt tù; 9) Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; 10) Đại xá; 11) Đặc xá; 12) Xóa án tích

Có thể định nghĩa Biện pháp tha miễn là biện pháp thể hiện tính chất

nhân đạo của pháp luật hình sự (như: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Thời hiệu thi hành bản án; Miễn trách nhiệm hình sự; Miễn hình phạt; Miễn chấp hành hình phạt; Giảm mức hình phạt đã tuyên; Án treo; Hoãn chấp hành hình phạt tù; Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; Đại xá; Đặc xá; Xóa án tích), phản ánh sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội và được cơ quan có thẩm quyền áp dụng khi thỏa mãn những điều kiện nhất định được quy định trong Bộ luật hình sự

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam

Thứ nhất, biện pháp tha miễn là biện pháp có tính chất miễn, giảm trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt

Hình phạt là công cụ để bảo đảm, duy trì trật tự xã hội và là biện pháp

có vai trò quan trọng bậc nhất trong đấu tranh, ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tội phạm, đem lại bình yên cho xã hội

Biện pháp tha miễn thực chất là biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình

sự, hình phạt với nguời phạm tội bởi biện pháp tha miễn làm giảm đi đáng kể mức độ lỗi, sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc căn cứ vào những điểm thuộc về nhân thân người phạm tội, hoàn cảnh phạm tội… để miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn toàn bộ, giảm một phần hình phạt hoặc hoãn thời gian chấp hành hình phạt

Trong những trường hợp phạm tội cụ thể, người thực hiện tội phạm thỏa mãn các yêu cầu của bất kỳ của một biện pháp tha miễn nào như: tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; do chuyển biến của tình hình; do ăn năn, hối cải; khi có quyết định đặc xá, đại xá… họ sẽ được miễn trách nhiệm hình

Trang 26

sự, còn người cũng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không thỏa mãn yêu cầu của biện pháp tha miễn nào thì họ phải gánh chịu hậu quả pháp

lý bất lợi do hành vi gây ra là hình phạt

Thứ hai, biện pháp tha miễn được quy định trong Bộ luật hình sự

“Biện pháp tha miễn trong luật hình sự thường là quy phạm (hoặc chế định) mang tính nhân đạo được ghi nhận trong Phần chung của Bộ luật hình

sự vì nó thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung trong Nhà nước pháp quyền” [12, tr.13] Biện pháp tha miễn là những biện pháp “có lợi” cho bị cáo (khi thỏa mãn những điều kiện nhất định) nên biện pháp tha miễn

chỉ có thể được quy định trong Bộ luật hình sự Bởi, chỉ người nào phạm một

tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [4]

Với mục đích thể hiện rõ nét sự nhân đạo của pháp luật và bảo đảm nguyên tắc pháp chế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nên biện pháp tha miễn là những biện pháp chỉ được áp dụng với người thực hiện tội phạm khi biện pháp ấy được quy định trong Bộ luật hình sự và biện pháp tha miễn được quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự, tại các điều 23-25, 55-67, 76-77

Quy định biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự (quy định thành văn) tạo cơ sở thống nhất cho việc áp dụng các biện pháp có tính chất nhân đạo, khoan hồng; bảo đảm sự công bằng, nghiêm minh, nhanh chóng, kịp thời, theo đúng pháp luật mọi hành vi phạm tội; bảo đảm bình đẳng, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội đối với mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật; bảo đảm thực hiện chủ trương nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức… khoan hồng đối với

Trang 27

người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra [4] Khi các biện pháp tha miễn được chính thức quy định trong luật tạo ra cơ sở nhất quán trong nguồn áp dụng các biện pháp có tính chất nhân đạo Việc quy định biện pháp tha miễn không những là cơ sở nhất quán trong việc áp dụng

mà còn là cơ sở cho việc hoàn thiện các biện pháp tha miễn theo hướng phù hợp với nhà nước pháp quyền

Xét về cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nhân đạo nói chung ngoài Toà án có thể có các cơ quan khác áp dụng như Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban nhân dân, Viện kiểm sát, Công an… Trong thực tế thì ngoài Toà án thì các cơ quan này cũng được áp dụng một số biện pháp tha miễn nhất định với bị cáo (như: đại xá, đặc xá), các trường hợp khác thì Toà

án là cơ quan duy nhất được Nhà nước trao thẩm quyền được phép áp dụng với người phạm tội Điều này xuất phát từ chức năng của Toà án - là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phán xét một hành vi có phải là tội phạm hay không

và áp dụng chế tài đối với hành vi phạm tội đó Toà án căn cứ một cách toàn diện tình tiết thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh người phạm tội… và điều quan trọng nhất là quy định của pháp luật để quyết định

áp dụng hình phạt hay không, áp dụng các biện pháp tha miễn (nếu có) đối với người phạm tội Tuy vậy, Toà án chỉ có thể quyết định những biện pháp tha miễn được quy định trong Bộ luật hình sự mà không có quyền được áp dụng bất cứ biện pháp nào khác không được quy định trọng luật để áp dụng với bị cáo Đồng thời, loại biện pháp tha miễn nào được Toà án áp dụng cũng phải dựa vào những quy định hết sức chặt chẽ trong khuôn khổ do pháp luật

quy định

Trang 28

Để quyền lợi bảo đảm là thống nhất và bình đẳng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, việc quy định các biện pháp tha miễn trong Bộ luật hình sự đặt ra như một tất yếu Các cơ quan áp dụng pháp luật chỉ được sử dụng những biện pháp tha miễn quy định trong luật Quy định như vậy cũng là cơ sở bảo đảm cho đường lối đấu tranh, phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm cho những quyền cơ bản của công dân được bảo vệ toàn diện, tránh sự xử lý qua loa và áp dụng tùy tiện các quy định về tha, miễn với người phạm tội Khi luật hóa các quy định này đã cụ thể, dễ dàng hướng dẫn thi hành trong thực tế, đồng thời kịp thời bổ sung những quy định cần thiết, loại bỏ những quy định lỗi thời, lạc hậu

Thứ ba, biện pháp tha miễn thể hiện sự nhân đạo và khoan hồng của pháp luật hình sự đối với người phạm tội

Ngay từ tên gọi biện pháp này đã chứa đựng sự nhân đạo, biện pháp tha miễn cho người phạm tội cơ hội rút ngắn thời gian chấp hành hình phạt, chỉ chấp hành một phần hoặc được miễn toàn bộ hình phạt đã tuyên

Nhân đạo là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng

và lợi ích của mỗi cá nhân Biện pháp tha miễn phản ánh thái độ đúng đắn của Nhà nước với người phạm tội trong một tổng thể thống nhất, biện chứng, hài hòa và hợp lý Có thể nói đến sự nhân đạo, khoan hồng khi áp dụng biện pháp tha miễn để giải quyết một cách hợp lý mối tương quan giữa cưỡng chế và thuyết phục, giữa nghiêm trị và giáo dục, cải tạo đối với bị cáo Trong mối tương quan này, nội dung nghiêm trị của hình phạt chỉ dừng lại ở mức độ cần

và đủ để giáo dục, cải tạo người phạm tội và răn đe, phòng ngừa chung

Biện pháp tha miễn trước hết thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước, đặt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội lên hàng đầu, xem xét tất cả các đặc điểm tốt về nhân thân của người phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự, xem xét kỹ lưỡng những đặc điểm tâm, sinh lý cũng như hoàn cảnh

Trang 29

cụ thể của người phạm tội để quyết định một loại hình phạt ở mức độ cần thiết thấp nhất, vừa đủ bảo đảm mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, vừa đủ bảo đảm được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội cũng như mục đích răn đe, ngăn chặn người khác phạm tội và mục đích khuyến khích, động viên, giáo dục quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

Biện pháp tha miễn góp phần vào việc quyết định một hình phạt đúng pháp luật, đồng thời bảo đảm công bằng, nhân đạo, đáp ứng được những yêu cầu, mong đợi của nhân dân và của bản thân người bị kết án Bảo đảm khách quan, toàn diện và nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt

Thứ tư, biện pháp tha miễn thể hiện sự bảo vệ quyền con người của pháp luật hình sự

Pháp luật là sự ghi nhận chính thức dưới dạng thành văn hoặc bất thành văn của mỗi quốc gia, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Pháp luật là quy chuẩn, là cái đích để đạt được sự bảo vệ quyền con người một cách tối đa Căn cứ vào đó quyền con người được thể hiện và đi vào đời sống con người, đồng thời là thước đo sự thực hiện quyền đó ở những chừng mực nhất định nên bảo vệ quyền con người là chức năng của pháp luật, phán ánh tính nhân văn của pháp luật của nhà nước pháp quyền trong xã hội hiện đại Vậy, khi pháp luật quy định vấn đề bảo vệ quyền con người thì tất yếu các quyền cơ bản của con người sẽ từng bước đi sâu vào nhận thức của nhà lập pháp, của người dân, đồng thời có hiệu lực thực thi cao và được toàn xã hội thừa nhận

Pháp luật hình sự quy định và chính thức ghi nhận khái niệm tội phạm, phân biệt rõ ràng hành vi phạm tội với hành vi vi phạm pháp luật khác Vì vậy, nhận thức rõ pháp luật cũng như nhận thức rõ hành vi của mỗi cá nhân vừa là tuân thủ, tôn trọng pháp luật, vừa là tôn trọng xã hội và cuối cùng góp phần thực hiện quyền con người

Trang 30

Để bảo đảm quyền con người được tôn trọng và bảo đảm được thực hiện nghiêm túc trong xã hội, pháp luật mà cụ thể là pháp luật hình sự đưa ra các điều cấm, chế tài áp dụng khi có tội phạm xảy ra và hướng dẫn, bắt buộc công dân trong xã hội lựa chọn xử sự theo quy định hoặc xử sự thích hợp trong bối cảnh được quy định trước Thậm chí pháp luật còn có chế định tùy nghi cho phép con người được linh động trong xử sự nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật

Biện pháp tha miễn là sự miễn trách nhiệm hình sự, miễn, giảm hình phạt… đối với người phạm tội, biện pháp này quan tâm đến việc người thực hiện tội phạm sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi ra sao và hậu quả của

nó như thế nào? Bị cáo khi được áp dụng biện pháp tha miễn thì hình phạt của

họ sẽ “nhẹ” hơn hình phạt của các trường hợp tương tự nhưng không có các biện pháp tha miễn Khi được hưởng tình tiết này bị cáo sẽ vẫn được bảo toàn hoặc chỉ bị hạn chế một số quyền nhất định (chứ không phải là tước bỏ hoàn toàn) Như khi áp dụng hình phạt là Án treo, bị cáo không bị tước bỏ hoàn toàn quyền tự do thân thể mà chỉ bị hạn chế ở một mức độ nhất định…

Thứ năm, biện pháp tha miễn chỉ được áp dụng trong trường hợp do pháp luật hình sự quy định

Biện pháp tha miễn là biện pháp có lợi cho người phạm tội nên việc quy định các biện pháp này ở đâu và áp dụng chúng trong thực tế ra sao là điều đáng quan tâm Để bảo đảm sự công bằng và nhân đạo của pháp luật biện pháp tha miễn không thể vận dụng một cách tùy tiện mà phải theo trình

tự nhất định Những trình tự, thủ tục ấy phải được quy định thành văn trong những văn bản nhất định (trong pháp luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành)

Trang 31

Khi tội phạm phát sinh và thỏa mãn yêu cầu của biện pháp tha miễn nào đó, điều cần thiết là những biện pháp đó phải được quy định trong luật và theo những trình tự nhất định

Việc quy định biện pháp tha miễn chỉ áp dụng trong những trường hợp

do pháp luật quy định không những bảo đảm cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể, cá nhân tránh khỏi sự xâm phạm của tội phạm mà còn là cơ sở, tạo sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tha miễn của người có thẩm quyền nhằm bảo đảm giải quyết các vụ án kịp thời và đúng pháp luật, không để tình trạng oan, sai xảy ra Góp phần sửa đổi, bổ sung luật theo sự thay đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội sao cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm trong thời kỳ mới

Thứ sáu, biện pháp tha miễn chỉ được áp dụng với cá nhân người phạm tội

Hình phạt và trách nhiệm hình sự luôn gắn với những cá nhân cụ thể,

hệ thống pháp luật hình sự chưa có sự ghi nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân Vì vậy, biện pháp tha miễn cũng phải gắn và chỉ được gắn với những cá nhân cụ thể

Xuất phát từ hiện thực khách quan con người là tổng hòa các mối quan

hệ xã hội và chỉ có con người mới là chủ thể của tội phạm nên những biện pháp tha miễn được quy định trong pháp luật hình sự cũng chỉ để dành cho những cá nhân cụ thể Trong vụ đồng phạm có nhiều đồng phạm (người: thực hành, xúi giục, tổ chức, giúp sức) thì biện pháp tha miễn của người nào thì

người đó được hưởng Đặc điểm này cũng thể hiện sự “nghiêm trị người chủ

mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả

Trang 32

nghiêm trọng Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” [4, tr.40]

1.3 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.3.1 Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam

Biện pháp tha miễn có vai trò cần thiết và không thể thiếu trong việc bảo vệ quyền con người Các biện pháp này góp phần loại bỏ, hạn chế, giảm một phần nào đó về hình phạt với bị cáo Giữ cho bị cáo nhân thân tốt (nếu được miễn trách nhiệm hình sự, không để lại án tích), giảm thời gian cách ly

bị cáo ra khỏi xã hội, giúp họ tái hòa nhập xã hội…

Xét một cách gián tiếp, biện pháp tha miễn đã tạo động lực thúc đẩy quá trình “quay đầu lại”, hoàn thiện nhân cách của nguời phạm tội Bởi lẽ, biện pháp tha miễn mang tính chất nhân đạo áp dụng đối với người phạm tội khi họ thực hiện tội phạm, những người thỏa mãn biện pháp tha miễn hình phạt áp dụng với họ sẽ “nhẹ hơn” hình phạt áp dụng với người có hành vi tương tự (nhưng không thỏa mãn các biện pháp tha miễn), bởi lẽ trong trường hợp này biện pháp tha miễn có tác dụng làm “nhẹ” đi hình phạt mà lý ra bị cáo được hưởng Vì thế biện pháp tha miễn giúp người phạm tội có cơ hội quay trở lại với cộng đồng trong thời gian “ngắn”, một phần nào đó tạo cho bị cáo tâm lý thoải mái hơn để tái hòa nhập cộng đồng Khi tái hòa nhập, họ có

cơ hội kiểm nghiệm là những việc mình làm trong quá khứ, cân nhắc thiệt hơn và suy xét đến thái độ của pháp luật với hành vi của mình (sự khoan hồng, nhân đạo) Có thể nói ở một khía cạnh nào đó biện pháp tha miễn đã gián tiếp tạo ra động lực, môi trường để hoàn thiện và phát triển nhân cách tốt đẹp vốn có của con người

Trang 33

Trong những năm qua, thực hiện đường lối của Ðảng, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được đẩy mạnh, đạt được kết quả tích cực, tổ chức bộ máy Nhà nước ngày càng được hoàn thiện hơn, phương thức hoạt động của Nhà nước từng bước được đổi mới; Nhà nước quản lý chủ yếu bằng luật pháp tuy nhiên pháp luật cũng là “con dao” hai lưỡi Nếu pháp luật đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì đất nước sẽ tiến tới một nhà nước pháp quyền trong tương lai gần Còn nếu pháp luật không làm tốt vai trò thì tình trạng tội phạm ngày càng gia tăng, phức tạp, khó kiểm soát

và phải chăng lúc này pháp luật chỉ là lực cản của sự phát triển Bởi vậy, pháp luật hình sự nói chung, biện pháp tha miễn nói riêng là sự thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật với người phạm tội Từ việc thấu hiểu được sự khoan hồng của pháp luật cộng với sự quan tâm, loại bỏ sự miệt thị của cộng đồng người phạm tội sẽ có cơ hội tốt hòa nhập xã hội để trở thành công dân có ích, vượt qua mặc cảm, không tái phạm Vì thế, biện pháp tha miễn là cơ sở để đánh giá thực trạng xã hội của một đất nước cũng như đường lối, chủ trương của Nhà nước đối với người phạm tội nói chung và thể hiện việc bảo vệ quyền con người nói riêng

Biện pháp tha miễn cũng là cơ sở cho việc miễn giảm hình phạt Bởi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt là tất yếu Hình phạt vốn là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước,

là công cụ hữu hiệu bởi tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nó để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và khi áp dụng hình phạt người bị áp dụng hình phạt sẽ bị tước bỏ hoặc hạn chế quyền tự do (hình phạt tù, cấm cư trú, quản chế, trục xuất), quyền về tài sản (tịch thu tài

Trang 34

sản, phạt tiền), quyền chính trị (cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định) nhất định trong thời gian theo luật định Hình phạt tù là hình phạt đặc thù hạn chế quyền tự do nhiều nhất của công dân mà biện pháp cưỡng chế khác không thể đạt được Và đặc biệt, người bị áp dụng có thể bị tước đi quyền sống - một quyền cơ bản của con người mà bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào khác ngoài hình phạt (tử hình) đều không thể tước bỏ Nhưng khi người bị áp dụng hình phạt thỏa mãn các điều kiện áp dụng các biện pháp tha miễn họ sẽ không phải chấp hành hoàn toàn những hình phạt nặng nề mà đáng ra họ phải gánh chịu (hình phạt với họ luôn nhẹ hơn - vì bản thân có các tình tiết được miễn, giảm hình phạt…), thậm chí họ còn không phải chịu án tích - hậu quả pháp lý bất lợi về nhân thân đối với người phạm tội (khi họ được miễn, giảm hình phạt…)

Vậy, bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn trong pháp

luật hình sự Việt Nam là sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật thông qua bản án, quyết định của các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp tha miễn được quy định trong Bộ luật hình sự đối với người phạm tội

1.3.2 Những đặc điểm cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam

Cùng với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã và đang thực hiện nghiêm túc và có trách nhiệm với tư cách là một nước thành viên Liên hợp quốc và cũng là thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người nên luôn mong muốn có sự đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện hơn nữa quyền con người Các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong những giai đoạn nhất định vấn đề về quyền con người chưa được hiểu thấu đáo nên vấn đề này nhiều lúc ở nhiều lĩnh vực còn bị lợi dụng làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ đặc biệt là vấn đề nhân quyền của quốc gia Vì vậy, công tác bảo vệ quyền con người phải gắn liền với sự hiểu đúng và đầy

Trang 35

đủ về vấn đề này Đặc biệt là đối với các cơ quan bảo vệ và cơ quan áp dụng pháp luật phải có cách hiểu thật thấu đáo trong việc áp dụng các biện pháp có tính chất bảo vệ quyền con người, thống nhất trong cách vận dụng, từ đó luật hóa và ngày càng hoàn thiện pháp luật hình sự trong đó có chế định các biện pháp tha miễn theo hướng bảo vệ quyền con người

Thứ nhất, bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự thể hiện sự nhân đạo, bảo đảm tính công bằng, tiến bộ xã hội

Khi được áp dụng các biện pháp tha miễn thì gián tiếp các biện pháp này góp phần nào đó trong việc động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội… đồng thời, cũng là cách giảm thiểu việc áp dụng các biện pháp trấn áp về hình sự Bởi vậy, áp dụng đúng và đầy đủ về nội dung và yêu cầu của các biện pháp tha miễn là điều quan trọng, một người chỉ được áp dụng biện pháp tha miễn khi thỏa mãn các điều kiện được quy định trong Bộ luật hình sự Vì thế, biện pháp tha miễn cũng góp phần bảo đảm công bằng trong phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Trong cùng những điều kiện nhất định với cùng một loại tội phạm, nhưng những trường hợp được áp dụng biện pháp tha miễn luôn có hình phạt nhẹ hơn những trường hợp khác là sự bảo đảm sự công bằng trong gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi của tội phạm Bởi lẽ, không phải tự nhiên họ có những tình tiết thuộc về chế định “tha miễn”, những tình tiết này là do nhận thức, nhân thân hoặc hoàn cảnh đưa lại (cũng có thể là do “nỗ lực” của bản thân)

Không chỉ bảo đảm công bằng mà bảo vệ quyền con người bằng biện pháp tha miễn còn là thước đo của tiến bộ xã hội Bởi, tiến bộ xã hội là một vấn đề được Đảng và Nhà nước phấn đấu thực hiện từ trước đến nay Hiện nay, xét về một vài góc độ thì vấn đề này đã có nhiều thành tựu đáng kể Nhà nước ta thực sự là nhà nước của dân, do dân vì dân, việc có lợi cho dân thì làm - việc có hại cho dân thì hết sức tránh… và quy định biện pháp tha miễn

Trang 36

trong pháp luật hình sự cũng là sự ghi nhận vượt bậc của sự tiến bộ xã hội Đây là sự tiến bộ về kỹ thuật lập pháp, góp phần bảo vệ quyền con người Từ việc chế định này chưa được quy định cụ thể, còn rải rác ở các văn bản dưới luật, rất khó khăn trong việc tra cứu và áp dụng, đến nay các biện pháp này đã được cụ thể hóa trong Bộ luật hình sự - đây là bước đột phá trong kỹ thuật xây dựng pháp luật của nước ta Nhờ đó mà vấn đề quyền con người và bảo

vệ quyền con người được coi trọng và xem xét đúng mức, hạn chế tối đa tình trạng oan sai trong hoạt động tố tụng

Thứ hai, bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp tha miễn góp phần đẩy nhanh quá trình tái hòa nhập xã hội cho người phạm tội

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước Khi một người bất kỳ thực hiện tội phạm thì theo lý thuyết điều tất yếu là họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi là hình phạt Hình phạt có thể là mức thấp nhất hoặc trung bình cũng có khi là mức cao nhất của khung hình phạt - tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… Và khi quyết định hình phạt các biện pháp tha miễn cũng là cơ sở giảm đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Vì vậy, mặc nhiên bị cáo có các tình tiết tha miễn sẽ khác bị cáo không có tình tiết tha miễn, cụ thể là thời gian chấp hành hình phạt sẽ được miễn, giảm hoặc rút ngắn Trong một số trường hợp đặc biệt, bị cáo còn được miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự nên vấn đề chấp hành hình phạt không được đặt ra với những trường hợp này…

Vấn đề tái hòa nhập xã hội là vấn đề cần được lưu tâm đúng mức, nó có vai trò quan trọng để giảm thiểu tình trạng tái phạm và góp phần không nhỏ giáo dục người phạm tội khi họ “hoàn lương”, quay lại với cuộc sống đời thường

Trang 37

Người phạm tội có các tình tiết tha miễn có thời hạn chấp hành hình phạt, quá trình bị “hạn chế các quyền” ngắn hơn các bị cáo không có tình tiết này Thời gian họ không bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội không quá lâu, nên

họ cũng dễ dàng hơn với quá trình tái hòa nhập xã hội Cộng đồng dân cư cũng dễ chấp nhận họ hơn bởi tính chất hành vi phạm tội hay vì hoàn cảnh mà

họ lâm vào trước/ sau khi thực hiện tội phạm

Với ý nghĩa xã hội là góp phần nào đó để bị cáo tái hòa nhập xã hội, biện pháp tha miễn là những biện pháp mang đậm tính nhân văn và kế thừa các giá trị đạo đức của một xã hội xã hội chủ nghĩa Bởi giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyền Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội Cụ thể trong trường hợp này là rút ngắn thời gian bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội của bị cáo, tránh được sự kỳ thị của cộng đồng dân cư với bị cáo khi mãn hạn tù, tạo cho bị cáo tâm lý tốt để thích ứng với cuộc sống hiện tại

Thứ ba, thông qua các biện pháp tha miễn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự hiện hành theo hướng bảo vệ quyền con nguời

Với tư cách là thành viên của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam luôn phấn đấu

để thực hiện tốt và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật để thích ứng với điều kiện mới Ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xã hội ngày càng phát triển Bên cạnh sự phát triển tích cực còn xuất hiện không ít tiêu cực, các

Trang 38

vụ án hình sự cũng gia tăng theo thời gian khi ấy việc đòi hỏi sự công bằng xã hội trong mỗi vụ án ngày càng cao Do đó pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng cũng phải tự điều chỉnh sao cho phù hợp

Biện pháp tha miễn là biện pháp bảo vệ quyền con người, biện pháp này thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật hình sự Trong bối cảnh đổi mới đất nước hiện nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ, thực trạng xã hội có nhiều thay đổi việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, đặc biệt hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa của xã hội truyền thống, trong đó chú trọng việc bảo vệ quyền con người

Để theo kịp xu hướng phát triển của thế giới, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ văn hóa, kinh

tế, chính trị đến an ninh, nhân quyền Trong bối cảnh kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa hết sức phức tạp và có tính cạnh tranh cao như hiện nay, yêu cầu đặt ra đối với pháp luật hình sự là phải tác động tích cực đến tội phạm dưới mọi góc độ Tuy biện pháp tha miễn là chế định nhân đạo của pháp luật hình sự, song để áp dụng như thế nào cho đúng và hợp lý, có tình lại là vấn đề

đã và đang được đặt ra đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền xem xét Một chế định khả thi khi chúng được áp dụng và kiểm nghiệm trong thực tế và thực tiễn cuộc sống chính là cơ sở khách quan để đánh giá một chế định có thực hiện hết được các chức năng của nó hay không? và với chế định biện pháp tha miễn trong Bộ luật hình sự hiện hành cũng vậy

Quy định về biện pháp tha miễn nhằm bảo vệ quyền con người là một vấn đề không mới nhưng luôn có tính thời sự Bởi “quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất trong nền văn hóa, là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của cả nhân loại, nhằm cải tạo xã hội và thiên nhiên,

Trang 39

giải phóng con người khỏi áp bức bất công” [36, tr.4] “Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã nói “Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân” Việc tham gia các công ước quốc tế về quyền con người cũng vì lợi ích của nhân dân Cho đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người Pháp luật nước ta cũng đã tương thích với các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc phê chuẩn” [36, tr.5]

Đối với nước ta hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh

tế thị trường, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như xã hội dân sự… đòi hỏi phải tích cực hơn nữa trong việc đưa pháp luật vào đời sống, hình thành và phát triển ý thức pháp luật, đồng thời, xã hội hóa tri thức, nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nâng cao đạo đức lên trình độ duy lý pháp lý và khoa học - sự điều chỉnh xã hội bằng pháp luật

Việc các biện pháp tha miễn được ghi nhận trong pháp luật hình sự thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Việt Nam với người phạm tội Quy định này góp phần bảo vệ quyền con người của người phạm tội trước sự nghiêm trị của pháp luật Pháp luật luôn cho họ sự “hướng thiện” và cơ hội rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội Chính vì thế mà biện pháp tha miễn mang đậm tính nhân văn và chỉ dành cho cá nhân người phạm tội khi họ có đầy đủ những điều kiện do pháp luật quy định Khi họ được hưởng một trong những biện pháp tha miễn đồng nghĩa với việc được tại ngoại hoặc thời gian bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội được rút ngắn điều này giúp họ có tâm lý “thoải mái” hơn khi quay lại cuộc sống thường nhật

Trang 40

Chương 2:

SỰ THỂ HIỆN NỘI DUNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG

CÁC BIỆN PHÁP THA MIỄN TRONG PHÁP LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Ngày nay quyền con người là một trong những vấn đề nổi bật được

toàn thế giới quan tâm và nghiên cứu Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới của

Đảng cộng sản Việt Nam (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986)

đã làm thay đổi cơ bản nhận thức về vấn đề bảo vệ quyền con người Hiến

pháp năm 2013 được ban hành tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm

quyền con người trong mọi lĩnh vực Sự nghiệp bảo vệ quyền con người đã

trở thành ý chí thống nhất của toàn Đảng, toàn dân

Bảo vệ quyền con người là một quá trình, là sự kết hợp hài hòa của các

điều kiện chủ quan và khách quan Bên cạnh sự bảo vệ bằng đạo đức và dư

luận xã hội thì pháp luật có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu Bởi,

quyền con khi đã được quy định trong pháp luật thì nó sẽ trở thành quyền

pháp định, là ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội thừa nhận, được quyền

lực Nhà nước tôn trọng bảo vệ; pháp luật có sức mạnh cưỡng chế tối cao trên

cơ sở tiến hành các biện pháp giáo dục, thuyết phục bảo đảm cho quyền con

người, quyền công dân được thực hiện và bảo vệ và nhờ hệ thống cơ quan bảo

vệ pháp luật mà mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân đều

có khả năng bị phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời Luật hóa vấn đề

quyền con người là phương pháp có hiệu quả cao, tạo cơ sở pháp lý thống

nhất để đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người Bởi lẽ

đó, pháp luật được xem xét không chỉ với tư cách là công cụ, phương tiện của

Nhà nước mà còn là công cụ, vũ khí của mọi người trong xã hội để thực hiện

việc bảo vệ quyền lợi của mình

Ngày đăng: 15/09/2017, 11:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình sự - LVTS 2014   bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm về các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự
Hình s ự (Trang 99)
Hình phạt tù  Chưa phải chấp hành hình phạt và có án tích - LVTS 2014   bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm về các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự
Hình ph ạt tù Chưa phải chấp hành hình phạt và có án tích (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w