1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LVTS 2015 các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự việt nam

83 410 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

án, chưa bị xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật, chưa được giáo dục; b Nhóm thứ hai - những trường hợp “không bị coi là có lỗi” bao gồm 9 trường hợp là: phòng vệ chính đáng; tình thế cấp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-

TRẦN THỊ THANH THỦY

c¸c t×nh tiÕt lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù

trong luËt h×nh sù viÖt nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -

TRẦN THỊ THANH THỦY

c¸c t×nh tiÕt lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù

trong luËt h×nh sù viÖt nam

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Trang

TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự 7

1.1.1 Các cách hiểu và tên gọi khác nhau về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự 7

1.1.2 Định nghĩa và các đặc điểm của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự 13

1.2 Phạm vi các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự 21

1.3 Phân biệt các tình tiết loại trừ TNHS với những trường hợp không có TNHS và miễn TNHS 23

1.4 Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự 26

1.4.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 26

1.4.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2: CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 32

2.1 Loại trừ trách nhiệm hình sự do phòng vệ chính đáng 32

2.1.1 Khái niệm phòng vệ chính đáng 32

2.1.2 Các điều kiện của phòng vệ chính đáng 34

2.2 Loại trừ trách nhiệm hình sự do tình thế cấp thiết 43

2.2.1 Khái niệm tình thế cấp thiết 43

Trang 4

2.2.2 Các điều kiện của tình thế cấp thiết 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 52

3.1 Đánh giá các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS Việt Nam 52

3.2 Hoàn thiện BLHS quy định về các tình tiết loại trừ TNHS 57

3.2.1 Hoàn thiện quy định về phòng vệ chính đáng 58

3.2.2 Bổ sung quy định về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự khác 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, các trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Người cam đoan

Trần Thị Thanh Thủy

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trách nhiệm hình sự (TNHS) là một dạng trách nhiệm pháp lý buộc người phạm tội phải chịu chế tài hình sự được luật hình sự quy định Theo đó, luật hình sự có nhiệm vụ xác định các hành vi vi phạm pháp luật là tội phạm

và phải chịu TNHS Bên cạnh đó, luật hình sự cũng có những quy định về các trường hợp mà hành vi đã thực hiện về hình thức tuy có các dấu hiệu của tội phạm nhưng vì có những tình tiết đặc biệt nên không bị coi là tội phạm và không phải chịu TNHS Luật hình sự Việt Nam nói chung cũng như Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành chưa có tên gọi cho các tình tiết này mà chỉ có tên gọi cho từng tình tiết cụ thể, đó là phòng vệ chính đáng (Điều 15) và tình thế cấp thiết (Điều 16) Trong khoa học luật hình sự, các tình tiết này được các nhà khoa học gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau Các tên gọi khác nhau đó là:

“căn cứ hợp pháp của hành vi nguy hiểm cho xã hội”; “những trường hợp

(tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi”; “các yếu tố loại trừ tính chất tội phạm của hành vi”; “những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự”; “các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” và “các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự” Mặc

dù chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ như kể trên nhưng xét về nội dung, các trường hợp này đều được hiểu không khác nhau và hậu quả pháp lý mà người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội đều giống nhau – không phải chịu TNHS Khi nghiên cứu đề tài, tác giả chọn thuật ngữ

“các tình tiết loại trừ TNHS” theo cách gọi trong Giáo trình Luật hình sự (Phần chung) của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2003)

Cùng với chế định TNHS, chế định “các tình tiết loại trừ TNHS” có ý

nghĩa trong việc giải quyết TNHS, là “cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh chống

và phòng ngừa tội phạm, góp phần bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, xây dựng nhà nước pháp

Trang 8

quyền XHCN Việt Nam trên con đường đổi mới” [9, tr.280] Tuy nhiên, trong

khoa học luật hình sự và trong thực tiễn, nhận thức và áp dụng các tình tiết loại trừ TNHS đang còn có một số vướng mắc Bản thân hai tình tiết được quy định trong BLHS hiện hành (phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết) vẫn còn nhận thức và áp dụng chưa thống nhất; bên cạnh đó, phạm vi các tình tiết loại trừ TNHS gồm những trường hợp nào vẫn còn nhiều tranh luận

Hơn nữa, việc Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã quy định thêm một số trường hợp cùng với “phòng vệ chính đáng” (PVCĐ) và “tình thế cấp thiết” (TTCT) trong chương mới - chương IV - “Những trường hợp loại trừ TNHS” cũng đòi hỏi có sự nghiên cứu về các trường hợp bổ sung này để làm rõ hơn chế định “các tình tiết loại trừ TNHS”

Với lý do như vậy, tác giả lựa chọn đề tài “các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam” làm đề luận văn thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế định “các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự” trong luật hình sự

có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội cũng như về mặt pháp lý hình sự Do đó, vấn đề này được nhiều nhà khoa học và nhà hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

Trước hết, các Giáo trình Luật hình sự - Phần chung của các cơ sở đào tạo đại học đều có nội dung trình bày những kiến thức cơ bản về chế định này cũng như về nội dung của hai điều luật trong BLHS quy định về phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết Tuy nhiên, đây chỉ là những kiến thức cơ bản, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu sâu về lý luận cũng như thực tiễn

Các công trình nghiên cứu khác về vấn đề mà tác giả luận văn nghiên cứu bao gồm các luận án, luận văn, các sách và các bài báo Các công trình này có thể được chia thành các nhóm sau:

- Nhóm nghiên cứu về nhiều vấn đề của Luật hình sự trong đó có nội

dung về chế định mà tác giả luận văn nghiên cứu Ví dụ: Lê Văn Cảm, Những

Trang 9

vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo

Sau đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2005); Nguyễn Ngọc Hòa, Tội

phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội (2010); Trịnh

Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb Lao động, Hà Nội (2013);

- Nhóm nghiên cứu “các trường hợp (tình tiết) loại trừ trách nhiệm hình sự” được hiểu bao gồm cả các trường hợp không có TNHS khác Do vậy, trong các công trình này, vấn đề mà tác giả luận văn nghiên cứu chỉ là một nội dung trong nhiều nội dung khác được nghiên cứu Ví dụ: Nguyễn Ngọc Chí,

Về chế định loại trừ trách nhiệm hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4

(1999); Giang Sơn, Các yếu tố loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của

hành vi, Luận án tiến sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội (2002); Trịnh

Tiến Việt, Chế định loại trừ trách nhiệm hình sự và những yêu cầu đặt ra khi

sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQG, Luật

học, tập 29, số 4 (2013); Nguyễn Tuyết Mai, Hoàn thiện chế định loại trừ

trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 2

(2014);

Như vậy, hai nhóm nghiên cứu này có nội dung nghiên cứu tương đối rộng và nội dung thuộc đề tài luận văn của tác giả không phải là nội dung được tập trung nghiên cứu của các công trình này

- Nhóm nghiên cứu chuyên về chế định phòng vệ chính đáng hoặc về tình tiết cấp thiết Đây là nhóm có nhiều công trình nghiên cứu để phục vụ trực tiếp việc giải thích, bình luận các điều luật của BLHS Điểm chung của các công trình này là tập trung giải thích nội dung quy định của BLHS về phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết, từ cơ sở, nội dung, phạm vi đến các

vướng mắc có liên quan Ví dụ: Hoàng Văn Hùng, Tìm hiểu về bản chất của

tình thế cấp thiết, Tạp chí Luật học số 5/1999; Nguyễn Đức Mai, Phòng vệ chính đáng theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân

dân, số 6 (2000); Giang Sơn, Quy định về chế định phòng vệ chính đáng theo

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện

Trang 10

Nhà nước và pháp luật, số 8 (2001); Phạm Quốc Hưng, Phòng vệ chính đáng

trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật

Hà Nội (2001); Đinh Văn Quế, Một số vấn đề phòng vệ chính đáng, vượt quá

giới hạn phòng vệ chính đáng và những vướng mắc trong thực tiễn xét xử,

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17 (2009); Nguyễn Hương Giang, Tình thế cấp

thiết trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại

học Quốc gia Hà Nội (2011); Nguyễn Sơn, Phòng vệ chính đáng và vượt quá

giới hạn phòng vệ chính đáng theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ

Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2014); v.v… Các công trình này đều nghiên cứu từng điều luật trong BLHS mà không gắn kết các điều luật này với nội dung của chế định chung “các tình tiết loại TNHS”

- Nhóm nghiên cứu “các tình tiết loại trừ TNHS” theo nghĩa như cách

hiểu trong luận văn của tác giả Ví dụ: Hoàng Văn Hùng, Các tình tiết loại trừ

tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong luật hình sự Việt Nam, Luận

văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội (1999);… Các công trình công trình nghiên cứu này tuy đã làm rõ hơn cơ sở lí luận về các tình tiết loại trừ TNHS nhưng mới chỉ tập trung vào hai tình tiết đã được quy định trong BLHS

Tóm lại, các công trình đã được công bố đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận cũng như những vướng mắc trong thực tiễn của chế định các tình tiết loại trừ TNHS Tuy nhiên, trước đòi hỏi của thực tiễn pháp lý, vẫn còn một số vấn

đề yêu cầu cần được làm rõ hơn như: làm rõ hơn bản chất của các trường hợp được loại trừ TNHS; mối quan hệ giữa chế định này với các trường hợp không có TNHS và miễn TNHS; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định các tình tiết loại trừ TNHS, cũng như làm rõ nội dung của các quy định mới được bổ sung trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) hoặc nội dung liên quan đến thực tiễn gần đây như vấn đề thi hành công vụ và phòng vệ chính đáng

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có mục đích làm rõ hơn về lý luận chế định các tình tiết loại trừ TNHS để đánh giá và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của BLHS Việt Nam về vấn đề này

Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Phân tích cơ sở lý luận của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự;

- Giải thích các quy định của BLHS năm 1999 về phòng vệ chính đáng

và tình thế cấp thiết trong sự so sánh với lý luận và thực tiễn lập pháp của một

số quốc gia trên thế giới

Từ đó, tác giả luận văn đề xuất những kiến nghị hoàn thiện chế định các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ngoài cơ sở lý luận của chế định các tình tiết loại trừ TNHS, luận văn còn có các đối tượng nghiên cứu là: các quy định của BLHS Việt Nam năm

1999, của Dự thảo BLHS Việt Nam (sửa đổi) và luật hình sự một số quốc gia khác trên thế giới về các tình tiết này Cụ thể: Các điều luật được nghiên cứu

là các điều 15, 16 BLHS Việt Nam năm 1999; các điều 20, 21, 22, 23, 24, 25,

26 Dự thảo BLHS Việt Nam (sửa đổi); các điều 37, 38, 39, 40, 41,42 BLHS Liên bang Nga; các điều 1, 2, 4, 8, (chương 24) BLHS Thụy Điển; các điều

25, 27, 34 BLHS Cannada; các điều 32, 33, 34 BLHS Cộng hòa Liên bang Đức; các điều 20, 21 BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, so sánh, tổng hợp

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Trang 12

- Chương 1 Một số vấn đề chung về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

- Chương 2 Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

- Chương 3 Hoàn thiện chế định các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

1.1.1 Các cách hiểu và tên gọi khác nhau về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

Các tình tiết loại trừ TNHS là chế định không thể thiếu trong luật hình

sự của mỗi quốc gia, có quan hệ chặt chẽ với chế định TNHS cũng như các chế định khác để tạo thành cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho việc truy cứu TNHS

Một người chỉ có thể phải chịu TNHS về hành vi gây thiệt hại cho xã hội khi họ có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm và có lỗi khi thực hiện hành vi gây thiệt hại Trái lại, họ sẽ không có TNHS khi thuộc về một trong các trường hợp sau:

- Chưa đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật hình sự (PLHS);

- Là người đang trong tình trạng mắc bệnh nên mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội hoặc

- Không có lỗi (có thể là trường hợp bất khả kháng hoặc trường hợp sự kiện bất ngờ)

Các trường hợp này có thể được gọi là các trường hợp không có TNHS Ngoài các trường hợp trên đây, một người cũng không phải chịu TNHS

về hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà mình đã thực hiện nếu việc thực hiện được PLHS cho phép vì có những tình tiết nhất định (như phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp thiết) Những tình tiết này có thể được gọi là các tình tiết loại trừ TNHS

Như vậy, các trường hợp không có TNHS và các tình tiết loại trừ TNHS có sự khác nhau Tuy nhiên, về vấn đề này hiện có các ý kiến khác nhau Từ đó dẫn đến có những cách hiểu khác nhau về các tình tiết loại trừ TNHS Cụ thể: các tình tiết loại trừ TNHS có thể được hiểu theo nghĩa không bao gồm các trường hợp không có TNHS Cách hiểu khác lại cho rằng, các tình tiết loại trừ TNHS bao gồm tất cả các trường hợp đã được nêu trên

Trang 14

Khái niệm “các tình tiết loại trừ TNHS” trong luận văn của tác giả được sử dụng theo các hiểu thứ nhất (không bao gồm các trường hợp không

có TNHS) như đã được khẳng định trong Phần mở đầu Cách hiểu này cũng được Giáo trình luật hình sự Việt Nam của nhiều cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam sử dụng như trường Đại học Luật Hà Nội, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Huế

Khác với quan điểm trên đây, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (2003) khẳng định các tình loại trừ TNHS còn bao gồm cả “Sự kiện bất ngờ; tuổi chịu trách nhiệm hình sự; không có năng lực trách nhiệm hình sự …” [9, tr 291]

Cùng với quan điểm trên đây, GS.TSKH Lê Văn Cảm đã xác định 10 tình tiết loại trừ TNHS, bao gồm: tình tiết chưa đủ tuổi chịu TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS; tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể; sự kiện bất ngờ; tình trạng bất khả kháng; phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; rủi ro chấp nhận được về kinh tế hoặc nghề nghiệp [8, các tr.514, tr.515]

PGS TS Nguyễn Ngọc Chí cho rằng: “Loại trừ trách nhiệm hình sự

bao gồm nhiều quy định tạo thành một nhóm quy phạm điều chỉnh hành vi gây hậu quả về hình sự nhưng được loại trừ trách nhiệm hình sự” [11, tr.35]

Theo đó, tác giả xác định 9 tình tiết loại trừ TNHS, bao gồm: Sự kiện bất ngờ; tình trạng không có năng lực TNHS; phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết;

tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; chưa đủ tuổi chịu TNHS; bắt người phạm tội; chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; rủi ro trong nghiên cứu khoa học, trong sản xuất [11; tr.33]

TS Trịnh Tiến Việt quan niệm: “Loại trừ trách nhiệm hình sự là

trường hợp một người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội, nhưng đối chiếu (căn cứ) vào các quy định của Bộ luật hình sự thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này Nói một cách khác, trong hành vi

Trang 15

của một người khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội do không thỏa mãn ít nhất một trong các dấu hiệu cơ bản của tội phạm, nên tính chất tội phạm của hành vi đó được loại trừ, và logic tương ứng, người thực hiện nó không phải chịu trách nhiệm hình sự hay được loại trừ trách nhiệm hình sự”

[54, các tr.17, tr.18] Theo đó, tác giả xác định 14 tình tiết loại trừ TNHS, bao gồm: hành vi có tính chất nguy hiểm không đáng kể; sự kiện bất ngờ; chưa đủ tuổi chịu TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS; phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; sự kiện bất khả kháng; không có lỗi trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác; gây thiệt hại hợp pháp khi bắt người phạm tội; rủi ro trong sản xuất, nghiên cứu khoa học; thi hành quyết định của cấp trên; giúp người đã thành niên tự sát theo yêu cầu tự nguyện của người đó; người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo; hành vi phạm tội thái quá của người thực hành trong đồng phạm [54, các tr.18, tr.26 – tr.28]

TS Nguyễn Tuyết Mai định nghĩa: “Loại trừ trách nhiệm hình sự là

những trường hợp người thực hiện hành vi gây nguy hại cho xã hội nhưng được pháp luật xác định không phải chịu trách nhiệm hình sự do: tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể; hoặc thiếu yếu tố của tội phạm; hoặc có căn

cứ hợp pháp của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội” [22, tr.12] Tác

giả cũng xác định 14 tình tiết loại trừ TNHS, bao gồm: hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể; sự kiện bất ngờ; chưa đủ tuổi chịu TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS; phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; không tố giác tội phạm; bị ép buộc đưa hối lộ; tình trạng bất khả kháng; không có lỗi với tình trạng say; bị cưỡng bức; thi hành mệnh lệnh của cấp trên; rủi ro trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã [22, các tr.12, tr.13]

Tác giả Đinh Văn Quế còn mở rộng hơn nữa khái niệm này khi xác định 18 trường hợp loại trừ TNHS và phân chia thành 3 nhóm: a) Nhóm thứ nhất - những trường hợp “không có năng lực TNHS” (bao gồm ba trường hợp là: tình trạng không có năng lực TNHS; chưa đến tuổi chịu TNHS; chưa bị kết

Trang 16

án, chưa bị xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật, chưa được giáo dục); b) Nhóm thứ hai - những trường hợp “không bị coi là có lỗi” (bao gồm 9 trường hợp là: phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; sự kiện bất ngờ; tình trạng không thể khắc phục được; bắt người phạm tội quả tang hoặc có lệnh truy nã; chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh; rủi ro trong nghề nghiệp hoặc trong sản xuất; không phải chịu TNHS về hành vi thái quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm); c) Nhóm thứ ba - những trường hợp được loại trừ TNHS theo quy định của pháp luật (bao gồm 6 trường hợp là: tính chất nguy hiểm không đáng kể của hành vi; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại chưa tới mức phải truy cứu TNHS; được miễn TNHS; hết thời hiệu truy cứu TNHS; hành vi nguy hiểm cho xã hội không thuộc phạm vi áp dụng BLHS) [24, các tr.18, tr.19]

Trong khoa học hình sự nước ngoài, GS TSKH luật Xlutxki I.I của Liên bang Nga đã phân các trường hợp loại trừ TNHS thành ba nhóm: a) Nhóm thứ nhất – các tình tiết thể hiện rõ lợi ích cho xã hội tính hợp pháp của hành vi (bao gồm: phòng vệ chính đáng, áp dụng các biện pháp cần thiết để bắt giữ người phạm tội, tình thế cấp thiết, chấp hành mệnh lệnh hợp pháp, thực hiện các trách nhiệm nghề nghiệp và công vụ, thực hiện quyền của mình

và bắt buộc phải tuân thủ); b) Nhóm thứ hai – các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội và tính phải bị xử phạt của hành vi (bao gồm: tự nguyện đình chỉ tội phạm, sự đồng ý của người bị hại, tính chất nhỏ nhặt của vi phạm pháp luật, sự thay đổi của pháp luật, sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội, hết thời hiệu truy tố hình sự, hết thời hiệu thi hành của bản án); c) Nhóm thứ ba – các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi (bao gồm: sự cưỡng bức về thể xác và, sức mạnh không thể chống lại được) [8; các tr.510, tr.511]

Tóm lại, các tình tiết loại trừ TNHS có thể được các tác giả hiểu theo nhiều phạm vi khác nhau Bên cạnh đó, tên gọi của các trường hợp này cũng

có sự không thống nhất

Trang 17

Tên gọi “các tình tiết loại trừ TNHS” là tên gọi được sử dụng trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Khoa Luật thuộc Đại học

Quốc gia Hà Nội (2003) Tác giả của Giáo trình này cho rằng “TNHS là hậu

quả pháp lý của trường hợp hành vi nguy hiểm bị coi là tội phạm và đối lập với TNHS là không có hay loại trừ TNHS, là hậu quả pháp lý của hành vi gây hậu quả về hình sự nhưng không bị coi là tội phạm” [9, tr.284] Tác giả luận

văn chọn cách gọi này vì nó “… xác định rõ ràng phạm vi điều chỉnh của luật

hình sự, đồng thời phù hợp với nhận thức chung của cán bộ áp dụng pháp luật đã được thống nhất lâu nay ở nước ta” [24, tr.9]

Khác với Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, các giáo trình Luật hình sự Việt Nam của hầu hết các cơ sở đào tạo luật khác như trường Đại học Luật Hà Nội (2013), trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), trường Đại học Huế (2001) đều đặt tên cho nhóm các quy phạm này là: “Những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” Sở dĩ tên gọi này được lựa

chọn vì các tác giả cho rằng “hành vi đã thực hiện, xét về khách quan đã gây

ra thiệt hại nhưng xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội Do không có lỗi nên hành vi gây thiệt hại không bị coi là có tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm” [47,

tr.201] Các tác giả cho rằng, hành vi gây thiệt hại sẽ không phải chịu TNHS

vì “xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử

sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội” Do vậy, hành vi được thực hiện tuy gây thiệt hại nhưng không phải là tội phạm Theo đó, “gốc” của vấn đề là tính chất nguy hiểm cho xã hội bị loại trừ Từ đó, các tác giả đưa ra định nghĩa về

những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là “những

tình tiết làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại nên được quy định trong luật hình sự để xác định những trường hợp bình thường

là tội phạm nhưng không bị coi là tội phạm khi được thực hiện trong những điều kiện kèm theo tình tiết đó” [47, tr.202] Như vậy, các tác giả đã xuất phát

Trang 18

từ đặc điểm (dấu hiệu) về nội dung của tội phạm (tính nguy hiểm cho xã hội) khi đặt tên gọi riêng cho nhóm các quy phạm này Ở đây, tính chất nguy hiểm cho xã hội được hiểu bao gồm tính gây thiệt hại về khách quan và tính có lỗi

về chủ quan Nếu hiểu tính nguy hiểm cho xã hội chỉ là tính gây thiệt hại hoặc

đe dọa gây thiệt hại thì tên gọi trên đây sẽ không chính xác vì đặc điểm này

“… của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện luôn tồn tại không phụ thuộc vào có hay không có tình tiết phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp thiết” [15, tr.39]

Khác với cách đặt tên trên đây, GS TSKH Lê Văn Cảm gọi các tình tiết đó là “Những trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần

chung)”, tác giả cho rằng, “tính chất tội phạm của hành vi là phạm trù rộng

hơn và bao trùm lên tất cả các tính chất khác – tính nguy hiểm cho xã hội, tính chất lỗi, và tính chất trái pháp luật hình sự” [8, tr.516] Theo đó, “những trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi là những tình tiết được điều chỉnh trong pháp luật hình sự mà khi có căn cứ do luật định thì việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự không bị coi là tội phạm và do vậy, người gây ra thiệt hại đó không phải chịu TNHS” [8; tr.504]

Một tên gọi khác được GS TS Nguyễn Ngọc Hòa nêu trong cuốn “Tội phạm và cấu thành tội phạm” là “các căn cứ hợp pháp của hành vi nguy hiểm

cho xã hội” Cách gọi này xuất phát từ quan điểm cho rằng “hành vi nguy

hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi hành vi đó được quy định trong BLHS và không thuộc những trường hợp có căn cứ hợp pháp khác Theo đó, hành vi đã thực hiện tuy được quy định trong BLHS nhưng vẫn không phải là tội phạm nếu chủ thể có căn cứ hợp pháp được quy định trong BLHS khi thực hiện hành vi này” [15, tr.38] Tác giả của tên gọi này cho rằng, các hành vi

được quy định trong BLHS là các hành vi bị cấm nhưng một người vẫn có thể được quyền thực hiện những hành vi có tính gây thiệt hại đã được quy định

đó trong trường hợp có căn cứ (tình tiết) nhất định được Bộ luật quy định Do

Trang 19

vậy, những căn cứ (tình tiết) này được coi là các căn cứ hợp pháp của hành vi

Các căn cứ này làm cho hành vi đã thực hiện “ không còn tính trái pháp luật

hình sự” [15, tr.39]

Bên cạnh các quan điểm về các tình tiết loại trừ TNHS được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau như đã trình ở trên, còn có quan điểm khoa học của một số nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề loại trừ TNHS

Mỗi nhóm quan điểm nêu trên đều có lập luận khoa học và nhân tố hợp

lý riêng của mình Trên cơ sở tổng kết, tiếp thu các quan điểm khác nhau được giới thiệu khái quát trên đây, tác giả luận văn lựa chọn tên gọi “các tình tiết loại trừ TNHS” và hiểu các tình tiết này theo phạm vi chỉ bao gồm những tình tiết cho phép được thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội

1.1.2 Định nghĩa và các đặc điểm của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

Các tình tiết loại trừ TNHS là các tình tiết mà khi có một trong các tình tiết này thì người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong luật hình sự vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự

Như vậy, các tình tiết loại trừ TNHS chỉ được đề cập đến trong trường hợp một người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội và về hình thức

đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm (CTTP) Nếu không có một trong các tình tiết loại trừ TNHS thì hành vi của họ đã CTTP, TNHS đã được đặt ra và họ phải gánh chịu trách nhiệm này Nhưng TNHS đã không được đặt ra vì hành vi được thực hiện có một trong các tình tiết đặc biệt này, hay nói cách khác, các tình tiết đặc biệt này đã làm mất đi TNHS Do có đặc điểm làm mất đi TNHS mà các tình tiết này có thể được gọi là các tình tiết loại trừ TNHS Điều này cũng hoàn toàn phù hợp về mặt ngôn ngữ Theo Từ

điển Tiếng Việt, loại trừ có nghĩa là “làm cho mất đi, …” [21, tr.574] và như

vậy các tình tiết loại trừ TNHS có nghĩa là các tình tiết làm mất đi TNHS Khác với các tình tiết loại trừ TNHS, các tình khác như tình tiết chưa đủ tuổi

Trang 20

trách nhiệm hình sự hay tình tiết trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hay tình tiết sự kiện bất ngờ là các tình tiết phản ánh hành vi thiếu dấu hiệu của tội phạm (dấu hiệu về chủ thể hoặc dấu hiệu về lỗi) và do vậy vấn đề TNHS không được đặt ra Câu hỏi được đặt ra là tại sao các tình tiết loại trừ TNHS lại có thể làm mất trách nhiệm hình sự mặc dù chủ thể đã

có hành vi gây thiệt hại và hành vi này đã được quy định trong luật hình sự?

Xét về mặt khách quan, người được loại trừ trách nhiệm hình sự đã có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội và hành vi này được quy định trong luật hình sự Xét về mặt chủ quan, họ cũng thấy trước khả năng gây ra thiệt hại Tuy nhiên, động cơ thực hiện các hành vi này không phải là động cơ phạm tội mà là động cơ có ích và mục đích hướng tới không phải là gây thiệt hại mà cũng là lợi ích chung, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác Ví dụ: Trường hợp phải gây thiệt hại cho kẻ tấn công để bảo vệ chính mình hay người khác là trường hợp mà hành vi gây thiệt hại có động cơ và mục đích như vậy Chính động cơ và mục đích này đã loại trừ trách nhiệm hình sự Do đó, phòng vệ được coi là một tình tiết loại trừ TNHS Như vậy, trong trường hợp có tình tiết loại trừ TNHS, chủ thể tuy lựa chọn hành vi gây thiệt hại nhưng không phải là lựa chọn xử sự trái với đòi hỏi của xã hội mà là lựa chọn hành vi cần thiết và phù hợp với lợi ích chung của xã hội Điều này cũng có nghĩa, chủ thể không có lỗi (theo đúng nghĩa) đối với hành vi khách quan đã gây thiệt hại

Cũng như trách nhiệm hình sự, các tình tiết loại trừ TNHS cũng cần phải được luật hóa để đảm bảo nguyên tắc pháp chế Cơ sở của TNHS phải được luật quy định Điều này cũng đòi các tình tiết cụ thể cũng như các dấu hiệu của các tình tiết đó cũng phải được luật quy định Việc được quy định này chính là cơ sở pháp lý cho phép cá nhân được thực hiện hành vi gây thiệt hại mà bình thường là tội phạm Đây cũng là lý do giải thích tại sao có tác giả gọi các tình tiết này là các căn cứ hợp pháp của hành vi gây thiệt hại

Trang 21

Từ các phân tích khái quát trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của các tình tiết loại trừ TNHS như sau:

* Tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự luôn gắn với hành vi gây thiệt hại có dấu hiệu về hình thức của một tội phạm

Hành vi đã thực hiện khi có tình tiết loại trừ TNHS là hành vi về mặt hình thức đã thỏa mãn các dấu hiệu của một CTTP hay nói cách khác hành vi

đã là hành vi phạm tội nếu giả sử không có tình tiết này Cụ thể:

- Chủ thể đã thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại và hành vi này đã được mô tả trong một CTTP Trong đó, hành vi được coi là biểu hiện cơ bản

nhất trong mặt khách quan của CTTP, đã “làm biến đổi tình trạng của đối

tượng tác động và do vậy là nguyên nhân gây thiệt hại cho quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm” [15, tr.63];

- Khi thực hiện hành vi đó, chủ thể nhận thức được tính gây thiệt hại và thấy trước hậu quả thiệt hại mà hành vi có thể gây ra cho các quan hệ xã hội và

- Chủ thể thực hiện là người có đủ điều kiện về chủ thể

Như vậy, xét về về tổng thể, hành vi đã thực hiện là hành vi có đủ dấu hiệu của một CTTP Nếu không xét đến sự có mặt của tình tiết loại trừ TNHS thì hành vi đã cấu thành một tội phạm cụ thể Ví dụ: Tội cố ý gây thương tích hay tội giết người hay tội hủy hoại tài sản v.v…

* Tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự là tình tiết làm cho hành vi gây thiệt hại mất tính nguy hiểm của một tội phạm

Hành vi gây thiệt hại khi có tình tiết loại trừ TNHS tuy về hình thức thỏa mãn các dấu hiệu của một CTTP nhưng xét trong mối quan hệ với tình tiết loại trừ TNHS thì hành vi đó không có tính nguy hiểm của tội phạm Các tình tiết này tuy khác nhau nhưng đều gắn với động cơ và mục đích của hành

vi đã thực hiện Động cơ thúc đẩy là vì lợi ích chung hoặc lợi ích chính đáng của cá nhân được xã hội chấp nhận; mục đích không phải để gây thiệt hại mà

để bảo vệ hoặc mang lại lợi ích chung Chính tính chất đặc biệt và phù hợp với đòi hỏi của xã hội, được xã hội chấp nhận của động cơ và mục đích của

Trang 22

hành vi như vậy đã làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại Ví dụ: Việc chọn và thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác trong điều kiện bình thường là trường hợp cố ý gây thương tích và có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích nhưng khi gắn với tình tiết “phòng vệ” nhằm ngăn chặn hành vi tấn công, bảo vệ tính mạng người khác thì hành vi gây thương tích không còn tính nguy hiểm cho xã hội Động cơ ngăn chặn sự tấn công và mục đích bảo vệ tính mạng con người đã loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích Việc gây thiệt hại trong những trường hợp với động cơ, mục đích như vậy được coi là hành vi có ích, được xã hội chấp nhận và do vậy không thể là hành vi tội phạm để buộc chủ thể phải chịu TNHS

* Các tình tiết loại trừ TNHS được quy định trong luật hình sự

Hai đặc điểm nêu trên là đặc điểm về nội dung nhưng chỉ với hai đặc điểm đó thì các tình tiết loại trừ TNHS chưa thể là cơ sở pháp lý cho việc loại trừ TNHS Các tình tiết này phải được luật hóa, phải được quy định rõ ràng trong luật và khi đó các quy định này mới là căn cứ hợp pháp của các hành vi gây thiệt hại

Việc phải xác định các tình tiết nào là tình tiết loại trừ TNHS và các dấu hiệu cụ thể của từng tiết để quy định trong luật là cần thiết để đảm bảo nguyên tắc pháp chế và qua đó bảo đảm tính thống nhất trong nhận thức và áp dụng các tình tiết này

Việc các tình tiết này được quy định trong luật hình sự không chỉ là xác định các tình tiết loại trừ TNHS cụ thể mà quan trọng hơn là xác định rõ ràng

cơ sở cũng như phạm vi được phép thực hiện hành vi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại, hay nói cách khác là phải xác định rõ các dấu hiệu của từng tình tiết loại trừ TNHS Việc xác định tình tiết loại trừ TNHS cụ thể và dấu hiệu của từng tình tiết đó phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia

Từ các phân tích trên có thể định nghĩa các tình tiết loại trừ trách nhiệm

hình sự như sau: Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự là các tình tiết

Trang 23

được luật hình sự quy định mà khi có một trong những tình tiết đó thì người

đã thực hiện hành vi gây thiệt hại có dấu hiệu của tội phạm được loại trừ trách nhiệm hình sự vì hành vi của họ không có tính nguy hiểm của tội phạm

1.1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

Theo Từ điển Tiếng Việt, từ „cơ sở” được hiểu là “cái làm nền tảng trong quan hệ với những cái được xây dựng trên nó hoặc dựa trên nó mà tồn tại, phát triển” [23, tr.215] Nếu cho rằng cơ sở của TNHS là việc cá nhân thực hiện một hành vi mà luật hình sự quy định là tội phạm thì cơ sở làm loại trừ TNHS của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự chính là động cơ có ích – vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tổ chức, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác đã làm đi mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại

Việc quy định các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS là vô cùng quan trọng, nó tạo cơ sở pháp lý cho người dân được quyền hành động để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như của tổ chức; đồng thời, nó động viên quần chúng nhân dân tích cực tham gia công tác đấu tranh chống tội phạm, tích cực, tự giác bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, lợi ích chính đáng của công dân

Như đã phân tích ở trên, các tình tiết loại trừ TNHS về hình thức đã có những dấu hiệu của tội phạm Tuy nhiên, không phải bất kì hành vi nào thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm cũng làm phát sinh TNHS Hành vi được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan có thể giống nhau nhưng diễn biến tâm

lý bên trong của người thực hiện hành vi trong từng hoàn cảnh cụ thể lại rất phức tạp Đặc biệt, đối với những hành vi mặc dù xét về hình thức đã hội đủ các yếu tố CTTP nhưng do mục đích, động cơ của người thực hiện hành vi là nhằm bảo vệ lợi ích của xã hội, của người khác hoặc lợi ích hợp pháp của chính bản thân mình thì những hành vi đó cần được loại trừ TNHS Chẳng hạn như: trong trường hợp PVCĐ, TTCT, hay bắt giữ người phạm tội , rõ

Trang 24

ràng hậu quả gây thiệt hại không phải là mong muốn của chủ thể Việc lựa chọn hành vi gây thiệt hại trong những trường hợp này xuất phát từ động cơ nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp khác và quan trọng hơn là cần thiết và phù hợp với lợi ích chung của xã hội Vì vậy, nó được coi là những tình tiết loại trừ TNHS đối với người thực hiện hành vi gây thiệt hại đó Do vậy, BLHS cần thiết phải qui định các tình tiết loại trừ TNHS để tạo cơ sở pháp lý cho người dân được hành động, được gây thiệt hại nhất định vì lợi ích chung, vì bảo vệ những quan hệ xã hội đã được pháp luật bảo vệ Chỉ trên cơ sở pháp luật ghi nhận chính thức (về mặt pháp lý) công dân được phép làm gì (cũng như không được phép làm gì) thì khi đó người dân mới dám thực hiện hành vi pháp luật cho phép, mới xử sự trên cơ sở qui định pháp luật Khi quyền lợi chính đáng của mình được bảo vệ, được ghi nhận chính thức trong luật, người dân mới dám chống trả lại hành vi đang xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác, mới dám “cống hiến”

và góp sức để phát triển xã hội Bên cạnh đó, đối với người thi hành công vụ, trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, việc gây thiệt hại nhất định vì lợi ích chung cũng vẫn phải trên cơ sở qui định của pháp luật, không được trái pháp luật Mặc dù đây là những hành vi có ích cho xã hội, tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là công dân “tùy tiện” muốn làm gì thì làm Pháp luật đòi hỏi

họ phải thực hiện hành vi có ích trên cơ sở qui định của pháp luật Trong một

xã hội mà “tinh thần thượng tôn pháp luật” là tối cao thì điều này lại càng có

ý nghĩa

Trên thực tế, tình hình tội phạm ở nước ta nói riêng cũng như trên thế giới nói chung diễn ra ngày càng phức tạp Hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của tập thể, của công dân có xu hướng ngày càng gia tăng Công cuộc đấu tranh chống tội phạm muốn hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của đông đảo người dân trong xã hội Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy hiện tượng nhiều người dân thường có thái độ bàng quan, thờ ơ khi chứng kiến tội phạm xảy ra (như trông thấy tên lưu manh đang trộm cắp,

Trang 25

cướp tài sản, hoặc gặp trường hợp một số người đang hành hung người khác

mà không dám phản ứng ngăn cản), thậm chí có người bị tội phạm trực tiếp xâm phạm đến lợi ích chính đáng của chính bản thân mình mà cũng không dám phản kháng Việc người dân không tích cực tham gia chống tội phạm, bảo vệ các lợi ích hợp pháp đã được pháp luật bảo vệ thì càng tạo điều kiện cho phạm tội ngang nhiên hoành hành, càng gây mất trật tự trị an xã hội Nguyên nhân một phần cũng bởi họ sợ người phạm tội, sợ bị liên lụy hoặc không biết về sự đảm bảo quyền chính đáng của mình trong pháp luật Hay đối với những người say mê nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, ham muốn tìm tòi, sáng tạo, muốn góp một phần trí tuệ của mình vào công cuộc phát triển đất nước nhưng chẳng may xảy ra sự cố ngoài ý muốn trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, gây thiệt hại cho xã hội cũng rất lo lắng về trách nhiệm mà mình phải gánh chịu Điều đó đã khiến cho công dân trong xã hội không dám đấu tranh chống lại hành vi trái pháp luật, không dám tìm tòi, đổi mới Những hành vi nguy hiểm cho xã hội được chủ thể thực hiện trong những trường hợp như vậy là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của công dân hoặc nhằm đem lại lợi ích cho xã hội, xây dựng, phát triển xã hội, do vậy, rất cần được khuyến khích, nhân rộng trong xã hội Do vậy, nếu không qui định rõ trong luật về các tình tiết loại trừ TNHS, người dân sẽ không dám đương đầu với tội phạm hoặc nguồn nguy hiểm để bảo vệ những lợi ích hợp pháp hoặc không dám dũng cảm say mê, tìm tòi nghiên cứu khoa học vì lợi ích chung Việc ghi nhận các tình tiết loại trừ TNHS trong PLHS là ghi nhận quyền hợp pháp của công dân, đồng thời, định hướng công dân thực hiện được đúng các quyền của mình cũng như phát huy tính tích cực của mỗi người, quan trọng hơn nữa là khẳng định đó là những hành vi có ích được pháp luật cho phép, khuyến khích thực hiện Chính

vì vậy, các tình tiết loại trừ TNHS cần phải được quy định trong luật hình sự của mỗi quốc gia, có như vậy PLHS mới phát huy được tối đa tính chủ động, tích cực của mọi người trong quản lý trật tự xã hội, đồng thời cũng tạo cơ sở cho PLHS thực hiện nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả

Trang 26

Việc qui định các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS là thể hiện nguyên tắc pháp chế trong xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật Nội dung của nguyên tắc pháp chế là sự tuân thủ pháp luật triệt để từ phía các

cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân Do đó, chính việc quy định

cụ thể, rõ ràng về các tình tiết loại trừ TNHS trong PLHS là cơ sở pháp lí để người dân và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuân thủ pháp luật Trong

xã hội, công dân xử sự phải trên cơ sở quy định của pháp luật, ngay cả khi công dân thực hiện hành vi có ích vì lợi ích Đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc xác định một hành vi có phải là tình tiết loại trừ TNHS hay không (như có phải là phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp thiết) cũng phải trên cơ sở qui định của pháp luật Cơ quan áp dụng luật không thể tự ý thêm hoặc bớt phạm vi các tình tiết loại trừ TNHS mà việc giải quyết vụ việc trên thực tế phải dựa vào quy định của BLHS Trong thực tế, việc áp dụng pháp luật thực định của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với việc xác định một hành vi có phải là tình tiết loại trừ TNHS hay không phải là tình tiết loại trừ TNHS là hết sức phức tạp và không hề đơn giản Điều này đặt ra yêu cầu là BLHS qui định về các tình tiết loại trừ TNHS phải minh bạch, rõ ràng Việc quy định về vấn đề này càng rõ thì cơ quan áp dụng luật càng thuận lợi trong

xử lí trên thực tế, từ đó hạn chế hiệu quả oan sai trong thực tiễn

Tóm lại, việc quy định các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS là hoàn toàn có cơ sở lí luận và thực tiễn Vấn đề quan trọng là ở chỗ, tùy theo chính sách hình sự ở từng quốc gia, truyền thống lập pháp cũng như xuất phát từ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở quốc gia đó mà phạm vi cũng như tên gọi của các tình tiết loại trừ TNHS là khác nhau Việc quy định về các tình tiết loại trừ TNHS là cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đồng thời còn có ý nghĩa động viên, khuyến khích quần chúng nhân dân tích cực chống và phòng ngừa tội phạm, khuyến khích mọi công dân xây dựng và phát triển xã hội Đây có thể coi là nền tảng đối với sự phát triển của xã hội và vì thế, các tình tiết loại trừ TNHS cần được quy định

Trang 27

cụ thể, rõ ràng trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia trong thời kì đổi mới, hội nhập quốc tế, trong đó có Việt Nam

1.2 Phạm vi các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

Việc xác định phạm vi các tình tiết loại trừ TNHS cụ thể cũng như đặt tên và xác định các dấu hiệu cho từng tình tiết là thuộc quyền lập pháp của mỗi quốc gia Ở đây không có sự giống nhau hoàn toàn giữa luật hình sự của các quốc gia trên thế giới

Trong khoa học luật hình sự, các tình tiết loại trừ TNHS có thể bao gồm: phòng vệ; tình thế cấp thiết; gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; rủi ro (trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học); thi hành mệnh lệnh cấp trên v.v… Trong đó, mỗi tình tiết có nội dung khái quát sau:

- Phòng vệ

Phòng vệ là tình tiết loại trừ TNHS cho phép công dân có quyền được

tự chống trả người tấn công để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội

Mỗi quốc gia có thể có cách riêng trong đặt tên cụ thể và xác định các dấu hiệu của phòng vệ nhưng đều phải xác định rõ mục đích (ngăn chặn sự tấn công); cơ sở của quyền phòng vệ (hành vi trái pháp luật) và phạm vi của quyền phòng vệ (đủ đạt được mục đích) Theo đó, trường hợp này được BLHS Liên bang Nga đặt tên là phòng vệ chính đáng (Điều 37); BLHS CHLB Đức đặt tên là “phòng vệ khẩn cấp” (Điều 32); BLHS CHND Trung Hoa đặt tên là “phòng vệ chính đáng” (Điều 20); BLHS Thụy Điển đặt tên là “phòng vệ” (Điều 1 chương 24); BLHS Canada đặt tên là “Sử dụng sức mạnh để chống lại việc thực hiện hành vi phạm tội (Điều 27) và “phòng vệ đối với sự tấn công bị khiêu khích” (Điều 34)

- Tình thế cấp thiết

Tình thế cấp thiết là tình tiết loại trừ TNHS cho phép mọi người có quyền lựa chọn hành vi gây thiệt hại khi đứng trước xung đột giữa hai lợi ích

Trang 28

(lợi ích cần bảo vệ và lợi ích phải “hy sinh”) Việc quy định tình tiết này phải đảm bảo hai lợi ích đều là hợp pháp và lợi ích phải “hy sinh” phải nhỏ hơn lợi ích cần bảo vệ và việc lựa chọn phải trong tình thế bắt buộc, không còn cách nào khác Tình tiết này có tên trong BLHS Liên bang Nga là tình thế cấp thiết (Điều 39), BLHS CHND Trung Hoa cũng được gọi là tình thế cấp thiết (Điều 21), BLHS Thụy Điển gọi là tình thế cấp thiết (Điều 4 chương 24), trong khi

đó BLHS CHLB Đức gọi trường hợp này là “tình trạng khẩn cấp hợp pháp” (Điều 34) và tình “trạng khẩn cấp không có lỗi” (Điều 33)

- Gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội

Gây thiệt hại khi bắt người phạm tội là tình tiết loại trừ TNHS cho phép mọi người có quyền được gây thiệt hại cho người phạm tội để bắt giữ người này giao họ cho cơ quan có thẩm quyền và ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội khi không còn cách khác BLHS Liên bang Nga gọi đây là trường hợp “gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm pháp” (Điều 38); còn BLHS Thụy Điển gọi đây là trường hợp “dùng vũ lực để ngăn chặn việc bỏ trốn hoặc duy trì trật tự” (Điều 2 chương 24); BLHS Canada gọi đây là trường hợp “bảo vệ những người thực thi thẩm quyền” (Điều 25)

- Rủi ro

Rủi ro là tình tiết loại trừ TNHS cho phép người tiến hành thử nghiệm nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ không phải chịu TNHS đối với thiệt hại mà họ chẳng may gây ra trong khi thực hiện các công việc đó vì sự phát triển chung của xã hội BLHS Liên bang Nga gọi trường hợp này là “mạo hiểm có căn cứ” (Điều 41)

- Chấp hành mệnh lệnh cấp trên

Chấp hành mệnh lệnh cấp trên là tình tiết loại trừ TNHS cho phép thường là quân nhân không phải chịu TNHS đối với gây thiệt hại đã gây ra do thực hiện lệnh bắt buộc của cấp trên Đối với tình tiết loại trừ này, về lý thuyết, đòi hỏi phải quy định rất chặt chẽ tránh các trường hợp lạm dụng tình tiết này để trốn tránh trách nhiệm BLHS Liên bang Nga gọi trường hợp này

Trang 29

là “thi hành mệnh lệnh hoặc chỉ thị” (Điều 42); BLHS Thụy Điển gọi trường hợp này là “thực hiện hành vi phạm tội theo mệnh lệnh của cấp trên phụ trách” (Điều 8 chương 24); BLHS Canada gọi trường hợp này là “người hành động theo sự chỉ đạo của cán bộ nhà nước” (mục 10, 25.1, Điều 25)

Ngoài các tình tiết loại trừ TNHS có tính phổ biến nói trên, trong luật hình sự một số quốc gia còn có thể quy định tình tiết “gây thiệt hại do bị cưỡng bức” Đây là tình tiết cho phép một người không phải chịu TNHS về thiệt hại do hành vi của mình gây ra nếu việc thực hiện hành vi đó là do sự cưỡng bức của người khác mà họ không thể làm khác được để tránh thiệt hại nhỏ hơn có thể gây ra cho mình hoặc người thân BLHS Liên bang Nga gọi tình tiết này là “gây thiệt hại do bị cưỡng bức thể chất và tinh thần” (Điều 40)

1.3 Phân biệt các tình tiết loại trừ TNHS với những trường hợp không có TNHS và miễn TNHS

Như đã phân tích ở trên, các tình tiết loại trừ TNHS có bản chất pháp lý khác biệt đối với những trường hợp không có TNHS hoặc được miễn TNHS

Các tình tiết loại trừ TNHS và các trường hợp không có TNHS là hai loại trường hợp khác nhau Mặc dù về hậu quả pháp lý cuối cùng của cả hai

loại trường hợp này đều là “chủ thể không có TNHS, nhưng giữa chúng có sự

khác nhau về bản chất” [15, tr.39]

Các tình tiết loại trừ TNHS gắn với quyền của người thực hiện hành vi gây thiệt hại và những hành vi gây thiệt hại này được xã hội chấp nhận vì nhằm mục đích có lợi Trách nhiệm hình sự đối với họ được loại trừ và xã hội không cần có biện pháp nào khác để phòng ngừa Trái lại, hành vi gây thiệt hại trong các trường hợp không có TNHS không phải là hành vi có động cơ

và mục đích có lợi cho xã hội Đó cũng phải là quyền được ghi nhận trong luật hình sự Chủ thể không phải chịu trách nhiệm chỉ vì hành vi gây thiệt hại không phải là tội phạm do thiếu dấu hiệu nhất định Các trường hợp này có thể là thiếu dấu hiệu về chủ thể của tội phạm (chưa đủ tuổi chịu TNHS hoặc

Trang 30

trong tình trạng mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển); thiếu dấu hiệu lỗi do thuộc trường hợp sự kiện bất ngờ hoặc thuộc trường hợp bất khả kháng Cụ thể:

- Trường hợp chưa đủ tuổi chịu TNHS là trường hợp người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội chưa đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự Đó là độ tuổi đủ đảm bảo cho chủ thể có năng lực lỗi (năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội) cũng như phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên Độ tuổi là một dấu hiệu của chủ thể của tội phạm Người thực hiện hành vi gây thiệt hại khi chưa đạt tuổi chịu TNHS sẽ không phải chịu TNHS vì họ chưa phải là chủ thể của tội phạm và hành vi đã thực hiện không phải là tội phạm Tuy không phải là tội phạm nhưng xã hội không thể chấp nhận những hành vi này và cần có biện pháp phòng ngừa

- Trường hợp trong tình trạng không có năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi (năng lực TNHS) là trường hợp người thực hiện hành

vi gây thiệt hại là người do bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh lý khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều kiển hành vi của mình Trong khi đó, năng lực này là một dấu hiệu của chủ thể của tội phạm Như vậy, người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong trường hợp này không có đủ dấu hiệu của chủ thể của tội phạm Trường hợp này thiếu yếu tố chủ thể nên không có tội phạm

và vấn đề TNHS không được đặt ra Tuy nhiên, biện pháp phòng ngừa những hành vi này vẫn được đặt ra

- Trường hợp sự kiện bất ngờ là trường hợp chủ thể đã thực hiện hành

vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng chủ thể không có lỗi đối với việc gây thiệt hại do không có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi của mình Họ không thể thấy trước và cũng không buộc phải thấy trước khả năng hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Như vậy, hành vi gây thiệt hại trong trường hợp này thiếu dấu hiệu lỗi của chủ thể Do

đó, hành vi gây thiệt hại không phải là tội phạm và chủ thể thực hiện hành vi

đó không phải chịu TNHS

Trang 31

- Trường hợp bất khả kháng cũng là trường hợp thiếu dấu hiệu lỗi do chủ thể thực hiện không có khả năng xử sự khác Hành vi gây thiệt hại là bất khả kháng nên không phải là tội phạm và trách nhiệm TNHS không được đặt ra

Có thể thấy các trường hợp không có TNHS nêu trên là những trường hợp thiếu yếu tố của tội phạm, nên không phải là tội phạm, vì vậy mà không

có TNHS Đó không phải là những trường hợp gây thiệt hại nhằm bảo vệ lợi ích cho xã hội nên xã hội không khuyến khích thực hiện Nhà nước và xã hội không khuyến khích người chưa đủ tuổi chịu TNHS, người bị mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh lý khác khiến họ không nhận thức hoặc điều khiển được hành vi của mình (người trong tình trạng không có năng lực TNHS) thực hiện các hành vi như đâm chết người, hủy hoại tài sản Họ không phải chịu TNHS vì không thỏa mãn dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Các tình tiết loại trừ TNHS so với các trường hợp miễn TNHS cũng có bản chất pháp lý khác nhau Khi nghiên cứu các quan điểm của các nhà khoa học trong nước về các tình tiết loại trừ TNHS, chúng tôi nhận thấy có tác giả mặc dù khi tiến hành phân tích loại trừ TNHS cho thấy có bản chất pháp lý hoàn toàn khác với miễn TNHS, với không có sự việc phạm tội nhưng tác giả lại khẳng định “ suy cho cùng miễn TNHS cũng là không bị truy cứu TNHS (căn cứ vào hậu quả - nếu người phạm tội không bị áp dụng biện pháp xử lí nào) ” [24, tr.7] Nếu coi các trường hợp miễn TNHS là những tình tiết (trường hợp) loại trừ TNHS là chưa đúng với bản chất pháp lý của khái niệm này Bởi lẽ, không thể dựa trên sự giống nhau về hậu quả pháp lý cuối cùng là

“đều không phải chịu TNHS” để xếp chúng cùng bản chất được Miễn TNHS

là “không buộc người phạm tội phải chịu TNHS về tội mà người đó đã phạm”

[47, tr.221] Điều đó có nghĩa, hành vi mà người phạm tội được miễn TNHS thực hiện đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của một CTTP tương ứng được PLHS quy định phải chịu TNHS nhưng do có những điều kiện nhất định và xét thấy không cần thiết phải truy cứu TNHS nên họ được miễn TNHS Hậu

quả pháp lý đối với người được miễn TNHS là “miễn bị kết tội, miễn phải

Trang 32

chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và miễn bị mang án tích” [33, tr.19]

Như vậy, miễn TNHS là miễn hậu quả pháp lý đặt ra đối với người phạm tội, còn các tình tiết loại trừ TNHS là trường hợp khi có một trong các tình tiết này thì người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong luật hình sự không phải chịu TNHS do động cơ của hành vi đã làm mất tính tội phạm của hành vi, vì thế mà không có tội phạm Vì vậy, quan điểm đồng nhất loại trừ TNHS với miễn TNHS là không có căn cứ

1.4 Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các quy định của PLHS

về các tình tiết loại trừ TNHS với mục đích tìm hiểu quy định về vấn đề này

trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, từ đó, “xác định cho được những khả

năng kế thừa, bởi vì kế thừa trong pháp luật chính là sự kế thừa văn hóa và truyền thống” [50, tr.415] Trong phạm vi luận văn, tác giả tìm hiểu khái quát

lịch sử lập pháp Việt Nam về các tình tiết loại trừ TNHS từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

1.4.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

Nghiên cứu quy định của PLHS Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) cho đến trước khi pháp điển hóa BLHS Việt Nam lần thứ nhất cho thấy, các tình tiết loại trừ TNHS chưa được quy định trong văn bản tập trung, thống nhất mà được quy định rải rác tại các văn bản khác nhau với kĩ thuật lập pháp còn hạn chế Cụ thể:

Nghị định 301-TTg ngày 10/7/1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định

về quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân đã bước đầu đề cập đến tình tiết loại trừ TNHS Điều 22 có quy định về quyền được sử dụng vũ lực của người thi hành công vụ trong một

số trường hợp cụ thể Cụ thể như sau:

Trang 33

Khi thi hành việc bắt, giữ, giam, khám mà gặp sự kháng cự của kẻ phạm pháp, cần bảo vệ tính mạng của mình hoặc của người khác đang bị đe dọa nghiêm trọng

Khi cần phải ngăn chặn những người phạm tội chính trị hoặc hình sự quan trọng có hành động trốn tránh pháp luật

Khi người bị giam đang vượt trại giam hoặc khi can phạm quan trọng chạy trốn trong lúc đang bị dẫn giải

Khi có các điều kiện như trên, luật pháp cho phép sử dụng vũ khí nên việc bắn chết được coi là cần thiết, không có tội [36, các tr.24, tr.25]

Quy định trên mặc dù còn sơ lược và chưa toàn diện nhưng nó đã phản ánh được ở mức độ nhất định nội dung của các tình tiết phòng vệ chính đáng, bắt người phạm tội, đặc biệt là khi điều luật đã ghi nhận về mặt pháp lí những trường hợp đó được coi là “cần thiết, không có tội”

Bản tổng kết số 452 – HS2 ngày 10/6/1970 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) về “thực tiễn xét xử loại tội giết người” có đề cập đến trường hợp giết người trong trường hợp vượt quá phạm vi “phòng vệ cần thiết” Bản tổng kết nêu rõ mục đích của “phòng vệ cần thiết” là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng (lợi ích cách mạng, lợi ích của nhân dân) Đồng thời, Bản tổng kết số

452 –HS2 cũng đã xác định sự tấn công trong “phòng vệ cần thiết” phải là hành vi trái pháp luật và việc phòng vệ với phương pháp, phương tiện khác nhau phải gây thiệt hại cho chính kẻ tấn công; thiệt hại gây ra phải tương xứng với mức độ của mối nguy hiểm đang đe dọa [36, tr.24] Trường hợp giết người do vượt quá phạm vi “phòng vệ cần thiết” thì được xử mức án nhẹ hơn trường hợp giết người thông thường So với quy định của Nghị định 301-TTg thì những quy định ở Bản tổng kết số 452 – HS2 là bước tiến bộ đáng kể khi

đã làm rõ nội hàm của „phòng vệ cần thiết” cũng như đã phân hóa được đường lối xử lí giữa hành vi vượt quá “phòng vệ cần thiết” với hành vi giết người thông thường

Trang 34

Tiếp đó, Chỉ thị số 07/HS2 ngày 22/12/1983 của TANDTC khi đề cập đến “thực tiễn xét xử các tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe công dân do vượt quá giới hạn PVCĐ hoặc trong khi thi hành công vụ” đã đề cập ở mức

độ nhất định về PVCĐ, đồng thời, văn bản này đã hướng dẫn tương đối cụ thể đường lối xử lí các trường hợp xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe công dân

do vượt quá giới hạn PVCĐ hoặc trong khi thi hành công vụ [38]

Tóm lại, trong thời kì này, về hình thức, các tình tiết loại trừ TNHS chưa được qui định thống nhất trong một văn bản; bên cạnh đó, về nội dung, các tình tiết loại trừ TNHS cũng chưa được đề cập một cách toàn diện

1.4.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay

Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời đã đánh dấu bước ngoặt về kĩ thuật lập pháp hình sự Việt Nam Lần đầu tiên, các tình tiết loại trừ TNHS đã được ghi nhận chính thức trong BLHS với nội dung pháp lý khá toàn diện Các tình tiết loại trừ TNHS bao gồm: phòng vệ chính đáng (Điều 13) và tình thế cấp thiết (Điều 14)

Để việc áp dụng hai tình tiết PVCĐ và TTCT trong thực tiễn được thống nhất, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ra Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 hướng dẫn thi hành một số điều trong BLHS, trong đó có đề

cập đến chế định PVCĐ như sau: “Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe

của người khác được coi là PVCĐ khi có đầy đủ các điều kiện sau: a) hành vi xâm hại những lợi ích cần bảo vệ phải là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội; b) hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ; c) PVCĐ không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi

sự tấn công mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại; d) hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại…”[38, tr.149] Có thể nói,

Trang 35

Nghị quyết số 02/1986 của TANDTC đã mô tả và xác định rõ các điều kiện của PVCĐ, đồng thời văn bản này đã chỉ ra các dấu hiệu để nhận biết trường hợp vượt quá giới hạn của PVCĐ Mặc dù đây chỉ là văn bản hướng dẫn, nhưng thực tiễn xét xử đã cho thấy văn bản này có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng luật được chính xác

Sau gần 15 năm thi hành (1985 -1999) với bốn lần sửa đổi và bổ sung một số điều của BLHS năm 1985 được Quốc hội thông qua vào các ngày 28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992 và 10/5/1997, BLHS năm 1985 đã được thay thế bằng BLHS năm 1999 BLHS này, về cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung hai điều luật về PVCĐ và TTCT Tuy nhiên, xét về cụ thể, BLHS năm

1999 đã thay thế dấu hiệu “tương xứng” bằng dấu hiệu “cần thiết” Đây “ …

là một sự sửa đổi có ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhằm góp phần phát huy tính chủ động trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm Việc thay đổi này cũng chính là để khuyến khích nhân dân tích cực tham gia chống trả các hành vi phạm tội, đồng thời để khắc phục những nhược điểm nêu trên” [4,

tr.36] Như vậy, sự thay đổi này là hợp lí, thể hiện rõ hơn bản chất pháp lý của chế định PVCĐ trong luật hình sự Việt Nam

Tóm lại, việc quy định về các tình tiết loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam là kết quả của quá trình kế thừa và phát triển trong giai đoạn lịch sử tương đối lâu dài Qui định về PVCĐ và TTCT trong BLHS hiện hành đã thể hiện bước tiến đáng kể trong lập pháp hình sự Tuy nhiên, sự phát triển không ngừng của xã hội đã cho thấy qui định về các tình tiết loại trừ TNHS nói chung cũng như qui định về hai chế định này nói riêng đã dần bộc lộ những bất cập nhất định đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung kịp thời

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

“Các tình tiết loại trừ TNHS” là vấn đề được nhiều nhà khoa học trong

và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có nhiều cách hiểu và tên gọi không thống nhất về các tình tiết loại trừ TNHS Trên cơ sở lý luận về tội phạm và TNHS, tác giả luận văn nhận thấy các tình tiết loại trừ TNHS có những đặc điểm cơ bản là: luôn gắn với hành vi gây thiệt hại có dấu hiệu về hình thức của một tội phạm; là tình tiết làm cho hành vi gây thiệt hại mất tính nguy hiểm của một tội phạm và là tình tiết được quy định trong luật hình sự

Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa về các tình tiết loại trừ TNHS như sau: Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự là các tình tiết được luật hình sự quy định

mà khi có một trong những tình tiết đó thì người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại có dấu hiệu của tội phạm được loại trừ trách nhiệm hình sự vì hành

vi của họ không có tính nguy hiểm của tội phạm

Việc quy định các tình tiết loại trừ TNHS xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn của PLHS và yêu cầu của xã hội Với thực trạng tình hình tội phạm ngày càng phức tạp, trước yêu cầu đổi mới và phát triển không ngừng của xã hội, PLHS cần có những quy định cụ thể về các tình tiết loại trừ TNHS, tạo cơ

sở pháp lý cho người dân thực hiện quyền được hành động vì lợi ích chung của toàn xã hội Việc quy định các tình tiết loại trừ TNHS trong PLHS thể hiện nguyên tắc pháp chế trong xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật

Việc xác định tình tiết loại trừ TNHS cụ thể cũng như đặt tên và xác định các dấu hiệu cho từng tình tiết là thuộc quyền lập pháp của mỗi quốc gia Trong khoa học luật hình sự, các tình tiết loại trừ TNHS có thể bao gồm: phòng vệ; tình thế cấp thiết; gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; thi hành mệnh lệnh cấp trên; rủi ro (trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ), gây thiệt hại do bị cưỡng bức v.v…

Khi nghiên cứu về các tình tiết loại trừ TNHS cần đặt nó trong sự so sánh với trường hợp không có TNHS và miễn TNHS, bởi mặc dù hậu pháp lý

Trang 37

cuối cùng của các loại trường hợp này đều giống nhau là chủ thể không phải chịu TNHS, nhưng bản chất của chúng là khác nhau Việc phân biệt các loại trường hợp này giúp xác định phạm vi các tình tiết loại trừ TNHS và quy định chúng trong BLHS, đồng thời cũng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có sự xác định chính xác các loại trường hợp này trong thực tiễn áp dụng PLHS

Nghiên cứu quy định về các tình tiết loại trừ TNHS trong lịch sử lập pháp Việt Nam cho thấy, các tình tiết này có quá trình phát triển ngày càng được hoàn thiện trên cơ sở kế thừa các giá trị truyền thống và tiếp thu kỹ thuật lập pháp của nhiều quốc gia trên thế giới

Trang 38

CHƯƠNG 2

CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 Loại trừ trách nhiệm hình sự do phòng vệ chính đáng

2.1.1 Khái niệm phòng vệ chính đáng

Phòng vệ chính đáng là một trong những tình tiết loại trừ TNHS được quy định trong BLHS Việt Nam năm 1999

Khoản 1 Điều 15 BLHS quy định: Phòng vệ chính đáng là hành vi của

người vì bảo vệ ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích trên

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

Từ nội dung của điều luật về PVCĐ và trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn

áp dụng quy định này cho thấy, hành vi gây thiệt hại do PVCĐ là hành vi về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi bị luật hình sự quy định là tội phạm Hành vi mà người phòng vệ chính đáng thực hiện đã gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm hại các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ với mục đích chống trả, ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của người này để bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác Đối với hành vi gây thiệt hại này, nếu xét về mặt chủ quan, chủ thể cũng nhận thức được tính gây thiệt hại và thấy trước thiệt

hại đã gây ra Chính vì vậy, “hành vi gây thiệt hại do sự phòng vệ chính đáng

bao giờ cũng được thực hiện với thái độ tâm lí là lỗi cố ý của chủ thể” [8,

tr.548] Như vậy, xét về hình thức, hành vi phòng vệ có các dấu hiệu khách quan và chủ quan của một hành vi được quy định trong BLHS Mặc dù vậy, hành vi này không bị coi là tội phạm Tình tiết phòng vệ chính đáng hay nói cách khác động cơ phòng vệ trong phạm vi cho phép đã loại trừ tính chất tội

Trang 39

phạm của hành vi đã thực hiện Xuất phát từ quan điểm cho rằng hành vi xâm hại các lợi ích được pháp luật bảo vệ là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy, hành vi chống trả hành vi xâm hại nhằm bảo vệ các lợi ích này là hành vi có lợi cho

xã hội, không những không bị coi là tội phạm mà còn được xã hội khuyến

khích thực hiện “Phòng vệ chính đáng là việc làm hoàn toàn phù hợp với lợi

ích xã hội và được pháp luật xác nhận là quyền của mỗi công dân, là căn cứ hợp pháp, loại trừ tính trái pháp luật hình sự của hành vi” [15, tr.41] Phòng

vệ chính đáng làm cho hành vi gây thiệt hại không có tính trái với lợi ích của

xã hội mà ngược lại có tính phù hợp với lợi ích của xã hội Do vậy, pháp luật nói chung cũng như BLHS nói riêng cho phép người dân được thực hiện hành

vi như vậy Từ đó, quy định về PVCĐ trở thành căn cứ pháp lý cho quyền phòng vệ của mỗi người, là căn cứ hợp pháp, căn cứ biện minh cho các hành

vi gây thiệt hại mà về hình thức “giống” như một tội phạm

Phòng vệ chính đáng được coi là quyền của mọi người Khi có hành vi xâm hại các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác thì mọi người đều có thể sử dụng quyền chống trả, gây thiệt hại cho người có hành vi xâm hại ngay cả trong trường hợp còn

có cách khác để bảo vệ các lợi ích này Hành vi chống trả trong PVCĐ thực chất là hành vi đấu tranh trực tiếp chống lại hành vi phạm tội cũng như hành

vi vi phạm pháp luật và do vậy là cần thiết trong mọi trường hợp Mọi người

có quyền thực hiện phòng vệ mà không phụ thuộc vào bất cứ quyết định của

tổ chức hay cá nhân nào Khi thực hiện quyền này, mọi người “… không cần

phải xin phép nhà chức trách có thẩm quyền bởi do yêu cầu cấp bách cần ngăn chặn hành vi xâm hại, bảo vệ các lợi ích hợp pháp, nếu phải xin phép nhà chức trách thì mục đích của PVCĐ không thực hiện được” [9, tr.293]

Phòng vệ chính đáng là quyền của người dân nhưng việc thực hiện quyền đó cũng gắn liền với khả năng bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản nên pháp luật không đòi hỏi mọi người khi thấy có hành vi xâm hại các lợi ích hợp pháp phải có nghĩa vụ chống trả người có hành vi xâm hại Đứng trước

Trang 40

sự xâm hại các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi chính đáng của mình hoặc của người khác, nếu người dân không thực hiện hành vi chống trả thì chỉ có thể bị lên án về mặt đạo đức chứ không thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý nói chung cũng như TNHS nói riêng Do vậy, PVCĐ là quyền chứ không phải là nghĩa vụ pháp lý Tuy nhiên, đối với một số người do có tính chất đặc biệt của công việc, nghề nghiệp được giao, họ phải có trách nhiệm đối với việc bảo vệ lợi ích chung của xã hội thì phòng vệ lại là nghĩa

vụ pháp lý Đó là những người như nhân viên bảo vệ của các cơ quan, tổ chức, cảnh sát bảo vệ trật tự đường phố, chiến sĩ công an làm nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm… Nếu trong những hoàn cảnh nhất định, khi có hành vi xâm hại nhưng những người này không thực hiện nghĩa vụ chống trả người có hành vi xâm hại thì họ phải chịu trách nhiệm pháp lý (trong đó có cả TNHS), tùy theo mức độ của sự vi phạm

Với chế định PVCĐ, Nhà nước cho phép mọi người có quyền được bảo

vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác hay lợi ích của xã hội trong điều kiện có thể bảo vệ được Tuy nhiên, PVCĐ không có nghĩa là “tự xử lý” hay “muốn làm gì thì làm” mà phòng vệ phải được thực hiện trong giới hạn pháp luật cho phép Một hành vi được coi là PVCĐ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện chứng minh sự phòng vệ là “chính đáng”, phù hợp với lợi ích xã hội

mà những điều kiện đó đã được cụ thể hóa trong quy định của pháp luật Do vậy, để nhận thức và áp dụng chặt chẽ về PVCĐ, cần hiểu đúng về các điều kiện của PVCĐ

2.1.2 Các điều kiện của phòng vệ chính đáng

2.1.2.1 Điều kiện thuộc về cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng

Cơ sở làm phát sinh quyền PVCĐ là hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tổ chức, quyền hoặc lợi ích chính đáng của cá nhân đang xảy

ra hoặc đe doạ xảy ra ngay tức khắc

Ngày đăng: 15/09/2017, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w