1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LVTS 2015 biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự

83 287 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đã đề cập đến biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nhưng mới chỉ nêu những nội dung chung chung và chỉ áp dụng được đối

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ THU HỒNG

BIÖN PH¸P §ÆT TIÒN HOÆC TµI S¶N Cã GI¸ TRÞ

§Ó B¶O §¶M TRONG Tè TôNG H×NH Sù

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ THU HỒNG

BIÖN PH¸P §ÆT TIÒN HOÆC TµI S¶N Cã GI¸ TRÞ

§Ó B¶O §¶M TRONG Tè TôNG H×NH Sù

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 30 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Thị Thu Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6

1.1 Lý luận biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Ý nghĩa của đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 8

1.1.3 Phân biệt biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong pháp luật tố tụng hình sự với biện pháp đặt cọc, bảo lãnh, thế chấp trong pháp luật dân sự 10

1.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hình sự về đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm từ 1945 đến nay 13

1.2.1 Thời kỳ từ 1945 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 13

1.2.2 Từ năm 1988 đến khi bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được thông qua và có hiệu lực 14

Kết luận chương 1 16

Chương 2: QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM 17

Trang 5

2.1 Qui định của pháp luật tố tụng hình sự về đặt tiền hoặc tài

sản có giá trị để bảo đảm 17

2.2 Thực tiễn áp dụng, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 33

2.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 33

2.2.2 Những tồn tại, hạn chế về lập pháp, thực tiễn áp dụng và nguyên nhân 38

Kết luận chương 2 43

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM 44

3.1 Cơ sở nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 44

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 46

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 46

3.2.2 Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật, kiểm tra hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng 54

3.2.3 Giải pháp tăng cường đội ngũ cán bộ, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp của cán bộ thực thi pháp luật 64

3.2.4 Tăng cường mối quan hệ phối hợp, trao đổi giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các cơ quan, tổ chức hữu quan 68

Kết luận chương 3 71

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 76

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sựBPNC Biện pháp ngăn chặn HĐTP Hội đồng thẩm phán TAND: Tòa án nhân dânTTATXH: Trật tự an toàn xã hội TTHS: Tố tụng hình sự

VKSND: Viện kiểm sát nhân dânXHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC BẢNG PHỤ LỤC

Bảng 2.1: Thống kê số liệu các vụ việc và đối tƣợng từ năm

2010-2013 tại tp Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ

Bảng 2.2: Thống kê số liệu áp dụng các biện pháp ngăn chặn

trong TTHS tại tp Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn nó thể hiện tính chất ưu việt trong Tố tụng hình sự và nó thể hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách tư pháp trong thời kỳ hội nhập Thực hiện được yêu cầu mà Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của

Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, đó là “Coi trọng việc hoàn

thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt

tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm” [4]

Hơn nữa biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự không cách ly bị can, bị cáo ra khỏi đời sống xã hội sẽ làm cho tâm lý bị can, bị cáo tốt hơn khi ra đưa ra xét xử Ngoài ra đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm còn góp phần hạn chế việc bắt giữ người trái pháp luật, bừa bãi… của cơ quan tiến hành tố tụng, tránh các

vụ án oan sai… đồng thời góp phần làm giảm tình trạng quá tải ở các trại tạm giam, nhà tạm giữ

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đã đề cập đến biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nhưng mới chỉ nêu những nội dung chung chung và chỉ áp dụng được đối với người nước ngoài, các cơ quan tiến hành tố tụng bối rối khi thực hiện Đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

đã bắt đầu được quy định rõ ràng, mở rộng đối tượng áp dụng, chủ thể tiến hành… Nhưng nhưng thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn này còn nhiều hạn chế bất cập, khó khăn vướng mắc: Điều 93 Bộ luật Tố tụng hình

Trang 9

sự chưa quy định cụ thể đối tượng áp dụng, điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chăn này, mức tiền áp dụng với từng loại tội danh hoặc đối với tài sản

có giá trị để bảo đảm thì cơ quan, tổ chức nào được định giá, việc bảo quản tiền, tài sản có giá trị như thế nào cũng chưa được quy định rõ…

Để khắc phục tình trạng trên ngày 14/11/2013 các Bộ: Tư pháp, Công an, Quốc phòng, Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua Thông tư liên tịch số 17/2013/TTLT hướng dẫn việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm theo quy định tài điều 93

Bộ luật Tố tụng hình sự Đây sẽ là hành lang pháp lý cho cơ quan tiến hành

tố tụng áp dụng biện pháp này hiệu quả hơn

Cho đến nay chưa có một công trình khoa học chính thức nào nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, phần lớn là các bài viết, bình luận về biện pháp này Chính vì thế để góp phần hoàn thiện hơn về mặt lý luận và nâng cao hiệu quả áp dụng thực tiễn

Tôi đã lựa chọn đề tài “Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo

đảm trong Tố tụng hình sự ” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Trong khoa học hình sự đã có một số công trình nghiên cứu về các

biện pháp ngăn chặn như: Bảo vệ con người bằng pháp luật tố tụng hình sự,

bài viết của Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia

Hà Nội (2007); Nguyễn Văn Tuấn, Một số ý kiến về việc áp dụng biện pháp

cấm đi khỏi nơi cư trú, Tạp chí Tòa án nhân dân số 1 tháng 1 năm 2009;

Phạm Ngọc Anh, Băn khoăn chuyện bảo lĩnh trong án hình sự, Báo pháp

luật thành phố Hồ Chí Minh online (2011); Bài viết của Hoàng Yến, báo

pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, đặt tiền để khỏi bị giam, luật chưa rõ

ràng (2010); Pháp luật về biện pháp ngăn chặn, bảo lĩnh và hướng sửa đổi

bổ sung, tiến sỹ Trịnh Tiến Việt, khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội

Trang 10

Các công trình khoa học nói trên, đã gợi mở cho tác giả luận văn nhiều

ý tưởng khoa học và là những tài liệu rất bổ ích và giá trị được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tuy nhiên, khái quát những nghiên cứu trên đây cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về biện pháp đặt tiền và tài sản có giá trị để bảo đảm trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam ở cấp cơ sở hoặc đề tài tốt nghiệp thạc sỹ; chưa có tổng kết đánh giá thực tiễn áp dụng, cũng như chỉ

ra các tồn tại, vướng mắc trong thực tế để đề xuất các kiến giải lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

+ Lý luận về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong

Tố tụng hình sự

+ Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1957 đến nay

+ Nghiên cứu về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm trong Tố tụng hình sự trên các phương diện lập pháp và thực tiễn áp dụng để

từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn

- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm trong Tố tụng hình sự được áp dụng tại 4 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh từ năm 2010 - 2013

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trang 11

bảo đảm bằng đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm trong Tố tụng hình sự nhằm góp phần đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng biện pháp này

- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

+ Làm rõ cơ sở lý luận về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự

+ Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng các quy định đó

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự trước yêu cầu

cải cách tư pháp

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải các tư pháp; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự, Tố tụng hình sự Việt Nam

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp luật học so sánh

6 Những đóng góp mới của Luận văn

Hệ thống, phân tích những vấn đề lý luận về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong luật Tố tụng hình sự; đưa ra quan điểm mới về khái niệm, đặc điểm và vai trò của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Đánh giá toàn diện các quy định về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá

Trang 12

trị để bảo đảm trong Tố tụng, hình phạt trong pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng; thông qua đó phát hiện ra những điểm bất cập, hạn chế và nguyên nhân

Đưa ra những kiến nghị khoa học nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm của Bộ luật

Tố tụng hình sự

7 Kết cấu Luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luật và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để

bảo đảm trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và thực tiễn áp

dụng đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Chương 3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn

chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Trang 13

áp dụng đối với bị can, bị cáo để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập Việc hướng dẫn áp dụng biện pháp ngăn chặn này là rất quan trọng và cần thiết

Việc nhận thức thống nhất, đồng thời quy định và áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của tố tụng hình sự để phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành

vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Bản chất pháp lý biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm được xác định bởi tính chất và nội dung của tác động về vật chất và tâm lý đối với người bị áp dụng Nếu như bắt người, tạm giữ, tạm giam là biện pháp ngăn chặn tác động cả về thể chất và tâm lý, thì đặt tiền và tài sản có giá trị để bảo đảm chủ yếu tác động về mặt tâm lý đối với người bị áp dụng

Theo nội dung Thông tư liên tịch Số:

17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn về việc đặt tiền để bảo đảm theo quy định tại Điều 93 của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự năm 2003 quy định về đối tượng, điều kiện áp dụng; trình tự thủ tục áp dụng, hủy bỏ biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm (sau đây gọi tắt là biện pháp đặt tiền, tài sản bảo đảm); trả lại tiền hoặc tài sản bảo đảm, áp dụng đối với bị can, bị cáo đang bị

Trang 14

tạm giam, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ, cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan

Việc áp dụng đặt tiền để thay thế tạm giam, được cơ quan tiến hành tố tụng cân nhắc toàn diện và đầy đủ các điều kiện về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, đối chiếu với yêu cầu về bảo đảm hiệu quả ngăn chặn Cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp đặt tiền, tài sản bảo đảm đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam khi có đủ các điều kiện như: Bị can, bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án tiền sự; thành khẩn, ăn năn, hối lỗi; là thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng; là người chưa thành niên phạm tội); Bị can, bị cáo phải có khả năng về tài chính

Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên mà không có hoặc không đủ tiền, tài sản bảo đảm thì xem xét đến khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp; Có căn cứ để tin rằng, bị can, bị cáo có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc không tiêu huỷ, che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng lớn đến trật tự, an toàn xã hội…

Căn cứ vào khả năng tài chính của bị can, bị cáo, của người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định mức tiền, trị giá tài sản cụ thể mà bị can, bị cáo phải đặt để bảo đảm hiệu quả ngăn chặn của biện pháp này

Đây là biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới Việt Nam cũng đã tiếp thu và đưa vào luật từ năm 1988 Tuy nhiên,

vì thiếu các quy định cụ thể nên đã chưa được thực hiện Điều này một phần

do tình hình kinh tế xã hội của ta chưa phù hợp để áp dụng, đồng thời, chưa

có những văn bản cụ thể để hướng dẫn thi hành Do vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực hiện được Một vấn đề khác nữa là khi áp dụng biện

Trang 15

pháp này không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhưng cơ quan THTT không áp dụng vì thiếu sự chỉ đạo thống nhất Khi văn bản này được ban hành chắc chắn sẽ phát huy được tác dụng, hiệu quả trong công tác điều tra xử lý tội phạm của cơ quan THTT

Như vậy, từ những phân tích trên ta thấy đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm được hiểu như sau: “Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

là biện pháp ngăn chặn của TTHS để thay thế biện pháp tạm giam do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng

và ngăn ngừa họ có hoạt động cản trở việc giải quyết vụ án ”

1.1.2 Ý nghĩa của đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Để quản lý xã hội, để điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn xã hội, và các mâu thuẫn phát sinh trong xã hội, Nhà nước đã xây dựng và sử dụng pháp luật làm công cụ, một mặt để quản lý Nhà nước, mặt khác, để xử lý đối với các hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Điều 20 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Mọi người

có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất

kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm; Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định”

Trang 16

nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc cuộc sống xã hội chủ nghĩa [17, Điều 1]

Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, là biện pháp mang tính chất cưỡng chế Nhà nước, thể hiện tính quyền uy, mềm dẻo trong phương pháp điều chỉnh của Luật tố tụng hình sự Vai trò của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự càng được phát huy trở thành công cụ để bảo vệ chế độ xã hội Việc áp dụng đúng đắn biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thể hiện tính chất thời đại, mềm dẻo trong chính sách tố tụng và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của

tố tụng hình sự, góp phần làm giảm các vụ án oan sai, đem lại tinh thần tốt nhất cho người phạm tội, nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố xét

xử và thi hành án Đồng thời áp dụng đúng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị để bảo đảm sẽ bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân đặc biệt là quyền tự do thân thể Tránh việc bắt không đúng pháp luật sẽ gây ra nhiều tác hại, làm giảm hiệu quả pháp luật, uy tín của cơ quan Nhà nước, xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của công dân, có thể dẫn đến hàng loạt những sai lầm trong hoạt động tố tụng hình sự tiếp theo Đó là:

- Áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm phục

vụ tốt cho công tác điều tra giải quyết được yêu cầu, mục tiêu đề ra của hoạt động tố tụng hình sự đạt hiệu quả cao Là thể hiện tính chất đặc biệt cấp bách để kịp thời ngăn chặn không để cho tội phạm xảy ra, không để cho người phạm tội gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Đây là mục tiêu quan trọng của tố tụng hình sự cần đạt được Việc điều tra, truy tố, xét xử sẽ trở nên vô nghĩa khi người phạm tội trốn

Trang 17

- Áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là thể hiện việc đề cao, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Các quy định của pháp luật về căn cứ cũng như thủ tục áp dụng, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cho thấy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này không chỉ là

để đạt được mục tiêu giải quyết vụ án, mà yêu cầu còn phải bảo đảm tính khách quan, thận trọng trong khi vận dụng, đó là phải tuân thủ theo những quy định về căn cứ, thủ tục, thẩm quyền được quy định trong pháp luật

- Áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm góp phần bảo vệ sự an toàn và vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản, tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, đồng thời thể hiện

sự mềm dẻo, của các chính sách của Nhà nước trong trấn áp tội phạm Tước bỏ những điều kiện thuận lợi, không cho phép người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, gây nguy hại cho xã hội

- Áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm còn góp phần tăng cường pháp chế và củng cố pháp luật ở nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay Thông qua biện pháp bắt khẩn cấp đã góp phần giáo dục và nâng cao được ý thức pháp luật cho người dân sống trong xã hội phải tôn trọng, chấp hành pháp luật nếu không thì sẽ bị pháp luật trừng trị

1.1.3 Phân biệt biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong pháp luật tố tụng hình sự với biện pháp đặt cọc, bảo lãnh, thế chấp trong pháp luật dân sự

Tại điều 318 của Bộ luật dân sự quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, gồm: Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Đặt cọc;

Ký cược; Ký quỹ; Bảo lãnh; Tín chấp

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Trang 18

Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp

Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự

Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê

Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn

mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa

vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình

Tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ

Khi nghiên cứu các hình thức trên với hình thức đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm theo pháp luật tố tụng hình sự chúng ta thấy có một số điểm khác nhau sau:

- Chủ thể áp dụng

+ Chủ thể áp dụng của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo

Trang 19

Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà

án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;

Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

+ Chủ thể áp dụng của biện pháp Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Đặt cọc; Ký cược; Ký quỹ; Bảo lãnh; Tín chấp trong luật dân sự, là các bên ký kết các hợp đồng dân sự hoặc người thứ ba

- Đối tượng áp dụng

+ Đối tượng áp dụng của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm, gồm: bị can, bị cáo đang bị tạm giam, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan

+ Đối tượng áp dụng các biện pháp Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Đặt cọc; Ký cược; Ký quỹ; Bảo lãnh; Tín chấp trong luật dân sự: Gồm các bên tham gia ký kết hợp đồng dân sự hoặc người thứ ba

Trang 20

Có căn cứ xác đi ̣nh , sau khi được tại ngoại, bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và không tiêu huỷ , che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;

Viê ̣c cho bi ̣ can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự; + Căn cứ áp dụng của các biện pháp Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Đặt cọc; Ký cược; Ký quỹ; Bảo lãnh; Tín chấp trong luật dân sự: là khi hợp đồng dân sự được xác lập

1.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hình sự về đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm từ 1945 đến nay

1.2.1 Thời kỳ từ 1945 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988

Trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, mặc dù chưa có các quy phạm định nghĩa về khái niệm biện pháp ngăn chặn, nhưng các biện pháp ngăn chặn đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự nước

ta ngay từ sau Cách mạng tháng tám, trong Sắc lệnh số 13/SL ngày 14/01/1946

về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán, Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 về tổ chức bộ máy Tư pháp, Công an, Sắc lệnh số 85 ngày 07/11/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, đề có quy định về thẩm quyền bắt người; đặc biệt

Sắc lệnh 85 còn quy định cụ thể: “quyền ký lệnh tạm giam bị cáo thuộc về ông

giám đốc ty liêm phóng” và “tư pháp Công an có nhiệm vụ bắt người phạm pháp và giao cho các Tòa án xét xử” [13]

Ngày 20/5/1957 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã ký Luật số 103-SL/L005

về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với với nhà ở,

đồ vật, thư tín của nhân dân Tại chương 2 và chương 3 quy định rõ việc bắt người phạm pháp, việc tạm giữ, tạm giam và tạm tha nhưng chưa quy định về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm

Ngày 18/6/1957 Hội đồng chính phủ đã ký Sắc lệnh số 02-SL quy định

Trang 21

những biện pháp ngăn chặn: Bắt bình thường, bắt khẩn cấp, bắt người phạm pháp quả tang, tạm giữ và tạm giam

Ngày 28/6/1988 Hội đồng Nhà nước đã ký luật số 7 – LCT/HĐNN ban hành luật tố tụng hình sự Việt Nam Tại chương V đã quy định rõ về các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Như vậy, đây là lần đầu tiên biện pháp ngăn chặn “đặt tiền hoặc tài sản

để bảo đảm” được đưa vào trong luật tố tụng hình sự

1.2.2 Từ năm 1988 đến khi bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được thông qua và có hiệu lực

Năm 2003 Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam được thông qua và tiến hành áp dụng thì tại Chương VI, quy định có các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) quy định về các biện pháp ngăn chặn về cơ bản đã khắc phục được những khó khăn vướng mắc của BLTTHS nhưng qua một thời gian thực hiện, vẫn còn có những khó khăn vướng mắc nhất định, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu để có quy định phù hợp thực tế,

bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự đạt hiệu quả

Mặc dù đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn trước đây và đã có văn bản hướng dẫn thực hiện nhưng trên thực tế vẫn còn có khó khăn, vướng mắc nhất là trong áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm

Để bảo đảm tính khả thi và tránh tiêu cực, tuỳ tiện, bộ luật Tố tụng hình

sự 2003 đã quy định cụ thể về các loại tội danh không được cho đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo Đối với các loại tội danh mà bị can, bị cáo có thể được đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thì phải quy định cụ thể khoảng mức tiền cho từng loại hoặc nêu rõ giao cho

cơ quan chức năng nào hướng dẫn về mức tiền hoặc tài sản cần phải đặt tương ứng với từng trường hợp phạm tội

Trang 22

Để áp dụng đúng và thống nhất quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về đặt tiền để bảo đảm trong tố tụng hình sự, Bộ Tư pháp, Bộ Công

an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân

dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch Số:

17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 14/11/2013 hướng dẫn về việc đặt tiền để bảo đảm theo quy định tại Điều 93 của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự năm 2003

Trang 23

Kết luận chương 1

Trong chương 1 của Luận văn, chúng tôi đã nghiên cứu và giải quyết được vấn đề lý luận về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Cụ thể là:

Nghiên cứu các qui định của bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự từ đó đưa ra khái niệm về biện pháp này

Trên cơ sở phân tích, làm rõ khái niệm cũng các quy định có liên quan đến biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự luận văn đã chỉ ra được vị trí, vai trò của biện pháp này

Khái quát quá trình hình thành và phát triển của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng nói chung và lịch sử phát triển của biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Những vấn đề nhận thức lý luận cơ bản đề cập trong chương 1, là cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn công tác áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm những năm qua được trình bày tại chương 2

Trang 24

Chương 2

QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN

CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM

2.1 Qui định của pháp luật tố tụng hình sự về đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị để bảo đảm

- Quy định của pháp luật tố tụng hình sự

+ Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập

+ Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Quyết định của những người quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

+ Cơ quan ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm phải lập biên bản ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản

+ Trong trường hợp bị can, bị cáo đã được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ bị sung quỹ Nhà nước và trong trường hợp này bị can, bị cáo

sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác

Trong trường hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền hoặc

Trang 25

+ Trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản phải đặt để bảo đảm, việc tạm giữ, hoàn trả, không hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã đặt được thực hiện theo quy định của pháp luật

Như vậy theo quy định của điều 93 khi tiến hành biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cần chú ý các nội dung sau:

+ Căn cứ áp dụng

Biện pháp ngăn chặn này chỉ được áp dụng đối với những bị can, bị cáo

có những điều kiện sau đây:

Căn cứ và nhân thân của bị can, bị cáo

Căn cứ vào tình chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị can, bị cáo

Căn cứ vào tình trạng tài sản của bị can, bị cáo

Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan Điều tra các cấp, trường hợp này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

+ Thủ tục áp dụng

Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp này phải ra quyết định bằng văn bản, phải lập biên bản ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt và giao cho bị can, bị cáo một bản

Trong trường hợp bị can, bị cáo đã được cơ quan tiến hành tố tụng triệu

Trang 26

tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì số tiền hoặc tài sản đã được đặt bị sung quỹ Nhà nước và bị can, bị cáo bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn

Trong trường hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền hoặc tài sản đã đặt

Các trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc các giá trị tài sản phải đặt để bảo đảm việc tạm giữ, trả hay không trả số tiền, tài sản đã đặt được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Tuy nhiên, những quy định về việc đặt tiền hoặc tài sản để thay thế cho biện pháp tạm giam đã được quy định nhiều năm qua song cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào quy định chi tiết điều kiện, mức tiền, trình tự thủ tục, cơ quan có trách nhiệm, chế độ quản lý tiền, tài sản bảo đảm…

Do vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng đã gặp không ít khó khăn trong việc áp dụng biện pháp này và trong thực tế, biện pháp này cũng được áp dụng một cách hãn hữu, hiệu quả không cao

- Quy định của thông tư liên tịch số BTC-VKNDTC-TANDTC ngày 14/11/2013

17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-+ Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp du ̣ng

Thông tư liên tịch này áp dụng đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan

+ Nguyên tắc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Cơ quan tiến hành tố tụng phải cân nhắc đầy đủ các điều kiện về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình trạng tài sản của bị can, bị cáo; trên cơ sở bảo đảm hiệu quả ngăn chặn để quyết định

việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thay thế cho biện pháp tạm giam

Trang 27

+ Điều kiện áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

* Cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm khi có đủ các điều kiện sau đây:

Bị can, bị cáo phạm tội lần đầu ; có nơi cư trú rõ ràng ; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

Bị can, bị cáo có khả năng về tài chính để đặt bảo đảm theo quy định Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần mà không có hoặc không đủ tiền để đặt bảo đảm thì xem xét đến khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp của họ;

Có căn cứ xác đi ̣nh, sau khi được tại ngoại, bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và không tiêu huỷ, che giấu chứng

cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;

Viê ̣c cho bi ̣ can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự; Không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

* Không áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm nếu thuộc một trong

các trường hợp sau đây:

Bị can, bị cáo phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia ; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

Bị can, bị cáo phạm tô ̣i đă ̣c biê ̣t nghiêm tro ̣ng;

Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ , nhân phẩm , danh dự của con người ; phạm tô ̣i rất n ghiêm tro ̣ng thuộc loại tội phạm về ma túy, tham nhũng, xâm pha ̣m trâ ̣t tự quản lý kinh tế ; các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản;

Bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lê ̣nh, quyết đi ̣nh truy nã;

Bị can, bị cáo là người phạm tô ̣i có tính chất chuyên nghiê ̣p;

Bị can, bị cáo là người nghiê ̣n ma tuý;

Trang 28

Bị can, bị cáo là người tổ chức trong trường hợp phạm tội có tổ chức; Hành vi phạm tội gây dư luâ ̣n xấu trong nhân dân

+ Tiền được đặt để bảo đảm

* Tiền được đặt để bảo đảm là tiền mặt Việt Nam đồng, bao gồm:

Tiền thuộc sở hữu hợp pháp của bị can, bị cáo;

Tiền thuộc sở hữu hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần

* Không được đặt tiền thuộc một trong các trường hợp sau đây để bảo đảm: Tiền đang có tranh chấp;

Tiền đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;

Tiền có nguồn gốc bất hợp pháp

+ Mức tiền được đặt để bảo đảm

* Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị can, bị cáo và khả năng tài chính của bị can , bị cáo hoă ̣c của người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có

nhược điểm về tâm thần (sau đây viết tắt là người đại diện hợp pháp), Cơ

quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định mức tiền cụ thể mà bị can, bị

cáo phải đặt để bảo đảm, nhưng không dưới:

Hai mươi triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

Tám mươi triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng;

Hai trăm triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

* Đối với các trường hợp sau đây thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,

Tòa án có thể quyết định mức tiền phải đặt để bảo đảm thấp hơn nhưng không

dưới một phần hai (1/2) mức tương ứng quy định tại khoản 1 Điều này:

Bị can, bị cáo thuộc hộ nghèo hoă ̣c có điều kiê ̣n kinh tế khó khăn;

Bị can, bị cáo là thương binh, bệnh binh, là người được tă ̣ng danh hiê ̣u

Trang 29

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân , Anh hùng lao động , Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân hoặc được tă ̣ng Huân chương , Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước , là con đẻ, con nuôi hợp pháp của Bà me ̣ Viê ̣t Nam anh hùng, là con đẻ, con nuôi hợp pháp của gia đình được tă ̣ng bằng “Gia đình có công với nước”;

Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần + Quản lý tiền được đặt để bảo đảm

* Cơ quan quản lý tiền được đặt để bảo đảm:

Tiền được đặt để bảo đảm trong giai đoạn điều tra, truy tố được quản lý tại Kho ba ̣c Nhà nước, trong tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra tiến hành

tố tụng đối với vụ án

Tiền được đă ̣t để bảo đảm trong giai đoa ̣n xét xử được quản lý tại Kho bạc Nhà nước, trong tài khoản tạm giữ của Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp nơi Tòa án xét xử sơ thẩm có trụ sở

Tiền được đặt để bảo đảm theo quyết định của Cơ quan điều tra trong quân đội, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự được quản lý tại cơ quan tài chính tương ứng trong Quân đội

* Kho bạc Nhà nước, cơ quan tài chính trong Quân đô ̣i có trách nhiệm: Tiếp nhận và quản lý tiền được đặt để bảo đảm theo hướng dẫn tại Thông tư liên ti ̣ch này và các quy định của pháp luật khác có liên quan;

Trả lại tiền được đặt để bảo đảm cho bị can , bị cáo hoặc người được bị can, bị cáo ủy quyền hoặc người đại diện hợp pháp của ho ̣ theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch này;

Phối hợp chặt chẽ với cơ quan ra quyết định đặt tiền để bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao nhận tiền được đă ̣t bảo đảm

+ Thông báo về việc đặt tiền để bảo đảm

* Khi xét thấy bị can , bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp đặt

Trang 30

tiền để bảo đảm thì cơ quan đang tiến hành tố tụng đối với vụ án gửi Thông báo về việc đặt tiền để bảo đảm cho họ thông qua cơ sở giam giữ

Đối với bị can, bị cáo là người đã thành niên thì kèm theo Thông báo có mẫu đơn đề nghị được đặt tiền để bảo đảm thay thế cho biện pháp tạm giam và mẫu giấy uỷ quyền cho người đa ̣i diê ̣n thực hiê ̣n viê ̣c đă ̣t tiền để bảo đảm

Đối với bị can , bị cáo là người chưa thành niên , người có nhược điểm về tâm thần thì kèm theo Thông báo có mẫu đơn đề nghị được đặt tiền để bảo đảm thay thế cho biện pháp tạm giam; đồng thời, cơ quan đang tiến hành tố tụng gửi Thông báo cho người đại diện hợp pháp của họ

* Trong thời hạn một ngày làm việc, kể từ khi nhận được Thông báo và các mẫu văn bản kèm theo , cơ sở giam giữ có trách nhiệm chuyển cho bị can,

bị cáo Nếu bị can, bị cáo có nguyện vọng thì tạo điều kiện để họ hoàn chỉnh các mẫu văn bản

+ Thủ tục đề nghị được đặt tiền để bảo đảm

* Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo về việc đặt tiền để bảo đảm và các mẫu văn bản kèm theo , nếu có nguyện vọng xin được đặt tiền để bảo đảm thay thế biện pháp tạm giam thì bị can , bị cáo phải hoàn chỉnh đơn và giấy uỷ quyền (đối với người đã thành niên) và gửi cho cơ quan đã thông báo thông qua cơ sở giam giữ

Trong thời hạn một ngày làm việc , kể từ khi nhận được đơn đề nghị , giấy uỷ quyền của bị can , bị cáo, cơ sở giam giữ có trách nhiệm chuyển cho

cơ quan đang tiến hành tố tụng đối với vụ án

* Trong thời ha ̣n mô ̣t ngày làm viê ̣c , kể từ khi nhâ ̣n được đơn đề nghi ̣

và giấy uỷ quyền của bị can , bị cáo, đa ̣i diê ̣n cơ quan tiến hành tố tu ̣ng đa ng thụ lý vụ án xác nhận vào giấy uỷ quyền và gửi ngay cho người được uỷ

quyền bằng thư bảo đảm hoă ̣c chuyển phát nhanh Trong thời hạn năm ngày,

kể từ ngày nhận được Giấy ủy quyền, người được bị can, bị cáo ủy quyền ghi

Trang 31

ý kiến của mình, ký tên vào Giấy ủy quyền và nộp lại cho cơ quan tiến hành

tố tụng đối với vu ̣ án Giấy uỷ quyền là cơ sở để người được uỷ quyền thay mặt bi ̣ can, bị cáo thực hiện việc đặt tiền để bảo đảm

Trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần thì cơ quan đang tiến hành tố tu ̣ng đối với vu ̣ án chuyển đơn

đề nghị của bị can, bị cáo cho người đa ̣i diê ̣n hợp pháp của họ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, người đại diện hợp pháp ghi ý kiến, ký tên vào đơn đề nghị của bi ̣ can , bị cáo và nộp lại cho cơ quan tiến hành tố tụng đối với vụ án

* Bị can, bị cáo hoă ̣c người đại diện hợp pháp của ho ̣ có quyền đề nghị bằng văn bản với cơ quan đang tiến hành tố tụng đối với vụ án về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can , bị cáo khi thấy có đủ các điều kiện hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 của Thông tư liên tịch này

Văn bản đề nghị của bị can, bị cáo được gửi qua cơ sở giam giữ Trong thời hạn một ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của bị can, bị cáo, cơ sở giam giữ có trách nhiệm chuyển đến cơ quan đang tiến hành tố tụng đối với vụ án

Văn bản đề nghị của người đại diện hợp pháp của bi ̣ can , bị cáo được gửi trực tiếp đến cơ quan đang tiến hành tố tụng đối với vụ án

Trong thời hạn ba ngày làm viê ̣c , kể từ khi nhâ ̣n được văn bản đề nghi ̣,

cơ quan tiến hành tố tu ̣ng đang thu ̣ lý vu ̣ án có trách nhiệm xem xét , nếu thấy

có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì gửi cho bị can,

bị cáo các mẫu văn bản theo hướng dẫn tại Điều 7 của Thông tư liên tịch này

để làm thủ tục đề nghị được đặt tiền để bảo đảm Trường hợp xét thấy không

đủ điều kiện áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can , bị cáo thì phải thông báo bằng văn bản cho người đề nghị biết trong đó nêu rõ lý do

+ Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm

Trang 32

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được các giấy tờ do người đại diện hợp pháp, người được bị can, bị cáo ủy quyền nộp lại theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 8 của Thông tư liên tịch này, cơ quan đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có trách nhiệm xem xét, giải quyết Trường hợp xét thấy các thủ tục giấy tờ đã được hoàn tất theo quy định thì ra Thông báo

về việc cho đặt tiền để bảo đảm gửi Kho bạc nhà nước hoặc cơ quan tài chính trong Quân đội nơi sẽ quản lý tiền được đặt để bảo đảm và gửi cho người được bị can , bị cáo uỷ quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ để thực hiện việc đặt tiền, đồng thời, gửi cho cơ quan điều tra là chủ tài khoản tạm giữ

(nếu là Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm của Viện Kiểm sát) hoặc

cơ quan thi hành án dân sự là chủ tài khoản tạm giữ (nếu là Thông báo về việc

cho đặt tiền để bảo đảm của Tòa án)

+ Thực hiện việc đặt tiền để bảo đảm

* Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm, người được bị can, bị cáo uỷ quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải hoàn thành việc đặt tiền

Trong trường hợp vì lý do khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý

do khách quan khác mà không thể hoàn thành việc đặt tiền để bảo đảm đúng hạn thì thời hạn này được tính lại kể từ khi hết thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do khách quan khác không còn nữa

* Việc đặt tiền để bảo đảm được thực hiện như sau:

Trường hợp nộp tiền tại Kho bạc nhà nước thì người được bị can , bị cáo uỷ quyền hoặc người đại diện hợp pháp mang theo Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm để Kho bạc Nhà nước đối chiếu và làm căn cứ

hạch toán vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra hoă ̣c của Cơ quan thi hành án dân sự

Sau khi hoàn tất thủ tục nộp tiền, Kho bạc Nhà nước giao cho người

Trang 33

nộp tiền hai liên Giấy nộp tiền vào tài khoản theo mẫu số C4-08/KB ban hành kèm theo Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện kế toán nhà nước áp dụng cho Hệ thống thông tin quản

lý Ngân sách và kho bạc , đồng thời gửi cho cơ quan là chủ tài khoản ta ̣m giữ một liên Người nộp tiền có trách nhiệm nộp một liên Giấy nộp tiền vào tài khoản cho cơ quan đã ra Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm

Trường hợp nộp tiền tại cơ quan tài chính trong Quân đội thì cơ quan nhận tiền có trách nhiệm lâ ̣p biên bản giao nhận tiền nộp , có chữ ký xác nhận của bên nộp tiền , bên nhâ ̣n tiền và đa ̣i diê ̣n của cơ quan đã ra Thông báo về việc cho đă ̣t tiền để bảo đảm

Biên bản được lập thành ba bản , một bản giao cho đại diện cơ quan ra Thông báo về việc cho đă ̣t tiền để bảo đảm , một bản giao cho người nộp tiền, một bản lưu tại cơ quan tài chính đã lập biên bản

+ Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

* Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự:

Trong thời hạn hai ngày làm việc , kể từ khi nhâ ̣n được liên giấy nộp tiền vào tài khoản tạm giữ hoặc biên bản về việc nộp tiền quy đi ̣nh ta ̣i Điều 10

của Thông tư liên tịch này, Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với vụ

án ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can và gửi

đến Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị phê chuẩn

Trong thời ha ̣n hai ngày làm viê ̣c , kể từ khi nhâ ̣n được quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, công văn đề nghị phê chuẩn và hồ sơ , tài liê ̣u có liên quan , Viê ̣n kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoă ̣c không phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm ; trường hợp không phê chuẩn phải nêu rõ lý do

Khi ra quyết định phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, Viện kiểm sát phải quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn (hủy bỏ

Trang 34

biện pháp tạm giam, thay thế bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm) và gửi ngay quyết định đó đến cơ sở đang giam giữ bị can để thi hành

Trường hợp Viê ̣n kiểm sát không phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì Cơ quan điều tra ra quyết định huỷ bỏ quyết định

áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm và thông báo ngay cho bị can , bị cáo, người được ủy quyền và người đại diện hợp pháp của họ biết

* Trong giai đoạn truy tố, xét xử:

Trong thời hạn hai ngày làm việc , kể từ khi nhâ ̣n được liên giấy nộp tiền vào tài khoản tạm giữ hoặc biên bản về việc nộp tiền quy đi ̣nh ta ̣i Điều 10 của Thông tư liên tịch này , Viện kiểm sát, Tòa án phải ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Khi ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm , Viện kiểm sát, Tòa án phải quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn (hủy bỏ biện pháp tạm giam, thay thế bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm) và gửi ngay quyết định đó đến cơ sở đang giam giữ bị can, bị cáo để thi hành

* Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm và quyết định của Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm (trong giai đoạn điều tra) phải được giao cho

bị can, bị cáo thông qua cơ sở giam giữ , người được bị can , bị cáo uỷ

quyền, người đại diện hợp pháp của họ , đồng thời , gửi cho cơ quan là chủ tài khoản tạm giữ

+ Huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

* Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm bị hủy bỏ trong các

trường hợp sau đây:

Viê ̣c điều tra, truy tố, xét xử vụ án bị đình chỉ;

Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm không còn cần thiết;

Bị can, bị cáo bị bắt tạm gi am về tô ̣i đã pha ̣m trước khi áp du ̣ng biê ̣n

Trang 35

pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc về tội phạm do vô ý thực hiện sau khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm;

Bị can, bị cáo chết;

Bị can, bị cáo đã chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan;

Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền

để bảo đảm;

Bị can, bị cáo không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng mà không có lý do chính đáng;

Bị can, bị cáo tiếp tu ̣c pha ̣m tô ̣i do cố ý;

Bị can, bị cáo có hành vi tiêu huỷ, che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;

Có chứng cứ chứng minh rằng, bị can, bị cáo sẽ bỏ trốn, tiêu huỷ hoặc che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;

Bị can, bị cáo bỏ trốn

* Việc hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm được thực hiện như sau:

Đối với trường hợp quy định tại các điểm a , b, c và d khoản 1 Điều này

thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án ra quyết

định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm ; nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với

vụ án đề nghị Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền

để bảo đảm

Đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này, sau khi bản

án có hiệu lực pháp luật , Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án ra quyết

đi ̣nh huỷ bỏ quyết định áp du ̣ng biê ̣n phá p đă ̣t tiền để bảo đảm Trường hợp Tòa án tuyên bị cáo không có tội hoặc áp dụng các hình phạt không giam giữ

Trang 36

đối với bị cáo thì cùng với việc ra bản án , Hội đồng xét xử ra quyết đi ̣nh huỷ

bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp du ̣ng biê ̣n pháp đă ̣t tiền để bảo đảm phải ra quyết đi ̣nh huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Đối với trường hợp quy định tại các điểm g, h, i và k khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm , đồng thời, ra quyết định tạm giam đối với bi ̣ can , bị cá o theo quy định của pháp luật ; trường hợp vụ án đang ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với vụ án đó ra lê ̣nh bắt bi ̣ can để ta ̣m giam và đề nghị Viện

kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra đối với vụ án hủy bỏ

quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm và phê chuẩn lê ̣nh bắt bi ̣ can để ta ̣m giam

Đối với trường hợp quy định tại điểm l khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án ra quyết định hủy bỏ việc

áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm , đồng thời, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bi ̣ can, bị cáo; trường hợp vụ án đang ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với vụ án đề nghị Viện kiểm sát đang thực

hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án ra quyết định hủy bỏ

quyết định áp dụng biện pháp này, sau đó ra quyết đi ̣nh truy nã bi ̣ can

Quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền bảo đảm phải ghi rõ việc xử lý đối với tiền đã đặt để bảo đảm và phải được giao cho bị can,

bị cáo, người đại diện hợp pháp của ho ̣ , người được bị can, bị cáo ủy quyền (trong trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này), đồng thời, gửi cho

cơ quan là chủ tài khoản tạm giữ và Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan tài chính trong Quân đội đang quản lý tiền đã được đặt để bảo đảm

Trang 37

+ Xử lý đối với tiền đã đặt để bảo đảm trong trường hợp huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

* Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều

12 của Thông tư liên ti ̣ch này , tiền đã đặt để bảo đảm được trả lại cho bị can,

bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp là chủ sở hữu số tiền theo cam kết khi đề nghị được đặt tiền để bảo đảm Trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều

12 của Thông tư liên tịch này, tiền đã đặt để bảo đảm được trả lại cho người đại diện hợp pháp hoặc người được bị can, bị cáo ủy quyền

Trường hợp bi ̣ can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp chết thì tiền đã

đă ̣t để bảo đảm được xử lý theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về thừa kế

* Trường hợp quy định tại các điểm g, h, i, k và l khoản 1 Điều 12 của Thông

tư liên tịch này, tiền đã đặt để bảo đảm bị tịch thu sung công quỹ Nhà nước

+ Thủ tục trả lại tiền đã đặt để bảo đảm

* Thủ tục trả lại tiền đã đặt để bảo đảm đang do Kho bạc Nhà nước quản lý ta ̣i tài khoản ta ̣m giữ được thực hiện như sau:

Sau khi nhận được quyết đi ̣nh hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 12 của Thông tư liên tịch này, người được trả lại tiền theo quyết

đi ̣nh hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền bảo đảm phải gửi cho chủ tài khoản tạm giữ là Cơ quan điều tra (trong giai đoạn điều tra, truy tố) hoặc

Cơ quan thi hành án dân sự (trong giai đoạn xét xử) đơn đề nghi ̣ trả lại tiền đã đặt để bảo đảm kèm theo bản phôtô giấy chứng minh nhân dân và quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Trong thời ha ̣n ba ngày làm việc , kể từ khi nhận được đơn đề ng hị theo hướng dẫn tại điểm a Khoản này , cơ quan là chủ tài khoản ta ̣m giữ có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị Kho ba ̣c Nhà nước trả lại tiền đã đă ̣t để bảo đảm và giao hồ sơ cho người làm đơn đề nghị để nô ̣p cho Kho ba ̣c Nhà nước làm thủ tục nhận lại tiền

Trang 38

Hồ sơ đề nghị gửi Kho bạc Nhà nước gồm có: văn bản của chủ tài khoản tạm giữ đề nghị Kho bạc Nhà nước trả lại tiền đã đă ̣t để bảo đảm ; Quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm và 03 liên Giấy rút tiền mặt từ tài khoản tiền gửi theo mẫu số C4-09/KB ban hành kèm theo Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện kế toán nhà nước áp dụng cho Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và kho bạc

Căn cứ vào hồ sơ đề nghị, Kho ba ̣c Nhà nước làm thủ tục trả lại tiền đã đặt để bảo đảm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành

Sau khi trả lại tiền đã đặt để bảo đảm , Kho bạc Nhà nước gửi một liên Giấy rút tiền mặt từ tài khoản tiền gửi cho chủ tài khoản ta ̣m giữ và một liên cho cơ quan đã ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền

để bảo đảm để lưu vào hồ sơ vụ án , một liên lưu tại Kho bạc Nhà nước cùng với văn bản của chủ tài khoản tạm giữ đề nghị Kho bạc Nhà nước trả lại tiền

đã đă ̣t để bảo đảm và Quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Trường hợp vụ án đang trong giai đoạn điều tra thì sau khi nhận được một liên Giấy rút tiền mặt từ tài khoản tiền gửi, Viện kiểm sát chuyển ngay cho Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với vụ án để lưu vào hồ sơ

* Thủ tục trả lại tiền đã đặt để bảo đảm đang do cơ quan tài chính có thẩm quyền trong Quân đội quản lý được thực hiện như sau:

Sau khi có quyết đi ̣nh hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền bảo đảm trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 12 của Thông tư liên tịch này , bị can, bị cáo hoặc người được uỷ quyền của họ , người đại diện hợp pháp phải có văn bản đề nghi ̣ cơ quan đang tiến hành tố tụng đối với vụ án lập hồ sơ đề nghị trả la ̣i tiền đã đặt để bảo đảm

Trong thời ha ̣n ba ngày làm việc , kể từ khi nhận được văn bản đề nghị theo quy định tại điểm a Khoản này, cơ quan tiếp nhận đề nghị phải lập hồ sơ

Trang 39

Hồ sơ gồm có: văn bản đề nghị lập hồ sơ của bị can, bị cáo hoặc người được uỷ quyền của họ, người đại diện hợp pháp; Quyết định hủy bỏ việc áp

dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm và Biên bản nộp tiền được đặt để bảo đảm

quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 của Thông tư liên tịch này

Hồ sơ đề nghị được giao cho người được trả lại tiền theo quyết định huỷ

bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm để làm thủ tục nhận lại tiền

Căn cứ vào hồ sơ đề nghị, cơ quan tài chính trong Quân đội làm thủ tục trả lại tiền đã được đặt để bảo đảm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành

Khi trả lại tiền được đặt để bảo đảm , cơ quan tài chính trong Quân đội phải lập biên bản có chữ ký của bên trả và bên nhâ ̣n Biên bản được lập thành

ba bản, bên trả giữ một bản, bên nhận giữ một bản và một bản được gửi cho

cơ quan đã ra Quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

để lưu vào hồ sơ vụ án

Trường hợp vụ án đang trong giai đoạn điều tra thì sau khi nhận được biên bản trả lại tiền cho bị can, Viện kiểm sát chuyển ngay cho Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với vụ án để lưu vào hồ sơ

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước tiền đã đặt để bảo đảm

Thủ tục ti ̣ch thu sung quỹ nhà nước tiền đã đặt để bảo đảm được thực

hiện như việc ti ̣ch thu sung quỹ nhà nướ c đối với vật chứng vụ án theo quy

đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành

+ Mẫu các văn bản, giấy tờ liên quan đến việc áp dụng, hủy bỏ áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này các mẫu văn bản, giấy tờ sau:

* Thông báo về việc đặt tiền để bảo đảm

* Đơn đề nghị được đặt tiền để bảo đảm

* Giấy uỷ quyền

* Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm

Trang 40

* Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

* Quyết đi ̣nh phê chuẩn Quyết đi ̣nh áp du ̣ng biê ̣n pháp đă ̣t tiền để bảo đảm

* Quyết đi ̣nh không phê chuẩn Quyết đi ̣nh áp du ̣ng biê ̣n pháp đă ̣t tiền

để bảo đảm

* Biên bản đặt tiền để bảo đảm

* Quyết định hủy bỏ Quyết đi ̣nh áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

* Biên bản trả lại tiền đã được đặt để bảo đảm

Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao

để có hướng dẫn kịp thời

2.2 Thực tiễn áp dụng, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.2.1 Thực tiễn áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Trong những năm qua công tác phát hiện, ngăn chặn và xử lý tội phạm

đã được các cơ quan tiến hành tố tụng chú trọng góp phần bảo đảm an toàn,

kỷ cương pháp luật Theo thống kê của các thành phố như: Hà Nội, Hải

Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh [xem bảng 2.1 phụ lục], cho thấy:

Năm 2010 tại thành phố Hà Nội khởi tố 1275 vụ gồm 4162 đối tượng, tại thành phố Hải Phòng khởi tố 1362 vụ gồm 3516 đối tượng, tại thành phó

Ngày đăng: 15/09/2017, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w