Khái niệm giai cấp công nhân C.Mác và Ăng-ghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp công nhânnhư: giai cấp vô sản, lao động làm thuê ở thế kỉ XIX, giai cấp vô sản hiện đạ
Trang 1CÂU HỎI ÔN THI MÔN: CHỦ NGHĨA XH KHOA HỌC
Câu 1: Trình bày quan niệm chung về giai cấp công nhân, nội dung sứ mệnh lịch sử
giai cấp công nhân? Vì sao nói ĐCS là nhân tố chủ quan cơ bản nhất giải quyết việcthực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
1 Khái niệm giai cấp công nhân
C.Mác và Ăng-ghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp công nhânnhư: giai cấp vô sản, lao động làm thuê ở thế kỉ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấpcông nhân hiện đại… để biểu thị một khái niệm: giai cấp công nhân - con đẻ của nềnđại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, chophương thức sản xuất hiện đại
Như vậy, giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động trong các lĩnh vựccông nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất ra của cải vật chất, có trình độ công nghệ
và kĩ thuật hiện đại, có tính xã hội cao; là giai cấp của những người mà sức lao độngcủa họ kết hợp với tư liệu sản xuất sẽ sản xuất ra giá trị thặng dư - nguồn gốc chủ yếucho sự giàu có của xã hội
Theo C.Mác và Ăng-ghen giai cấp công nhân mang hai thuộc tính cơ bản sau đây:-Về phương thức lao động, phương thức sản xuất: đó là người lao động trực tiếp haygián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và
xã hội hoá cao
-Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: đó là người lao động không có tưliệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột về giá trịthặng dư
Hiện nay, thế giới đã bước vào thời đại phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật.Trong điều kiện ấy, giai cấp công nhân có trình độ văn hóa, tay nghề cao hơn, một sốcông nhân đã có cả tư liệu sản xuất, cổ phiếu, đời sống một bộ phận được cải thiện Song những biểu hiện đó không làm thay đổi địa vị cơ bản của công nhân trong chủnghĩa tư bản Họ vẫn là lực lượng chủ yếu làm ra của cải vật chất cho xã hội và lợinhuận cho các nhà tư bản, là lực lượng đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản, bị bóc lộtnhiều nhất và khoảng cách về thu giữa họ với giới chủ ngày càng lớn Công nhân trongcác nước tư bản phát triển được trí tuệ hóa, giảm lao động chân tay, có chút ít cổ phầntrong doanh nghiệp thì họ càng bị ràng buộc, càng bị bóc lột mạnh mẽ và tinh vi hơn.Theo cuốn "Lịch sử phát triển giai cấp vô sản" của Mác và Ăng-ghen thì:"những người
vô sản đầu tiên xuất hiện trong công nghiệp và trực tiếp do công nghiệp sản sinh ra".Như vậy, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp mới Cùng với sự pháttriển của nền đại công nghiệp, các giai cấp khác đều dần dần bị phân hóa, suy tàn vàtiêu vong Chỉ có giai cấp công nhân là lớn lên cùng sự phát triển của công nghiệp.Vào thời kì đầu, công nhân chủ yếu là nông dân và những người bị áp bức, họ bắt buộcphải làm việc trong các nhà máy, công xưởng để kiếm sống Tiếp theo, cùng với sự
Trang 2công phá của công nghiệp, giai cấp công nhân được bổ sung những tầng lớp xã hộimới: trí thức, sinh viên, tiểu chủ
Cơ cấu của giai cấp công nhân cũng rất đa dạng Công nhân trình độ cao đã qua đàotạo,hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp tiên tiến, hiện đại Công nhân tay nghềthấp chưa qua đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn hạn, làm các công việc phổ thông.Giai cấp công nhân hiện nay không những trong lĩnh vực công nghiệp mà trong mọingành nghề khác nhau: những người trực tiếp đứng máy, những chuyên gia nghiêncứu, sáng chế, những người hoạt động ở các ngành dịch vụ như bưu điện, viễn thông,giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thông tin, những nhân viên thừa hành làm công
ăn lương phục vụ cho hệ thống quản lý của các công ty Trong nền đại công ngiệp, giaicấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, nắm toàn bộ tiến bộ khoahọc kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất để sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội Đây làgiai cấp có tinh thần cách mạng triệt để,có ý thức tổ chức và kỷ luật cao, có tinh thầnquốc tế Những địa vị và đặc điểm ấy không thể có được ở giai cấp nào ngoài giai cấpcông nhân Bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp
2 Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Khái niệm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Là toàn bộ những chức năng cơbản, khách quan mà giai cấp công nhân có thể và cần phải thực hiện, để lãnh đạo cuộcđấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác, nhằm thủ tiêu xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới, phù hợp quy luật phát triển lịch sử với lợi ích cơ bản củamình
Nói một cách khái quát, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế
độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp côngnhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nànlạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh
Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đóthông qua đội tiền phong của mình là Đảng cộng sản Việt Nam
3 Vì sao nói ĐCS là nhân tố chủ quan cơ bản nhất giải quyết việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Đảng cộng sản là nhân tố quyếtđịnh trước tiên Đảng cộng sản là nhân tố chủ quan đóng vai trò quyết định, trực tiếpvới việc thắng lợi sứ mệnh lịch sử Chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt tới trình độ tựgiác bằng việc tiếp thu lí luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin thìphong trào cách mạng của nó mới thực sự là một phong trào chính trị Sự trưởng thànhcủa giai cấp công nhân được đánh dấu bằng sự ra đời của Đảng Cộng sản
Phải có chủ nghĩa Mác soi sáng, giai cấp công nhân mới đạt tới trình độ nhận thức líluận về vai trò lịch sử của mình Sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào côngnhân dẫn đến sự hình thành chính đảng của giai cấp công nhân Chỉ khi nào giai cấpcông nhân tự tổ chức ra chính Đảng của mình để lãnh đạo thì cuộc đấu tranh mới cóthể đảm bảo giành được thắng lợi trọn vẹn
Trang 3Đảng phải là tổ chức trung thành nhất, giác ngộ nhất sứ mệnh lịch sử của giai cấp Chỉ
có Đảng cộng sản lãnh đạo, giai cấp công nhân mới chuyển từ đấu………
Câu 2: Phân tích nhận thức của ĐCS Việt Nam về những đặc trưng cơ bản của xã hội Xã hội Chủ nghĩa VN?
Qua 30 năm đổi mới, nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội đã có những thay đổi căn bản phù hợp với thực tiễn lịch sử và phù hợp với quy luật khách quan Chính sự thay đổi đó ngày càng làm rõ hơn câu trả lời cho câu hỏi lớn về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Xã hội xã hội chủ nghĩa là gì? Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bao gồm những đặc trưng nào?
Nếu như trước đổi mới (trước Đại hội VI của Đảng), mô hình về chủ nghĩa xã hội màViệt Nam xây dựng thực chất là mô hình chủ nghĩa xã hội “kiểu Xô Viết” Điều nàyphản ánh những hạn chế trong tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam Từ Đại hội VI, Đảng ta xác định đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu từ đổi mới
tư duy, nhận thức về lý luận Mácxít, trong đó có tư duy nhận thức về xã hội xã hội chủnghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Từ đó cho đến nay, lý luận vềchủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam luôn được bổ sungphát triển cho phù hợp với đặc điểm thực tiễn từng thời kỳ của đất nước
Đầu tiên về hệ mục tiêu của đổi mới - đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam:
Tại Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta xác định mục tiêu của đổi mới: đổi mới vì dângiàu, nước mạnh, xã hội văn minh Tuy chỉ có ba mục tiêu nhưng đều là những mụctiêu rất quan trọng và có mối quan hệ mật thiết để đưa đất nước phát triển hơn Dângiàu để nước mạnh, khi dân giàu nước mạnh thì sẽ có xã hội văn minh Tuy chưa đầy
đủ nhưng ba mục tiêu này đã thể hiện được tầm tư duy chiến lược về một xã hội ViệtNam trong thời kỳ đổi mới suốt các kỳ Đại hội sau này Đảng ta vẫn giữ vững ba mụctiêu trên Đặc biệt là mục tiêu dân giàu gắn liền với nước mạnh luôn ở vị trí hàng đầu.Điểu đó thể hiện sự giàu mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần mà người dân được hưởngthụ Đây cũng là khởi đầu cho một tư duy mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - chủnghĩa xã hội dựa trên sự giàu có chứ không phải chia đều sự khó khăn (điều này cũngkhác xa với tư duy giáo điều một thời dị ứng với “giàu có”, coi giàu có là chủ nghĩa tưbản)
Những tư duy trên của Đại hội VI có sự đột phá và giá trị định hướng rất quan trọngđối với sự phát triển của đất nước, mà sâu xa là phát triển tiềm lực sáng tạo của Nhândân, hướng mục đích của đổi mới vào phục vụ quyền lợi của Nhân dân
Đến Đại hội VII, Đảng ta đã bổ sung vào hệ mục tiêu một mục tiêu quan trọng khác,
đó là công bằng: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” Công bằng làmột giá trị xã hội hết sức tốt đẹp Đó cũng chính là một thuộc tính bản chất của chủnghĩa xã hội mà chúng ta hướng tới Nó cũng là động lực to lớn thúc đẩy xã hội pháttriển
Trang 4Tại Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta bổ sung một mục tiêu đặc biệt quan trọng là dânchủ: “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” Vấn đề dân chủ đặt trong
hệ mục tiêu của đất nước là một bước phát triển quan trọng về nhận thức lý luận củaĐảng về chủ nghĩa xã hội Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của đổi mới, củaphát triển và chủ nghĩa xã hội
Có thể nói, từ Đại hội IX, về cơ bản, Đảng ta đã nhận thức đầy đủ về hệ giá trị mụctiêu của đổi mới và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đến Đại hội X, khi tổng kết 20 năm đổi mới, Đảng ta xác định đặc trưng tổng quát củachủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và Nhândân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”
Đại hội XI năm 2011, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), hệ mục tiêu đổi mới vẫn được coi là đặctrưng tổng quát, là đặc trưng đầu tiên trong các đặc trưng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.Song có sự điều chỉnh về trật tự các mục tiêu: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân
ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Nhưvậy, Đảng ta đặt đặc trưng “dân chủ” trước đặc trưng “công bằng, văn minh”
Thứ hai về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam - những phát triểnnhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội:
Tại Đại hội VII (1991), Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong đó, lần đầu tiên Đảng ta xác định 6 đặc trưng của
xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng, là một xã hội: do Nhân dân laođộng làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dântộc; con người được giải phóng hỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởngtheo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; cóquan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới
Sau Đại hội VII, các kỳ Đại hội tiếp theo cho đến Đại hội XI, trên cơ sở thực tiễn đấtnước đổi mới và phát triển, Đảng ta đã từng bước có sự bổ sung, phát triển về các đặctrưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho phù hợp Đặc biệt tại Đại hội X và XI đã bổsung và phát triển thành 8 đặc trưng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định: “Xã hội xãhội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lựclượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiệnphát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoànkết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữunghị và hợp tác với các nước trên thế giới”
Trang 5Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đây là đặctrưng hoàn toàn mới bổ sung so với Cương lĩnh 1991, tiếp thu tinh thần Đại hội Xtrong đó có chú ý đến trật tự các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đặc trưng thứ hai: Do nhân dân làm chủ Đặc trưng này kế thừa, điều chỉnh so vớiCương lĩnh 1991 để mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: dân chủ không chỉcho nhân dân lao động mà toàn thể Nhân dân
Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại vàquan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp Đây là đặc trưng có nhiều sự sửa đổi, bổ sung nhấtcho phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước Nó thể hiện cách nhìn nhận mới vềchế độ sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đặc trưng thứ tư: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đây là đặc trưngduy nhất không có sự sửa đổ bổ sung suốt từ Đại hội VII đến nay Nó thể hiện tầmkhái quát, chiến lược của đặc trưng này
Đặc trưng thứ năm: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiệnphát triển toàn diện Đặc trưng này có sự sửa đổi về cách diễn đạt cho ngắn gọn, rõràng hơn
Đặc trưng thứ sáu: Các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển Đặc trưng này kế thừa nội dung trongCương lĩnh 1991, song có sự sửa đổi: không diễn đạt “các dân tộc trong nước” mà thaybằng “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam”, bổ sung cụm từ “tôn trọng” để xác địnhphong phú, rộng hơn nội dung bao trùm của chính sách dân tộc, giải quyết đúng đắnquan hệ tộc người ở Việt Nam
Đặc trưng thứ bảy: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhândân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo Đây là đặc trưng mới so với Cương lĩnh
1991 Đặc trưng này thể hiện rõ bản chất của Nhà nước Việt Nam và mối quan hệ giữaĐảng, Nhà nước và Nhân dân
Đặc trưng thứ tám: Có mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trênthế giới Đặc trưng này kế thừa và sửa đổi so với Cương lĩnh 1991: diễn đạt “có quan
hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” thay cho “có quan hệ hữu nghị vàhợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới” để làm rõ hơn việc hội nhập quốc tếcủa Việt Nam hiện nay
Đại hội XII, về cơ bản các đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở nước ta không có sự sửa đổi,
bổ sung lớn
Như vậy, những nhận thức, lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Đảng ta đã cónhiều thay đổi, phát triển trong 30 năm đổi mới Những nhận thức, lý luận đó củaĐảng ta ngày càng đầy đủ, phù hợp với quy luật khách quan và tình hình thực tiễn thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Từ những nhận thức đúng đắn, đầy đủ đógóp phần làm cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam càng ngày càng rõ
Trang 6nét và trả lời cho câu hỏi: Xã hội chủ nghĩa là gì? Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cónhững đặc trưng nào? Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào, trong điềukiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trong bối cảnh toàncầu hóa và hội nhập quốc tế?
MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ Câu 1: Phân tích lượng giá trị hàng hóa và những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa?
Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng:
Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh tronghàng hóa Vậy, lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất rahàng hóa đó quyểt định
a) Thước đo lượng giá trị của hàng hóa
Đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động, một ngày lao động, v.v Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định Trong thực tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề làkhông giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ khác nhau Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cả biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra Vậy phải chăng lao động cá biệt nào càng lười biếng, vụng về, phải dùng nhiều thời gian hơn để làm ra hàng hóa, thì hàng hóa đó càng có nhiều giá trị?C.Mác viết: "Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy"
Như vậy, thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hộicần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóatrong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình,
trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định.
Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức khác biệt nhau, thì thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hóa nào đó trên thị trường
b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố:
Thứ nhất, năng suất lao động
Trang 7Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phấm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết đế sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá biệt mà là giá trị
xã hội Vì vậy, năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính
là năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít Ngược lại, năng suất lao dộng xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều Lượng giá trịcủa một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa
xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội
Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết,giản đơn trung bình
c) Cấu thành lượng giá trị hàng hóa
Để sản xuất ra hàng hóa cần phải chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn tạitrong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và lao độngsống hao phí trong quá trình chế biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới Trong quátrình sản xuất, lao động cụ thể của người sản xuất có vai trò bảo tồn và di chuyển giátrị của tư liệu sản xuất vào sản phẩm, đây là bộ phận giá trị cũ trong sản phẩm (ký hiệu
là c), còn lao động trừu tượng (biểu hiện ở sự hao phí lao động sống trong quá trìnhsản xuất ra sản phẩm) có vai trò làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm, đây là bộ phận giátrị mới trong sản phẩm (ký hiệu là V + m).Vì vậy, cấu thành lượng giá trị hàng hóa baogồm hai bộ phận: giá trị cũ tái hiện và giá trị mới
Câu 2: Phân tích quy luật giá trị thặng dư, vận dụng giá trị thặng dư vào quản lý kinh tế ở nước ta?
Các Mác – nhà kinh tế chính trị học, nhà Triết học thiên tài của Đức đã để lại cho nhânloại biết bao học thuyết mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị Học thuyết giá trị và họcthuyết giá trị thặng dư là hai học thuyết vĩ đại của Mác vào thế kỷ thứ XIX Việcnghiên cứu nội dung hai học thuyết này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trongqúa trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN
Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động côngnhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt Sản xuất giá trị thặng dư (hay lợi nhuận) làmục tiêu và động lực hoạt động tuyệt đối của từng nhà tư bản và cả nền sản xuất tư bảnchủ nghĩa, điều này có nghĩa tuyệt đối phải thu được hoặc sẽ được lợi nhuận, ít nhất làlợi nhuận bình quân thì nhà tư bản mới đầu tư, mới duy trì sản xuất, kinh doanh
Bất cứ trong xã nào sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất, nhưngchỉ đến chủ nghĩa tư bản sức lao động mới trở thành hàng hóa Để sức lao động trởthành hàng hóa thì có 2 điều kiện là người lao động phải tự do về thân thể và người laođộng không có khả năng bán những sản phẩm do sức lao động của họ kết tinh
Trang 8Cũng giống như hàng hóa thông thường, hàng hóa sức lao động cũng có 2 thuộctính đó là giá trị của hàng hóa sức lao động và giá trị sử dụng của hàng hóa sức laođộng.
Giá trị của hàng hóa sức lao động do số lượng lao động xã hội cần thiết để sảnxuất và tái sản xuất ra nó quyết định Sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động được thểhiện thông qua tiêu dùng cá nhân của công nhân Bỡi vậy giá trị sức lao động bàng giátrị toàn bộ giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra và tái sản xuất sức lao động
để duy trì đời sống công nhân làm thuê Là thời gian lao động xã hội cần thiết để sảnxuất ra sức lao động được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuấtnhững tư liệu sinh hoạt và dịch vụ để duy trì cuộc sống của người công nhân Giá trịhàng hóa sức lao động bao gồm những bộ phận hợp thành sau đây: giá trị tư liệu sinhhoạt và dịch vụ cần thiết nuôi sống người công nhân; giá trị tư liệu sinh hoạt và dịchcần thiết nuôi sống gia đình người công nhân; chi phí đào tạo Khi xã hội phát triển, thìnhu cầu về lao động chất lượng cao tăng lên, đồng thời nhu cầu tiêu dùng, dịch vụ củacông nhân cũng tăng lên theo sự phát triển của LLSX XH, do đó giá trị hàng hóa sứclao động có xu hướng tăng lên Mặt khác do năng suất lao động tăng lên, giá trị các tưliệu sinh hoạt và dịch vụ giảm xuống, vì vậy giá trị của hành hóa sức lao động chịu sựtác động của hai xu hướng đối lập này Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức laođộng khác hàng hóa thông thường ở chỗ nó mang yếu tố tinh thần và lịch sử
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động thể hiện ở việc đáp ứng nhu cầungười mua, do đó công nhân phụ thuộc vào nhà tư bản Trong quá trình lao động đểsản xuất hàng hóa nào đó, sức lao động đã tạo ra một lượng giá trị mới (v+m) lớn hơngiá trị của bản thân nó, phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động chính là giá trị thặng dư
Để thu được giá trị thặng dư có hai phương pháp chủ yếu: phương pháp sản xuấtgiá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao độngvượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động
và thời gian lao động tất yếu không thay đổi Ngày lao động kéo dài trong khi thời gianlao động cần thiết không thay đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên Sản xuấtgiá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa Phương pháp nàyđược áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi lao động còn ở trình
độ thủ công và năng suất lao động còn thấp
Nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngày công lao động Nhưng mặt khác
do giới hạn tự nhiên sức lao động của con người; do đấu tranh của công nhân đòi rútngắn ngày lao động, cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn Tuy nhiên cũngkhông thể rút ngắn bằng thời gian lao động tất yếu Một hình thức khác của sản xuấtgiá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường độ lao động Vì tăng cường độ lao động cũngnhư kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động cần thiết khôngthay đổi
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian laođộng tất yếu để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao độngkhông thay đổi, trước hết ở các ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm giá trịsức lao động giảm xuống; khi độ dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao độngcần thiết sẽ giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư-thời gian để sản xuất ra giátrị thặng dư tương đối cho nhà tư bản
Trang 9Để cạnh tranh, thu được nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản áp dụng tiến bộ
kỹ thuật, hoàn thiện phương pháp quản lý kinh tế, nâng cao năng suất lao động Kếtquả là giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội Như vậy hàng hoá bán sẽ thuđược một số giá trị thặng dư trội hơn so với nhà tư bản khác
Phần giá trị thặng dư thu được trội hơn được gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch.Nhưng xét về toàn bộ xã hội tư bản, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tạithường xuyên Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là một động lực mạnh nhất thúc đẩycác nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động Giá trị thặng dư siêungạch là giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động của tư bản cá biệt, làmcho hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội
Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăngnăng suất lao động Cái khác nhau là ở chỗ giá trị thặng dư tương đối thì dựa trên cơ sởtăng năng suất lao động xã hội; còn giá trị thặng dư siêu ngạch thì dựa trên cơ sở tăngnăng suất lao động cá biệt
Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản bởi vì
nó quy định bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời sốngkinh tế của xã hội tư bản Không có sản xuất giá trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tưbản Theo C Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa Ở đâu có sản xuất giá trị thặng dư thì ở đó có chủ nghĩa tưbản, ngược lại, ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó có sản xuất giá trị thặng dư Chính
vì vậy, Lênin gọi quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tưbản
Nội dung của quy luật này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trịthặng dư bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê Sản xuất nhiều và ngàycàng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường xuyên của nền sản xuất tưbản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc đẩy sự vận động, phát triển của chủnghĩa tư bản; đồng thời nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâusắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn
Quy luật giá trị thặng dư là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản:mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp côngnhân Quy luật giá trị thặng dư đứng đằng sau cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Với mụcđích là thu được ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư, các nhà tư bản cạnh tranh vớinhau, tiêu diệt lẫn nhau để có được quy mô giá trị thặng dư lớn hơn, tỉ suất giá trịthặng dư cao hơn
Để sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản ra sức áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến sản xuất Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triểnmạnh mẽ, nền sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao, mâu thuẫn giữa tính chất
xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gaygắt
Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư là lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận; lợinhuận của tư bản thương nghiệp; lợi tức của tư bản cho vay và địa tô tư bản chủ nghĩa
Lợi nhuận là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư do sức lao động sống tạo
ra được quan niệm là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra Còn tỉ suất lợi nhuận là tỉ lệphần trăm giữa giá trị thặng dư với chi phí sản xuất TBCN Lợi nhận và tỉ suất lợinhuận là động lực kinh tế của kinh tế tị trường
Trang 10Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp là một bộ phận giá trị thặng dư do côngnhân trong lĩnh vực công nghiệp tạo ra mà nhà tư bản công nghiệp nhường lại cho nhà
tư bản thương nghiệp vì đã thay nhà tư bản công nghiệp phụ trách khâu lưu thông hànghóa
Lợi tức là một phần của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động thu được nhờ sửdụng tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay
Địa tô là một bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân do côngnhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản thuê đất phải nộp cho người sở hữu ruộng đất.Địa tô biểu hiện dười hai hình thức là địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối
Vận dụng giá trị thặng dư vào quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay
Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào
đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và
xơ cứng cũ Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừngnào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó
Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng vềmức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độphân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thựchiện được Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải đượcthể chế hóa bằng luật, chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung,
mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó
cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp Trong
quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp đểchống thất thu thuế, bảo đảm sự công bằng trong phân phối và điều tiết thu nhập xãhội
Ba là, phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn giới chủ
sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảo đảm công khai,minh bạch và bền vững Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động
là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những xung độtkhông cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất củachế độ mới Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, của tất cả các bên trong quan hệlao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điềukiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoànthiện và xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tóm lại, Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng; là 1 cuộc cách
mạng trong kinh tế chính trị vì nó dựa trên phương pháp biện chứng duy vật, công khaibiểu hiện lập trường của giai cấp công nhân C.Mác đã xd nên học thuyết giá trị và giátrị thặng dư- hòn đá tảng trong học thuyết kt mác xít Mác đã luận giải một cách khoahọc sự phát sinh, phát triển của phương thức sản xuất TBCN, nêu lên những mặt tiến
bộ, đồng thời cũng vạch ra những khuyết tật và mâu thuẫn của CNTB CNTB tất yếu
bị thay thế bởi 1 phương thức sx mới, cao hơn, tiến bộ hơn, đó là phương thức sản xuấtcộng sản chủ nghĩa
Trang 11MÔN: TRIẾT Câu 1: Trình bày cặp phạm trù nội dung - hình thức, ý nghĩa của phương pháp luận,
vận dụng vào thực tiễn cơ quan, đơn vị, anh chị đang công tác
Khái niệm nội dung và hình thức với tư cách là phạm trù cơ bản của phép biện chứngduy vật
Khái niệm nội dung dùng để chỉ toàn bộ các yếu tố làm cơ sở cấu thành nên sự vật;còn khái niệm hình thức dùng để chỉ phương thức kết hợp các yếu tố đó tạo nên sự tồntại của sự vật
Ví dụ, khi phân tích mỗi phân tử nước (H20) đã cho thấy: các yếu tố vật chất làm cơ sởcấu thành nên nó là 2 nguyên tử hyđrô và 1 nguyên tử ôxy (nội dung); cách thức liênkết hoá học của chúng là: H - 0 - H (hình thức)
Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức, nghĩa phương pháp luận+ Nội dung và hình thức là hai phương diện cấu thành nên mỗi sự vật: không có
sự vật nào tồn tại mà chỉ có nội dung mà không có hình thức nhất định Vì vậy, khinghiên cứu nội dung của mỗi sự vật bao giờ cũng cần xem xét nó theo phương thức kếthợp nhất định và ngược lại Việc nghiên cứu thuần tuý nội dung hay hình thức thuầntuý chỉ mang ý nghĩa là sự trừu tượng hoá trong một quá trình nhận thức xác định
Ví dụ, khi nghiên cứu một đối tượng, trước hết người ta có thể tiến hành phân tích xem
nó được cấu thành từ những yếu tố, bộ phận, nào Sau đó tiến hành nghiên cứu xemchúng được liên kết với nhau theo cách thức nào để tạo nên sự tồn tại của đối tượng
đó, nhờ đó hiểu được toàn diện đối tượng ấy, giải thích được tính chất chung được tạo
ra từ sự liên kết các yếu tố, bộ phận đó
+ Cùng một nội dung nhưng có thể có những phương thức kêt hợp khác nhau; ngượclại, các nội dung khác nhau nhưng có thể có sự đồng dạng về phương thức kết hợpgiữa chúng Tuy nhiên điều đó không phải là tuyệt đối, phi nguyên tắc
Ví dụ, một số doanh nghiệp có thể tương đồng nhau về số lượng vốn nhưng lại cóphương thức kinh doanh ít hay nhiều khác nhau, từ đó tạo nên tính hiệu quả kinhdoanh khác nhau; ngược lại, cùng một phương thức kinh doanh nhưng lại có thể thíchhợp với một số doanh nghiệp có số lượng vốn ít nhiều khác nhau
+ Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó nộidung quyết định hình thức và hình thức tác động trở lại nội dung Giữa nội dung vàhình thức không phải luôn luôn có sự thống nhất Thông thường, quá trình biến đổi,phát triển của một sự vật được bắt đầu từ sự biến đổi nội dung của nó (dưới một hìnhthức phù hợp), tới một giới hạn nhất định sẽ xuất hiện sự không còn phù hợp giữa nộidung và hình thức Khi đó sẽ xuất hiện nhu cầu thay đổi hình thức tạo nên sự phù hợpmới
Vì vậy, vấn đề mấu chốt trong nhận thức và thực tiễn là nghiên cứu sự vật từ quá trìnhbiến đổi nội dung của nó và xác lập sự thống nhất giữa nội dung và hình thức
Ví dụ, dưới một hình thức kinh doanh phù hợp, số lượng vốn của doanh nghiệp khôngngừng tăng lên Đến một giai đoạn nhất định, nó đòi hỏi phải thay đổi cách thức tổ
Trang 12chức kinh doanh cũ, xác lập cách thức kinh doanh mới để bảo toàn lượng vốn cũ vàkhông ngừng thực hiện sự tăng trưởng của doanh nghiệp.
VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN: Đây là ví dụ (mỗi anh chị có ví dụ riêng)
Vận dụng cặp phạm trù "Nội dung - hình thức" để giải quyết vấn đề thương hiệu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Sau khi nước ta bước vào nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì nhãn hàng hoá,tên giao dịch thương hiệu trở thành một sự nhận biết của người kinh doanh, của kháchhàng Rồi khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì nhãn hiệu đẹp, hấp dẫn sẽ gây ấntượng và thu hút người mua hàng Các doanh nghiệp phải liên tục cho ra mẫu mã sảnphẩm mới Khit hay đổi hình thức của sản phẩm thì doanh nghiệp cũng cần quan tâmđến nội dung của nó bởi nội dung ý thức phải luôn đi kèm với nhau, không thể tách rờinhau, trong đó nội dung có vai trò quyết định còn hình thức thúc đẩy nội dung pháttriển Đó chính là vấn đề mà cặp phạm trù "Nội dung - hình thức" của Triết học Mác
đề cập tới
1 Thương hiệu là gì?
Thương hiệu là kết quả của sự hoàn thiện của nhãn hiệu khi đã được đăng ký bảo hộbản quyền Nó là tên của một sản phẩm của doanh nghiệp để giúp phân biệt rõ ràng vịthế của sản phẩm trên thị trường Nó là công cụ hữu hiệu để khách hàng nhận biếtđược sự tồn tại của sản phẩm và có ý định sử dụng sản phẩm
Dưới giác độ kinh tế có thể thấy dấu hiệu đặc trưng của thương hiệu là:
a Là các dấu hiệu hay một loại dấu hiệu (từ ngữ, hình vẽ, số, hình ảnh…) hoặc tổnghợp các dấu hiệu này gắn với hàng hoá hoặc dịch vụ, là biểu hiện bên ngoài
b Dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một (hay một nhóm) người này với hànghoá dịch vụ của một (hay một nhóm) người khác
c Thương hiệu như vậy có cả nội dung vật chất và hình thức, nó hiển hiện trongquan hệ cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp
2 Giá trị của thương hiệu
Có nhiều giác độ để đánh giá nhận thức về giá trị của thương hiệu, những nétchung của giá trị thương hiệu là:
Giảtị hữu hình: Tổng thu nhập thêm từ sản phẩm có nhãn hiệu cao hơn thu nhập
từ sản phẩm cùng loại nhưng không có thương hiệu Giá bán khác nhau chính là giá trịcủa thương hiệu
Giá trị vô hình: đi với sản phẩm không thể tính bằng tiền hoặc con số cụ thể màquan con đường tiếp thị tạo nhu cầu ở người tiêu dùng luôn muốn trả giá cao hơn chonhững sản phẩm có tên tuổi so với những sản phẩm khác tuy chúng đều có chất lượngtốt như nhau
Sự nhận thức về chất lượng: Nhận thức tổng quát của người tiêu dùng về chấtlượng và hình ảnh đối với sản phẩm Qua nhiều năm tiếp thị, xây dựng hình ảnh, chămsóc thương hiệu và sản xuất theo chất lượng, Công ty đã hướng người tiêu dùng đếnchỗ nhận thức rằng tất cả sản phẩm do Công ty sản xuất đều có chất lượng tuyệt hảo
Trang 13Ví dụ: người tiêu dùng đều nhận thức rằng Mercedes và BMW là những loại ô tô cóchất lượng cao nhất so với nhãn hiệu ô tô khác cho dù nhận thức này không có gì làbảo đảm.
3 Thực trạng xây dựng thương hiệu ở Việt Nam
Sau khi có nhiều sự kiện liên quan đến việc chống bán phá giá: triển khai thựchiện hiệp định thương mại Việt - Mỹ: việc cấm dùng và quảng cáo nhãn hiệu có từcatfish: một số nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam bị các doanh nhân nước ngoài đăng
ký ở nước ngoài, tình trạng tranh chấp nhãn hiệu: tình trạng hàng giả ngày càng tinhvi… tất cả những tác động này đã tạo nên một áp lực lớn trong xã hội, các phương tiệnthông tin đại chúng, các cơ quan quản lý Nhà nước đều vào cuộc Từ cuối năm 2001đến nay, thương hiệu trở thành vấn đề thời sự của đời sống kinh tế thương mại, ngàycàng giành được sự quan tâm của giới doanh nghiệp và doanh nhân trong nước
Câu 2 : Vận dụng lý luận hình thái kinh tế xã hội để làm rõ tính tất yếu của con đường đi lên CNXH.
- Khái niệm “hình thái kinh tế - xã hội"
Với tư cách là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khái niệm hình tháikinh tế - xã hội dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểuquan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lựclượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên nhữngquan hệ sản xuất ấy
- Các yếu tố hợp thành một hình thái kinh tế- xã hội
+ Phương pháp luận của sự phân tích các yếu tố cấu thành một hình thái kinh tế - xãhội:
Xã hội là tổng thể của nhiều lĩnh vực với những mối quan hệ xã hội hết sức phức tạp.Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã vận dụng phương pháp luận duy vậtbiện chứng để phân tích đời sống xã hội, tiến hành trừu tượng hóa các quan hệ xã hội
và phân tách ra những quan hệ sản xuất, tức là những quan hệ kinh tế tồn tại một cáchkhách quan, tất yếu không phụ thuộc vào ý chí con người, tiến hành “giải phẫu” nhữngquan hệ đó Đồng thời phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ phụ thuộc của
nó với thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất hiện thực Phân tích những quan hệ
đó trong mối quan hệ vối toàn bộ những quan hệ xã hội khác, tức với những quan hệthuộc kiến trúc thượng tầng chính trị - xã hội, từ đó cho thấy rõ xã hội là một hệ thốngcấu trúc với các lĩnh vực cơ bản tạo thành V.I Lênin từng nhấn mạnh rằng: “Chỉ cóđem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất và đem quy những quan hệsản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sởvững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch
sử - tự nhiên”
+ Các yếu tố cấu thành một hình thái kinh tế - xã hội:
Một là, các lực lượng sản xuất của xã hội ở một trình độ phát triển nhất định, đóng vaitrò là cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội đó
Trang 14Hai là, hệ thống quan hệ sản xuất được hình thành trên cơ sở thực trạng phát triển củalực lượng sản xuất, đóng vai trò là hình thức kinh tế của các lực lượng sản xuất đó;những quan hệ sản xuất này hợp thành một cơ cấu kinh tế của xã hội, đóng vai trò là
cơ sở hạ tầng kinh tế của việc xác lập trên đó một kiến trúc thượng tầng nhất định
Ba là, hệ thống kiến trúc thượng tầng được xác lập trên cơ sở hạ tầng kinh tế, đóng vaitrò là các hình thức chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá của các quan hệ sản xuấtcủa xã hội
Các loại hình thái kinh tế- xã hội
Theo chủ nghĩa Mác-Lenin thì trong lịch sử loài người đã sẽ tuần tự xuất hiện 05 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao:
Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản nguyên thủy (công xã nguyên thủy)
Hình thái kinh tế-xã hội chiếm hữu nô lệ
Hình thái kinh tế-xã hội phong kiến
Hình thái kinh tế-xã hội chủ nghĩa tư bản
Hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời và có quá trình phát triển qua các giai đoạn, từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn Đó là:
"Giai đoạn thấp của xã hội cộng sản" hay "giai đoạn đầu của xã hội cộng sản" Sau gọi giai đoạn này là "chủ nghĩa xã hội" hay "xã hội xã hội chủ nghĩa"
"Giai đoạn cao hơn của xã hội cộng sản" Sau này gọi là "chủ nghĩa cộng sản" hay xã hội cộng sản chủ nghĩa
Và "giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cảibiến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia một thời kỳ quá độ chính
trị , chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản", và đó là "những cơn đau đẻ kéodài"
V.I Lênin cũng nêu lại gồm:
I Những cơn đau đẻ kéo dài (tức là thời kỳ quá độ)
II Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.[8]
III Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa Ông này cho rằng "giai đoạn thấp" là xã hội xã hội chủ nghĩa (hay chủ nghĩa xã hội); "giai đoạn cao" là xã hội cộng sản chủ nghĩa (hay chủ nghĩa cộng sản), đặc biệt là phát triển lý luận về "thời
kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội".[9]
Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nóiriêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của cácnhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người, nó đóngvai trò là các nhân tố thuộc cơ chế vận động, phát triển của lịch sử nhân loại Từ đó
Trang 15lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thông nhất trong tính đa dạng
và đa dạng trong tính thống nhất của nó
- Ý nghĩa phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế - xã hội
Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội Với sự rađời của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó hạt nhân là lý luận hình thái kinh tế - xã hội
đã cung cấp một phương pháp luận thực sự khoa học trong nghiên cứu về lĩnh vực xãhội
Thứ nhất, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, sản xuất vật chất chính là cơ sở củađời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất
và do đó cũng là nhân tố quyết định trình độ phát triển của đời sống xã hội và lịch sửnói chung Vì vậy, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng hoặc từ ý chí chủ quan củacon người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội, mà phải xuất phát từ bảnthân thực trạng phát triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là từ trình độ phát triển củaphương thức sản xuất xã hội với cốt lõi là trình độ phát triển của lực lượng sản xuấthiện thực
Thứ hai, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, xã hội không phải là sự kết hợp mộtcách ngẫu nhiên, máy móc nữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống động Các phươngtiện của đời sống xã hội tồn tại trong một hệ thống cấu trúc thống nhất chặt chẽ, tácđộng qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò là quan hệ cơ bản nhất,quyết định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ
xã hội khác nhau Vì vậy, để giải chính xác đời sống xã hội cần phải sử dụng phươngpháp luận trừu tượng hóa khoa học - đó là cần phải xuất phát từ quan hệ sản xuất hiệnthực của xã hội để tiến lành phân tích các phương diện khác nhau (chính trị, pháp luật,văn hóa, khoa học,…) của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng
Thứ ba, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, sự vận động, phát triển của xã hội là mộtquá trình lịch sử - tự nhiên, tức là quá trình diễn ra theo các quy luật khách quan chứkhông phải theo ý muốn chủ quan, do vậy muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn, cóhiệu quả những vấn đề của đời sống xã hội thì phải đi sâu nghiên cứu các quy luật vậnđộng, phát triển của xã hội V.I Lênin từng nhấn mạnh rằng: “Xã hội là một cơ thểsống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành mộtcách máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nàocũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cách kháchquan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhất định và cần phảinghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó”
Những giá trị khoa học trên đây của lý luận hình thái kinh tế - xã hội là những giá trị
về mặt phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu về xã hội và lịch sử nhânloại, lịch sử các cộng đồng người, nó không thể thay thế cho những phương pháp đặcthù trong các quá trình nghiên cứu về từng lĩnh vực cụ thể của xã hội V.I Lênin từngdạy rằng: lý luận đó “không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốnvạch ra một phương pháp “duy nhất khoa học” để giải thích lịch sử”
Trang 16MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Câu 1: Phân tích bối cảnh ra đời và nội dung khái niệm tư tưởng HCM
1 Bối cảnh ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh.
a- Tình hình thế giới:
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự docạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Chỉ có chín nước đế quốc mà đã chi phốitoàn bộ tình hình thế giới Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh dành, xâm chiếm và nô dịchcác dân tộc thuộc địa Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ latinh đã trởthành thuộc địa hoặc phụ thuộc của chúng Nhân dân các nước thuộc địa bị chủ nghĩathực dân tước hết những giá trị văn hóa, tinh thần, quyền lợi kinh tế và địa vị xãhội….Mạng sống của người dân thuộc địa “ không đáng một trinh” Cùng với mâuthuẫn cơ bản trong xã hội tư bản- mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốclàm phát sinh một mâu thuẫn mới- mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa
đế quốc thực dân Mâu thuẫn ngày càng gay gắt vì vậy, từ đầu thế kỷ XX phong tràogiải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa ngày càng phát triển Trong điều kiện chủnghĩa đế quốc như vậy, sự xuất hiện chủ nghĩa Lênin là một nhân tố đặc biệt quantrọng đối với việc ra đời và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh và nước Pháp chính
là mảnh đất để Hồ Chí Minh đi sâu nghiên cứu vấn đề dân tộc và thuộc địa
Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh chấp thuộc địa giữa chúng là nguyên nhân gây racuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất ( 1914-1918) Đây là cuộc chiến tranh hao ngườitốn của, đã khơi sâu, làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa, làmcho chủ nghĩa tư bản thế giới suy yếu, tạo điều kiện cho cách mạng xã hội chủ nghĩatháng Mười Nga giành được thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công năm
1917 đã làm thức tỉnh các nước Châu Á, cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc ở các nước thuộc địa theo đường lối đúng đắn, mở ra một thời kỳ mớitrong lịch sử loài người, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa Đồngthời, nhà nước Xô viết ra đời làm nảy sinh một mâu thuẫn mới mang tính thời đại-mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản
Tháng 3 năm 1919 Quốc tế cộng sản ( Quốc tế III) được thành lập, chủ trươngđoàn kết phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa Phương Tây và đã tạo
Trang 17ra những tiền đề và điều kiện cơ bản thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở cácnước thuộc địa trên thế giới, trong đó có Việt nam phát triển với xu hướng và tính chấtmới.
b-Tình hình trong nước:
Cuối thế kỷ XIX( 1858) và đầu thế kỷ XX, Việt Nam từ một nước phongkiến độc lập đã bị chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược, nước ta trở thành một nước thuộcđịa nửa phong kiến Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xãhội việt nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong giai đoạn nàynổi lên các phong trào đấu tranh dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước lan rộng khắp
cả nước đó là: Trương Định; Nguyễn Trung Trực; Trần Tấn; Đặng Thai Mai; NguyễnXuân Ôn; Phan Đình Phùng; Nguyễn Thiện Thuật; Nguyễn quang Bích….nhưng cácphong trào đấu tranh này đều thất bại hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời
Dưới ách thống trị của Thực dân Pháp, bị mất tự do, nhân dân ta không ngừng nổi dậychống lại thực dân đô hộ; tình hình kinh tế,chính trị, văn hóa ở Việt Nam có sự chuyểnbiến căn bản Đó là sự xuất hiện những giai tầng mới và đồng thời cũng nảy sinhnhững mâu thuẫn mới về giai cấp và dân tộc với sự ra đời của giai cấp công nhân, sựxuất hiện của tầng lớp tiểu tư sản và giai cấp tư sản ở nước ta Bên cạnh mâu thuẫn cơbản là giữa nông dân với địa chủ phong kiến, với sự xuất hiện các giai tầng mới đã làmnảy sinh thêm các mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam với tưbản Pháp, giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc Pháp
Kể từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt ( 6-6-1884) chịu sự bảo hộ của
đế quốc Pháp, trừ một số ít người cam tâm làm tay sai cho giặc, còn lại đa số nhân dânvẫn nung nấu ý chí căm thù và chờ đợi cơ vùng lên giải phóng Lớp lớp sĩ phu và đồngbào yêu nước đã liên tục đứng lên chiến đấu giành lại độc lập Song, những kinhnghiệm lịch sử chống ngoại xâm không phát huy được tác dụng trước một kẻ thù mới-chủ nghĩa đế quốc các phong trào kháng chiến đều bị dìm trong máu, lửa Phong tràoCần Vương và các phong trào yêu nước nổ ra theo hệ tư tưởng Phong kiến ,tư sản,tiểu tư sản đều thất bại Đát nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc đường lốicứu nước cả dân tộc chìm đắm trong đêm dài nô lệ, tưởng chừng như không có đường
ra
Trang 18Từ những bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước nêu trên yêu cầu đặt ra là phải có
một con đường cứu nước mới Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và từng bước
hình thành tư tưởng của mình, đáp ứng đòi hỏi bức thiết của dân tộc và thời đại
Sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả, là sản phẩm tất yếu khách quan của cáchmạng Việt Nam và thế giới trong điều kiện lịch sử mới, chứ không phải là ý muốn chủquan hay một sự áp đặt nào khác
2 Nội dung khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1/2011) đã xác định khátoàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu của nội hàm khái niệm tư tưởng HCM.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung vàphát triển năm 2011) khẳng định:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triểncác giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tàisản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”
Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ cấu trúc, nguồn gốc, nội dung, ý nghĩa
và giá trị TTHCM
- Về cấu trúc: bản chất cách mạng khoa học và nội dung của tư tưởng HCM: Đó
là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạngViệt Nam Phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam Tư tưởngHCM cùng với Chủ nghĩa Mác-Leenin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành độngcủa đảng, của dân tộc Việt nam
“Toàn diện” là bao quát nhiều lĩnh vực như: tư tưởng về chính trị, kinh tế, vănhóa – xã hội, quân sự, ngoại giao…
“Toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” tức làkhông phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh, những vấn đề về cáchmạng Việt Nam được Hồ Chí Minh nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc như:mục tiêu cách mạng, mục đích cách mạng, lực lượng cách mạng, tổ chức cách mạng…