1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ TÀI BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN DÂN SỰ TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM

81 197 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 134,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những khía cạnh pháp lý và thực tiễn,...Ngoài ra, các quyền dân sự cụ thể còn được nghiên cứu dưới các hìnhthức sách chuyên khảo, giáo trình, bài viết qua báo, tạp chí và kỷ yếu hội thảo

Trang 1

ĐỀ TÀI BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN DÂN SỰ TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo đảm quyền dân sự của con người luôn là một vấn đề thời sự của các quốcgia và trên toàn cầu Quyền dân sự là những quyền tự nhiên có, gắn với tất cả mọingười, tuy nhiên các quyền này lại dễ bị xâm phạm bởi các chủ thể khác nhất là chủ thểmang quyền lực nhà nước Do đó, ngay từ khi đánh đổ nhà nước phong kiến, nhà nước

tư sản đã lập ra Hiến pháp với ý định ghi nhận và bảo đảm các quyền con người, vàsong song đó là hạn chế kiểm soát quyền lực để tránh sự lạm quyền, tham quyền xâmphạm đến quyền con người

Ở Việt Nam ta phải trãi qua thời kỳ phong kiến đô hộ hàng ngàn năm rồi bị cácnước đế quốc, thực dân đô hộ, nước ta không có độc lập, tự do, nhân dân ta khôngđược thụ hưởng những quyền mà họ đương nhiên có như quyền sống, quyền bất khảxâm phạm về thân thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ lúc sinh thời luôn có một khát

vọng cháy bỏng rằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho

nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Khát vọng đó của Người tiếp tục được thể

hiện trong Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945: “Tất cả dân tộc trên thế giới đều

sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Ngay từ khi được độc lập tự do, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt mục tiêu bảo vệ quyềncon người lên hàng đầu Mới đây nhất trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XII xácđịnh: Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinhthần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xãhội Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền conngười, quyền công dân, theo phương hướng: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự pháttriển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chínhđáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người

mà nước ta ký kết

Việc bảo đảm các quyền dân sự ở nước Việt Nam ta tuy được ghi nhận qua bốnbản Hiến pháp tuy nhiên, trãi qua một thời gian dài thực thi quy định của Hiến phápnói chung, các quy định về quyền con người, quyền dân sự nói riêng đã bộc lộ nhiềukhiếm khuyết, khiến việc triển khai thi hành các quyền dân sự gặp nhiều khó khăn,…

Trang 3

Các quyền dân sự cơ bản của cá nhân chưa được bảo đảm thậm chí còn bị xâm phạmmột cách nghiêm trọng như quyền sống, quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xửhay trừng phạt tàn bạo vô nhân đạo, hạ nhục, quyền được bảo vệ đời tư, Đến bảnHiến pháp năm 2013, được xem là bản Hiến pháp hoàn thiện nhất trong việc ghi nhận

và bảo đảm các quyền dân sự của con người Để bảo đảm các quyền dân sự trong Hiếnpháp năm 2013 thật sự đi vào thực tiễn cũng như có những sự sửa đổi cho tương đồngvới pháp luật quốc tế, việc hưởng thụ các quyền dân sự của con người được tăng cườngthì cần có những cơ chế, cách thức nhất định

Vì những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Bảo đảm các quyền dân sự

trong Hiến pháp” để làm khóa luận tốt nghiệp.

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài

Hiện nay, các vấn đề liên quan đến các quyền dân sự cụ thể trong Hiến phápViệt Nam đã được một số tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của mình, dưới nhiềugóc độ và phạm vi khác nhau Cụ thể, có các khóa luận sau: Huỳnh Thị Mai Trinh(2006) - Quyền tự do cư trú của công dân: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện; TrầnThị Tuyết Nhung (2012) - Quyền tự do cư trú của công dân Những khía cạnh pháp lý

và thực tiễn, Ngoài ra, các quyền dân sự cụ thể còn được nghiên cứu dưới các hìnhthức sách chuyên khảo, giáo trình, bài viết qua báo, tạp chí và kỷ yếu hội thảo như TrầnNgọc Đường (2004) - Bàn về quyền con người, quyền công dân, Nguyễn Thị ThiệnTrí - Quyền tự do cư trú của công dân trong giai đoạn hiện nay, Trịnh Đình Thể - Suynghĩ về bình đẳng giới dưới góc nhìn pháp luật, … Việc nghiên cứu tổng quan về tất cảcác quyền dân sự thì mới chỉ có đề tài khoa học và công nghệ cấp trường của tác giảNguyễn Mạnh Hùng - Quyền dân sự của công dân trong Hiến pháp: lý luận và thựctiễn và luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trường Thanh (2014) - Hoàn thiện các quyđịnh về quyền dân sự trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành, Khoa Luật Đại học Quốcgia Hà Nội Tuy nhiên, với sự ra đời của Hiến pháp mới và các đạo luật được sửa đổi,

bổ sung thì người viết mong muốn thực hiện việc nghiên cứu của mình theo hướng vừamang tính cụ thể từng quyền, vừa đặt ra phương hướng chung mang tính phổ quát, phùhợp với chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay

3. Mục đích nghiên cứu

Trang 4

Thứ nhất, thông qua quá trình nghiên cứu, làm rõ cách hiểu về quyền dân sự,

và việc bảo đảm các quyền dân sự trong Hiến pháp Việt Nam, tạo thuận lợi cho ngườiđọc tiếp cận và phân biệt được quyền dân sự với các quyền khác nhất là quyền chínhtrị

Thứ hai, tìm hiểu và phân tích các quyền dân sự được ghi nhận trong các vănkiện pháp lý quốc tế và kinh nghiệm từ một số quốc gia Đồng thời, nghiên cứu về sựphát triển của các quyền dân sự trong lịch sử lập hiến Việt Nam, tạo nền tảng cơ sở đểthực hiện đánh giá, bảo đảm trong điều kiện nước ta hiện nay

Thứ ba, đánh giá thực tế thực hiện các quyền dân sự ở Việt Nam hiện nay, từ

đó đưa ra những kiến nghị góp phần bảo đảm thực hiện các quyền này một cách cóhiệu quả trên thực tế

4. Phạm vi nghiên cứu

Trong thời gian hạn chế, người viết tập trung nghiên cứu về việc ghi nhận vàbảo đảm các quyền dân sự trong Hiến pháp từ việc xác định các quyền dân sự theoCông ước về các quyền dân sự và chính trị (1966) Bên cạnh đó, người viết dựa trênthực trạng thực hiện các quyền này để từ đó đưa ra các kiến nghị có giá trị thực tiễn

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng đồng thời nhiều phương pháp đểđảm bảo cho việc nghiên cứu mạch lạc, chặt chẽ như phương pháp phân tích, phươngpháp tổng hợp, so sánh,…

6. Bố cục đề tài

Với mục đích, cùng phạm vi nghiên cứu đã đặt ra, tác giả thực hiện đề tài khóaluận bao gồm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền dân sự

Chương 2: Thực tế bảo đảm các quyền dân sự trong Hiến pháp Việt Nam hiệnnay và một số kiến nghị

Trang 5

MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Chữ viết tắt Tên đầy đủ

UDHR Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, 1948 (Universal Decleration

of Human Rights)ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966 (International

Covenant on Civil and Political Rights)CAT Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo,

vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1984 (Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment)

UNHRC Uỷ ban Công ước Liên hợp quốc về quyền con người (The United

Nations Human Rights Council)

Trang 6

BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN DÂN SỰ TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ

VỀ QUYỀN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm về quyền dân sự

1.1.1 Định nghĩa

Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có rất nhiều định nghĩa khácnhau về quyền con người Xét ở góc độ pháp lý, theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc

về quyền con người thì “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác

dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”1

Theo nhà Luật học người Séc - Karel Vasak thì quyền con người theo lịch sửphát triển được chia thành ba “thế hệ nhân quyền” Theo đó, quyền dân sự cùng vớiquyền chính trị ra đời sớm nhất, được xem là thế hệ nhân quyền thứ nhất, kế đó làquyền về kinh tế, văn hóa, xã hội và cuối cùng là quyền tập thể Thế hệ nhân quyền thứnhất ra đời trong bối cảnh tiến hành các cuộc cách mạng tư sản, được pháp luật tiến bộghi nhận Những quyền này gắn liền với tự do cá nhân do đó gắn liền với trách nhiệmcủa nhà nước là phải bảo vệ hoặc không được can thiệp

Trong lịch sử chính trị tư tưởng của nhân loại, ngay từ thời cổ đại đã có sự bànluận về các quyền con người Ở thời kỳ đó, thị dân ở một số thành phố Ai Cập đã sửdụng các quyền như quyền tự do ngôn luận, quyền bình đẳng của tất cả mọi ngườitrước pháp luật Các triết gia thời đó cho rằng, các quyền tự nhiên thuộc sở hữu của tất

cả mọi người Hammurabi - người sáng lập ra Babylon cổ đại, quan niệm rằng, công lýbùng nổ để ngăn chặn kẻ mạnh làm hại người yếu Còn Mạnh Tử (Trung Quốc cổ đại)

từ 300 năm trước công nguyên đã khẳng định rằng, cá nhân con người là vô cùng quantrọng,… Đặc biệt, các tư tưởng về quyền con người không chỉ thể hiện qua các đạo luậtnhư: Bộ luật Hamurabi (khoảng năm 1780 TCN), Bộ luật của Vua Cyrus Đại đế banhành khoảng năm 576-529 TCN; Bộ luật do Vua Ashoka ban hành vào khoảng năm271-231; Hiến pháp Medina do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 622; Đại

1 Dẫn theo: Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 41.

Trang 7

Hiến chương Magna Carta (1215); và Bộ luật quyền của nước Anh; Bộ luật Hồng Đức(1479-1497) của Việt Nam; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân(1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn độc lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) củaMỹ… mà còn được phản ánh một cách sâu sắc và cụ thể trong các tư tưởng, học thuyếttôn giáo, chính trị và pháp lý như Kinh Vệ Đà của đạo Hindu ở Ấn Độ, Kinh Phật củaĐạo Phật; Kinh Thánh của đạo Thiên chúa và Kinh Koran của đạo Hồi; Bàn về tự docủa John Stuart Mill (1959); Các quyền của con người của Thomas Pain (1791) và cònnhiều tư tưởng, học thuyết về con người của các nhà triết học tiêu biểu như ThomasHobbes (1588-1679), John Locke (1632-1704),…Qua đó có thể thấy tư tưởng về quyềncon người xuất hiện từ rất sớm Thế nhưng phải đến đầu thế kỷ XIX thì quyền conngười mới dần nổi lên như một vấn đề ở tầm quốc tế và bắt đầu được đề cập trong phápluật quốc tế nhờ nỗ lực của nhiều chủ thể, đặc biệt là các tổ chức như Hiệp hội chữthập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Hội quốc liên và Tổ chức lao động quốc tế Tuynhiên, cho đến khi Liên hợp quốc ra đời (1945), những tư tưởng về nhân quyền củanhân loại mới được thể chế hóa một cách mạnh mẽ, toàn diện và có tính hệ thống vàopháp luật và đời sống chính trị quốc tế thể hiện ở các văn bản pháp lý quốc tế quantrọng như Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) và Côngước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR).

Ở Việt Nam do các yếu tố về lịch sử, văn hóa và điều kiện tự nhiên mà việc ghinhận và bảo đảm các quyền dân sự trong Hiến pháp muộn hơn so với nhiều nước, mặc

dù tư tưởng về nhân quyền đã manh nha xuất hiện từ rất lâu trước đó Do đất nước ta

đã trải qua một thời kỳ dài dưới chế độ phong kiến và sau đó là chế độ thực dân nửaphong kiến nên chúng ta không có bề dày lịch sử lập hiến như nhiều nước khác ởphương Tây Chỉ đến khi Cách mạng Tháng 8 thành công năm 1945, Bác Hồ đọc bảnTuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - tiền đề cho bản Hiếnpháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta ra đời và cũng là lần đầu tiên chế địnhquyền con người, quyền công dân được chính thức ghi nhận và bảo đảm ở nước ta Tuyrằng việc hiến định nhân quyền ở nước ta muộn nhưng những tư tưởng về nhân quyềncũng đã xuất hiện từ thời phong kiến thể hiện thông qua những ý niệm và hành độngkhoan dung, nhân đạo, thể hiện trong truyền thuyết và kho tàng thơ ca dân gian củaViệt Nam Đến giai đoạn thực dân nửa phong kiến thì các tư tưởng về nhân quyền cũngđược các nhà yêu nước Việt Nam đại diện là các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinhđặc biệt chú trọng quan tâm và có sự manh mún việc gắn nhân quyền với Hiến pháp

Trang 8

bên cạnh vấn đề độc lập dân tộc Ngoài hai nhà chí sĩ yêu nước kể trên thì tư tưởng vềmột nền lập pháp gắn liền với quyền con người đã nảy sinh từ rất sớm ở Chủ tịch HồChí Minh, và chính Bác Hồ là người có cách tiếp cận mối quan hệ giữa Hiến pháp vànhân quyền một cách khoa học, toàn diện nhất

Hiện nay, khoa học vẫn chưa có khái niệm thống nhất về quyền dân sự Điềunày xuất phát từ lý do, các văn bản quốc tế về quyền con người nói chung và quyềndân sự, chính trị nói riêng chưa đưa ra khái niệm về quyền dân sự Bên cạnh đó, dựavào cách tiếp cận khác nhau mà các tác giả đưa ra khái niệm về quyền dân sự khácnhau Theo tác giả Nguyễn Hồng Anh (Viện nghiên cứu con người) thì quyền dân sự làkết quả của nền dân chủ phương Tây2 Đó là tự do của con người, bao gồm các quyền

tự do được làm và tự do thoát khỏi Quyền tự do được làm bao gồm quyền tự do tưtưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, tự do di chuyển và lựa chọn nơi ở, Quyền tự do thoátkhỏi gồm các quyền liên quan như không ai có thể bị bắt hay giam giữ vô cớ, không ai

có thể là nạn nhân của sự tra tấn, trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạnhục, không ai bị bắt làm nô lệ Như vậy, tác giả Nguyễn Hồng Anh chỉ đưa ra đặcđiểm của quyền dân sự là tự do của con người mà chưa làm rõ mục đích của quyền dân

sự là giới hạn, ngăn chặn sự tuỳ tiện và lạm quyền từ phía Nhà nước xâm hại đến cuộcsống tự do của cá nhân Có thể thấy quyền dân sự gắn với tự do cá nhân, nó ra đời ngănchặn sự lạm quyền của nhà nước Căn cứ vào cách phân loại theo lĩnh vực của đời sốngnhân loại, quyền con người bao gồm quyền dân sự, quyền chính trị, quyền kinh tế, vănhóa và xã hội

Theo người viết, quyền dân sự là các quyền tự do cá nhân, gắn với mỗi cá nhân,không thể chuyển nhượng cho bất kỳ ai cũng như nó là những quyền tự nhiên có khôngphải do bất kỳ chủ thể nào ban phát, thừa nhận và không thể bị xâm phạm bởi bất kỳchủ thể nào

1.1.2 Đặc điểm quyền dân sự

Một là, quyền dân sự là loại quyền trong lĩnh vực đời tư cá nhân, gắn với tự do

cá nhân Và mục đích của quyền dân sự về cơ bản là để giới hạn, ngăn chặn sự tuỳ tiện

và lạm quyền từ phía nhà nước xâm hại đến tự do của cá nhân vì quyền dân sự luôngắn với tự do cá nhân Theo Giáo trình Lý luận về quyền con người, tự do chia thành tự

2 Nguyễn Hồng Anh (2008), “Bảo vệ và thúc đẩy quyền dân sự, chính trị vì mục tiêu phát triển con

người”, Tạp chí Nghiên cứu con người, (số 6), tr.10.

Trang 9

do chủ động và tự do thụ động Tự do chủ động là tự do của cá nhân nhằm đạt đượcmục tiêu cụ thể nào đó (chẳng hạn tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, ) Tự

do thụ động là tự do của cá nhân khỏi bị các chủ thể khác xâm phạm đến (như tự dothân thể, ) Quyền dân sự mục đích để tránh sự lạm quyền từ phía nhà nước đến tự docủa cá nhân Vì vậy, việc ghi nhận và bảo vệ quyền dân sự góp phần tránh sự vi phạmcác quyền tự do cá nhân của cá nhân, tránh sự tuỳ tiện của nhà nước

Hai là, quyền dân sự gắn với nhân thân của cá nhân và xuất hiện rất sớm So với

các nhóm quyền khác (nhóm quyền con người ở thế hệ thứ hai và thứ ba) về mặt lịch

sử thì quyền dân sự xuất hiện sớm nhất, nằm trong thế hệ quyền thứ nhất của conngười Ra đời từ cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, thế hệ quyền thứ hai ra đời từCách mạng tháng 10 Nga năm 1917 và thế hệ quyền thứ ba của con người ra đời trongcông cuộc giải phóng dân tộc các quốc gia thuộc địa, quyền dân sự cùng với quyềnchính trị đã sớm được chú ý, được coi trọng và là mục tiêu hướng tới, là đòi hỏi trướctiên trong công cuộc đấu tranh giải phóng con người nói chung Quyền dân sự là loạiquyền gắn với nhân thân của cá nhân, do đó nó không thể bị tước đoạt hay chuyểnnhượng Và việc thực hiện quyền ít tốn kém, ít bị phụ thuộc vào trình độ phát triểnquốc gia

Ba là, quyền dân sự mang tính bị động So với các quyền ở nhóm khác mang

tính chủ động thì quyền dân sự là loại quyền mang tính bị đông Tính bị động ở đâykhông phải là cá nhân không hành động cũng thực hiện được quyền mà tính bị độngđược hiểu là để thực hiện được quyền này, cá nhân tự bản thân mình cũng có thể quyếtđịnh cách thức hưởng thụ quyền mà không cần có sự tham gia, can thiệp hay tác động

từ phía các chủ thể khác (đặc biệt là từ phía chủ thể mang quyền lực nhà nước) mới cóthể thực hiện được quyền Các quyền dân sự không cần có sự can thiệp bất kể dướihình thức trực tiếp hay gián tiếp cá nhân cũng có thể tự mình hưởng thụ quyền mộtcách tốt nhất Bên cạnh đó, yêu cầu của quyền là hạn chế đến mức thấp nhất khả năngcan thiệp của cơ quan nhà nước vào việc hưởng thụ quyền của cá nhân bởi lẽ bản chấtcủa quyền này là hướng tới sự tự do của cá nhân nhằm bảo đảm nhu cầu, lợi ích chínhđáng của con người Sự tác động của nhà nước nếu có thì cũng chỉ nhằm để tạo điềukiện cho cá nhân hưởng thụ quyền một cách hiệu quả nhất hoặc là để hướng dẫn hayvạch định ranh giới của sự tự do nhằm giới hạn việc hưởng thụ quyền dân sự của cánhân này không làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội, lợi ích công cộng nói chung, tuyệt

Trang 10

nhiên sự tác động này không có ý nghĩa quyết định, không phải là nhân tố chủ đạo đốivới việc thực thi quyền dân sự Ví dụ, để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thìmỗi cá nhân có thể theo hay không theo bất kỳ tôn giáo nào mà không có sự can thiệpcủa bất kỳ chủ thể nào Tuy nhiên, để tránh ảnh hưởng xâm phạm lợi ích cá nhân kháchay trật tự công cộng thì nhà nước ban hành ra luật nhằm giúp cá nhân hưởng thụquyền theo đúng quy định Sự tác động này chỉ nhằm giúp cho cá nhân hưởng thụquyền một cách tốt nhất chứ không có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tự

do tín ngưỡng tôn giáo hay không Hay là để bảo đảm đời tư của mỗi người thì Nhànước ban hành pháp luật nhằm xác định nội dung, tạo cơ sở bảo vệ các quyền này cũngnhư quy định các chế tài nhằm bảo đảm khỏi sự xâm hại của các chủ thể khác

Bốn là, quyền dân sự là những quyền tự nhiên vốn có của con người Cũng như

quyền con người nói chung, quyền dân sự là quyền tự nhiên, vốn có Con người từ khisinh ra đã có các quyền này, không chủ thể nào có quyền ban phát hoặc tước đoạt nhất

là chủ thể mang quyền lực nhà nước Đó là các quyền cơ bản phục vụ nhu cầu tối thiểucủa con người, giúp con người tồn tại, duy trì và phát triển Bởi vậy, tất cả mọi ngườiđều có quyền con người những quyền bất kể ai đều có được đơn giản bởi họ là một conngười Cùng với điều kiện sống ngày càng được nâng cao, tiến bộ hơn thì nhân quyềnngày càng được mở rộng hơn cả về số lương lẫn nội hàm các quyền

Năm là, quyền dân sự là những quyền không thể phân chia và không thể chuyển

nhượng Quyền dân sự nằm trong một thể thống nhất các quyền con người Tuy có thểdựa vào nội dung các quyền để chia thành các nhóm khác nhau mà cụ thể hơn nữa làcác loại quyền khác nhau những không có nghĩa là chúng tách bạch khỏi nhau Bảnthân các nhóm quyền nói chung và quyền dân sự nói riêng vẫn có sự liên kết với tổngthể quyền con người Một cá nhân cụ thể không thể chỉ có quyền này mà không cóquyền kia và ngược lại, cá nhân cần phải có tất cả các loại quyền mới đảm bảo và đápứng cho nhu cầu tồn tại, phát triển của mình Các loại quyền nằm trong mối quan hệtương hỗ cho nhau, quyền này là điều kiện, cơ sở giúp thực hiện tốt loại quyền khác vàngược lại Bởi vậy các loại quyền nói chung và quyền dân sự nói riêng không thể có sựphân chia tách bạch khỏi các loại quyền khác của con người Quyền dân sự cũng khôngthể đem chuyển nhượng cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác Nó gắn với cá nhân mỗingười, là một bộ phận không tách rời của con người và cá nhân nào cũng có, không thểđem bóc tách đem mua bán, trao đổi cho bất kỳ ai

Trang 11

Sáu là, quyền dân sự được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền dân sự là những

quyền tự nhiên do tạo hoá ban cho con người, là một loại luật tự nhiên và được xem là

lẽ công bằng chung của cuộc sống Tuy nhiên, quyền dân sự cũng rất dễ bị xâm phạmbởi các chủ thể trong đời sống xã hội Đặc biệt, quá trình thực hiện quyền lực nhà nước

có khả năng xâm phạm đến quyền dân sự hay quá trình hưởng thụ quyền dân sự của cánhân này cũng có khả năng làm ảnh hưởng đến sự thụ hưởng quyền của cá nhân khác

Do đó, quyền dân sự cần được thể chế hoá vào trong pháp luật Việc ghi nhận quyềndân sự vào trong pháp luật không chỉ là cách thức bảo vệ quyền khỏi sự xâm phạm củacác chủ thể bằng việc vạch ra những giới hạn cần thiết mà đó còn là sự đề cao quyềndân sự nói riêng và quyền con người nói chung, khẳng định sự tôn trọng và quan tâmcủa chủ thể mang quyền lực nhà nước với việc bảo vệ quyền con người, quyền dân sự

Bảy là, quyền dân sự có tính phổ biến Bởi lẽ quyền dân sự là những quyền tự

nhiên, vốn có Con người sinh ra đã mặc nhiên được hưởng nên tất cả cá nhân với tưcách là con người đều có quyền dân sự bởi vậy quyền dân sự có tính phổ biến Tínhphổ biến của quyền dân sự được thể hiện: quyền dân sự được áp dụng bình đẳng chomọi cá nhân, không phân biệt giới tính, tôn giáo, thành phần dân tộc, giai cấp, quốcgia, địa vị trong xã hội Tất cả mọi người đều được hưởng quyền như nhau trong tất

cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, mọi người đều bình đẳng khi bảo vệ cácquyền dân sự bị xâm phạm, mọi cá nhân vi phạm quyền con người đều bị xử lý Dù ởhoàn cảnh nào, trong hiện tại hay tương lai, quyền dân sự vẫn luôn được thừa nhận chotất cả mọi cá nhân và các cá nhân xứng đáng được tôn trọng như nhau, bình đẳng nhưnhau trong cách hưởng thụ quyền, được bảo vệ quyền

Tám là, quyền dân sự có tính đặc thù Việc quy định và bảo đảm thực thi các

quyền dân sự trên thực tế phụ thuộc vào thể chế chính trị, truyền thống văn hoá, điềukiện kinh tế, xã hội của một quốc gia, lãnh thổ nhất định nên nó mang nét đặc thù

1.2 Quyền dân sự theo các văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và trong pháp luật một số nước

1.2.1 Quy định về quyền dân sự trong pháp luật quốc tế

Bộ luật nhân quyền quốc tế về quyền con người là một tập hợp của ba văn bảnchính là Tuyên bố thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước về các quyền dân sự,chính trị năm 1966; Công ước về các quyền kinh tế-xã hội-văn hóa Bộ luật được xem

là khuôn mẫu chung mang tính toàn cầu về quyền con người, được nhiều quốc gia tôn

Trang 12

trọng và được xem là cơ sở để thể chế các quyền vào trong Hiến pháp nước mình Đốivới các quyền về dân sự, thì không thể không đề cập đến Tuyên ngôn thế giới về nhânquyền năm 1948 (UDHR), đặc biệt là Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm

1966 (ICCPR), được xem là văn kiện pháp lý có sự ghi nhận đầy đủ và có hệ thốngnhất

Theo “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” năm 1948 của Liên hợp quốcthì quyền dân sự được xem là những giá trị của tất cả mọi người mà các nhà nước phảitôn trọng, bảo vệ Quyền dân sự thực chất là quyền tự do cá nhân, gắn liền với mỗi cánhân và không thể chuyển giao cho người khác Và theo như ghi nhận tại UDHR vàchính thức được tái khẳng định và cụ thể hóa trong ICCPR bao gồm các quyền sau:

Thứ nhất là quyền sống: Điều 3 UDHR, Điều 6 ICCPR

Quyền sống là quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của tất cả mọi người, việc bảođảm quyền sống tạo cơ sở cho cá nhân hưởng các quyền khác Quyền này phải đượcbảo vệ bằng pháp luật và không được xâm phạm một cách tùy tiện Liên quan đến việcbảo đảm quyền sống là việc áp dụng hình phạt tử hình, phải tuân theo các điều kiệnchặt chẽ cả về nội dung lẫn quy định tố tụng, tuy Công ước không bắt buộc các quốcgia xóa bỏ án tử hình tuy nhiên khuyến khích các quốc gia hạn chế cũng như hướngđến xóa bỏ hình phạt này ra khỏi hệ thống pháp luật hình sự

Thứ hai là quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật: Điều 1, 2, 6, 7, 8 của UDHR và Điều 2, 3, 16 và 26 của ICCPR.

Trên phương diện pháp luật quốc tế, quyền này được coi như một trong cácnguyên tắc cơ bản của luật nhân quyền quốc tế, do đó, được đề cập trực tiếp hoặc giántiếp trong tất cả các văn kiện quốc tế về quyền con người Nó bao gồm ba khía cạnhliên kết với nhau đó là: (i) không phân biệt đối xử, (ii) được thừa nhận tư cách conngười trước pháp luật, và (iii) có vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luậtbảo vệ một cách bình đẳng

Quy định về quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 1, 2, 6, 7, 8 UDHR, sau

đó, được tái khẳng định trong các Điều 2, 3, 16 và 26 ICCPR, cụ thể như sau:

Về khía cạnh thứ nhất, Điều 1 UDHR nêu rõ, mọi người sinh ra đều được tự do

và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền Điều 2 UDHR quy định, mọi người đềuđược hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vềchủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểmkhác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác

Trang 13

Ngoài ra, Điều này cấm phân biệt đối xử dựa trên địa vị chính trị, pháp lý của quốc giahoặc lãnh thổ, bất kể là lãnh thổ độc lập, ủy trị, quản thác, chưa được tự quản hay đangphải chịu bất kỳ hạn chế nào khác về chủ quyền.

Hai điều kể trên của UDHR được nhắc lại và cụ thể hóa trong các Điều 2 và 3ICCPR Theo Điều 2 ICCPR, các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng vàbảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình cácquyền đã được công nhận trong Công ước mà không có bất kỳ sự phân biệt nào vềchủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểmkhác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác(Khoản 1) Các Khoản 2 và 3 Điều này đề cập nghĩa vụ của các quốc gia thanh viênphải tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thực hiện các quyền được công nhậntrong Công ước, và bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự donhư được công nhận trong Công ước đều nhận được các biện pháp khắc phục hiệu quả,cho dù sự xâm phạm này là do hành vi của những người thừa hành công vụ gây ra Điều 3 ICCPR tập trung vào khía cạnh bình đẳng giữa nam và nữ, theo đó, các quốcgia thành viên Công ước cam kết bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việcthực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị mà Công ước đã quy định

Về khía cạnh thứ hai, Điều 6 UDHR quy định, mọi người đều có quyền đượccông nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi Quy định này được táikhẳng định nguyên văn trong Điều 16 ICCPR

Về khía cạnh thứ ba, Điều 7 UDHR quy định, mọi người đều bình đẳng trướcpháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phânbiệt nào Điều 8 UDHR cụ thể hóa quy định ở Điều 7 khi nêu rằng, mọi người đều cóquyền được các tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu đểchống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hayluật pháp quy định

Điều 26 ICCPR tái khẳng định hai quy định kể trên của UDHR, đồng thời nêu

rõ, về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và bảo đảm chomọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử vềchủng tộc, mầu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểmkhác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vịkhác

Thứ ba là quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục: Điều 5 UDHR và Điều 7 ICCPR trong đó nêu rõ,

Trang 14

không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhânphẩm; không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có

sự đồng ý tự nguyện của người đó

Bên cạnh các quy định trên của UDHR và ICCPR, vấn đề chống tra tấn cònđược đề cập trong một số điều ước quốc tế khác về quyền con người, đặc biệt là Côngước về chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạthấp nhân phẩm (CAT)

Thứ tư là quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt làm nô lệ hay nô dịch: Điều 4

UDHR và Điều 8 ICCPR Xét nội dung, Điều 8 ICCPR bao trùm tất cả các tình huống

mà một người có thể bị buộc phải phụ thuộc vào người khác, kể cả trong những bốicảnh như mại dâm, buôn bán ma túy hoặc trong một số dạng lạm dụng tâm lý

Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề lao động cưỡng bức, Khoản 3 Điều 8 liệt kênhững trường hợp loại trừ

Thứ năm là quyền tự do và an ninh cá nhân: Điều 9 UDHR và Điều 9, 10, 11

ICCPR Trong quyền này đòi hỏi các cá nhân được bảo vệ không bị bắt hay giam giữtùy tiện, quyền được suy đoán vô tội, quyền được xét xử công bằng và công khai,quyền được đối xử nhân đạo và không bị áp dụng hồi tố, quyền được yêu cầu bồithường, quyền không bị bỏ tù chỉ vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng

Thứ sáu là quyền về tự do đi lại, cư trú: Điều 13 UDHR và Điều 12, 13

ICCPR Theo Điều 12 ICCPR thì bất cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốcgia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốcgia đó; mọi người đều có quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình;không ai bị tước đoạt một cách tùy tiện quyền được trở về nước mình (các Khoản 1, 2,4)

Điều 12 đã đề cập bốn dạng tự do cụ thể bao gồm: Tự do lựa chọn nơi sinh sốngtrên lãnh thổ quốc gia; Tự do đi lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; Tự do đi khỏi bất

kỳ nước nào, kể cả nước mình; Tự do trở về nước mình Tuy nhiên, theo Khoản 3 Điều

12, quyền tự do đi lại và cư trú không phải là một quyền tuyệt đối, mà có thể bị hạn chế

nếu “do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức

khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác và phải phù hợp với những quyền khác được ICCPR công nhận”.

Thứ bảy là quyền được bảo vệ đời tư: Điều 12 UDHR và Điều 17 ICCPR.

Quyền này yêu cầu không được can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời

Trang 15

sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và

uy tín của người khác Những quyền này của cá nhân được pháp luật bảo vệ

Thứ tám là quyền tự do chính kiến, niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo: Điều 18

UDHR và Điều 18, 20 ICCPR

Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mìnhlựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng vớinhững người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầunguyện, thực hành và truyền giảng Không ai bị ép buộc những điều tổn hại đến quyền

tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ (Khoản 1 và 2) Khoản 3Điều này quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có thể bị giới hạn song chỉ có thểbởi pháp luật và khi việc đó là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng,sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của ngườikhác Khoản 4 Điều này yêu cầu các quốc gia thành viên Công ước phải tôn trọngquyền tự do của các bậc cha mẹ hoặc những người giám hộ hợp pháp trong việc giáodục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họ

1.2.2 Quan điểm, khuyến nghị cụ thể của Ủy ban Công ước Liên hợp quốc

về từng quyền

Thứ nhất là quyền sống: Bảo đảm quyền sống ngoài khía cạnh nêu ở Điều 6

ICCPR, trong Bình luận chung số 6 thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 19823, Ủyban Công ước Liên hợp quốc (UNHRC) đã giải thích thêm một số khía cạnh liên quanđến ý nghĩa và nội dung của quyền sống:

Một là, quyền sống là “một quyền cơ bản của con người mà trong bất kỳ hoàn

cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp quốc gia, cũng không thể bị vi phạm…”

Hai là, quyền sống không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính

mạng mà phải hiểu quyền này bao gồm cả những khía cạnh nhằm bảo đảm sự tồn tạicủa con người Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm quyền sống còn đòi hỏi các quốcgia phải thực thi những biện pháp để làm giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em và tăng tuổi thọbình quân của người dân, cụ thể như các biện pháp xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng

và các dịch bệnh

3 Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Quyền con người Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, 2010, tr.254.

Trang 16

Ba là, một trong các nguy cơ phổ biến đe dọa quyền sống là chiến tranh và các

tội phạm nghiêm trọng như diệt chủng hay tội phạm chống nhân loại Vì vậy, bảo đảmhòa bình và chống các tội phạm này cũng chính là sự bảo đảm quyền sống Theo cáchtiếp cận này, việc bảo đảm quyền sống trong Điều 6 có liên hệ với nghĩa vụ trong luậtpháp các quốc gia cấm các hoạt động tuyên truyền chiến tranh và kích động hận thù,bạo lực nêu ở Điều 20 ICCPR

Bốn là, phòng chống những hành động tội phạm gây nguy hại hoặc tước đoạt

tính mạng con người cũng là biện pháp hết sức quan trọng để bảo đảm quyền sống Cácquốc gia thành viên cần tiến hành các biện pháp phòng chống và trừng trị việc tùy tiệntước đoạt tính mạng con người do bất kỳ chủ thể nào gây ra, kể cả do các lực lượng anninh của Nhà nước (đoạn 3) Liên quan đến vấn đề này, việc bắt cóc người và đưa đimất tích cũng bị coi là một trong những hình thức tước đoạt quyền sống, do đó, cácquốc gia thành viên có nghĩa vụ đưa ra những biện pháp và kế hoạch hiệu quả đểphòng chống và điều tra các vụ việc như vậy

Năm là, về mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và quyền sống, mặc dù ICCPR

không bắt buộc các quốc gia thành viên phải xóa bỏ hình phạt này, tuy nhiên, các quốcgia có nghĩa vụ phải hạn chế sử dụng nó, cụ thể là chỉ được áp dụng hình phạt này với

“những tội ác nghiêm trọng nhất”, và việc giới hạn áp dụng hình phạt này cũng đượccoi là một hình thức bảo đảm quyền sống Ngoài ra, các quốc gia thành viên mà hiệncòn áp dụng hình phạt tử hình có nghĩa vụ bảo đảm những thủ tục tố tụng trong vụ việc

bị can, bị cáo bị xét xử với mức án tử hình phải được thực hiện một cách công bằngnhất, bao gồm: không áp dụng hồi tố, xét xử công khai, được giả định vô tội, bảo đảmcác quyền bào chữa, kháng cáo và xin ân giảm,…

Ngoài Bình luận chung số 6, UNHRC còn thông qua Bình luận chung số 14(phiên họp lần thứ 23 năm 1984)4 trong đó, tái khẳng định tầm quan trọng của quyềnsống, coi đó là cơ sở cho tất cả các quyền con người, đồng thời nhắc lại yêu cầu phảithực hiện Điều 6 của ICCPR trong mọi hoàn cảnh

Thứ hai là quyền được đối xử bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trước pháp luật

4 Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Quyền con người Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, 2010, tr.267.

Trang 17

Bình luận chung số 18 tại phiên họp thứ 37 năm 19895 khẳng định không phânbiệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng màkhông có bất kỳ sự phân biệt nào là quy định tạo nên cơ sở và nguyên tắc chung trongviệc bảo vệ quyền con người, được hiểu dưới các khía cạnh sau:

Một là, nguyên tắc không phân biệt đối xử mang tính cơ bản đến mức Điều 3

quy định trách nhiệm của các quốc gia trong việc đảm bảo quyền bình đẳng trong việchưởng thụ các quyền trong Công ước Ngay cả trong trường hợp các quốc gia thực hiệncác biện pháp để tạm ngừng thực hiện một số trách nhiệm trong bối cảnh khẩn cấp củaquốc gia thì Điều này cũng yêu cầu các biện pháp đó phải không được mang tính chấtphân biệt đối xử về các yếu tố như chủng tộc, màu da,…Hơn nữa, khoản 2 Điều 20giao trách nhiệm cho các quốc gia nghiêm cấm bằng pháp luật bất cứ hành vi nào tuyêntruyền cho hận thù về dân tộc, chủng tộc hay tôn giáo mà kích động phân biệt đối xử

Hai là, nguyên tắc này được diễn đạt đến các quyền cụ thể như quyền bình đẳng

trước Tòa án và cơ quan tài phán, quyền tham gia bình đẳng vào đời sống cộng đồngcủa tất cả công dân mà không có bất kỳ sự phân biệt nào

Ba là, các quốc gia phải tự quyết định những biện pháp phù hợp để thực hiện

đầu đủ các điều khoản kể trên

Bốn là, Uỷ ban lưu ý các quốc gia để tâm đến một thực tế là Công ước yêu cầu

các quốc gia thực hiện các biện pháp để bảo đảm các quyền bình đẳng của nhữngngười liên quan Ví dụ khoản 4 Điều 23 quy định rằng các quốc gia phải thực hiện cácbiện pháp thích hợp để đản bảo sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các quyền cũng nhưthực thi trách nhiệm của vợ chồng khi kết hôn, trong suốt đời sống vợ chồng và khi lyhôn Những biện pháp khác có thể dưới hình thức lập pháp, hành pháp hoặc các hìnhthức khác, nhưng đây phải là một nhiệm vụ chủ động của quốc gia để bảo đảm chắcchắn rằng vợ chồng có quyền bình đẳng Về vấn đề trẻ em , Điều 24 quy định rằng tất

cả trẻ em không chịu bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, đều có cácquyền và được bảo vệ các quyền trẻ em do vị thế chưa thành niên của trẻ

5 Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Quyền con người Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, 2010, tr.280.

Trang 18

Năm là, việc hưởng thụ các quyền và tự do trên cơ sở bình đẳng không có nghĩa

là chỉ có một kiểu đối xử cho mọi tình huống Ví dụ: Nghiêm cấm áp dụng hình phạt tửhình cho người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai

Sáu là, yêu cầu các quốc gia thực hiện những hành động dứt khoát nhằm giảm

bớt hay xoá bỏ những yếu tố là nguyên nhân tạo ra sự phân biệt đối xử bị nghiêm cấm

Ví dụ trong một quốc gia nơi mà những điều kiện chung của một bộ phận dân cư nhấtđịnh ngăn cản họ hay làm ảnh hưởng tới việc được hưởng quyền con người của họ, thìquốc gia thành viên phải thực hiện những hành động cụ thể để chấn chỉnh những điềukiện trên Những điều kiện như vậy có thể bao gồm cả sự ưu đãi được áp dụng với mộtcộng đồng cụ thể trong một thời gian nhất định

Bảy là, các quốc gia khi ban hành pháp luật thì phải tuân thủ các yêu cầu của

Điều 26 rằng nội dung của văn bản pháp luật phải không mang tính chất phân biệt đối

xử Nói cách khác việc áp dụng việc áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử chứađựng trong Điều 26 không chỉ giới hạn trong các quyền đã được quy định trong Côngước

Tám là, không phải mọi sự khác biệt về đối xử đều tạo nên sự phân biệt đối xử.

Nếu tiêu chuẩn cho sự đối xử khác biệt là hợp lý và khách quan nhằm mục đích xoá bỏ

sự phân biệt đối xử trên thực tế thì nó được coi là hành động hợp pháp theo Công ước

Thứ ba là quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục:

Bên cạnh những khía cạnh đã được nêu cụ thể, một số khía cạnh khác liên quanđến nội dung Điều 7 ICCPR đã được UNHRC phân tích, đầu tiên là trong Bình luậnchung số 7 (thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982 của Ủy ban)6 và sau đó đượcsửa đổi và bổ sung trong Bình luận chung số 20 (thông qua tại phiên họp lần thứ 44năm 1992 của Ủy ban)7

6 Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Quyền con người Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, 2010, tr.257.

7 Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Quyền con người Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, 2010, tr.287.

Trang 19

Một là, mục đích của Điều 7 ICCPR là bảo vệ cả hai yếu tố: phẩm giá và sự

toàn vẹn về thể chất và tinh thần của cá nhân Các quốc gia có trách nhiệm thông quacác biện pháp lập pháp và các biện pháp khác nếu cần thiết để bảo vệ mọi người chốnglại những hành động bị nghiêm cấm trong Điều 7, bất kể những hành động đó donhững người có tư cách chính thức hay không chính thức thực hiện, hoặc do nhữngngười thực hiện vì động cơ cá nhân

Hai là, không cho phép bất cứ sự giới hạn nào với các quyền được quy định

trong Điều 7 Các quốc gia không được phép tạm ngừng việc bảo đảm các yêu cầu củaĐiều 7

Ba là, sự ngăn cấm quy định ở Điều 7 không chỉ liên quan đến những hành động

gây đau đớn về thể xác mà còn cả những hành động gây đau khổ về mặt tinh thần củanạn nhân

Bốn là, việc kéo dài thời gian biệt giam hay bỏ tù một người có thể cấu thành

những hành động bị cấm trong Điều 7 Việc áp dụng hình phạt tử hình theo những cáchthức làm giảm đến tối thiểu sự đau đớn về mặt thể xác và tinh thần của tử tù

Năm là, các quốc gia không được đặt các cá nhân vào nguy cơ bị tra tấn, bị đối

xử và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và hạ nhục bằng cách trục xuất hay dẫn độ họsang một nước mà họ có thể phải chịu những hành động như vậy

Sáu là, các quốc gia phải thông báo cho Uỷ ban về việc hướng dẫn, đào tạo và

cách thức nghiêm cấm những hành vi theo Điều 7 mà liên quan đến các quy tắc đạođức nghề nghiệp của cán bộ thi hành án, cán bộ y tế, nhân viên cảnh sát và bất kỳngười nào khác liên quan bắt giam và đối xử với bất kỳ cá nhân nào

Bảy là, cần rà soát một cách hệ thống các quy định, hướng dẫn, phương pháp và

thông lệ thẩm vấn cũng như sự giam giữ và đối xử với những đối tượng bị bắt, tạmgiam, hoặc bị bỏ tù là một cách thức hiệu quả để ngăn chặn các hành động tra tấn, đối

xử và trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo và hạ nhục Các quốc gia cần có những quy địnhbảo đảm rằng những người bị giam giữ được giam giữ ở những địa điểm được đăng kýchính thức, và họ phải được đăng ký tên và địa điểm giam giữ, cũng như tên ngườichịu trách nhiệm với việc giam giữ họ; những thông tin đó phải được cung cấp chonhững người liên quan, kể cả họ hàng và bạn bè của họ Phải quy định nghiêm cấm

Trang 20

việc giam giữ biệt lập Các quốc gia cần bảo đảm rằng nơi giam giữ không được cónhững phương tiện được sử dụng để tra tấn hoặc đối xử tàn bạo Việc bảo vệ nhữngngười bị giam giữ còn đòi hỏi cho phép bác sĩ và luật sư cũng như người nhà họ đượctới thăm với sự giám sát hợp lý.

Tám là, luật pháp phải nghiêm cấm việc mớm cung hoặc ép cung bằng tra tấn

hoặc các phương pháp bị nghiêm cấm khác

Chín là, khiếu nại về việc bị đối xử tàn bạo theo Điều 7 phải được pháp luật

quốc gia công nhận Khiếu nại phải được điều tra nhanh chóng và toàn diện bởi cơquan chức năng để có biện pháp khắc phục hiệu quả Các quốc gia cũng cần có biệnpháp đền bù hợp lý cho các nạn nhân

Mười là, các quốc gia phải chỉ rõ quy định trong luật hình sự nước mình liên

quan đến xử lý những hành vi tra tấn, đối xử và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và hạnhục, cho dù người thực hiện là nhân viên công quyền, những người đại diện cho nhànước hoặc bất kỳ cá nhân nào Các quốc gia cũng phải báo cáo về các biện pháp lậppháp, hành pháp, tư pháp và các biện pháp khác đã được thực hiện nhằm ngăn chặn vàtrừng phạt những hành động tra tấn, đối xử và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo hoặc hạnhục trên lãnh thổ thuộc thẩm quyền tài phán của mình

Mười một là, nghiêm cấm việc làm thí nghiệm y học hay khoa học trên con

người mà không có sự chấp thuận tự nguyện của người đó

Thứ tư là quyền tự do và an ninh cá nhân:

Tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982 đã thông qua Bình luận chung số 88 vềquyền tự do và an ninh cá nhân giải thích về một số khía cạnh của quyền này:

Một là, Uỷ ban cho rằng khoản 1 Điều 9 được áp dụng cho tất cả những người

bị tước đoạt tự do, kể cả trong các trường hợp phạm tội hay các trường hợp khác nhưtâm thần, lang thang, nghiện ma túy, bị tước tự do vì các mục đích giáo dục, kiểm soátnhập cư,… thực tế là một số quy định của Điều 4 (một phần của khoản 2 và toàn bộkhoản 3 ) thường chỉ được áp dụng cho những người bị buộc tội Những quy định cònlại, và cụ thể là sự đảm bảo quan trọng trong khoản 4, nghĩa là quyền được giám sát

8Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Quyền con người Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, 2010, tr.258.

Trang 21

bởi tòa án về tính hợp pháp của việc giam giữ, được áp dụng cho những người bị tước

tự do bị bắt và giam giữ Thêm vào đó, theo khoản 2 Điều 3, các quốc gia cũng phảithực hiện những biện pháp thích hợp để giải quyết những trường hợp mà một cá nhân

tố cáo là mình bị tước tự do quy định trong Công ước

Hai là, khoản 3, Điều 9 đòi hỏi trong các trường hợp phạm tội, bất kỳ người nào

bị bắt hay tạm giữ cũng phải được xem xét “ngay tức khắc” bởi một thẩm phán hoặcmột quan chức khác có thẩm quyền thực hiện quyền lực tư pháp Thời hạn cho việc nàyđược quy định tùy theo pháp luật của các quốc gia nhưng theo quan điểm của Uỷ ban,không nên chậm quá vài ngày Nhiều quốc gia đưa ra thông tin không đầy đủ về vấn đềnày trong báo cáo của nước mình

Ba là, tổng thời gian bị tạm giam Trong một số trường hợp cụ thể ở một số

nước, vấn đề này đã gây nhiều quan tâm đối với Uỷ ban, và các thành viên Uỷ ban đãchất vấn ở quốc gia báo cáo về tính phù hợp với quyền “được xét xử trong thời gianhợp lý hoặc trả tự do” theo khoản 3 Điều 9 Việc tạm giam trước khi xét xử chỉ nên coi

là ngoại lệ và càng ngắn càng tốt Uỷ ban hoan nghênh các quốc gia đã cung cấp thôngtin liên quan đến các cơ chế hiện có và các biện pháp đã được áp dụng nhằm làm giảmthời gian tạm giam

Bốn là, nếu việc giam giữ mang tính ngăn chặn được áp dụng vì các lý do an

toàn công cộng, nó không phải được mang tính chất tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở vàthủ tục được pháp luật quy định (khoản 1), cần nêu các lý do phải áp dụng các biệnpháp đó (khoản 2), và tòa án giám sát việc giam giữ phải có thông tin đó (khoản 4)cũng như phải bồi thường cho nạn nhân trong trường hợp quy định này bị vi phạm(khoản 5) Thêm vào đó, nếu có những cáo buộc phạm tội được đưa ra trong các trườnghợp như vậy thì Quốc gia cần phải thực hiện những bảo đảm tố tụng một cách đầy đủtheo quy định ở các Điều 9 (2, 3) và Điều 14

Thứ năm là quyền về tự do đi lại và cư trú:

Trang 22

Về Điều 12 ICCPR, bên cạnh những khía cạnh đã được nêu cụ thể ở trên, trongBình luận chung số 27 thông qua tại phiên họp lần thứ 67 (1999)9, UNHRC đã phântích thêm một số nội dung của quyền này như sau:

Một là, tự do đi lại là điều kiện không thể thiếu đối với sự phát triển tự do của

cá nhân Quyền này có ảnh hưởng đến một số quyền khác được ghi nhận trong ICCPR

và có mối liên hệ chặt chẽ với Điều 13 (đoạn 1)

Hai là, các quốc gia có thể đặt ra những giới hạn nhất định về quyền tự do đi lại,

tuy nhiên, những giới hạn đặt ra không được làm vô hiệu nguyên tắc tự đo đi lại vàphải dựa trên những căn cứ quy định trong Khoản 3 Điều 12 và phải phù hợp với cácquyền khác được ICCPR công nhận (đoạn 2)

Ba là, quyền này không chỉ được áp dụng với các công dân mà còn với người

nước ngoài đang cư trú hoặc hiện diện hợp pháp trên lãnh thổ nước khác Việc chophép nhập cảnh và tư cách “hợp pháp” của một người nước ngoài trên lãnh thổ của mộtnước phụ thuộc vào quy định pháp luật quốc gia và phù hợp với những nghĩa vụ quốc

tế của nước đó Tuy nhiên, khi một người nước ngoài đã được phép nhập cảnh vào lãnhthổ một nước thành viên thì người đó phải được coi là hợp pháp trong phạm vi lãnh thổcủa nước này

Bốn là, quyền tự do đi lại được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ của một nước, kể

cả những phần hợp thành trong trường hợp một quốc gia theo thể chế liên bang (đoạn5)

Năm là, việc bảo đảm quyền đi lại và tự do lựa chọn nơi sinh sống trong phạm

vi lãnh thổ của quốc gia không phụ thuộc vào mục đích hay lý do của việc đi lại haycủa việc lựa chọn nơi cư trú Bất cứ sự hạn chế nào với quyền này phải căn cứ vào quyđịnh trong Khoản 3 Điều 12 (đoạn 5)

Sáu là, cần bảo vệ các quyền quy định trong Điều 12 khỏi sự vi phạm không chỉ

từ phía các cơ quan, viên chức nhà nước, mà còn từ các chủ thể khác (đoạn 6)

Bảy là, quyền tự do cư trú còn bao hàm sự bảo vệ khỏi tình trạng bị bắt buộc di

dời chỗ ở trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, cũng như khỏi bị ngăn cấm không được đến

9Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Quyền con người Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, 2010, tr.322.

Trang 23

hoặc sinh sống ở một khu vực nhất định trên lãnh thổ quốc gia, ngoại trừ những trườnghợp nêu ở khoản 3 Điều 12 (đoạn 7).

Tám là, quyền tự do đi khỏi bất cứ nước nào, kể cả nước mình được áp dụng

không phụ thuộc vào nước đến và mục đích, thời gian mà cá nhân dự định ở lại ngoàinước mình Bởi vậy, quyền này bao hàm cả quyền đi ra nước ngoài để làm việc, thamquan cũng như để cư trú lâu dài Quyền này áp dụng cả cho những người nước ngoàisống hợp pháp trên lãnh thổ của một nước khác, vì vậy, một người nước ngoài bị trụcxuất hợp pháp có quyền được lựa chọn nước đến nếu có sự đồng ý của nước đó (đoạn8)

Chín là, cả nước mà một người sẽ đến cư trú và nước người đó có quốc tịch đều

có trách nhiệm bảo đảm quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào nêu ở khoản 2 Điều 12

Do việc đi lại giữa các nước thường đòi hỏi những giấy tờ thông hành như hộchiếu nên quyền được đi khỏi một nước phải bao hàm cả quyền có được những giấy

tờ thông hành cần thiết Việc từ chối cấp hoặc gia hạn hộ chiếu cho một người có thểtước đoạt của người đó quyền được rời khỏi nước mà họ đang sinh sống để đi nơi khác,bao gồm quyền được trở về nước mình (đoạn 9)

Mười là, những hạn chế quy định trong Khoản 3 Điều 12 chỉ được thực hiện

nhằm các mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng hay đạo đức xã hội vàcác quyền và tự do của người khác và phải phù hợp quy định trong pháp luật Khi đặt

ra những hạn chế về quyền này trong pháp luật, các quốc gia thành viên phải tuân thủnguyên tắc nêu ở Điều 5 ICCPR, theo đó, các hạn chế đưa ra phải không làm tổn hạiđến bản chất của các quyền; phải có sự tương thích giữa sự hạn chế và quyền có liênquan, giữa quy phạm và loại trừ; những hạn chế phải tương xứng với lợi ích được bảo

vệ và nguyên tắc tương xứng này cần được tuân thủ bởi các cơ quan lập pháp lẫn các

cơ quan tư pháp và hành chính (các đoạn 11-15)

Những hạn chế được coi là không thích đáng với quy định ở Điều 12 ICCPRbao gồm: (i) Không cho phép một người ra nước ngoài vì cho rằng người này nắm giữ

“các bí mật của nhà nước”; (ii) Ngăn cản một cá nhân đi lại trong nước với lý do không

có giấy phép cụ thể, (iii) Đòi hỏi một cá nhân phải xin phép và được chấp nhận của cơquan có thẩm quyền mới được thay đổi nơi cư trú; (iv) Những đòi hỏi đặc biệt với một

cá nhân để có thể được cấp hộ chiếu; (v) Đòi hỏi phải có bảo lãnh từ những thành viên

Trang 24

khác trong gia đình mới được xuất cảnh; (vi) Đòi hỏi phải mô tả chính xác về lộ trình

đi lại; (vii) Trì hoãn trong việc cấp các giấy tờ đi lại; (viii) Áp đặt những hạn chế đốivới các thành viên gia đình trong việc đi lại với nhau; (ix) Đòi hỏi phải cam kết trở lạihoặc phải mua vé khứ hồi, về việc có giấy mời từ nước đến hoặc từ người thân đangsống ở đó; (x) Gây ra những phiền nhiễu với người nộp đơn xin xuất cảnh, ví dụ như

sự đe dọa xâm hại thân thể, bắt giữ, khiến họ mất việc làm hay không cho con cái họđược đi học; (xi) Từ chối cấp hộ chiếu vì cho rằng người nộp đơn gây hại cho thanhdanh của đất nước (các đoạn 16-17)

Tuy nhiên, kể cả khi những hạn chế đưa ra được coi là thích đáng thì vẫn cònmột khía cạnh khác nữa phải tuân thủ, là áp dụng những hạn chế đó phải phù hợp vớinhững nguyên tắc được ghi nhận trong ICCPR và với những nguyên tắc cơ bản về bìnhđẳng và không phân biệt đối xử Bởi vậy, sẽ bị coi là vi phạm Công ước nếu việc hạnchế xuất phát từ sự phân biệt đối xử về chủng tộc, giới tính, sắc tộc, ngôn ngữ, tôngiáo, chính kiến hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, sở hữu, nguồn gốcxuất thân hay địa vị khác

Mười một là, quyền trở lại đất nước mình không chỉ là quyền của một người

được trở lại sau khi rời đất nước mà còn là quyền của một người có quốc tịch nước đónhưng sinh ra ở nước ngoài và lần đầu tiên trở về nước mà mình mang quốc tịch (đoạn19) Nó cũng hàm ý về quyền của một người được ở lại nước mình và cấm việc di dânbắt buộc hoặc cưỡng chế đến các nước khác (đoạn 19) Nó cũng hàm ý về quyền củamột người được ở lại nước mình và cấm việc di dân bắt buộc hoặc cưỡng chế ngườidân đến các nước khác (đoạn 19) Về chủ thể của quyền, do đại từ nhân xưng dùngtrong khoản 4 Điều 12 là không ai và cụm từ nước mình sử dụng trong khoản 4 Điều

12 (mà có nội hàm rộng hơn so với cụm từ nước mình mang quốc tịch) nên chủ thể củaquyền này không chỉ giới hạn ở những người có quốc tịch của một quốc gia mà baogồm cả những người mà có mối quan hệ đặc biệt với quốc gia đó

Điều 13 ICCPR đề cập cụ thể tới quyền tự do đi lại, cư trú trong mối quan hệvới người nước ngoài, theo đó, một người nước ngoài cư trú hợp pháp trên lãnh thổmột quốc gia thành viên Công ước chỉ có thể bị trục xuất khỏi nước đó theo quyết địnhphù hợp pháp luật và trừ trường hợp có yêu cầu khác xuất phát từ lý do chính đáng về

an ninh quốc gia; người bị trục xuất có quyền phản đối việc trục xuất và yêu cầu nhàchức trách có thẩm quyền, hoặc một người hoặc những người mà nhà chức trách có

Trang 25

thẩm quyền đặc biệt cử ra, xem xét lại trường hợp của mình, cũng như có quyền có đạidiện khi trường hợp của mình được xem xét lại.

Về nội dung Điều 13 ICCPR, trong Bình luận chung số 15 thông qua tại phiênhọp thứ 27 năm 1986, UNHRC đã làm rõ thêm một số khía cạnh, có thể tóm tắt nhữngđiểm quan trọng như sau:

Một là, các quyền trong ICCPR được áp dụng cho tất cả các cá nhân đang ở

trong lãnh thổ và dưới quyền tài phán của các quốc gia, như đã được nêu rõ trongkhoản 1 Điều 2 của Công ước Như vậy, chủ thể của các quyền trong ICCPR là tất cảmọi người, bất kể công dân hay người nước ngoài (đoạn 1) Quy tắc chung ở đây là cácquyền trong ICCPR, ngoại trừ một số quyền chỉ được áp dụng cho công dân (Điều 25),hoặc chỉ áp dụng cho người nước ngoài (Điều 13), còn lại đều phải được bảo đảm chotất cả mọi người mà không có sự phân biệt về vị thế công dân và người nước ngoài(đoạn 2)

Hai là, ICCPR không quy định quyền nhập cảnh hay cư trú của người nước

ngoài trên lãnh thổ nước khác Về nguyên tắc, đây là vấn đề thuộc quyền quyết địnhcủa các quốc gia thành viên Tuy nhiên, trong một số hoàn cảnh nhất định, một ngườinước ngoài có thể nhận được sự bảo vệ của ICCPR, kể cả liên quan đến hai vấn đềnhập cảnh và cư trú, ví dụ nếu họ phân biệt đối xử, bị đối xử vô nhân đạo và để hòanhập gia đình (đoạn 5)

Ba là, các quốc gia thành viên có thể đưa ra những điều kiện chung nhất định, ví

dụ như về đi lại, cư trú và làm việc với người nước ngoài khi chấp nhận cho họ nhậpcảnh Những điều kiện chung tương tự cũng có thể được áp đặt với những người nướcngoài quá cảnh Tuy nhiên, khi đã cho người nước ngoài nhập cảnh vào lãnh thổ củamình, quốc gia liên quan phải bảo đảm các quyền của họ theo quy định trong ICCPR(đoạn 6) Cụ thể, người nước ngoài trên lãnh thổ nước khác có quyền cố hữu là đượcsống; quyền được pháp luật bảo vệ; quyền không bị tra tấn, phân biệt đối xử hay trừngphạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục; quyền không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch;quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng; quyền tự do đi lại,

cư trú, tự do rời khỏi đất nước; quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật;quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng; quyềnđược xét xử công bằng, công khai bởi một tòa án độc lập, vô tư, được thành lập theo

Trang 26

pháp luật; quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm khi bị tước tự do;quyền được bảo vệ khỏi bị can thiệp tùy tiện vào đời tư, gia đình, con cái, người thân;quyền tự do chính kiến, niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo, quyền kết hôn lập gia đình; cácquyền dành cho người thiểu số Các quốc gia thành viên không được phân biệt đối xửgiữa công dân nước mình và người nước ngoài trong việc thực hiện các quyền đã nêu.Những quyền này chỉ có thể bị giới hạn với người nước ngoài dựa trên những quy định

có liên quan trong ICCPR (đoạn 7)

Bốn là, khi một người nước ngoài được cho phép cư trú hợp pháp ở một quốc

gia thì người đó có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ quốc gia đó và nhữngquyền này của họ chỉ có thể bị hạn chế theo khoản 3 Điều 12 Những quy định khácbiệt về việc áp dụng quyền này giữa công dân và người nước ngoài, hoặc giữa nhữngngười nước ngoài thuộc các quốc tịch khác nhau cần phải dựa trên quy định ở khoản 3Điều 12 Do bất cứ sự hạn chế nào với các quyền này phải được xem xét trong mốitương quan với các quyền khác trong ICCPR, nên một quốc gia thành viên không thểtùy ý ngăn cản một người nước ngoài trở về nước mình bằng cách không cho anh tanhập cảnh hoặc trục xuất anh ta tới một nước khác (đoạn 8)

Năm là, Điều 13 ICCPR chỉ áp dụng cho những người nước ngoài cư trú hợp

pháp trên lãnh thổ một quốc gia chứ không áp dụng cho những người nước ngoài có tưcách không hợp pháp Nếu việc trục xuất người nước ngoài gắn với việc bắt giữ thì họcòn được hưởng các bảo đảm quy định ở các Điều 9 và 10 ICCCPR Trong trường hợpviệc bắt giữ là để dẫn độ thì còn phải áp dụng các quy định khác có liên quan đến vấn

đề dẫn độ trong luật pháp quốc gia và quốc tế (đoạn 9) Quy định của Điều 13 rằngviệc trục xuất phải bằng “quyết định phù hợp pháp luật” và quyền của người bị trụcxuất được “đệ trình những lý lẽ phản đối , được yêu cầu xem xét lại trường hợp củamình ” là nhằm để ngăn chặn các hành động trục xuất tùy tiện, trục xuất hàng loạt màkhông xuất phát từ lý do chính đáng về an ninh quốc gia như nêu ở Điều này Thêmvào đó, không phân biệt đối xử giữa những người nước ngoài khác nhau khi áp dụngĐiều 13 (đoạn 9)

Thứ sáu là quyền được bảo vệ đời tư:

Trang 27

Tại phiên họp thứ 32 năm 1988 đã thông qua Bình luận chung số 1610 về Quyền

về sự riêng tư trong đó đưa ra các khía cạnh cụ thể của quyền như sau:

Một là, theo Uỷ ban cần thiết phải có quyền này để đảm bảo chống lại những

xâm phạm, cho dù những sự xâm phạm này do quan chức nhà nước hay bất kỳ thểnhân và pháp nhân nào gây ra

Hai là, các quốc gia chưa có sự chú ý đúng mức đến thực tế là Điều 17 đề cập

đến việc bảo vệ khỏi sự can thiệp bất hợp pháp và tùy tiện Điều đó có nghĩa là trướctiên, các quốc gia cần có những quy định pháp luật để bảo vệ quyền đã được đưa ratrong điều này Thuật ngữ “bất hợp pháp” có nghĩa là không một sự can thiệp nào vềđời tư có thể được chấp nhận trừ những trường hợp được quy định bằng luật pháp Việccan thiệp chỉ được các quốc gia thành viên cho phép trên nền tảng luật pháp, và những

sự cho phép đó phải tuân thủ các quy định và mục đích của Công ước Cụm từ “canthiệp tùy tiện” cũng liên quan đến việc bảo vệ quyền quy định ở Điều 17 Theo quanđiểm của Uỷ ban, cụm từ này cũng có thể sử dụng kể cả trong trường hợp “sự canthiệp” được quy định theo luật Điều này cũng có nghĩa là sự can thiệp được quy địnhbằng luật pháp cũng phải tuân theo các quy định và mục đích của Công ước, và trongbất kỳ trường hợp nào, kể cả trong những tình huống đặc biệt, cũng phải hợp lý

Ba là, việc bảo vệ bí mật riêng tư chỉ mang tính chất tương đối Các nhà chức

trách chỉ có quyền thu thập khi cần bảo đảm lợi ích cộng đồng được quy định trongCông ước và phải chỉ ra chi tiết những hoàn cảnh nào thì sự can thiệp được cho phép

Bốn là, thư từ phải được giao tới tay người nhận mà không bị chặn lại và bị mở

ra, hay nói khác đi là bị đọc trước Việc theo dõi dù bằng phương tiện điện tử haynhững cách thức khác như chặn sóng để nghe trộm điện thoại, điện tín đều bị nghiêmcấm Việc điều tra về gia đình của một người phải được giới hạn, chỉ được thực hiệnkhi cần có chứng cứ cần thiết và không được phép quấy rối quá nhiều Việc điều tra vềđời tư và khám xét thân thể phải đảm bảo thực hiện bằng những cách thức phù hợp vớiphẩm giá của người bị điều tra Việc khám xét cơ thể bởi các nhân viên nhà nước haynhân viên y tế chỉ tiến hành khi nhân viên đó hành động theo yêu cầu của nhà nước vàchỉ được thực hiện bởi người có cùng giới tính

10 Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Quyền con người Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên Hợp Quốc, NXB Công an nhân dân, 2010, tr.273.

Trang 28

Năm là, việc thu thập và lưu trữ những thông tin cá nhân trên máy tính, các

ngân hàng dữ liệu và các thiết bị khác, cho dù là bởi các nhân viên nhà nước, các cánhân hoạt động trong các lĩnh vực tư nhân hay các cơ quan đều phải do luật pháp quyđịnh Các chính phủ phải áp dụng những cách thức hiệu quả để bảo đảm rằng nhữngthông tin về đời tư của một người không lọt vào tay những người không được pháp luậtcho phép xử lý và sử dụng và không bao giờ được sử dụng cho mục đích trái với Côngước Để đảm bảo sự bảo vệ đời tư hiệu quả nhất, mỗi cá nhân cần có quyền được biếtnhững thông tin về bản thân mình được lưu trữ ở đâu, và cho những mục đích gì Mỗi

cá nhân cũng cần có khả năng xác định được tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thuthập và quản lý những dữ liệu về bản thân mình Nếu như hồ sơ lưu trữ không đúngthông tin cá nhân hay đã được thu thập hay xử lý trái với quy định pháp luật, mỗi cánhân phải có quyền yêu cầu điều chỉnh và xóa bỏ những thông tin sai lệch

Thứ bảy là quyền được tự do chính kiến, niềm tin, tự do tín ngưỡng, tôn giáo:

Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 18 ICCPR sau đó được UNHRClàm rõ thêm trong Bình luận chung số 22 thông qua tại phiên họp lần thứ 48 năm 1993của Ủy ban, mà có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:

Một là, quyền tự do chính kiến, niềm tin, lương tâm và tôn giáo có tính bao quát

và sâu sắc Nó bao gồm quyền tự do suy nghĩ về tất cả các vấn đề, tự do tin tưởng vàgiữ niềm tin vào các tôn giáo hay tín ngưỡng, cả trên phương diện cá nhân hay tập thể.Các quyền tự do này phải được tôn trọng và không bị hạn chế hay tước bỏ trong mọihoàn cảnh, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia như nêu ở Điều 4 của ICCPR(đoạn 1)

Hai là, các khái niệm “tín ngưỡng” và “tôn giáo” trong Điều 18 ICCPR cần

dược hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những lòng tin hữu thần và vô thần Điều nàykhông chỉ được áp dụng với các tôn giáo, tín ngưỡng có tính thể chế mà còn với nhữngtập tục truyền thống mang tính tôn giáo (đoạn 2)

Ba là, Điều 18 phân biệt giữa quyền tự do chính kiến, niềm tin, lương tâm, tôn

giáo hoặc tín ngưỡng với tự do thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng

Trang 29

Điều này không cho phép có bất kỳ sự giới hạn nào với quyền tự do chính kiến,niềm tin, lương tâm và quyền tự do tin hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng Những

tự do này phải được bảo vệ không điều kiện (đoạn 3)

Quyền tự do thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng có thể được thực thi với tư cách

cá nhân hay cùng với cộng đồng, ở nơi công cộng hay chỗ riêng tư; thể hiện ở các hànhđộng như thờ cúng, tham gia những lễ hội tôn giáo, quan sát thực hành và giảng dạy vềtôn giáo Khái niệm thờ cùng bao gồm những hoạt động lễ nghi, kỷ niệm, xây dựngnhững nơi thờ tự, sử dụng hay trưng bày các vật dụng và biểu tượng nghi lễ, tham giacác lễ hội và các ngày nghỉ lễ tôn giáo Việc quan sát và thực hành tôn giáo không chỉbao gồm các hoạt động nghỉ lễ, mà còn bao gồm việc tuân thủ các nguyên tắc về ănkiêng, trang phục, sự dụng ngôn ngữ đặc biệt, lựa chon lãnh đạo tôn giáo, tăng lữ,người thầy tâm linh, thành lập các trường tôn giáo, biên soạn và phân phát các tài liệutôn giáo (đoạn 4)

Bốn là, quyền tin hoặc theo một tôn giáo hay tín ngưỡng bao gồm quyền tự do

lựa chọn một tôn giáo hay tín ngưỡng để tin hoặc theo, kể cả việc thay đổi niềm tin từtôn giáo, tín ngưỡng này sang tôn giáo, tín ngưỡng khác, hay thay đổi niềm tin từ vôthần sang hữu thần và từ hữu thần sang vô thần Khoản 2 Điều 18 cấm cưỡng ép tin,theo bỏ hay thay đổi tôn giáo, tín ngưỡng, kể cả bằng những chính sách hay tập quánnhằm gây sức ép để đạt mục đích đó như hạn chế sự tiếp cận với các dịch vụ giáo dục,

y tế, việc làm hoặc hạn chế các quyền quy định trong Điều 25 và các Điều khác củaICCPR (đoạn 5)

Năm là, các trường công lập có thể giảng dạy những môn học như lịch sử đại

cương của các tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là nội dung cần trung lập và khách quan.Việc các trường công lập giảng dạy giáo lý của một tôn giáo hay nội dung một tínngưỡng nhất định là trái với quy định trong Khoản 4 Điều 18, trừ phi việc giảng dạynhư vậy là do ý nguyện và thuộc vào quyền quyết định của các bậc cha mẹ (đoạn 6)

Sáu là, nghiêm cấm các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng có mục đích hoặc tính

chất tuyên truyền cho chiến tranh hoặc hận thù, chia rẽ dân tộc, tôn giáo hay kích động

sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch hoặc bạo lực như đã nêu ở Điều 20ICCPR Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ sử dung pháp luật để ngăn chặn nhữnghoạt động đó (đoạn 7)

Trang 30

Bảy là, Khoản 3 Điều 18 cho phép hạn chế quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng

trong trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự cộng đồng, sự bình yên hoặc đạođức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác Tuy nhiên,quyền không bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theotôn giáo hoặc tín ngưỡng và quyền của các bậc cha mẹ hay người làm giám hộ hợppháp được giáo dục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họthì không cần phải được quy định trong pháp luật và phù hợp với các quy định kháccủa ICCPR, đặc biệt là với các quy định về quyền bình đẳng, không phân biệt đối xửtrong các Điều 2, 3 và 26 của Công ước Những hạn chế không được dựa trên lý do nàokhác ngoài lý do quy định ở Khoản 3 Điều 18, kể cả những yếu tố có thể được sử dụng

để hạn chế các quyền khác được ghi nhận trong ICCPR Không được đặt ra các hạn chếnhằm mục đích phân biệt đối xử hoặc áp dụng các hạn chế theo cách thức phân biệt đối

xử Liên quan đến khía cạnh này, cần lưu ý là các quan niệm về đạo đức có thể xuấtphát từ nhiều truyền thống xã hội, triết học và tôn giáo khác nhau, do đó, những giớihạn về quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng với mục đích nhằm bảo vệ các giá trị đạo đứckhông được dựa hoàn toàn vào một truyền thống riêng biệt nào Người bị quản chế vềmặt pháp lý, chẳng hạn như tù nhân, vẫn có quyền hưởng tự do tôn giáo, tín ngưỡng ởmức độ cao nhất phù hợp với điều kiện quản chế (đoạn 8)

Tám là, việc một tôn giáo được xác định là quốc giáo, là tôn giáo chính thức

hay truyền thống, hoặc có số lượng tín đồ chiếm đa số trong xã hội không được sửdụng để làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền tự do quy định ở các Điều 18 và

27 ICCPR, cũng như không được tạo ra sự phân biệt đối xử với tín đồ các tôn giáokhác, hoặc với những người không theo tôn giáo nào Những hình thức phân biệt đối

xử với tín đồ của các tôn giáo khác, hay với những người không theo tôn giáo chiếm

ưu thế mới được tham gia chính quyền hay dành những ưu đãi về kinh tế cho họ, đềutrái với các quy định về quyền bình đẳng nêu ở Điều 26 ICCPR (đoạn 9)

Chín là, việc một học thuyết chính trị được coi là nền tảng chính thức có thể chế

chính trị ở một quốc gia thành viên cũng không được sử dụng để làm ảnh hưởng đếnquyền tự do nêu ở Điều 18 và các quyền khác trong ICCPR, cũng như không được tạo

ra sự phân biệt đối xử với những người không theo hay không tán thành học thuyếtchính trị đó (đoạn 10)

Trang 31

Mười là, ICCPR không quy định quyền được từ chối thực hiện nghĩa vụ quân

sự vì lý do lương tâm, tuy một số quốc gia đã ghi nhận quyền này bằng cách cho phépthực hiện nghĩa vụ khác thay thế Mặc dù vậy, nếu quyền này được ghi nhận trong phápluật hay trong thực tế thì không được áp dụng theo cách thức phân biệt đối xử giữa cácnhóm tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau (đoạn 11)

1.2.3 Kinh nghiệm bảo đảm các quyền dân sự ở một số nước

Thứ nhất, các nước nhằm bảo đảm quyền con người nói chung, quyền dân sựnói riêng đều thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia Tuy nhiên điển hình đó là 3 cơchế: (1) Uỷ ban nhân quyền (UBNQ) quốc gia; (2) Thanh tra Quốc hội về nhân quyền

và Cao Ủy Nhân quyền; (3) Cơ quan nhân quyền quốc gia (CQNQQG) khác (nhưviện/trung tâm/hội/hội đồng,…nhân quyền quốc gia)11

Uỷ ban nhân quyền quốc gia (National Commission of Human Rights)

Đây là một cơ chế phổ biến trên thế giới hiện nay, với khoảng gần 100 quốc gia

và vùng lãnh thổ có hình thức Ủy ban quốc gia chuyên trách về bảo vệ và thúc đẩyQCN này Có nhiều tên gọi khác nhau, như UBNQ quốc gia; UBNQ và Cơ hội bìnhđẳng; UBNQ và Bình đẳng,… Khu vực Đông Nam Á hiện nay đã có 6 UBNQ quốcgia được thành lập và hoạt động theo Nguyên tắc Paris, đó là UBNQ Thái Lan, UBNQPhi-lip-pin, UBNQ In-đô-nê-xia, UBNQ Ma-lai-xia, UBNQ Đông Timor, UBNQ Mi-an-ma

Thanh tra Quốc hội (Parliamentary Ombudsman) và Cao Ủy Nhân quyền

Cơ quan Thanh tra Quốc hội (Ombudsman) có nguồn gốc từ các quốc gia Bắc

Âu, đặc biệt là xuất hiện đầu tiên tại Nghị viện Thụy Điển vào năm 1809 Nghĩa gốccủa từ Ombudsman xuất phát từ tiếng Old Norse (người Bắc Âu) có nghĩa là "đại diện”

(umboðsmaðr) (hay "representive” trong tiếng Anh), là một quan chức do Chính phủ

hay Nghị viện bổ nhiệm có chức năng đại diện cho quyền và lợi ích của công chúngthông qua việc điều tra và giải quyết các khiếu kiện cá nhân do công dân đệ trình Cơquan này hiện nay có ở hơn 60 quốc gia trên toàn thế giới Đồng thời là một cơ quansong trùng với CQNQQG Chẳng hạn ở Anh, Canada, Thái Lan, ,…vừa có cả cơ quanThanh tra Quốc hội và vừa có UBNQ quốc gia

11 http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/120/168 , truy cập ngày 17/07/2017.

Trang 32

Cao Ủy Nhân quyền thuộc Nghị viện

Đây là mô hình CQNQGQ độc lập có ở một số quốc gia thuộc Nghị viện đượcthành lập dựa trên một điều luật của Hiến pháp nhưng có những đặc thù không giốngnhư một CQNQQG Chẳng hạn, mô hình này hiện diện trong chính thể của nước Cộng

hòa Ukraina, với tên gọi Cao uỷ Nhân quyền của Nghị viện Ukraina (Ukrainian

Parliamentary Commissioner for Human rights), là cơ quan được thành lập theo Điều

55 của Hiến pháp

Các CQNQQG khác

Các CQNQQG khác bao gồm các viện nghiên cứu quốc gia hay hội, hiệp hội,hội đồng quốc gia về nhân quyền được thành lập và hoạt động dựa trên Nguyên tắcParis Trên thế giới mô hình này khá phổ biến ở nhiều nước Bắc Âu và Tây Âu, nhưViện Nhân quyền Đan Mạch, Trung tâm Nhân quyền Na Uy, Viện Nhân quyền Cộnghòa Liên bang Đức,…Việc lựa chọn mô hình này thường phù hợp với các quốc giaphát triển (nơi có trình độ phát triển kinh tế-xã hội cao và đặc biệt là trình độ nhậnthức, văn hóa pháp luật và ý thức cao về quyền con người (QCN) của người dân và độingũ công chức) hay nơi có những đặc thù nhất định về thể chế chính trị và văn hóa(như Hội Nghiên cứu nhân quyền quốc gia Trung Quốc) Ngoại trừ trường hợp TrungQuốc, điểm lưu ý đó là bước tiến về dân chủ và QCN của các quốc gia lựa chọn môhình các viện hay trung tâm quốc gia đạt trình độ tương đối cao

Thứ hai là, trong Hiến pháp một số nước quy định rất cụ thể về vấn đề hạn chếquyền

Tại Điều 56 Hiến pháp Liên bang Nga quy định về hạn chế các quyền, ngoài cácđiều kiện đã được nhắc đến trong ICCPR, Hiến pháp còn quy định về việc “phải chỉ rõphạm vi và thời hạn của những giới hạn đó”; khoản 3 Điều này quy định về các quyềnkhông được hạn chế12

12Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, NXB Hồng Đức, Hà

Nội, tr 404.

Trang 33

Còn trong Điều 233 Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan cũng có sự quy định tương tự

về các quyền không được hạn chế, và việc hạn chế đó phải đảm bảo nguyên tắc không

bị phân biệt đối xử13

Thứ ba là cơ chế thực thi quyền

Trong Hiến pháp Nam Phi việc thực thi các quyền được quy định minh thị trongĐiều 38, theo đó, bất kỳ đối tượng nào được liệt kê ở Điều này đều có quyền khiếu nạivới tòa án về một quyền trong Bộ luật về quyền bị đe dọa hoặc bị vi phạm

Điều 28J Hiến pháp Indonesia quy định về nghĩa vụ tôn trọng quyền con ngườicủa tất cả mọi người cũng như nhiệm vụ chấp nhận những giới hạn do luật định chomục đích là bảo đảm sự công nhận và tôn trọng các quyền tự do của người khác khithực hiện quyền và tự do của mình

Điều 45 Hiến pháp Nga quy định nhà nước bảo vệ các quyền và tự do của conngười; mọi người có quyền bảo vệ các quyền của mình bằng mọi phương thức mà phápluật không cấm

Thứ tư là việc công nhận các quyền ngoài những quyền đã được quy định trongHiến pháp hiện hành

Điều 39 Hiến pháp Nam Phi quy định “không loại trừ bất cứ quyền và tự do nàokhác đã được thừa nhận hoặc quy định bởi luật chung, luật tập quán hoặc luật quy tắc,miễn là các quyền và tự do đó không trái với Bộ luật”

Điều 55 Hiến pháp Nga quy định “Việc liệt kê các quyền và tự do cơ bản trongHiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hoặc xem nhẹ các quyền và tự do khác của conngười và công dân đã được thừa nhận rộng rãi”

Thứ năm là bảo đảm các quyền cụ thể:

Một là quyền sống

Hiến pháp Đức chính thức ghi nhận việc xóa bỏ hình phạt tử hình tại Điều 102

13Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, NXB Hồng Đức, Hà

Nội, tr 515.

Trang 34

Hai là quyền tự do và an ninh cá nhân: tại Điều 12 Hiến pháp Nam Phi (1966)quy định “Mọi người đều có quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền này bao gồm:…”.Hiến pháp Nam Phi đã chỉ rõ về các quyền này phải được bảo đảm và quyền này thuộc

Ba là quyền tự do đi lại và cư trú:

Điều 21 Hiến pháp Nam Phi chỉ rõ “Mọi người đều có quyền tự do đi lại…”,quyền này được quy định dành cho mọi người chứ không chỉ riêng công dân Nam Phi

Hiến pháp Ba Lan cũng công nhận quyền tự do đi lại và cư trú của tất cả chủ thểbao gồm cả người nước ngoài và cũng quy định rõ về hạn chế quyền này theo luật địnhtại Điều 52

Hiến pháp Nga cũng quy định khi một người có mặt hợp pháp trên lãnh thổ Liênbang Nga đều có quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 27)

Bốn là quyền được bảo vệ đời tư

Hiến pháp Nga quy định quyền này dành cho tất cả mọi người và việc hạn chếquyền chỉ được phép khi có quyết định của Tòa án cũng như các quy định cấm xâmphạm đời tư khác (Điều 23, 24)

Hiến pháp Ý cũng quy định hạn chế chỉ có thể được áp dụng bởi những quyếtđịnh tư pháp nêu rõ lý do và tuân thủ những bảo đảm theo quy định của luật (Điều 15)

Năm là quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo

Điều sửa đổi thứ nhất trong Hiến pháp Hoa Kỳ quy định “Quốc hội sẽ khôngban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng,…

và kiến nghị Chính phủ sữa chữa những điều gây bất bình”, quy định này có hiệu lựctrực tiếp công nhận và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân

Trang 35

Điều 53 Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan quy định về tự do tín ngưỡng tôn giáo củatất cả mọi người, nội dung quyền, hạn chế quyền cũng như vấn đề bảo đảm “không ai

bị ép hoặc có thể bị cơ quan nhà nước ép buộc liên quan đến thực hiện quyền ở khoản

6 và 714

1.3 Vai trò của Hiến pháp trong việc bảo đảm quyền dân sự ở mỗi quốc gia

Hiến pháp giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm các quyền dân sự ở mỗiquốc gia Mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước được hình thành từ khi xã hội có nhànước và luôn chiếm một vị trí trung tâm trong lịch sử các học thuyết chính trị-pháp lý.Trong các kiểu nhà nước có trước nhà nước tư sản (nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhànước phong kiến), chưa có một nhà nước nào thừa nhận, bảo vệ quyền con người nóichung, quyền dân sự nói riêng và cũng chưa có sự xuất hiện của đạo luật mang giá trịtối cao là Hiến pháp Ở chế độ chiếm hữu nô lệ, quan hệ giữa nhà nước chủ nô và cánhân là quan hệ giữa giai cấp thống trị là giai cấp bị trị, ở đó nô lệ không được coi làcon người mà chỉ là “công cụ biết nói”, không có bất cứ quyền nào kể cả quyền cơ bản

là quyền sống, họ hoàn toàn bị phụ thuộc vào chủ nô Còn ở chế độ phong kiến thì thânphận người nông dân khá hơn nô lệ, họ không bị lệ thuộc hoàn toàn vào địa chủ phongkiến, nhưng vẫn bị lệ thuộc về kinh tế, chính trị, tinh thần vào nhà nước phong kiến.Trong giai đoạn này, pháp luật chủ yếu chính là mệnh lệnh của nhà vua, ý chí của vua

là tối cao, tất cả thần dân15 đều phải nghe theo Quyền con người có được là nhờ sự banphát của nhà vua ở mức độ hạn chế đối với từng cá nhân riêng lẽ, không có quyền conngười áp dụng chung cho tất cả mọi thần dân trong xã hội do có sự phân chia tầng lớpgiai cấp Quan hệ giữa nhà nước và thần dân là quan hệ bất bình đẳng về quyền vànghĩa vụ, một bên nhà nước chỉ nắm quyền mà không thực thi bất kỳ nghĩa vụ nào, cònbên kia luôn phải tuân theo nghĩa vụ chứ không có bất kỳ quyền nào

Có thể thấy, trong giai đoạn này quyền con người chưa được thừa nhận, chưađược tôn trọng và bảo vệ và nó bị xâm phạm một cách nghiêm trọng từ chính sựchuyên chế của nhà vua Vấn đề đặt ra là muốn bảo vệ quyền con người thì một yêucầu có tính chất bắt buộc là quyền lực nhà nước phải bị hạn chế Chỉ đến khi cách

14 Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, NXB Hồng Đức, Hà

Nội, tr 454.

15 Khái niệm “thần dân” là dùng để chỉ thân phận của người dân dưới chế độ phong kiến, Nguyễn Đăng

Dung, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền, NXB Đà Nẵng, 2008, tr.76.

Trang 36

mạng tư sản giành thắng lợi, xóa bỏ chế độ phong kiến thiết lập nên nhà nước tư sản thìquyền con người mới chính thức được thừa nhận, tôn trọng và đặt ra vấn đề cấp thiết làphải bảo vệ các quyền này Các học giả tư sản đã dựa trên hai nền tẳng là quyền tựnhiên và khế ước xã hội để bảo vệ quyền con người, chống lại sự độc đoán, chuyênquyền của nhà nước phong kiến trước đây Đại diện tiêu biểu của thuyết pháp quyền tựnhiên và khế ước xã hội là Locke, Hobbes, Rousseau từ thế kỷ XVII, XVIII cho rằng:con người là thuộc tính tự nhiên vốn có, là sản phẩm của tự nhiên, khi sinh ra, conngười đương nhiên có các quyền tự nhiên vốn có đó là quyền được sống, quyền đượcbảo vệ, quyền được tự do phát triển mà không do nhà nước định ra

Để bảo vệ quyền này khỏi sự xâm phạm của nhà nước thì cần một đạo luật cótính tối cao, và Hiến pháp- một giải pháp chính trị- về mặt hình thức được đặt ra trên

cơ sở nhận thức nhân bản là con người sinh ra vốn tự do Do nhu cầu bảo đảm tự dovốn có của con người mà phải ấn định chính quyền trong một văn bản gọi là Hiến pháp

để giới hạn chính quyền như ý muốn của các nhà theo chủ nghĩa lập hiến là chínhquyền không được can thiệp vào quyền tự do vốn có của con người Bởi muốn quyềncon người được bảo đảm thì yêu cầu mang tính chất bắt buộc là quyền lực nhà nướcphải bị giới hạn Hiến pháp chính là công cụ hữu hiệu nhất để ghi nhận phân chiaquyền lực nhằm giới hạn quyền lực nhà nước nhằm mục đích bảo vệ quyền con ngườikhỏi sự vi phạm từ phía nhà nước

Như vậy, Hiến pháp ra đời nhằm mục đích bảo vệ quyền con người Sự ra đờicủa hiến pháp với tính chất là luật cơ bản gắn liền với sự ra đời của nhà nước tư sảnqua cuộc cách mạng tư sản lật đổ nhà nước phong kiến Ngay từ khi ra đời, nhà nước

tư sản đã nghĩ ngay tới việc thiết lập nên Hiến pháp nhằm ghi nhận sự phân chia quyềnlực để bảo vệ quyền con người, nhưng nếu chỉ quy định về phân quyền là chưa đủ, màtrong Hiến pháp phải có sự ghi nhận về nhân quyền, coi đó là một giới hạn mà chínhquyền không được xâm phạm vào lãnh địa cấm ấy và cũng tạo cơ sở để giúp công dânthực hiện quyền của mình mà không xâm phạm đến quyền của người khác Do đó,trong các bản Hiến pháp phải có sự ghi nhận và về phân quyền lẫn nhân quyền

Để bảo vệ quyền con người nói chung, quyền dân sự nói riêng, làm cho cácquyền ấy được thực thi trên thực tế thì nhất thiết quyền dân sự phải được ghi nhậntrong văn bản pháp lý và văn bản đó bắt buộc phải thể hiện trước hết ở Hiến pháp BởiHiến pháp là đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý tối cao, được xem là luật gốc, luật

Trang 37

“mẹ” Bất kỳ một văn bản nào quy định trái với tinh thần Hiến pháp đều phải bị đìnhchỉ, sửa đổi, hủy bỏ Chính vì thế, quyền dân sự được ghi nhận trong Hiến pháp sẽ là

sự bảo đảm về mặt pháp lý quan trọng, được đề cao, tôn trọng, thể hiện được tính chấtquyền tự nhiên, bất khả xâm phạm của con người Hiến pháp Mỹ năm 1776_ Bản Hiếnpháp đầu tiên của nhân loại khi đưa ra biểu quyết chỉ có 7 điều về phân chia quyền lực

mà không có bất cứ điều khoản nào quy định về nhân quyền nên đã không được thôngqua Chỉ khi, các nhà lập hiến bổ sung thêm 10 quy định về quyền con người thì BảnHiến pháp này mới chính thức được thông qua

Từ sau bản Hiến pháp của Hoa kỳ, các bản Hiến pháp của tất cả các quốc giatrên thế giới đều ghi nhận quyền con người là một trong những nội dung cơ bản củaHiến pháp Hiện nay, Hiến pháp của các nước có ba cách quy định về quyền con người:một là quyền con người được quy định trong một văn bản riêng gọi là bản Tuyên ngônnhân quyền như Tuyên ngôn nhân quyền năm 1689 của Anh, Tuyên ngôn nhân quyền

và dân quyền năm 1789 của Pháp; hai là quyền con người được quy định thành mộtchương, tức là được quy định trực tiếp trong Hiến pháp như Việt Nam; ba là quyền conngười được quy định trong phụ trương của Hiến pháp như 10 điều bổ sung trong tuchính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ Nhưng dù ghi nhận theo hình thức nào, tất cả cácbản Hiến pháp đều phải quy định những quyền thiết yếu nhằm bảo đảm những giá trịcủa con người như quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc,…

Ở nước ta, quan điểm quyền con người là quyền tự nhiên, không ai ban tặng mà

do tạo hóa ban cho con người, không ai có quyền xâm phạm đã được thể hiện rất rõtrong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tất cả mọi người đều sinh ra cóquyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trongnhững quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” Ngườicũng cho rằng quyền con người phải gắn liền với Hiến pháp, Hiến pháp không phải chỉ

là công cụ quy định việc tổ chức nhà nước mà còn là văn bản bảo đảm việc thực hiệnnhân quyền, Người đã chỉ rõ: “Nước ta đã bị chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độthực dân nên không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân

ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có tự do dân chủ” Vì vậy,ngay sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãđặt ra một trong sáu nhiệm vụ cấp bách là xây dựng Hiến pháp, Hiến pháp năm 1946sau đó ra đời với sự ghi nhận về các quyền con người trong Chương 2

Trang 38

Bảo đảm quyền con người là nhiệm vụ, là mục tiêu hàng đầu của Hiến pháp Vìvấn đề nhân quyền nên mới có Hiến pháp Do đó, để quyền con người được bảo đảmthực hiện một cách tốt nhất thì đòi hỏi Hiến pháp phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, cách thức ghi nhận quyền dân sự phải bảo đảm tính khả thi của cácquyền này trong thực tế Đây là một yêu cầu có tính chất nền tảng để đảm bảo quyềncon người trong nhà nước pháp quyền Để đảm bảo các quyền con người được viện dẫnthi hành trong thực tế thì trước hết chế định quyền dân sự phải được xây dựng từ hiệnthực khách quan, từ những yêu cầu nhất định của đời sống, xã hội Những quy định củaHiến pháp về quyền con người phải bảo đảm tính thực tiễn

Thứ hai, quyền dân sự là quyền tự nhiên, quyền gắn liền với mỗi cá nhân, khôngphải do bất kỳ chủ thể nào ban phát hay tặng cho Vì thế, cần thừa nhận quyền dân sựtheo hướng mặc nhiên

Thứ ba, cần có cơ chế bảo hiến, phải bảo đảm Hiến pháp mang tính tối cao.Thứ tư là cần quy định đầy đủ các quyền dân sự, và cần trực tiếp ghi nhận quyềndân sự và những nghĩa vụ kèm theo của Nhà nước Hiến pháp ghi nhận một cách rõràng, đầy đủ như vậy để con người biết để thụ hưởng và không xâm phạm quyền củachủ thể khác

Thứ năm là hiến pháp phải có hiệu lực pháp lý trực tiếp Nghĩa là các quy địnhcủa Hiến pháp có khả năng áp dụng mà không phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành.Bên cạnh đó, cần xác định các quyền dân sự có thể được cụ thể hóa bằng Luật chứkhông phải các văn bản dưới luật

1.4 Các quyền dân sự trong lịch sử lập hiến Việt Nam

1.4.1 Các quyền dân sự trong Hiến pháp năm 1946

Việc ghi nhận các quyền dân sự trong Hiến pháp

Trang 39

Chế định quyền công dân được ghi nhận ở vị trí trang trọng và xứng tầm Chương II của Hiến pháp chỉ xếp sau Chương I - Chính thể Hiến pháp 1946 quy địnhcác quyền lợi của công dân ở mục B và mục C chương II có 15 điều (Điều thứ 6 đếnĐiều thứ 21) với tổng cộng 25 quyền có các quyền dân sự (từ Điều 6 đến Điều 12) cụthể: quyền bình đẳng của mọi công dân về mọi phương diện; quyền bình đẳng trướctrước pháp luật (Điều 7),), quyền bình đẳng nam nữ (Điều 9); quyền tự do tín ngưỡng,quyền tự do cư trú, quyền tự do đi lại trong nước, quyền ra nước ngoài (Điều 10);quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, quyền bất khảxâm phạm về thư tín (Điều 11).

-Như vậy, Hiến pháp năm 1946 đã quy định khá đầy đủ các quyền dân sự cơ bảnvới nhiều quyền mang tính dân chủ, tiến bộ và nhân văn sâu sắc

Đánh giá việc bảo đảm các quyền dân sự

Để bảo đảm các quyền dân sự trên thực tế các nhà lập pháp đã ban hành các sắclệnh và luật Hàng loạt sắc lệnh cụ thể hoá các quy định trong Hiến pháp được banhành khẩn trương: Sắc lệnh số 40 - SL về việc bảo vệ tự do cá nhân (ngày 29/3/1946);Sắc lệnh số 131- SL về việc khám xét nhà tư nhân ngày 20/7/1946); Sắc lệnh số 223 -

SL về đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng (ngày 14/6/1955; Luật số 103-SL/L 005 về đảmbảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín củanhân dân (ngày 20/5/1967); Sắc luật số 002 - SLT quy định những trường hợp phạmpháp quả tang, những trường hợp khẩn cấp và những trường hợp khám người phạmpháp quả tang (ngày 18/6/1957)16

Việc bảo đảm các quyền dân sự còn được thể hiện thông qua giá trị pháp lý tốicao của Hiến pháp Trong bản Hiến pháp này, Nhân dân là người lập ra Hiến pháp thểhiện rõ trong lời nói đầu “Được quốc dân trao cho trách nhiệm thảo bản hiến pháp đầutiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằng…” Trong bảnHiến pháp này còn có sự phân biệt giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp Sự phânbiệt này dẫn đến việc phân cấp hiệu lực pháp lý giữa Hiến pháp và các văn bản phápluật khác: Hiến pháp có hiệu lực pháp lý tối cao, các văn bản pháp luật khác phải hợphiến Hiến pháp năm 1946 cũng thể hiện tính tối cao ở việc sửa đổi- phải do nhân dânquyết định Hiến pháp mang tính tối cao như vậy góp phần bảo đảm cho các quyền dân

sự hiến định được bảo đảm trên thực tế

16 Lưu Đức Quang (2011), “Thi hành và bảo vệ Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền”, Tham luận tại Toạ đàm khoa học “Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam với mục tiêu do con người và vì con người”, Khoa

Luật Hành chính- Trường Đại học Luật Tp HCM.

Trang 40

1.4.2 Các quyền dân sự trong Hiến pháp năm 1959

Việc ghi nhận các quyền dân sự trong Hiến pháp 1959

Hiến pháp 1959 quy định nội dung "Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công

dân" trong chương III, bao gồm 21 Điều (từ Điều 22 đến Điều 42) với tổng cộng 27

quyền trong đó có các quyền dân sự, cụ thể: quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều22); quyền bình đẳng nam nữ (Điều 24); quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo (Điều 26);quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 27); quyền bất khả xâm phạm về nhà ở,quyền bất khả xâm phạm về thư tín, quyền tự do cư trú, quyền tự do đi lại (Điều 28);quyền khiếu nại và tố cáo, quyền được bồi thường của người bi thiệt hại do hành vi tráipháp luật của nhân viên nhà nước (Điều 29)

Những điểm mới so với Hiến pháp năm 1946

Thứ nhất, quy định thêm hai quyền dân sự mới Đó là quyền khiếu nại và tố

cáo, quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của nhânviên nhà nước (Điều 29) Tuy nhiên Hiến pháp 1959 không kế thừa quy định tiến bộcủa Hiến pháp năm 1946 về nội dung tất cả công dân đều ngang quyền về mọi phươngdiện, không quy định quyền ra nước ngoài của công dân

Thứ hai, có 01 trong 07 điều quy định về các quyền dân sự có quy định những

bảo đảm kèm theo dưới dạng trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, đó là Điều 24 Việcquy định như vậy cho thấy nhận thức đúng đắn và thái độ quan tâm của Nhà nước vềcác quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Đánh giá sự bảo đảm các quyền dân sự

Đa số các quyền dân sự trong bản Hiến pháp này không có hiệu lực áp dụngtrực tiếp, tức là Nhà nước phải cụ thể hóa bằng các văn bản Luật và văn bản dưới Luậtnhằm hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, giai đoạn này, chỉ có Luật Hôn nhân và Gia đìnhđược ban hành (ngày 29/12/1959) Điều này cho thấy việc cụ thể hóa các quyền dân sựrất ít, dẫn đến việc không đảm bảo thực hiện trên thực tế Các quyền mặc dù được ghinhận ở mức độ hoàn thiện, đầy đủ hơn do với Hiến pháp năm 1946 nhưng cơ chế bảođảm thực hiện lại không có nên dẫn đến quyền hiến định về dân sự chỉ mang tính lýthuyết

Hiến pháp không còn giá trị tối cao, do quyền lập hiến, sửa đổi bổ sung thuộc vềQuốc hội, đặt Quốc hội cao hơn Hiến pháp cho nên làm ảnh hưởng đến bảo đảm các

Ngày đăng: 15/09/2017, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w