1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Xây dựng mô hình thuế tài sản ở việt nam trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay

150 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây, nhà nước đã và đang thực hiện chiến lược cải cách thuế, nhiều sắc thuế được sửa đổi bổ sung như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

-

XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN

Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Kế toán

Mã ngành: 60340301

TP.Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-

NGUY

XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN

Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC S

Chuyên ngành: Kế toán

Mã ngành: 60340301

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc PHÒNG QLKH – ĐTSĐH -

-

TP HCM, ngày 20 tháng 03 năm 2015

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: YÊN Giới tính:

Ngày, tháng, năm sinh: 01-01-1972 Nơi sinh:

I- Tên đề tài:

II- Nhiệm vụ và nội dung:

III- Ngày giao nhiệm vụ: 27/08/2014

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 20/03/2015

V- Cán bộ hướng dẫn:

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH (Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan l

- là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

hướng dẫn, suốt quá trình

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến

, Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, Ban Kinh tế Trung ương, Tổng Cục Thuế, Cục Thống kê TP.HCM, Cục Thuế TP.HCM, Cục Thuế Tỉnh Đồng Nai, Cục Thuế Bà Rịa-Vũng Tàu, Cục Thuế Tỉnh Bình Dương đã

T

Trang 7

Trong cơ cấu hệ thống thuế hiện nay thì thuế tài sản ngày càng được quan tâm bởi

lẽ loại thuế này có số thu ổn định, bền vững, chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu ngân sách nhà nước Thuế tài sản góp phần điều tiết cung cầu tài sản trên thị trường

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến nhanh và thay đổi tích cực, v là hết sức cần thiết trong hệ thống thuế của Việt Nam hiện nay, đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho Ngân sách Nhà Nước

ghiên cứu mô hình thuế tài sản ở các nước trên thế giới, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam

Phân tích và đánh giá thực trạng về chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt nam hiện nay, chỉ ra những ưu-nhược điểm của chính sách thuế hiện nay và so sánh chính sách thuế t

tắc xây dựng mô hình thuế tài sản, xác định các nhân tố hình thành và tác động đến

mô hình Phân tích và đề xuất mô hình thuế tài sản ở Việt nam theo hướng đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội hiện nay nhằm nâng tỷ trọng thu ngân sách , ổn định và phát triển lành mạnh nền kinh tế, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa

Trang 8

ABSTRACT

In the structure of the current tax system, the asset tax is increasingly interested because this tax revenue is stable, sustainable, high proportion of total government revenue Asset tax contributes to control supply and demand about asset in the market

In the context of VietNam economy has made rapid and positive changes, asset tax reform is urgently needed in the tax system of Vietnam today, meet the urgent need for State budget To do this, we should research asset tax model in countries around the world to draw experiences for the construction of model asset tax in Vietnam Analysis and assessment of policies related to current asset tax in Vietnam, pointing out the pros-cons of the current tax policy and compares asset tax policies in countries of the world Since then we can apply the principles of building asset tax model to determine the factors of formation and affecting pattern of asset tax

Analysis and proposed asset tax model in Vietnam towards ensuring effective and consistent with the economic - society situation today to increase the percentage of revenues to build stable and healthy development economy, consistent with the market economy of socialist orientation according to the process of integration and globalization

Trang 12

DANH MỤC VIẾT TẮT

AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN ASEAN Free Trade Area ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

Association of Southeast Asian Nations

SDĐPNN Sử dụng đất phi nông nghiệp

TPP

Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization

Trang 13

Bảng Tên Bảng Trang

2.1 Tỷ lệ thuế tài sản trên GDP của nhóm các nước OECD 24

2.6 Nhận xét về mô hình thuế tài sản ở các nước trên thế giới 30 3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước 33 3.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp trên cả nước 34

3.4 Tình trạng phương tiện giao thông đường bộ giai đoạn 2002-2012 38 3.5 Kết cấu nguồn thu liên quan đến TS so với tổng thu NS (tỷ lệ %) 39 3.6 Kết cấu nguồn thu liên quan đến TS so với tổng thu thuế (tỷ lệ %) 40

3.9 So sánh cán cân NSNN Việt nam và các nước đang phát triển 57

4.2 Kết quả nghiên cứu đối tượng chịu thuế tài sản 63 4.3 Kết quả nghiên cứu hình thức đánh thuế tài sản 67 4.4 Kết quả nghiên cứu căn cứ tính thuế tài sản 70 4.5 Kết quả nghiên cứu tính hiệu quả thuế tài sản 74 4.6 Mô tả các biến trong phương trình hồi quy đa biến 81 4.7 Độ tin cậy thang đo của 9 biến “Đối tượng chịu thuế tài sản” 83 4.8 Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến “D09” 84 4.9 Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến “D06” 84 4.10 Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến “D08” 85 4.11 Độ tin cậy thang đo của 8 biến “Hình thức đánh thuế tài sản” 85 4.12 Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến “H12” 86 4.13 Độ tin cậy thang đo của 6 biến “Căn cứ tính thuế tài sản” 86

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang 14

4.14 Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến “C19” 87 4.15 Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến “C23” 87 4.16 Độ tin cậy thang đo “Tính hiệu quả của thuế tài sản” 88

2.2 Tỷ lệ ngân sách thuế BĐS với chi tiêu của chính quyền địa phương 26

3.2 Mức phụ thuộc vào thuế tài sản ở một số Quốc gia 40

3.4 Cấu trúc nguồn thu thuế của Việt Nam so với một số nước (2010) 54

3.6 Tỷ lệ thu NS so GDP của một số nền kinh tế mới nổi ở Châu Á 56 4.1 Kết quả nghiên cứu đối tượng chịu thuế tài sản 65 4.2 Kết quả nhận định đối tượng chịu thuế tài sản 66 4.3 Kết quả nghiên cứu hình thức đánh thuế tài sản 68 4.4 Kết quả nhận định hình thức đánh thuế tài sản 69 4.5 Kết quả nghiên cứu căn cứ tính thuế tài sản 71

4.7 Kết quả nghiên cứu tính hiệu quả thuế tài sản 75

2.1 Sơ đồ biểu diễn chu kỳ vận động của thu nhập 15

Trang 15

MỞ ĐẦU

Thuế là công cụ quan trọng của nhà nước nhằm để tạo nguồn thu cho ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo công bằng xã hội Thuế trong nền kinh tế thị trường luôn được các quốc gia quan tâm nghiên cứu, hoàn thiện Trong cơ cấu hệ thống thuế hiện nay bao gồm thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản thì thuế tài sản ngày càng được quan tâm bởi lẽ loại thuế này có số thu ổn định, bền vững, chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu ngân sách nhà nước, thuế tài sản góp phần điều tiết cung cầu tài sản trên thị trường, tránh các hiện tượng đầu cơ tích trữ và góp phần điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, hạn chế bất bình đẳng về thu nhập

và thực hiện công bằng xã hội Thuế tài sản là một loại thuế ra đời rất sớm trong hệ thống thuế khoá của đại đa số các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển Việc nghiên cứu và xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt nam hướng theo các yêu cầu đổi mới sau:

- Thứ nhất, Việt nam đang trong quá trình hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu dẫn đến nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giảm sút một cách đáng

kể, trong khi nhu cầu chi tiêu của ngân sách phục vụ các chức năng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội của Nhà nước không ngừng tăng lên Vì vậy, việc cải cách đối với hệ thống chính sách thuế nội địa nhằm khai thác thêm nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tiêu không ngừng tăng lên của ngân sách nhà nước là điều rất cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay

- Thứ hai, trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, các hoạt động kinh tế, các quan hệ dân sự, đặc biệt là các quan hệ dân sự về tài sản, nhà, đất diễn ra khá phức tạp, đa dạng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trong phạm vi quốc tế Vì vậy, cần có một hệ thống thuế tài sản phù hợp hơn để góp phần đắc lực vào yêu cầu quản lý, hòa hợp với cơ chế thị trường và hội nhập

- Thứ ba, qua thành tựu của 25 năm đổi mới, mức thu nhập của một số tầng lớp dân cư tăng lên đáng kể, thành phần kinh tế tư nhân đã có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế và ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, việc xây dựng, mua sắm tài sản đang phát triển với tốc độ nhanh chóng và đi liền theo đó là khoảng cách giàu nghèo cũng ngày một gia tăng Vì vậy, cần thiết phải xem xét, sửa đổi, bổ sung chính sách thuế đối với tài sản cho phù hợp với tình hình mới Qua đó, vừa khai

Trang 16

thác thêm nguồn thu hợp lý cho NSNN, vừa thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội

Nhìn chung, chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam tuy đã phát huy được nhiều điểm tích cực trên các phương diện kinh tế, xã hội Song trước xu thế hội nhập và những diễn biến phức tạp đa dạng về tài sản, thu nhập của dân cư,

hệ thống thuế tài sản hiện hành bộc lộ những nhược điểm cần phải có chính sách thay đổi cho phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu cải cách quản lý trong lĩnh vực thuế

Qua số liệu thống kê cho thấy, nguồn thu từ các loại thuế liên quan đến tài sản chiếm một tỷ trọng thấp trong tổng nguồn thu NSNN và cũng chưa thực sự giữ một vị trí quan trọng trong ngân sách địa phương như ở các quốc gia trên thế giới Kết quả nguồn thu liên quan đến tài sản chưa khuyên khích mọi người sử dụng tài sản hợp lý có hiệu quả

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, để có thể duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và phấn đấu trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020, việc đối mặt và giải quyết những vấn đề của kinh tế thị trường phải luôn được quan tâm, giải quyết bằng các chính sách kinh tế của nhà nước, trong đó có chính sách thuế Gần đây, nhà nước đã và đang thực hiện chiến lược cải cách thuế, nhiều sắc thuế được sửa đổi bổ sung như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên và đang nghiên cứu để ban hành nhiều sắc thuế mới như: thuế môi trường, thuế tài sản, thuế nhà, thuế sử dụng đất

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến nhanh và thay đổi tích cực, vấn đề cải cách thuế tài sản nhằm nâng tỷ trọng thu ngân sách từ thuế tài sản, ổn định và phát triển lành mạnh nền kinh tế, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong tiến trì

nghiên cứu với mục đích tìm ra một mô hình thuế tài sản ở Việt Nam mới hơn, phù

Trang 17

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam hiện đang tiến hành công cuộc hội nhập kinh tế thế giới, để quá trình hội nhập được thuận lợi hơn, Chính phủ Việt Nam gần đây đã thực hiện một loạt cải cách về kinh tế và chính sách thuế, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý tài chính Kết quả là Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng kinh tế ngoạn mục trong hai thập kỷ qua và hầu hết các chỉ số kinh tế đều cho thấy xu hướng tăng nhanh chóng Tình hình thu chi ngân sách cũng đáng khích lệ, mức tăng thu ngân sách đạt được khá ấn tượng Tuy nhiên, do cần đầu tư nhiều cho hạ tầng cơ sở nên Việt Nam vẫn còn tỷ lệ nợ công tương đối cao Việt Nam cũng đang từng bước tiến hành cải cách pháp luật về thuế và hiện đại hóa quản lý thuế Cải cách chính sách và quản lý thuế là một bộ phận quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Quá trình chuyển đổi này

đã dẫn đến những thay đổi cơ bản trong cơ cấu đối tượng nộp thuế Quá trình chuyển đổi kinh tế cũng dẫn đến một thay đổi không kém quan trọng về nguồn thu ngân sách nhà nước, từ thuế đánh vào giao dịch ngoại thương và nguồn thu từ khai thác dầu thô sang nguồn thuế nội địa, cụ thể là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân

và thuế liên quan đến đất đai Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội giai đoạn

2011-2015 đã đặt ra một mục tiêu thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo ổn định kinh tế vĩ

mô và đầu tư vào các hạng mục cơ sở hạ tầng cơ bản Tổng mức thu ngân sách trung bình phải đạt từ 25,1 đến 25,4% GDP, trong đó nguồn thu từ thuế và lệ phí đạt 23,0 đến 24,0% GDP Tổng thu dự tính đạt khoảng 3.880 nghìn tỉ Đồng, tức là gấp 1,5 lần

so với thời kỳ 2006-2010 Như vậy mức tăng thu ngân sách nhà nước bình quân hàng năm sẽ vào khoảng 15,6%

Bên cạnh những thành quả đạt được qua các kỳ cải cách thuế, hệ thống thuế Việt Nam vẫn còn bộc lộ những khuyết điểm theo đánh giá vào năm 2011 của tổ chức Ngân hàng thế giới và đưa ra các khuyến nghị [9]:

Hiệu quả kinh tế Hiện còn tồn tại một số điểm không trung lập trong chính sách thuế và thực thi như thiếu sự hài hòa giữa các loại thuế, nhiều thuế suất, nhiều trường hợp không chịu thuế và chính sách ưu đãi thuế đã tạo ra hiệu quả kinh tế thấp trong phân bổ nguồn lực do các đối tượng nộp thuế đưa ra quyết định kinh doanh với

Trang 18

mục tiêu giảm thiểu gánh nặng thuế chứ không phải với mục tiêu tối đa hóa năng lực sản xuất và sản lượng

Công bằng Sự công bằng chiều ngang (horizontal equity) bị vi phạm theo nhiều cách Nhiều loại miễn giảm khác nhau cũng dẫn đến vi phạm tính công bằng theo chiều dọc (vertical equity) Điều tương tự cũng xảy ra đối với các sắc thuế gián thu như tồn tại nhiều thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) cùng với nhiều trường hợp không chịu thuế

Minh bạch Minh bạch được đảm bảo trước hết với điều kiện luật thuế phải không được quá phức tạp và không phân biệt đối xử, còn các quy chế và đòi hỏi về quản lý thì phải dễ tiếp cận và dễ tuân thủ Với ý nghĩa đó, Việt Nam đã đạt nhiều tiến

bộ về minh bạch tuy vẫn còn nhiều việc cần cải thiện

Tính phù hợp và ổn định của nguồn thu Cần theo dõi chặt chẽ các khu vực đang tăng trưởng trong nền kinh tế để mở rộng cơ sở thuế vào thời điểm thích hợp

Thực ra ở Việt Nam, thuế liên quan đến tài sản đã được áp dụng từ khá lâu Tuy nhiên, Luật thuế của Việt Nam lại không gọi là thuế tài sản Chính vì vậy vẫn còn rất nhiều người xem đó là một loại thuế mới và chưa hiểu đó là loại thuế gì, đối tượng chịu thuế ra sao và khái niệm thuế tài sản cũng chỉ được hiểu một cách chung chung Hiện tại, ở Việt Nam hiện đang có một số thuế, phí, lệ phí liên quan đến tài sản như: thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, tiền thuê đất và tiền bán nhà thuộc sở hữu nhà nước

Trên thế giới, thuế liên quan đến tài sản thường có phạm vi rộng hơn, chẳng hạn như: nhà, đất, tàu thuyền, ôtô, máy bay, thuyền du lịch, chứng khoán và các động sản tài chính khác Tuy nhiên, mỗi nước lại có một cách xác định đối tượng chịu thuế khác nhau và tùy thuộc vào điều kiện của từng nước mà người ta áp dụng ít hay nhiều, sớm hay muộn Tại các nước phát triển, thuế tài sản là nguồn thu chính chiếm 40 - 50% tổng số thu thuế tại các đô thị như Mexico, Brazil, Ấn Độ, Indonesia… và nó thường chiếm từ 15% - 40% trong thu ngân sách địa phương Tuy nhiên, ở Việt Nam, loại thuế này mới chỉ chiếm khoảng nhỏ hơn 1% trên tổng thu ngân sách và chủ yếu thu từ đất đai

Trang 19

Có thể nói rằng cải cách thuế tài sản là hết sức cần thiết trong hệ thống thuế của Việt Nam hiện nay, đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho Ngân sách Nhà Nước và tinh thần chủ trương của Đảng và Nhà Nước thông qua Quyết định 732/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ ngày 17/5/2011 với nội dụng cần đạt được về chương trình cải cách thuế: Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công

cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước Ngành thuế Việt Nam phải vươn tới hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao

Vì lẽ trên, việc xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam hiện nay là cần thiết bởi những lý do: Việt Nam đang trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực, cần có một hệ thống thuế phù hợp thông lệ quốc tế Quá trình hội nhập và các cam kết đối với WTO, AFTA, ASEAN, TPP… dẫn đến giảm dần nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt nam ổn định và thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng tốt, tích lũy tài sản dần dần được nâng lên Mục tiêu cải cách thuế của chính phủ tiến tới một hệ thống thuế bền vững và hiệu quả nhằm cải thiện tình trạng thâm hụt kéo dài của cán cân ngân sách Nhà nước Ngoài ra, trước tình trạng thị trường bất động sản ở Việt Nam rất bất ổn mà nguyên nhân chủ yếu là do việc đầu cơ bất động sản, ví dụ như nhiều dự án chưa khởi công, những người đầu cơ đã mua hết các suất nhà và đất Hậu quả là, những người có nhu cầu thực sự về nhà đất phải mua lại qua nhiều lần trung gian Vì vậy, chống đầu cơ nhà đất là một trong những mục tiêu quan trọng của dự thảo luật trong cách tính thuế tài sản Khu vực kinh tế tư nhân phát triển điều này đồng nghĩa tài sản có sự tập trung quá mức vào một nhóm người giàu có, dẫn đến khoảng cách chênh lệch giàu nghèo khá lớn

Trang 20

Vì vậy, để góp phần thực hiện công bằng xã hội tránh sự phân hóa giàu nghèo một cách đáng kể thì những người có thu nhập và tài sản nhiều phải có một nghĩa vụ chia sẽ trách nhiệm đối với xã hội.Thuế tài sản giúp hạn chế việc sử dụng tài sản lãng phí, để góp phần thúc đẩy cho các thành phần kinh tế phát huy hiệu quả sử dụng tài sản và cuối cùng là đem lại nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà Nước trong bối cảnh thâm hụt Ngân sách kéo dài hiện nay Thuế tài sản là nền tảng vững chắc cho ngân sách địa phương từ các nguồn thu thuế BĐS để phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công, đặc biệt đối với các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh chuẩn

bị thí điểm cho mô hình chính quyền đô thị Thuế tài sản phần nào sẽ góp phần bảo vệ môi trường và quy hoạch giao thông trước tình trạng nan giải do số lượng phương tiện giao thông tăng quá mức so với dự báo hiện nay

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trước bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay có nhiều chuyển biến tích cực và đặc biệt là tiến trình hội nhập toàn cầu hóa, chủ trương cải cách thuế của Chính phủ theo

lộ trình có kế thừa chính sách thuế hiện hành, mạnh dạn thay thế những điểm bất hợp

lý và bổ sung những điểm mới sao cho phát huy các vai trò của chính sách thuế, tăng thu ngân sách, điều tiết vĩ mô, đảm bảo công bằng xã hội Việc cải cách thuế cũng phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng bộ với các chính sách khác nhằm phát triển kinh tế của Việt nam Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu nhằm vào các nội dung sau:

- Nghiên cứu các mô hình thuế tài sản ở các nước trên thế giới, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam

- Phân tích và đánh giá thực trạng về chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt nam hiện nay, chỉ ra những ưu-nhược điểm của chính sách thuế hiện nay và so sánh chính sách thuế tài sản với các nước trên thế giới

- Vận dụng các nguyên tắc xây dựng mô hình thuế tài sản, xác định các nhân tố hình thành và tác động đến mô hình Phân tích và đề xuất mô hình thuế tài sản ở Việt nam theo hướng đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội hiện nay

Trang 21

có hạn, nên phần dự báo doanh thu thuế tài sản từ mô hình thuế tài sản cũng không được nghiên cứu sâu trong luận văn

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp diễn giải, phân tích, điều tra xã hội học, tổng hợp…, Với phương pháp này, các chính sách thuế về tài sản được đặt trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng và được hoàn thiện để phù hợp với xu thế phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và thế giới Dựa trên những lý luận cơ bản về tài sản và thuế tài sản, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Tiếp cận lý thuyết về thuế nói chung và các sắc thuế liên quan đến tài sản nói riêng, chú trọng đến vai trò và mục tiêu của chính sách thuế

- Tham khảo các tài liệu về thuế tài sản tại một số quốc gia và các tài liệu góp ý

về chính sách thuế liên quan đến tài sản hiện hành

- Thảo luận chuyên gia tìm ra các nhân tố hiệu quả cho mô hình thuế tài sản

- Lấy ý kiến điều tra từ các chuyên gia ngành thuế và tài chính

- Thống kê số liệu có chọn lọc từ các tài liệu và trang thông tin điện tử có liên quan (Chính phủ, Bộ tài chính, Tổng cục thống kê, Ngân hàng thế giới…)

- Phân tích mô tả, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của từng sắc thuế liên quan đến tài sản So sánh về mức độ đóng góp thu ngân sách, vai trò điều tiết của các sắc thuế trong hệ thống chính sách thuế liên quan đến tài sản

- Tổng hợp các vấn đề nghiên cứu, suy diễn lô-gíc phục vụ đề xuất mô hình thuế tài sản

Trang 22

1.4

Luận văn được nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành cải cách thuế, trong đó có thuế tài sản Việc đóng góp ý kiến cho nghiên cứu sửa đổi các văn bản pháp luật của nhà nước về thuế tài sản là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Luận văn đã nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện và hệ thống các vấn đề lý luận

về tài sản, chính sách thuế đánh vào tài sản, nghiên cứu mô hình thuế tài sản của các quốc gia, phân tích chi tiết thực trạng chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam hiện nay Từ đó có những nhận xét, đánh giá về ưu-nhược điểm hiện nay và định hướng cho mô hình thuế tài sản phù hợp với điều kiện và đặc điểm ở Việt Nam

Những kết quả đạt được qua việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản:

 Nhận dạng các nhân tố và xây dựng mô hình lý thuyết thuế tài sản

 Hình thành khung nghiên cứu của Luận văn để giải quyết các nội dung và mục tiêu đưa ra

 Phân tích thực trạng chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam

 Khảo sát điều tra các nhân tố cấu thành mô hình thuế tài sản và đề xuất mô hình thuế tài sản trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay

Cơ sở lý thuyết về TS, Thuề TS

Chủ trương, chính sách cải cách thuế

Cơ sở thực tiễn, số liệu thống kê, điều tra khảo sát

Đề xuất mô hình Thuế TS Kiến nghị

Tác động của điều kiện KT-XH

Tác động của quá

trình hội nhập

Hình 1.1: Khung nghiên cứu của Luận văn

Trang 23

 Đề xuất định hướng xây dựng chính sách thuế tài sản trên mô hình mới nhằm hoàn thiện thuế tài sản ở Việt Nam hoàn chỉnh hơn trong tiến trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa và hộp nhập Quốc tế

Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có 5 chương :

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan tài sản

Chương 3: Thực trạng chính sách tài sản ở Việt Nam

Chương 4: Phân tích và đề xuất mô hình thuế tài sản ở Việt Nam

Chương 5: huyến nghị ứng dụng mô hình thuế tài sản vào việc xây dựng

các chính sách thuế ở Việt Nam

chương 1

Thực ra, ở Việt Nam đã có chính sách thu ngân sách đối với tài sản như đất đai

từ rất lâu Cụ thể như thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi giao đất hoặc cho thuê đất Trong quá trình sử dụng đất có thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất (nay đã chuyển thành thuế sử dụng đất phi nông nghiệp), khi chuyển nhượng đất có thuế chuyển quyền sử dụng đất (nay đã chuyển thành thuế thu nhập) Trong thủ tục đăng

ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản có lệ phí trước bạ, khi được giải quyết một

số công việc liên quan đến địa chính phải nộp lệ phí địa chính Đó là tám khoản thu đối với tài sản được quy định bởi bốn luật thuế Việc xây dựng mô hình Thuế tài sản

sẽ gộp các khoản thu trên vào một hệ thống thuế tài sản và mở rộng thêm cơ sở tính thuế cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay là vấn đề được Chính Phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm

Cùng với thành tựu trên 25 năm đổi mới của đất nước, thu nhập và đời sống của người dân ngày càng tăng lên nhanh chóng Việc xây dựng nhà cửa khang trang, mua sắm tài sản có giá trị lớn đang phát triển mạnh từ thành thị đến nông thôn cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân Theo đó, chênh lệch giàu nghèo trong xã hội cũng ngày càng gia tăng Do vậy, cần có một mô hình thuế tài sản phù hợp tình hình mới, vừa khai thác thêm nguồn thu cho NSNN vừa đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội

Trang 24

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THUẾ TÀI SẢN

2.1

2.1.1

Thuế tài sản là tên gọi chung của các sắc thuế đánh vào quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản Sắc thuế tài sản phổ biến nhất là thuế bất động sản, ở một số quốc gia, chính quyền tách bất động sản thành nhà ở và đất ở và tương ứng là hai sắc thuế riêng Thời phong kiến Việt Nam, thuế điền thổ, còn gọi là thuế ruộng đất là một loại thuế tài sản phổ biến Có một sắc thuế tài sản được thu khi phát sinh sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản, như thuế trước bạ, thuế thừa kế

Thuế tài sản là tên gọi để chỉ sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế Đây

là một trong ba cách phân loại theo nội dung của hệ thống thuế gồm: thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập là được tích luỹ và vật chất hoá dưới dạng tài sản) Việc phân biệt rõ đối tượng đánh thuế tài sản, đối tượng đánh thuế thu nhập và thuế tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng để có căn cứ xác định chính xác thời điểm cũng như cơ sở đánh thuế, tránh được

sự trùng lắp, chồng chéo về nội dung động viên thu nhập của đối tượng chịu thuế [14]

Thuế tài sản là loại thuế ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại với hình thức đầu tiên là thuế đất được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các xã hội cổ đại, vì lúc đó đất đai hầu như là tài sản duy nhất thật sự có giá trị và nhà nước có điều kiện thuận lợi để nắm chắc, quản lý và đánh thuế Khi nền kinh tế-xã hội của các quốc gia ngày càng phát triển, trên thế giới dần dần xuất hiện nhiều loại của cải khác thuộc đối tượng đánh thuế tài sản Thông thường, việc đánh thuế vào tài sản không tính đến nguồn gốc thu nhập tạo ra tài sản có từ đâu, lúc nào… mà chỉ quan tâm đến trị giá tài sản của chủ thể có quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) vào thời điểm nhất định

Thuế tài sản được điều chỉnh theo quyền sở hữu, quyền sử dụng, khai thác hay chuyển nhượng tài sản tại thời điểm nhất định, theo quy định của pháp luật, với nhiều hình thức tên gọi khác nhau, chủ yếu là: thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ, lệ phí trước bạ); thuế thừa kế; thuế quà biếu; thuế nhà đất; thuế tài sản (đánh tổng hợp trên toàn bộ giá trị bất động sản, động sản và tài sản tài chính của một chủ thể); thuế chuyển nhượng tài sản (nhà, đất, vốn, trái phiếu…); thuế khai thác tài nguyên quốc gia Thuế tài sản được đánh giá là loại thuế trực thu có thể động viên tương đối sát với

Trang 25

khả năng đóng góp thực tế của người chịu thuế vì thuế đánh vào những tài sản cụ thể, nhất là nhà và đất, là những vật thực có, dễ nhận biết hơn các đối tượng đánh thuế thu nhập hay tiêu dùng

Thuế tài sản được thể hiện dưới nhiều hình thức với tên gọi khác nhau như thuế mua tài sản, thuế nhà, thuế đất, thuế đăng ký tài sản, thuế chuyển nhượng tài sản… với những đặc điểm như sau:

Thuế tài sản là loại thuế dựa trên quan điểm đánh thuế theo lợi ích, những người được hưởng lợi ích nhiều thì phải nộp thuế nhiều hơn Điều này xuất phát từ thực tế là nhiều loại tài sản được bảo tồn, phát triển và sinh lợi là do được thừa hưởng rất nhiều từ các dịch vụ công cộng của nhà nước Thuế tài sản mang tính chất là loại thuế h trợ cho thuế đánh trên thu nhập Thu nhập từ tài sản thường khó xác định được nếu chủ sở hữu cố tình che dấu, trong khi tài sản dù là động sản hay bất động sản khó

mà che dấu được Thuế đánh vào tài sản cho phép khai thác hết khả năng của người nộp thuế Điều này, còn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế vì nó khuyến khích chủ

sở hữu tài sản sử dụng tài sản có hiệu quả nhất Thuế tài sản chỉ ảnh hưởng đến một phần thiểu số dân cư thuộc diện giàu có nên dễ nhận được sự ủng hộ của đại đa số người dân

Thuế tài sản là một trong những biện pháp can thiệp của nhà nước trong việc giải quyết sự không công bằng về phân phố giữa các tầng lớp dân cư Thuế tài sản là sắc thuế có thể phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm của các chủ thể trong nền kinh tế Do việc đánh thuế tài sản

sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích lũy bằng tài sản và khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh nên có thể sử dụng thuế tài sản làm công cụ kích cầu, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Thuế tài sản, đặc biệt là loại thuế đăng ký, thường dễ thu vì loại thuế này được xây dựng phù hợp với tâm lý của người có tài sản, muốn được xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp và bảo hộ đối với một số tài sản có giá trị

2.1.2

Việc đánh thuế tài sản không đơn giản chỉ nhằm mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà xuất phát từ nhiều lý do xét trên nhiều khía cạnh kinh tế, xã hội Thuế tài sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng như hệ thống ngân sách

nhà nước, cụ thể:

Trang 26

t, Thuế tài sản là nguồn thu rất quan trọng cho ngân sách Nhà Nước: thường chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng thu ngân sách của nhiều Quốc gia và cũng chính là loại thuế dễ quản lý thu Những bất động sản, nhà cửa không thể di dời che dấu được Máy bay, ô tô, tàu thuyền… thì không thể không đăng ký lưu thông Nhìn chung ở các Quốc gia áp dụng thuế tài sản thì nguồn thu rất cao cho ngân sách Nhà Nước Ví dụ như ở Canada, Mỹ, Úc, Ireland, Newzeland thuế tài sản chiếm trên 85% trong tổng thu ngân sách [4]

Thứ hai, Thuế tài sản góp phần đảm bảo công bằng xã hội: những người sở hữu một lượng tài sản có giá trị lớn, những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập nhiều hơn, ngoài những tài sản phục vụ cho đời sống sinh hoạt cá nhân họ còn có các tài sản tích trữ, đầu tư sinh lợi thì những chủ thể này phải có một nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách Nhà nước và cuối cùng thì ngân sách này thực hiện chức năng phân phối và phân phối lại Bất kỳ một xã hội nào càng phát triển thì càng có sự phân cực giữa hai tầng lớp người giàu và người nghèo Vì vậy, đứng ở góc độ quản lý Nhà nước đảm bảo một

xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thì chính sách thuế tài sản là một công cụ thực hiện mục tiêu này Bên cạnh đó, thuế tài sản còn có vai trò quan trọng trong mối quan

hệ giữa các thế hệ, tăng cường đoàn kết nội bộ, giảm đi sự chênh lệch quá đáng về thu nhập trong các tầng lớp xã hội

Thứ ba, thuế tài sản còn được coi là công cụ hữu hiệu của Chính phủ nhằm thực hiện việc quản lý, kiểm kê, kiểm soát đối với các loại tài sản có giá trị Thông qua đó thấy được sự chênh lệch giàu nghèo, mức sống của các tầng lớp dân cư, tiềm năng nguồn lực xã hội Từ đó Chính phủ có những quyết sách hợp lý cho việc phát triển kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ nhất định

Như vậy, xét trên khía cạnh việc đánh thuế tài sản là cần thiết vì nó khắc phục các khiếm khuyết của thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt là đối với những nước mà mức

độ thu nhập cá nhân có diện đánh thuế hạn hẹp và bị hạn chế do năng lực thực hiện Cùng với các loại thuế khác, thuế tài sản cho phép thực hiện được các mục tiêu, yêu cầu đề ra về tài chính, kinh tế, xã hội đồng thời phát huy tác dụng hỗ trợ có hiệu quả cho thuế đánh vào thu nhập và tiêu dùng trong hệ thống thuế Tuy nhiên trong một hệ thống thuế gồm nhiều loại thuế thu nhập có diện đánh thuế mở rộng thì hình thức thuế tài sản đánh vào những tài sản do thu nhập tạo ra đã chịu thuế thu nhập có thể dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng vào khoản tiết kiệm và vì vậy sẽ không mang lại hiệu quả

Trang 27

kích thích các đối tượng tạo ra thu nhập trong xã hội Do vậy, việc đánh thuế tài sản cần phải được xem xét, phân tích thận trọng trong mối quan hệ với các loại thuế khác, đặc biệt là đối với các loại thuế trực thu để thuế tài sản vừa đáp ứng yêu cầu tăng thu cho Ngân sách nhà nước một cách hợp lý, vừa khắc phục được sự trùng lắp, chồng chéo trong cách đánh thuế thu nhập, không kìm hãm phát triển sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản của các tầng lớp dân cư

Thứ tư, có tác dụng làm giảm nhẹ gánh nặng cho thuế thu nhập: Thuế tài sản thực chất là một loại thuế bổ sung cho thuế thu nhập vì nó đánh vào một dạng tồn tại khác của thu nhập để đảm bảo yêu cầu bao quát hết tất cả các nguồn thu Việc đánh thuế một lần vào thu nhập sẽ có khuynh hướng không đảm bảo công bằng vì khả năng kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu thường rất khó khăn đối với chính quyền thu thuế

Vì vậy, việc đánh thuế tài sản thực chất cũng là đánh thuế vào phần thu nhập được tài sản hoá Diện đánh thuế tài sản rộng hơn diện đánh thuế thu nhập, bao gồm mọi tài sản, không phân biệt tài sản đó mang lại thu nhập hay không, đảm bảo công bằng xã hội Việc đánh thuế tài sản sẽ có thêm cơ hội để hạ bớt thuế suất thuế thu nhập, làm cho sắc thuế này dễ được đông đảo người dân chấp nhận

Thứ năm, phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu

tư và tiết kiệm của các tác nhân trong nền kinh tế Việc đánh thuế tài sản sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích luỹ bằng tài sản và khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư sản xuất kinh doanh, qua đó góp phần thực hiện tốt chủ trương kích cầu để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

2.1.3

2.1.3.1 Quan điểm ủng hộ việc đánh thuế tài sản

Thứ nhất, về mặt lý thuyết chỉ cần đánh thuế trên thu nhập là đủ vì tất cả các khoản thuế suy cho cùng đều động viên từ thu nhập của công chúng Song nếu chỉ có một loại thuế thì mức thuế này phải rất cao mới đảm bảo nguồn thu cần thiết cho NSNN Từ đó sẽ cản trở đến tinh thần hăng say lao động để có nhiều thu nhập vì phải nộp thuế cao Hơn nữa, nếu chỉ có thuế thu nhập thì khả năng rủi ro về thất thu sẽ rất lớn Việc đánh thuế vào tài sản vừa tạo điều kiện giảm bớt số thuế đánh vào thu nhập, vừa cho phép động viên thêm phần thu nhập đã trốn hoặc tránh thuế

Thứ hai, việc đánh thuế tài sản xuất phát từ nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích Những người được hưởng lợi ích từ Nhà nước nhiều phải nộp thuế cao Nhà, đất và

Trang 28

các tài sản khác được bảo tồn, phát triển và sinh lời là nhờ được thừa hưởng rất nhiều lợi ích từ các dịch vụ công cộng của Nhà nước để làm tăng thêm giá trị của một số tài sản Chẳng hạn, giá trị nhà, đất có thể tăng lên nhiều do Nhà nước cải tạo, mở rộng cơ

sở hạ tầng không cần có sự đầu tư của chủ sở hữu Từ đó, người có tài sản, đặc biệt với tài sản có giá trị cần phải có trách nhiệm đóng góp để Nhà nước có thêm nguồn trang trãi các khoản chi này

Thứ ba, thuế tài sản mang tính chất là khoản thu bổ sung vào thuế đánh vào thu nhập, đặc biệt ở các nước mà thuế thu nhập cá nhân còn bị hạn chế và trình độ quản lý còn yếu kém Thuế tài sản cho phép tính đến khả năng lớn lao của người nộp thuế, được thể hiện bằng lượng của cải hơn là lượng tiền họ bỏ ra để tiêu dùng Thuế tài sản còn góp phần hướng dẫn, khuyến khích sử dụng tài sản có hiệu quả thông qua đầu tư vào vốn kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế hơn là cất giữ tài sản, loại thuế này thường động viên vào một số tầng lớp dân cư giàu có nên dễ được sự đồng tình, ủng

hộ của đại bộ phận quần chúng nhân dân

Thứ tư, thuế tài sản là một công cụ có hiệu lực phục vụ yêu cầu quản lý của Nhà nước trong hoàn cảnh sở hữu tài sản còn quá chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư Thông qua thuế tài sản, Nhà nước có thể thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý những loại tài sản quan trọng trong xã hội và động viên một phần đóng góp của chủ sở hữu tài sản có giá trị lớn, có nhiều thu nhập từ tiền cho thuê, chuyển nhượng, góp phần điều hoà thu nhập xã hội, thực hiện nghĩa vụ đóng góp công bằng, khuyến khích

sử dụng tài sản hợp lý, có hiệu quả

Thứ năm, thuế tài sản thường dễ thu do người chủ sở hữu tài sản thường muốn công khai đăng ký để được Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hay quyền sử dụng hợp pháp của mình khi có tranh chấp, kiện tụng… Vấn đề cần được quan tâm là mức đóng góp của chủ tài sản phải được xây dựng hợp lý, phù hợp, nhất là với tài sản đã qua nhiều lần luân chuyển và với tài sản có giá trị lớn khiến người nộp thuế phải bỏ ra khoản tiền nhiều

Thứ sáu, với tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền sở hữu quốc gia, thì việc đánh

thuế mang tính chất chuyển nhượng tài nguyên cho người khai thác là một việc cần thiết Ngoài ra, việc đánh thuế vào việc sử dụng đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân cũng là hợp lý và bảo đảm được sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân với NSNN, kể cả trường hợp nộp thuế vào nhà đất để ở, không có thu nhập

Trang 29

Thứ bảy, thuế tài sản còn phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm trong đời sống xã hội Việc đánh thuế vào tài sản sẽ góp phần hạn chế ý thích muốn tích luỹ bằng tài sản cất giữ, khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư vào sản xuất kinh doanh Qua đó, góp phần thực hiện tốt chủ trương kích cầu, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Với những lý do đó, việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản trong bối cảnh hiện nay là cần thiết, nhằm phát huy tác dụng bổ sung cho thuế đánh vào thu nhập, đánh vào tiêu dùng trong hệ thống chính sách thuế

2.1.3.2 Quan điểm không ủng hộ việc đánh thuế tài sản

Bất kỳ một sắc thuế nào khi ban hành cũng có những ý kiến không đồng thuận cần sửa đổi bổ sung Lập luận phản đối về việc áp dụng thuế tài sản thường tập trung các ý kiến sau:

Thứ nhất, tài sản được hình thành trong quá trình tích lũy thu nhập mà bản thân thu nhập đó đã chịu thuế rồi, chưa tính đến những tài sản còn chịu các thứ thuế khác khi mua sắm và khi đăng ký

Thứ hai, nếu đánh thuế trên những tài sản cất trữ không dùng cho hoạt động tạo

ra thu nhập thì vô hình dung đã tướt đoạt dần giá trị tài sản của chủ sở hữu

Thứ ba, thuế tài sản có thể gây ra sự ảnh hưởng nền kinh tế nếu như mức thuế suất và giá tính thuế đưa ra áp dụng không hợp lý sẽ làm cho những người sở hữu tài sản ngần ngại đầu tư tài sản [14]

2.1.4 Các hình thức đánh thuế tài sản

(a) Đánh thuế trên tất cả các tài sản

Theo phương pháp này, đối tượng đánh thuế tài sản là tất cả các loại tài sản mà một chủ sở hữu có được (gồm cả bất động sản và động sản) Trị giá tài sản chịu thuế

là giá trị tài sản ròng, là khỏan chênh lệch giữa tổng giá trị các tài sản và các chi phí, tiền vay tạo thành tài sản đó

Hình thức thuế của cải đánh trên giá trị tài sản ròng thường thích hợp trong điều kiện xã hội có mức thu nhập bình quân đầu người cao, khu vực kinh tế tư nhân phát triển, tài sản có sự tập trung quá mức vào một nhóm người giàu có dẫn đến khoảng cách chênh lệch đáng kể giữa giàu và nghèo, loại thuế này thường được áp dụng ở các nhóm nước OECD

Trang 30

Thuế suất thường sử dụng theo hình thức thuế suất lũy tiến, mức độ lũy tiến phụ thuộc vào mức độ tập trung tài sản trong xã hội cao hay thấp vào một nhóm người giàu có nhất định Nếu khoảng cách chênh lệch giàu nghèo quá lớn thì mức lũy tiến cần thiết kế cao hơn Ngược lại, mức lũy tiến vừa phải hoặc đôi khi không cần sử dụng loại thuế suất này

(b) Đánh thuế vào một bộ phận tài sản

Theo phương pháp này, đối tượng đánh thuế tài sản chỉ là một bộ phận trong toàn bộ tài sản của chủ sở hữu, có hai hình thức thuế phổ biến khi tính theo phương pháp này:

- Thuế bất động sản: Đối tượng nộp thuế là chủ sở hữu đất, nhà và bất động sản khác Thuế suất thường là thuế suất lũy tiến áp dụng trên trị giá tài sản chịu thuế, với mức động viên thấp và chỉ mang tính chất quản lý Thuế bất động sản thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý và thu vào ngân sách địa phương

- Thuế đánh một lần vào tài sản khi chuyển dịch quyền sở hữu: Thuế được thực hiện khi đối tượng nộp thuế cần có chứng nhận quyền sở hữu khi mua bán, thừa kế, chuyển dịch động sản hoặc bất động sản Thuế chỉ đánh một lần khi đăng ký quyền sở hữu, mức thuế thường là thuế suất tỷ lệ tính trên giá trị giá tài sản chịu thuế hoặc là định suất thuế (giá trị tuyệt đối) theo đơn vị tài sản

Mức thuế cao hay thấp tùy theo yêu cầu và mục đích điều tiết: Áp dụng mức thuế thấp nếu ngoài việc nộp thuế chuyển dịch quyền sở hữu, hàng năm còn phải nộp thuế tài sản Áp dụng mức thuế cao nếu chỉ chịu một lần thuế tài sản khi đăng ký Giá tính thuế tài sản thường được căn cứ theo giá thị trường tại thời điểm đánh thuế tài sản Một số trường hợp khó xác định giá thị trường thì áp dụng giá tính thuế do nhà nước quy định Nguồn thu từ các loại thuế đăng ký tài sản khi chuyển dịch quyền sở hữu thuộc các cấp ngân sách, trong đó có một phần cho ngân sách địa phương

2.1.5

Nếu chúng ta phân loại hệ thống thuế theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế (đối tượng đánh thuế) thì thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản là ba sắc thuế cấu

của các cá nhân trong xã hội Mỗi loại thuế đảm nhận thu cho nhà nước theo những phương pháp thích hợp, đồng thời tạo ra hiệu ứng tối ưu nhất đối với nền sản xuất xã hội Thuế đánh vào thu nhập làm giảm bớt thu nhập khả dụng của người có thu nhập

Trang 31

Thuế đánh vào tiêu dùng làm cho người tiêu dùng bị điều tiết một phần thu nhập mà nếu không có nó người tiêu dùng đã có thể mua được nhiều hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng hơn Thuế đánh vào tài sản làm giảm bớt sự giàu có hoặc lợi ích do tài sản mang lại cho chủ sở hữu của chúng Điều đó cho thấy sự tồn tại của ba loại thuế thu nhập, tiêu dùng và tài sản là tất yếu, thể hiện sự phù hợp, tương ứng theo sát chu kỳ vận động của thu nhập Có thể minh hoạ điều này thông qua sơ đồ biểu diễn dưới đây:

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ biểu diễn chu kỳ vận động của thu nhập

Nguồn: Sử Đình Thành (2006), Tài chính công

Ghi chú:

(1) Thu nhập nhận được trong hiện tại chưa sử dụng sẽ bị đánh thuế thu nhập

(2) Thu nhập còn lại (sau thuế thu nhập) khi tiêu dùng bị đánh thuế tiêu dùng

(3) Thu nhập còn lại dùng cho mục đích tích luỹ tài sản bị đánh thuế tài sản

(4)Tài sản tích lũy khác không hiện vật hoá (tài sản chính) thông thường không bị đánh thuế tài sản vì thực chất chúng chỉ là những trái vụ phản ánh quyền nắm giữ tài sản của chủ sở hữu Phần tài sản thực đã tồn tại dưới dạng hiện vật như chứng khoán,

cổ phiếu,…tạo nên tài sản hiện vật của người vay vốn

(5)Thu nhập dùng cho tiêu dùng, mua tài sản hoặc tích luỹ dưới dạng tài sản tài chính đến lượt nó lại tạo ra thu nhập tiềm năng trong tương lai và một trình đánh thuế mới lại bắt đầu (mũi tên đứt đoạn chỉ dòng thu nhập tương lai ở nhiều chu kỳ đánh thuế

Thu nhập tiêu dùng Thuế tiêu dùng

Thu nhập tương lai Thuế thu nhập

Thu nhập hiện tại

Thuế thu nhập

Thu nhập tích lũy khác

Tài sản tài chính hóa

Thu nhập tích lũy hiện vật hóa thành tài sản Thuế tài sản (1)

(5)

Trang 32

sau đó)

Như vậy, hệ thống thuế là một thể thống nhất gồm nhiều loại thuế cấu thành, được thiết kế dựa trên những nguyên lý và tiêu thức nhất định nhằm phát huy tối đa những chức năng của mỗi sắc thuế đồng thời thực hiện một cách có hiệu quả mục tiêu của toàn bộ hệ thống Một hệ thống thuế hoàn chỉnh phải gồm đầy đủ các loại thuế cơ bản là: thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản Sự hiện diện của ba loại thuế nói trên không đơn thuần là biện pháp cốt lõi để thu được thuế mà quan trọng hơn là một

sự tinh xảo, một kỹ nghệ trong việc thiết kế hệ thống các sắc thuế nhằm đảm bảo tiêu thức công bằng và hiệu quả một cách tối ưu

2.2 Thuế tài sản trong các lý thuyết kinh tế

Nghiên cứu đánh thuế tài sản từ lâu đã là một phần trong phát triển phân tích kinh tế mà khởi đầu là những người theo thuyết trọng nông ở Pháp, sau đó là Ricardo

và tiếp theo là George, vì vậy các tài liệu kinh tế liên quan đến thuế tài sản là rất rộng Trong suốt 40 năm qua, ba lý thuyết đã được đưa ra để miêu tả ảnh hưởng kinh tế của thuế tài sản Những người theo “quan điểm truyền thống” đưa ra giả thuyết rằng, do nguồn cung đất đai là cố định nên người sở hữu hoặc người thuê đất sẽ phải chịu thuế đất Tuy nhiên, những người theo “quan điểm mới” lại kết luận rằng thuế đất hoàn toàn gần giống với một loại thuế tổng hợp đánh vào toàn bộ tiền vốn Còn những người theo “quan điểm lợi ích” lại đưa ra giả thuyết rằng thuế tài sản được xem xét một cách đầy đủ thì nó không phải là thuế, mà là một loại phí hiệu quả đánh vào người sử dụng dịch vụ công cộng ở địa phương Cho đến nay, những nghiên cứu thực nghiệm vẫn không xác định được liệu quan điểm mới hay quan điểm lợi ích là mô hình đánh thuế tài sản phù hợp hơn [25]

Các loại thuế tài sản cơ bản được xác định bao hàm các loại thuế đánh vào những bất động sản, động sản và phụ thuộc vào giá trị tài sản đó Nhìn chung, thuế tài sản được quản lý thông qua việc sử dụng mức thuế thống nhất đối với giá trị định giá của tài sản chịu thuế Trong phạm vi giới hạn nhất định, các mức thuế thường khác nhau phụ thuộc vào loại hoặc nhóm tài sản bị đánh thuế Hệ thống thuế tài sản khác nhau đáng kể giữa các phạm vi pháp lý liên quan đến loại tài sản bao gồm cơ sở tính thuế, kỹ thuật định giá được sử dụng để xác định giá trị tài sản chịu thuế và mức thuế suất áp dụng đối với các nhóm tài sản khác nhau

Trang 33

Tài liệu kinh tế xem xét mô hình thuế tài sản có phạm vi rất rộng, các nhà kinh

tế phát triển các giả thuyết khác nhau liên quan đến phạm vi tác động của thuế tài sản

và tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thuyết này Nghiên cứu

về đánh thuế tài sản gắn chặt với nghiên cứu về cung cấp các dịch vụ công cũng như việc phân tích cân bằng tổng thể về đánh thuế tài sản phải xem xét đến lợi ích công cộng được đưa ra thông qua hệ thống đánh thuế tài sản Những mô hình kinh tế về đánh thuế tài sản đóng vai trò khá quan trọng, là cơ sở cho các đề xuất chính sách công mà theo đó mức thuế tài sản khác nhau hoặc quy trình đánh giá khác nhau có thể dùng để bảo vệ đất nông nghiệp hoặc khuyến khích phát triển ở khu vực thành thị Các nhà kinh tế cũng kiểm tra việc quản lý hệ thống thuế tài sản, bao gồm thủ tục đánh giá thích hợp khi định giá tài sản nhằm mục đích tính thuế

Theo như mô tả của Winfrey (1973) cũng như của Buchanan và Flowers (1975), thuế tài sản là một trong những loại hình tính thuế sớm nhất được xem xét từ góc độ kinh tế Từ những người theo trường phái trọng nông ở Pháp giữa thế kỷ XVIII, bao gồm cả Francois Quesnay– người đầu tiên mở ra học thuyết này, những nhà kinh tế đầu tiên đã kết luận rằng: tài sản là cơ sở hợp lý nhất để tính thuế mà cụ thể là đất đai Những người theo trường phái trọng nông xem đất nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất duy nhất của nền kinh tế, tạo ra thặng dư lớn hơn chi phí sản xuất thực

tế Tất cả các lĩnh vực kinh tế khác của nền kinh tế chỉ đơn giản cung cấp dịch vụ hoặc biến đổi hàng hóa từ dạng này sang dạng khác

David Ricardo, nhà kinh tế học cổ điển người Anh cũng cho rằng đất đai là yếu

tố sản xuất thích hợp bị đánh thuế Theo Ricardo, tăng dân số sẽ làm tăng nhu cầu đối với sản phẩm nông nghiệp, do đó sẽ dẫn đến nhiều đất đai được đưa vào sử dụng hơn

Do cần nhiều lao động hơn để làm những vùng đất tăng thêm này hiệu quả, Ricardo lý giải rằng chi phí lớn hơn sẽ được thể hiện trong việc giá cả sản phẩm nông nghiệp tăng lên Giá cả sản phẩm nông nghiệp tăng lên sẽ làm tăng thu nhập cho những người

sở hữu nhiều đất đai màu mỡ hơn, đây là những người không phải đối mặt với việc tăng chi phí sản xuất đối với phần đất biên tăng thêm [25] Cũng theo Ricardo, phần thu nhập tăng thêm này hay gọi là “tô”, thặng dư này cần phải bị đánh thuế bởi vì nó không thể hiện chi phí sản xuất thực tế [25]

Tại Mỹ, việc sử dụng thuế tài sản bị giới hạn trong phạm vi pháp lý bang và địa phương Thêm vào đó, doanh thu có được thông qua đánh thuế vào động sản giảm so

Trang 34

với đánh thuế vào bất động sản (Netzer, 1966) Mặc dù bước tiến về thuế duy nhất của George chưa bao giờ được thực hiện đầy đủ chủ yếu do các khó khăn về hành chính nhưng nó vẫn hiện hữu trong cơ chế thuế tài sản mà theo đó đất đai bị đánh thuế mạnh hơn so với các dạng tài sản khác (Oates và Schwab, 1997)

Các nhà kinh tế phát triển ba lý thuyết cơ bản xem xét tác động của thuế tài sản Quan trọng hơn, mỗi lý thuyết đều phân biệt thuế đất đai và thuế vốn Kết quả quan sát cho rằng thuế tài sản có thể có tác động khác biệt đến đất đai trái ngược với các hình thức vốn khác bắt nguồn từ khác biệt về tính co giãn về cung của mỗi đối tượng Dựa trên giả thiết rằng cung đất đai phụ thuộc vào thuế là cố định trong phạm

vi pháp lý cho trước, quan điểm truyền thống chỉ ra rằng thuế đất sẽ do người sử dụng đất chịu, mà cụ thể đó là người sở hữu hoặc người thuê đất (Netzer, 1966) Tuy nhiên, quan điểm mới lại đưa ra kết luận rằng thuế đất đai có thể tách ra thành hai phần là thuế thu nhập và thuế tiêu thụ đặc biệt (Mieszkowski, 1972; Aaron 1975) Do phần thuế thu nhập tương đương với thuế chung đánh vào vốn nên phần thuế tài sản đó sẽ đánh vào người sở hữu vốn Cuối cùng, quan điểm lợi ích giả thiết rằng thuế tài sản được xem là phí đánh vào người sử dụng các dịch vụ công tại địa phương (Hamilton, 1992) Do người tiêu dùng các dịch vụ công là thay đổi nên quan điểm lợi ích cho rằng thuế tài sản trong nhiều trường hợp là cơ cấu tài chính hiệu quả đối với các dịch

vụ công

2.3 Những nguyên tắc xây dựng mô hình thuế tài sản

2.3.1 Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng

Công bằng theo chiều dọc và chiều ngang là điều tối quan trọng nếu muốn giải quyết yếu tố kinh tế và chính trị của cải cách thuế tài sản Công bằng theo chiều dọc

và chiều ngang thể hiện ở chỗ các tài sản tương tự cần có nghĩa vụ thuế được xác định

và thanh toán tương tự nhau, trong khi đó sự khác biệt tương đối về giá trị tài sản cần phải được phản ánh trong các mức khác biệt tương đối có thể so sánh được trong giá trị tài sản chịu thuế và phần nộp thuế Sự công bằng cũng đòi hỏi phải áp dụng một cách rõ ràng, nhất quán và khách quan các chính sách và thủ tục được hiểu và chấp nhận rộng rãi Để công bằng, cần đánh thuế theo các quy tắc chung và khách quan được thừa nhận là hợp lý và công bằng Tổng số tiền thuế phải nộp cần chắc chắn và không nên được xác định thông qua thương lượng hoặc yêu sách một cách tùy tiện

Trang 35

Công bằng là một yêu cầu rất quan trọng trong việc xây dựng mô hình thuế, tính công bằng của thuế thể hiện ở hai mặt pháp lý và kinh tế Theo các nhà kinh tế học, tính công bằng của thuế được xem xét ở hai giác độ, công bằng theo chiều ngang

và công bằng theo chiều dọc Công bằng theo chiều ngang là các đối tượng có tình trạng và khả năng nộp thuế ngang nhau thì phải được đối xử về thuế như nhau Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử về thuế khác nhau đối với các đối tượng có tình trạng

và khả năng đóng thuế khác nhau Tính công bằng về thuế còn được các nhà kinh tế học xem xét ở khía cạnh khả năng đóng thuế, lợi ích của người nộp thuế

2.3.2 Nguyên tắc bền vững và khả thi

Tính bền vững của hệ thống thuế tài sản là điều cần thiết vì chi tiêu thường xuyên của chính quyền địa phương thường lấy từ nguồn thu thuế tài sản: chính quyền địa phương yêu cầu một nguồn thu thuế ổn định nhằm phát triển và duy trì mức độ cung cấp dịch vụ và cơ sở hạ tầng tại địa phương như mong muốn Để bảo đảm tính bền vững thì hệ thống thuế tài sản phải cân bằng giữa tính năng động và uyển chuyển với tính ổn định và nhất quán để cho nó vừa có khả năng thay đổi thích nghi với tình hình, đồng thời có thể dự báo trước trong quá trình áp dụng Yếu tố then chốt nhất của tính bền vững là hệ thống thông tin quản lý phải vận hành tốt để giảm thiểu khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn

Nguyên tắc khả thi rất quan trọng trong việc xây dựng bất kỳ một sắc thuế nào, nguyên tắc khả thi thể hiện ở những điểm sau:

- Nguyên tắc khả thi đòi hỏi sắc thuế phải tính đến khả năng đóng thuế của người dân từ đó đưa ra cách thức điều chỉnh thích hợp Nhà nước không thể bắt người dân đóng thuế khi họ không có khả năng đóng góp Khả năng đóng góp của người dân thể hiện ở chỗ người dân chỉ phải đóng thuế khi mà thu nhập chịu thuế của họ là khoản thu nhập còn dư ra sau khi chi cho những nhu cầu cần thiết Thông thường các quốc gia tính toán và đưa ra những định mức chi tiêu cần thiết áp dụng chung cho mọi người dân Nếu thu nhập của họ không vượt quá định mức này, họ không phải đóng thuế

- Nguyên tắc khả thi cũng thể hiện ở việc thi hành luật thuế, cơ quan thuế phải có khả năng xác định đúng đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, số thuế phải thu Ngòai ra, cơ quan thuế cũng phải có khả năng phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp trốn thuế, tránh thuế

Trang 36

2.3.3 Cơ sở thuế rộng và thuế suất thấp

Phạm vi thu thuế rộng là điều thiết yếu nếu muốn thuế tài sản phát huy hiệu quả, công bằng và bền vững Phạm vi thu thuế quan trọng bởi vì những trường hợp bất công nhất và thất thu thuế nhiều nhất là do cơ sở thuế hẹp, bất kể “hẹp” là do luật định hoặc do cách quản lý trong thực tế, danh mục tài sản chịu thuế thường chỉ bao gồm một tỉ lệ nhỏ tài sản chịu thuế Do vậy khi nhu cầu tiền thuế tăng mà lại không mở rộng được danh mục tài sản chịu thuế thì xuất hiện cái vòng tròn lẩn quẩn từ định giá tài sản chịu thuế cao hơn, giảm mức độ tuân thủ nộp thuế, cơ sở thuế hiệu dụng nhỏ hơn, số thu thuế thấp hơn, và lại tiếp tục định giá tài sản chịu thuế cao hơn Tuy nhiên, thậm chí khi danh sách tài sản chịu thuế đầy đủ và chính xác đi chăng nữa thì sẽ không tạo ra cơ sở thuế rộng trong thực tiễn nếu không có cơ chế hành thu hữu hiệu

Theo nghiên cứu của Jay K Rosengard (1998), hàng hóa có độ co giãn càng cao thì tổn thất xã hội càng lớn, hàng hóa có thuế suất cao thì tổn thất xã hội lớn Do

đó một hệ thống thuế có hiệu quả nên đánh thuế với mức thuế suất thấp và diện chịu thuế rộng Thuế hàng hóa tối ưu là phương án chọn các mức thuế suất giữa các loại hàng hóa để tổn thất xã hội là nhỏ nhất trước một nhu cầu về doanh thu thuế cho trước

Ngoài ra, cơ sở thuế hẹp làm tăng nhu cầu cần có mức thuế suất tương đối cao Điều này không chỉ không có hiệu quả về mặt kinh tế do mất mát vô ích từ cải thiện đất đai tăng theo bình phương thuế suất mà nó còn không có công bằng xã hội bởi vì

nó làm tăng gánh nặng thuế của các công dân khi tài sản của họ không bị loại bỏ khỏi

cơ sở thuế

2.3.4 Nguyên tắc đơn giản

Nguyên tắc đơn giản phải được thể hiện trong cả khâu thiết kế và điều chỉnh thực để hạn chế sự chủ quan và tình trạng tham nhũng trong công tác quản lý thuế Tính đơn giản trong thiết kế thuế tài sản đòi hỏi việc đánh thuế phải dựa trên cơ sở rộng với các mức thuế suất thống nhất cho các loại tài sản Tính đơn giản trong quản

lý thuế tài sản làm gia tăng tính hiệu quả về mặt chi phí và sự công bằng khi thực thi chính sách thuế Các thủ tục thuế đối với tài sản đơn giản sẽ được các cán bộ thuế và người nộp thuế nhanh chóng nắm bắt, do vậy việc quản lý sẽ tương đối dễ dàng và ít tốn kém – nếu có tình trạng lạm dụng thì cả hai bên đều dễ dàng biết được Hơn nữa các tác nghiệp khi đã được hợp lý hóa cho phép mở rộng phạm vi thu thuế chỉ với

Trang 37

nguồn lực hạn chế và khuyến khích người nộp thuế tự nguyện tuân thủ do dịch vụ được cải thiện

Nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu phải được thể hiện ở cả khía cạnh kinh tế lẫn pháp lý Thông thường cơ quan thuế quan tâm nhiều đến số tiền thuế thu được cho ngân sách, nhưng người chịu thuế luôn muốn biết xem ngoài thuế, họ còn phải chịu

xin giấy phép ưu đãi đầu tư, thời gian mà họ phải bỏ ra để hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với nhà nước… Giảm bớt các chi phí liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế rất quan trọng trong việc cải cách thuế Hầu hết các quốc gia đều mong muốn luật thuế của mình đơn giản và dễ hiểu Tuy nhiên, nếu một sắc thuế quá đơn giản cũng không phải luôn luôn là một điểm tích cực Thuronyi (2008) đã chỉ ra rằng ở những nước đang phát triển có luật thuế rất đơn giản và với luật thuế như thế, các nước này không thể điều chỉnh những giao dịch phức tạp [28] Cơ quan quản lý thuế không thể đưa ra được hướng dẫn thích hợp cho người nộp thuế, người chịu thuế hoặc cơ quan quản lý thuế không có khả năng kiểm tra những giao dịch đó dẫn đến tình trạng trốn, tránh thuế và thất thu ngân sách

2.3.5 Tính hiệu quả

Nguyên tắc này đòi hỏi sự kiểm tra của cơ quan lập pháp xem mục tiêu ban hành sắc thuế có được đảm bảo không Việc kiểm tra phải được tiến hành xuyên suốt trong quá trình áp dụng Nếu mục tiêu của việc ban hành sắc thuế nào đó là nhằm mục tiêu tăng thu cho ngân sách nhà nước thì quốc hội phải kiểm tra xem số tiền thuế thu được có nhiều hơn chi phí mà nhà nước phải bỏ ra để thu thuế hay không Hiệu quả phân bổ và quản lý là điều quan trọng để duy trì mối quan hệ hợp lý giữa nguồn thu tạo ra được với chi phí kinh tế và tài chính để huy động được số thu đó

2.4 Những nhân tố cơ bản của mô hình thuế tài sản

Để hình thành bất kỳ một mô hình thuế nào, điều cần thiết đầu tiên là phải xác định các nhân tố cấu thành sắc thuế đó K.Rosengard (1998) đúc kết từ lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia và cho rằng, các nhân tố cơ bản hình thành sắc thuế tài sản bao gồm cơ sở thuế (tax base), thuế suất (tax rate) và hình thức (method) đánh thuế

- Cơ sở thuế (căn cứ tính thuế) bao gồm: phạm vi đối tượng chịu thuế tài sản, thu nhập chịu thuế hoặc tài sản chịu thuế, tỷ lệ giá trị tài sản chịu thuế, ngưỡng chịu thuế

Trang 38

- Thuế suất: sự đồng nhất hay khác biệt thuế suất; thuế suất lũy tiến, tỷ lệ hay lũy thoái

- Hình thức đánh thuế: thể hiện cách thức đánh thuế dựa trên giá trị hay thu nhập; đánh thuế hàng năm hoặc đánh thuế một lần

Nguồn: Jay K.Rosengard (1998), Property Tax Reform in Developing Countries, Kluver Academic Publishers, Boston

Thuế bất động sản Indonesia, PBB (pajak bumi dan bangunan, thuế đất và công trình xây dựng) được áp dụng theo giá trị trên thị trường vốn đối với tất cả đất đai và công trình xây dựng trên toàn quốc, ngoại trừ bất động sản thuộc các nhóm được miễn thuế theo quy định cụ thể trong luật thuế bất động sản

- Đất được định nghĩa là diện tích bề mặt của Indonesia, bao gồm đường thủy và mặt biển, cùng với diện tích nằm bên dưới

- Công trình xây dựng (building) được định nghĩa là các kiến trúc xây dựng cố định trên mặt đất hay mặt nước có tạo ra lợi ích, bao gồm đường xá và các công trình gắn liền với tổ hợp xây dựng; đường thu phí; hồ bơi; vườn và hàng rào đắt tiền; công trình thể thao; bến tàu và cảng; đường ống, hồ chứa và các thiết bị chế biến dầu, khí

và nước

Hình 2.1a: Mô hình thuế tài sản của K Rosengard (1998)

Trang 39

Nguồn: Keputusan Menteri Keuangan Republik Indonesia Nomor (1988), Tentang Penentuan Klasifikasi dan Besarnya Nilai Jual Obyek Pajak Sebagai Dasar Pengenaan Pajak Bumi Dan Bangunan

2.5 Mô hình t

2.5.1

Thuế tài sản là loại thuế có lịch sử lâu đời nhất trên thế giới, sắc thuế này được hình thành đầu tiên vào thời kỳ cổ đại ở Hy Lạp (năm 596 trước Công nguyên) và đến thời Trung cổ được áp dụng tại Anh và một số nước châu Âu, Bộ luật Saladin năm

1188 có ghi rõ: thuế ra đời để phục vụ cuộc Thập tự chinh Thiên chúa giáo lần thứ 3 với thuế suất 10% áp dụng đối với tiền cho thuê bất động sản và động sản [14] Thuế tài sản được áp dụng sớm và rộng rãi, trước hết vì vào thời kỳ đó xã hội chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp mà đất đai gần như là tài sản duy n

i qua các giai đoạn cùng với sự phát triển kinh tế, các động sản khác ngày càng tăng và đất đai mất dần vị trí độc tôn ban đầu với tư cách là nguồn thu chủ yếu của mỗi quốc gia

Về lịch sử phát triển của thuế tài sản, có thể lấy Thụy Điển là một ví dụ điển hình Thuế tài sản đánh vào đất đai đã trở thành nguồn thu chủ yếu để Nhà Vua và Hoàng tộc thoả mãn các nhu cầu chi tiêu, kể cả việc duy trì quân đội, bộ máy hành chính ngay từ đầu thời kỳ trung cổ Nhà Vua ban đất cho giới quý tộc, nên họ phải

Hình 2.1b: Mô hình thuế tài sản của Keputusan Menteri

Keuangan Republik Indonesia Nomor (1988)

Trang 40

cống nạp cho triều đình bằng sự phục vụ của chính bản thân và những sản phẩm do nông nô trong các trang trại sản xuất ra Đây cũng là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm quan trọng và là một trong những hình thức nộp thuế tài sản bằng hiện vật đầu tiên

Một trong những xu hướng cải cách chính sách thuế đang diễn ra trên thế giới liên quan đến tài sản là mở rộng diện đánh thuế trên tài sản thuộc quyền sở hữu tư nhân bao gồm nhà đất, tài sản thừa kế, quà tặng, tài sản chuyển nhượng Việc thu thuế tem (gần như lệ phí trước bạ, công chứng ở Việt Nam) cũng đang được mở rộng qua việc hợp pháp hoá quyền sở hữu, quyền sử dụng nhiều tài sản có giá trị lớn trong việc chuyển nhượng ở các nước thuộc liên minh Châu Âu và nhiều nước khác Thuế quà tặng cũng đang phát triển ở một số nước, thuế này thường chiếm đến 3% tổng số thu

về thuế ở Thuỵ Điển, 10% ở các nước Nhật, Anh, Mỹ Nếu xét trên số thuế thu cho địa phương thì các loại thuế đánh vào tài sản đóng vai trò khá lớn Tại úc, Ireland và Anh, tỷ lệ số thu từ thuế đánh trên BĐS chiếm gần 100% số thuế thu cho địa phương;

ở New Zealand khoảng trên 90%, ở Mỹ, Canada, Hà Lan trên 70% [14]

Thuế tài sản ở các nước OECD chiếm một tỷ trọng khá đáng kể so với GDP, đóng góp một nguồn thu tương đối ổn định cho ngân sách của các quốc gia này

Bảng 2.1: Tỷ lệ thuế tài sản trên GDP các nước nhóm OECD

Ngày đăng: 14/09/2017, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w