Việc sử dụng giá trị hợp lý phải hiểu rõ mục đích cungcấp thông tin tài chính và các yêu cầu cơ bản đối với thông tin này: Sử dụng giá trị hợp lý có đáp ứng tốt mục tiêu cung cấp thôn
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU1.1 Đặt vấn đề:
Giá trị hợp lý là một thuật ngữ mới trong lĩnh vực kế toán Cơ sở tính giá này bắtđầu được sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 khi Ủy ban soạn thảo chuẩn mực kếtoán quốc tế nghiên cứu ban hành mới và sửa đổi các chuẩn mực kế toán như: công cụtài chính, thanh toán trên cơ sở cổ phiếu…
Bắt đầu từ năm 2005, Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) chính thứctriển khai Dự án xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế(IFRS) thay thế cho hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) hiện hành Tháng9/2010, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố dự thảo và đến đầu tháng5/2011 phát hành IFRS 13 (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 13) – Đo lường giátrị hợp lý (Fair Value Measurement) có hiệu lực từ 01/01/2013
Trong khi đó ở Việt Nam giá gốc được quy định là nguyên tắc cơ bản, vai trò vàviệc sử dụng giá trị hợp lý trong định giá còn mờ nhạt Thực ra giá trị hợp lý ở ViệtNam đã được đề cập đến từ hơn 10 năm nay và đầu tiên được định nghĩa trong Chuẩnmực kế toán số 14 – Doanh thu và thu nhập: Là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giátrị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biếttrong sự trao đổi ngang giá Trong kế toán Việt Nam, giá trị hợp lý được sử dụng chủyếu trong ghi nhận ban đầu: tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác và báo cáo cáckhoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh
Về phương pháp xác định giá trị hợp lý ngoại trừ đoạn 24 của Chuẩn mực kế toán
số 4 – Tài sản cố định vô hình: Giá trị hợp lý có thể là: Giá niêm yết tại thị trường hoạtđộng; Giá của nghiệp vụ mua bán TSCĐ vô hình tương tự Thông tư 21/2006/TT-BTCngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính có hướng dẫn việc xác định giá trị hợp lý trong xácđịnh giá phí hợp nhất kinh doanh đến nay chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất
Trang 2về phương pháp xác định giá trị hợp lý trong kế toán Thực ra ngày 13/03/2006, Bộ TàiChính đã ban hành Thông tư 17/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 101/2005/NĐ-CP vềthẩm định giá, trong đó có quy định khá cụ thể các phương pháp định giá, tuy nhiênviệc áp dụng các phương pháp này như thế nào trong kế toán vẫn còn bỏ ngỏ.
Tuy nhiên, trên thế giới giá trị hợp lý đã được thừa nhận và áp dụng nhiều nướctrên thế giới còn tại Việt Nam giá trị hợp lý cũng đã xuất hiện nhưng còn khá mới mẻ
và chưa được áp dụng rộng rãi Việc sử dụng giá trị hợp lý phải hiểu rõ mục đích cungcấp thông tin tài chính và các yêu cầu cơ bản đối với thông tin này:
Sử dụng giá trị hợp lý có đáp ứng tốt mục tiêu cung cấp thông tin tài chính: Giátrị hợp lý là cơ sở tính giá phản ánh mức giá kỳ vọng của thị trường hiện tại và tươnglai đối với một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả
Sử dụng giá trị hợp lý đảm bảo thông tin tài chính là thích hợp: Thông tin thíchhợp khi chúng ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng, giúp họ đánh giá các
sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai hay xác định hay điều chỉnh các đánh giá quákhứ của họ
Sử dụng giá trị hợp lý đáng tin cậy: Khi cần tính giá cho tài sản và nợ phải trảviệc sử dụng giá cả quan sát được của thị trường một cách trực tiếp hoặc giá thị trườngđiều chỉnh làm giá trị hợp lý có thể thỏa mãn được mức độ tin cậy thỏa đáng
Sử dụng giá trị hợp lý làm giảm bớt sự phức tạp và đảm bảo sự dễ hiểu của thôngtin tài chính: Trong thị trường tài sản và nợ phải trả hoàn toàn giống với tài sản và nợphải trả cần tính giá, việc xác định giá trị hợp lý là không quá phức tạp Khi đó giá trịhợp lý chính là giá quan sát được từ các giao dịch trên thị trường trong điều kiện tươngtự
Sử dụng giá trị hợp lý nâng cao tính so sánh của thông tin tài chính: Việc sử dụngrộng rãi và nhất quán giá trị hợp lý trong đánh giá và ghi nhận tài sản và nợ phải trả sẽnâng cao khả năng so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán của một đơn vị và giữa cácđơn vị kế toán với nhau
Trang 3Vì vậy việc sử dụng giá trị hợp lý là vấn đề cấp thiết hiện nay để giúp các doanhnghiệp cung cấp được những thông tin trung thực và đáng tin cậy giúp các nhà đầu tư
có niềm tin khi ra quyết định, cũng như giúp kế toán có cách nhìn tổng quan trong việcvận dụng giá trị hợp lý giữa Chuẩn mực kế toán quốc tế với Chuẩn mực kế toán ViệtNam
1.2 Tính cấp thiết của đề tài:
Vai trò báo cáo tài chính là cung cấp thông tin tài chính làm nền tảng cho việc raquyết định của nhà đầu tư, việc cung cấp thông tin đòi hỏi kế toán phải trình bày báocáo tài chính một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, và kết quả hoạt độngkinh doanh của đơn vị Một trong những vấn đề quan trọng của công tác kế toán làđịnh giá nhằm xác định giá trị bằng tiền của các đối tượng kế toán để phục vụ cho việcghi chép và lập báo cáo tài chính Lịch sử phát triển của kế toán và lý thuyết kế toán làquá trình tìm kiếm không ngừng một hệ thống định giá tốt nhất để phản ánh tình hìnhtài chính, trong quá trình phát triển đã có nhiều loại giá khác nhau được sử dụng, trong
đó giá trị hợp lý ngày càng đóng vai trò quan trọng với mục đích trình bày thông tintrên báo cáo tài chính một cách trung thực và hợp lý hơn
Là một khái niệm mới nhưng giá trị hợp lý đã được thừa nhận và áp dụng nhiềunước trên thế giới cách đây rất lâu Tại Việt Nam giá trị hợp lý cũng đã xuất hiện đểđịnh giá các đối tượng kế toán Tuy nhiên, do còn mới mẻ nên việc áp dụng chưa đượcrộng rãi và chưa đạt được mục đích của giá trị hợp lý, cũng như chưa được quy địnhmột cách cụ thể, rõ ràng trong chuẩn mực kế toán Việt Nam Với mục đích đưa kế toánViệt Nam ngày càng tiệm cận với thông lệ kế toán quốc tế trong giai đoạn hội nhập, vìvậy “Thực tiễn và giải pháp vận dụng giá trị hợp lý trong doanh nghiệp Việt Nam theoChuẩn mực kế toán quốc tế” là vấn đề cấp thiết hiện nay để giúp các doanh nghiệp:
- Cung cấp được những thông tin trung thực và đáng tin cậy giúp cho các nhàđầu tư có niềm tin khi đưa ra quyết định
Trang 4- Làm rõ bản chất của giá trị hợp lý và khẳng định một công cụ định giá mớiphục vụ công tác kế toán Việt Nam.
- Mang đến sự tiếp cận ngày càng ngắn về định giá giữa Việt Nam và quốc tếtrong quá trình hội nhập
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
1.3.1 Mục tiêu tổng quát:
Tìm hiểu giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán quốc tế và thực tiễn áp dụng tạiViệt Nam để từ đó đề xuất giải pháp vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về giá trị hợp
lý vào doanh nghiệp Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp sẽ thực hiện để đạt được những mục tiêu và nội dung trên:
Nội dung 1: Hệ thống hóa lý luận về giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Mỹ
và Quốc tế và thực trạng áp dụng trên thế giới
Phương pháp tổng hợp:
Tổng hợp các khái niệm về định giá trong kế toán
Quá trình hình thành và phát triển giá trị hợp lý trong kế toán qua các thờikỳ khác nhau
Phương pháp so sánh:
Tổng hợp thực tiễn áp dụng giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Mỹ và
kế toán quốc tế
Trang 5 So sánh thực tiễn áp dụng giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Mỹ vàquốc tế.
Nội dung 2: Khảo sát đánh giá thực trạng về khía cạnh quan điểm cũng như thực
tiễn áp dụng thước đo giá trị hợp lý của doanh nghiệp Việt Nam
Phương pháp tổng hợp:
Tổng hợp khái niệm định giá trong kế toán Việt Nam
Tổng hợp quá trình hình thành và phát triển giá trị hợp lý trong kế toánViệt Nam qua các thời kỳ
Phương pháp phân tích và nội suy: Phân tích những vấn đề về sử dụng giátrị hợp lý trong kế toán Việt Nam
Phương pháp thu thập Thông tin thứ cấp và sơ cấp: Khảo sát và điều tra cáccông ty cổ phần niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM
Phương pháp thống kê và kiểm định mô hình:
Thống kê các số liệu khảo sát qua bảng câu hỏi
Kiểm định mô hình theo phần mềm SPSS
Nội dung 3: Đề xuất giải pháp nhằm áp dụng thước đo giá trị hợp lý của Chuẩn
mực kế toán Mỹ và kế toán Quốc tế vào các doanh nghiệp Việt Nam
Phương pháp phân tích và nội suy:
Quan điểm việc sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam
Giải pháp vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam
1.5 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi kế toán tài chính doanh nghiệp trên cơ
sở luật kế toán, chuẩn mực, chế độ kế toán, không đề cập đến kế toán quản trị cũng nhưlĩnh vực kế toán khác
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu điều tra các đối tượng doanh nghiệp trênphạm vi Thành phố Hồ Chí Minh là các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứngkhoán Tp.HCM
Trang 61.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
- Kết quả nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng giá trị hợp
lý trong kế toán Việt Nam, từ đó định hướng và xác lập phương hướng vận dụng giá trịhợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam
1.7 Cấu trúc của luận văn:
Bố cục chính của luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về giá trị hợp lý
Chương 3: Thực trạng giá trị hợp lý được áp dụng trong hệ thống kế toán
doanh nghiệp Việt NamChương 4: Xây dựng mô hình giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt
NamChương 5: Một số giải pháp và kiến nghị để triển khai giá trị hợp lý trong kế
toán doanh nghiệp Việt Nam
Trang 7Kết luận chương 1:
Nhằm mục đích đưa kế toán Việt Nam ngày càng tiệm cận với Thông lệ kế toánquốc tế trong giai đoạn hội nhập, vì vậy “Thực tiễn và giải pháp vận dụng giá trị hợp lýtrong doanh nghiệp Việt Nam theo Chuẩn mực kế toán quốc tế” là vấn đề cấp thiết hiệnnay để giúp các doanh nghiệp Việt Nam có định hướng và xác lập phương hướng vậndụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam
Mục tiêu của đề tài: xây dựng mô hình và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việcvận dụng giá trị hợp lý trong kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoánTp.HCM
Nghiên cứu thực hiện 2 giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu địnhlượng
Bố cục luận văn gồm 5 chương: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu; Cơ sở lý luận vềgiá trị hợp lý; Thực trạng giá trị hợp lý được áp dụng trong hệ thống kế toán doanhnghiệp Việt Nam; Xây dựng mô hình giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp ViệtNam; Một số giải pháp và kiến nghị để triển khai giá trị hợp lý trong kế toán doanhnghiệp Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ
2.1 Định giá trong kế toán:
2.1.1 Khái niệm định giá trong kế toán:
Định giá là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ của các yếu tố báo cáo tài chínhđược ghi nhận và trình bày trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh[19] hay định giá là xác định giá trị bằng tiền tệ cho các đối tượng hoặc sự kiện liênquan đến doanh nghiệp Định giá thường diễn ra thường xuyên trong hoạt động kinh tếcủa doanh nghiệp như khi giao dịch, mua bán, sản xuất Định giá là một công việcquan trọng kế toán tài chính
Định giá trong kế toán:
Trong kế toán, với chức năng “thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấpthông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” [8] thìđịnh giá xác định giá trị tiền tệ khi phản ánh các đối tượng và các nghiệp vụ kinh tế.Xét trong mối quan hệ giữa nghiệp vụ với giao dịch thì định giá bao gồm hai loại:
- Định giá ban đầu: là xác định giá trị của đối tượng kế toán ngay khi nghiệp
vụ kinh tế phát sinh để ghi nhận vào sổ sách kế toán
- Định giá sau ghi nhận ban đầu: là xác định lại giá trị của các đối tượng kế
toán sau một kỳ nhất định, xuất phát từ sự thay đổi của các đối tượng như: hao mòn,đánh giá lại…
2.1.2 Tầm quan trọng của định giá:
Định giá là một công việc quan trọng trong kế toán tài chính
Định giá là một phương pháp cơ bản của kế toán:
Thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được biểuhiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn, cũng như kết quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [14]
Trang 9Định giá ảnh hưởng đến quyết định của người đọc báo cáo tài chính:
Định giá ảnh hưởng đến tất cả các khoản mục của báo cáo tài chính, từ đó nó ảnhhưởng đến các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp …
2.1.3 Các giả thiết, nguyên tắc kế toán ảnh hưởng đến việc định giá:
Kế toán tài chính phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và phải đảm bảo tínhchất trung thực, hợp lý, việc định giá trong kế toán phải đảm bảo những nguyên tắcnhất định để tránh sự tùy tiện hoặc chủ quan của người kế toán Để đạt được mục đíchtrên, báo cáo tài chính thỏa mãn các đặc điểm chất lượng Những nguyên tắc kế toán cóảnh hưởng rõ rệt đến định giá dựa trên khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban chuẩn mực kếtoán quốc tế (IASB framework) đưa ra hai giả định cơ bản (cơ sở dồn tích, hoạt độngliên tục) và bốn đặc điểm chất lượng (tính có thể hiểu được, tính thích hợp, tính có thể
so sánh được và tính đáng tin cậy)
Cơ sở dồn tích (Accrual Basis):
Nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng ra quyết định,báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích
Theo cơ sở dồn tích, ảnh hưởng của các nghiệp vụ kinh tế hay sự kiện khác đượcghi nhận khi chúng xảy ra Một nghiệp vụ kinh tế phải được ghi nhận trong sổ sách kếtoán và trình bày trên các báo cáo tài chính vào các thời kỳ mà chúng có liên quan
Hoạt động liên tục (Going concern):
Báo cáo tài chính được lập trên giả định rằng doanh nghiệp đang hoạt động và sẽkhông có ý định ngừng hoạt động trong một tương lai gần
Giả định này ảnh hưởng quan trọng đến việc định giá Nó là cơ sở cho phép giágốc được sử dụng để đánh giá và trình bày các yếu tố báo cáo tài chính Nếu giả địnhnày bị vi phạm thì tài sản doanh nghiệp phải trình bày theo giá trị thuần có thể thựchiện được
Trang 10Tính có thể hiểu được (Understandability):
Liên quan đến việc phân loại, diễn giải và trình bày một cách rõ ràng và súc tích.Người đọc được yêu cầu phải có kiến thức hợp lý về hoạt động kinh doanh và kinh tế,nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, có thể hiểu được Một số trường hợp phức tạp, ngườiđọc có thể cần tư vấn để hiểu được Các thông tin thích hợp không được loại trừ khỏibáo cáo tài chính vì chúng quá phức tạp hoặc khó hiểu đối với một số người sử dụngkhông có sự trợ giúp
Tính thích hợp (Relevance):
Thông tin cần phải thích hợp đối với nhu cầu ra quyết định của người sử dụng.Thông tin thích hợp khi chúng ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng, giúphọ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai hay xác định hay điều chỉnh cácđánh giá quá khứ của họ
Đáng tin cậy (Reliability):
Thông tin hữu ích khi chúng đáng tin cậy Thông tin được gọi là đáng tin cậy khichúng không bị sai sót hoặc thiên lệch một cách trọng yếu Đặc điểm đáng tin cậy vớinguyên tắc khách quan và nguyên tắc thận trọng ảnh hưởng rõ rệt đến định giá
- Nguyên tắc khách quan (Neutrality):
Thông tin trên báo cáo tài chính phải khách quan, không bị sai lệch một cách cố
ý Nguyên tắc khách quan ảnh hưởng lớn đến định giá Nguyên tắc này yêu cầu cácloại giá được sử dụng phải có thể xác định được và có thể kiểm chứng được Đây cũngchính là lý do khiến cho hệ thống kế toán dựa trên giá gốc được chấp nhận ở hầu hếtcác nước trên thế giới Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin làm cho yêu cầu
có thể có được và có thể kiểm chứng được trở nên dễ dàng làm xuất hiện nhiều loại giákhác được sử dụng: giá thay thế, giá thị trường, giá trị hợp lý…
- Nguyên tắc thận trọng (Prudence):
Nguyên tắc thận trọng yêu cầu phải trình bày nội dung về các sự kiện, tình thếkhông chắc chắn khó có thể tránh được Nguyên tắc thận trọng nhằm mục đích tránh
Trang 11thổi phồng giá trị tài sản, nhưng cũng không có nghĩa là giấu bớt giá trị thực của tàisản Nguyên tắc này ảnh hưởng đến việc định giá: yêu cầu giá được sử dụng không làmthổi phồng giá trị tài sản, có nghĩa là tài sản được ghi nhận không được vượt khỏi giátrị thuần có thể thực hiện.
Có thể so sánh được (Comparability):
Báo cáo tài chính chỉ hữu ích khi thông tin cần được trình bày sao cho người đọc
có thể so sánh với các năm trước, với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác Cácnghiệp vụ giống nhau phải được đánh giá và trình bày một cách nhất quán trong toàndoanh nghiệp, giữa các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp Việc thuyết minh là cần thiết
để đảm bảo tính so sánh được
Đặc điểm này chính là lý do để thông tin được trình bày theo hình thức tiền tệ.Không những thế, nó còn chi phối đến phương pháp định giá: các phương pháp địnhgiá khác nhau sẽ dẫn đến tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệpkhác nhau
2.1.4 Các loại giá được sử dụng:
Quá trình phát triển các lý thuyết và thực tiễn hoạt động kế toán đã dẫn đến sự rađời nhiều loại giá khác nhau, theo hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS– International Fianancial Reporting Standards) các loại giá được phân thành các loạisau:
2.1.4.1 Giá đầu vào hay Chi phí đầu vào (Cost based):
Giá gốc (Historical cost): là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả hay
giá trị hợp lý của tài sản tại thời điểm có được tài sản Giá gốc còn được coi là giá phílịch sử, giá phí, giá thực tế
Giá hiện hành (Curent cost) hay giá thay thế (Replacement cost): là số tiền hoặc
các khoản tương đương tiền sẽ phải trả để có được tài sản tương tự tại thời điểm hiệntại Giá thay thế được ước tính dựa vào giá thị trường, hoặc chỉ số giá đặc biệt, hoặc sựước lượng của nhà quản lý
Trang 122.1.4.2 Giá đầu ra (Value based):
Giá trị thuần có thể thực hiện (Net realizable value): là số tiền hoặc tương đương
tiền thuần sẽ thu được khi bán tài sản hoặc sẽ phải trả để thanh toán nợ hiện tại Giá trịthuần có thể thực hiện là giá bán ước tính trong điều kiện kinh doanh bình thường trừchi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ
Hiện giá (Present value): là giá trị hiện tại chiết khấu của các khoản tiền thuần
nhận được từ việc sử dụng tài sản hoặc sẽ trả để thanh toán nợ
2.1.4.3 Các loại giá khác:
Giá thị trường (Market value): là giá của tài sản hoặc nợ phải trả được xác định
trên thị trường hoạt động
Giá trị hợp lý (Fair value): là giá mà doanh nghiệp có thể nhận được khi bán một
tài sản hoặc phải trả để thanh toán một khoản nợ phải trả trong giao dịch thông thườnggiữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường
2.1.4.4 Một số khoản mục được đánh giá theo sự lựa chọn giữa một trong hai loại giá:
Giá thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường (LCM – Lower of cost anh market value): thường được áp dụng trong hệ thống kế toán Mỹ trình bày khoản mục tồn kho.
Giá thị trường trong LCM là giá thay thế nằm trong phạm vi giá trần và giá sàn Giátrần là giá trị thuần có thể thực hiện; giá sàn là giá trị thuần có thể thực hiện trừ lợinhuận ước tính
Giá trị thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện (Net realisable value): giá này được đề cập trong chuẩn mực kế toán Quốc tế trình bày khoản mục
hàng tồn kho
2.1.5 Các hệ thống định giá:
Hệ thống định giá kế toán xuất hiện từ lý luận về vốn và bảo tồn vốn Trong mỗi
hệ thống kế toán, các loại giá khác nhau được sử dụng phối hợp để định giá các đốitượng kế toán
Trang 132.1.5.1 Khái niệm về vốn và bảo toàn vốn:
Lý luận về vốn và bảo toàn vốn làm nền tảng cho việc xây dựng hệ thống giátrong kế toán
Khái niệm về vốn:
Theo khái niệm tài chính vốn là tiền đầu tư hoặc sức mua của vốn đã đầu tư, vốnđồng nghĩa với tài sản thuần hoặc vốn chủ sở hữu
Theo khái niệm vật chất vốn như là năng lực hoạt động, năng lực sản xuất củamột doanh nghiệp
Khái niệm bảo toàn vốn:
Khái niệm bảo toàn vốn tài chính: lợi nhuận phần vượt của giá trị tài sản thuần
cuối kỳ so với đầu kỳ sau khi loại trừ ảnh hưởng của các khoản góp vốn hoặc chia lãicho cổ đông Theo IASB framework có hai phương án để xác định bảo tồn vốn tàichính:
- Theo định nghĩa tiền tệ danh nghĩa: lợi nhuận là khoản gia tăng vốn danh
nghĩa trong kỳ Khoản gia tăng về giá cả của tài sản hiện có trong kỳ là lợi nhuận, tuynhiên chúng chưa được ghi nhận cho đến khi tài sản đó được bán hoặc trao đổi
trong kỳ Khoản gia tăng giá cả của tài sản vượt phần tăng của sức mua chung thì đượccoi là lợi nhuận
Khái niệm bảo tồn vật chất: lợi nhuận là phần vượt của năng lực sản xuất vật chất
cuối kỳ so với đầu kỳ khi trừ đi khoản góp vốn và chia lãi cho các cổ đông Khái niệmbảo toàn vốn về mặt vật chất yêu cầu báo cáo dựa trên cơ sở giá hiện hành
2.1.5.2 Các hệ thống định giá kế toán:
Kế toán giá gốc (Historical cost accounting): dựa trên giá mua vào quá khứ để
ghi nhận các giao dịch và lập báo cáo tài chính Hệ thống này sử dụng giá gốc là chủyếu và kết hợp với các loại giá khác: giá trị hợp lý, giá trị thuần có thể thực hiện, hiệngiá
Trang 14Kế toán theo mức giá chung (General price-level accounting): dựa trên chỉ số giá
để điều chỉnh báo cáo tài chính nhằm loại trừ ảnh hưởng của biến động giá, đặc biệt làlạm phát
Kế toán giá hiện hành (Current cost accounting): dựa trên giá hiện hành hay còn
gọi là giá thay thế (Replacement cost) của tài sản để lập báo cáo tài chính và xác địnhlợi nhuận
Kế toán giá đầu ra (Exit price accounting): dựa trên giá bán trên thị trường để đo
lường và đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Kế toán giá đầu ra đặt nền móng cho hướng phát triển kế toán thị trường (mart tomarket accounting) sau này [14]
Như vậy, theo IASB framework hiện nay có bốn hệ thống định giá kế toán Trongmỗi hệ thống kế toán, các loại giá khác nhau được sử dụng kết hợp với nhau để địnhgiá các đối tượng kế toán
2.1.6 Định giá một số khoản mục theo chuẩn mực quốc tế và kế toán Mỹ:
Hiện nay hệ thống định giá kế toán dựa vào giá gốc là hệ thống định giá kế toánchủ yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới Trong hệ thống này, chủ yếu sử dụng giágốc để đánh giá các đối tượng kế toán, bên cạnh đó một số loại giá khác được sử dụngtrong từng trường hợp cụ thể Ưu điểm của hệ thống giá gốc là khách quan, thận trọng,
có thể kiểm soát, tuy nhiên thường bị lạc hậu vì giá cả biến động, vì vậy làm cho tínhhữu ích của thông tin không cao
Trên thế giới vào những năm 70 – 80 của thế kỷ 20, hệ thống định giá kế toán dựatrên giá hiện hành được cho phép Hệ thống này khắc phục được nhược điểm của hệthống kế toán dựa vào giá gốc, tuy nhiên nó phức tạp vì phải điều chỉnh lại doanh thu,giá vốn hàng bán, khấu hao… nên phải điều chỉnh lại báo cáo tài chính
Trong bối cảnh đó, giá trị hợp lý dần được quan tâm và được sử dụng trong nhiềulĩnh vực, nhiều trường hợp (Bảng 2.1, Phụ lục A)
Trang 152.2 Sự hình thành và phát triển giá trị hợp lý:
2.2.1 Quá trình hình thành, phát triển và áp dụng giá trị hợp lý:
2.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển giá trị hợp lý:
Hệ thống kế toán giá gốc ra đời và phát triển song song với thực tiễn kế toán vàvẫn giữ vai trò chủ đạo trong thực tiễn kế toán ngày nay Tuy nhiên, quá trình pháttriển các hoạt động giao dịch và đầu tư đã bộc lộ những hạn chế của giá gốc, nhất làtrong giai đoạn nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của lạm phát Bêncạnh đó, các lý thuyết quy chuẩn đã thấy được những vấn đề trong nền tảng lý thuyếtcủa giá gốc trong việc phản ánh lợi nhuận và tình hình tài chính của doanh nghiệp dướicác góc độ khác nhau:
Mục đích kế toán:
Trong khi những người bảo vệ giá gốc nhấn mạnh đến việc sử dụng giá gốc giúpđánh giá trách nhiệm giải trình, các lập luận phê phán cho rằng để đạt được mục tiêunày không nhất thiết phải phản ánh các giao dịch dựa trên quá khứ (giá gốc) Trái lại,việc phản ánh theo giá hiện hành sẽ cung cấp thông tin hữu ích hơn Bởi các nhà đầu tưcần biết là các nhà quản lý có làm cho giá trị khoản đầu tư của họ tăng trưởng haykhông
Lợi nhuận:
Lợi nhuận kế toán tính theo giá gốc bị phê phán về ý nghĩa kinh tế của nó, đặcbiệt là với doanh nghiệp sản xuất Theo kinh tế học, chi phí dùng để tính ra lợi nhuận làchi phí cơ hội, nghĩa là cái phải hy sinh để dùng vào sản xuất thay vì bán ra vào thờiđiểm sử dụng Khi đó, giá gốc sẽ không phù hợp
Các giả định cơ bản của giá gốc:
Các giả định làm nền tảng cho giá gốc bị phê phán là phi hiện thực Ngoài giảđịnh đơn vị tiền tệ luôn bị thách thức vì lạm phát, giả định về tính hoạt động liên tụccũng bị nghi ngờ Sterling lập luận: “tỷ lệ phá sản cao của các doanh nghiệp cho thấykhó có cơ sở bảo vệ cho dự đoán về tính hoạt động liên tục Không có công ty nào tồn
Trang 16tại một thời gian vô định trong tương lai Tất cả các công ty đều đã phá sản, trừ cáccông ty tồn tại tại thời điểm hiện tại Do đó, có lẽ giả định về sự chấm đứt hoạt động thìhợp lý hơn giả định về tính hoạt động liên tục” [14]
Nguyên tắc phù hợp:
Nguyên tắc phù hợp là nguyên tắc cơ bản trong hệ thống giá gốc phục vụ choviệc xác định lợi nhuận Tuy nhiên, nhiều lập luận phê phán nguyên tắc này:
Thứ nhất, việc xác định mối quan hệ phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong rất
nhiều trường hợp là điều không thể thực hiện
Thứ hai, việc phân bổ chi phí mang tính tùy tiện vì không có một cơ sở cho việc
lựa chọn giữa các phương pháp phân bổ cũng như không có bằng chứng thực nghiệmcho phương pháp này
Thứ ba, việc áp dụng nguyên tắc phù hợp có thể dẫn đến sự suy giảm vai trò của
bảng cân đối kế toán như một báo cáo về tình hình tài chính Lý do là kết quả củanguyên tắc này, nhiều khoản mục tài sản trở thành các “chi phí chờ phân bổ” trong khinhiều khoản mục nợ phải trả sẽ chỉ là các khoản “chi phí trích trước”
Tính khách quan:
Mặc dù giá gốc được xác định một cách khách quan hơn giá hiện hành nhưngviệc sử dụng nó cho việc ra quyết định có nhiều hạn chế Hạn chế này có thể thấy rõqua việc mô hình giá gốc phải sử dụng các giải pháp điều chỉnh, thí dụ giá trị thuần cóthể thực hiện trong trường hợp lập dự phòng giảm giá tài sản
Trong bối cảnh đó, những hệ thống định giá khác nhau đã hình thành và có tácđộng nhất định đến thực tiễn kế toán và giá trị hợp lý đã được bàn đến như là hướng đimới của định giá trong kế toán
Giá trị hợp lý là một thuật ngữ mới trong lĩnh vực kế toán
Giai đoạn hình thành và phát triển của giá trị hợp lý có thể chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn từ 1960 đến 1990: Giá trị hợp lý bắt đầu xuất hiện và mở rộng phạm
vi sử dụng
Trang 17Trên thế giới giá trị hợp lý xuất hiện lần đầu tại Mỹ được đề cập trong báo cáocủa Ủy ban nguyên tắc (APB) Sự hình thành giá trị hợp lý là một quá trình lâu dài:
Từ năm 1962 – 1969: là giai đoạn tiền đề, trong giai đoạn này giá thị trường được
sử dụng nhưng trong một số trường hợp không có thị trường hoạt động để có thể xácđịnh được giá thị trường
Đến năm 1970: giá trị hợp lý chính thức xuất hiện được đề cập trong Ý kiến của
Ủy ban nguyên tắc số 16 và 17 ghi nhận lợi thế thương mại và giá trị của tài sản hợpnhất:
APB Opinion 16 – Hợp nhất doanh nghiệp “Tất cả tài sản, nợ phải trả có đượctrong hợp nhất doanh nghiệp nên được ghi nhận tại giá trị hợp lý của chúng tại ngàymua”
APB Opinion 17 - Tài sản vô hình “Sự khác nhau giữa giá trị hợp lý và chi phí sẽđược coi như lợi thế thương mại”
Sau khi xuất hiện, giá trị hợp lý tiếp tục được thừa nhận và phạm vi sử dụng củagiá trị hợp lý dần dần được mở rộng Giá trị hợp lý bắt đầu nhận được sự quan tâm và
áp dụng của nhiều nước cũng như Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) được sửdụng trong nhiều lĩnh vực: ngân hàng, viễn thông … và cũng xuất hiện những hướngdẫn hạn chế về cách xác định và trình bày giá trị hợp lý trên báo cáo tài chính
Năm 1982: văn bản đầu tiên của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đề
cập đến định nghĩa giá trị hợp lý là chuẩn mực kế toán quốc tế số 16 “Bất động sản,Nhà xưởng và Máy móc thiết bị” (IAS 16) đã được ban hành Theo chuẩn mực kế toánnày, “giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể đem trao đổi giữa các bên có thể hiểu biết,thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá”
Định nghĩa giá trị hợp lý được bổ sung trong chuẩn mực kế toán quốc tế số 17
“Thuê tài sản” (IAS 17) ban hành năm 1982 Theo chuẩn mực kế toán này, “giá trị hợp
lý là giá trị tài sản có thể đem trao đổi, hay nợ phải trả được thanh toán giữa các bên có
Trang 18hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá” IAS 17 đề cập đến giátrị hợp lý của cả tài sản và nợ phải trả.
Giai đoạn từ 1991 đến nay: Giá trị hợp lý phát triển mạnh mẽ được khẳng định
qua 2 giai đoạn:
Từ năm 1991 – 2000: được đánh dấu bằng hàng loạt chuẩn mực của Mỹ: FASB
Statement 107 (1991) - giá trị hợp lý của công cụ tài chính, FASB Statement 104 – hợpnhất doanh nghiệp, FASB Statement 142 – lợi thế thương mại và tài sản vô hình… cácchuẩn mực đã đưa ra những hướng dẫn rõ ràng hơn về giá trị hợp lý
Trong giai đoạn này chuẩn mực Mỹ cũng như quốc tế đã bắt đầu sử dụng giá trịhợp lý cho việc đánh giá sau ghi nhận ban đầu Giá trị hợp lý được áp dụng rộng rãitrong nhiều ngành, trong khoản mục làm xuất hiện sự lo lắng về khả năng của giá trịhợp lý do những hướng dẫn về giá trị hợp lý vẫn chưa đạt được sự thống nhất chung và
có nhiều mâu thuẫn trong các công bố
Từ năm 2000 đến nay: Để giải quyết những lo lắng về giá trị hợp lý FASB và
IASB đã bắt tay vào nghiên cứu sâu hơn về lý thuyết của giá trị hợp lý
Năm 2004, dự án hội tụ kế toán IASB – FASB được tiến hành trong đó có dự án
về giá trị hợp lý trong kế toán
Tháng 5/2005, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố “Văn bảnthảo luận về các phương pháp đo lường có sử dụng giá trị hợp lý” Theo văn bản này,
sự nhất quán giá trị hợp lý là giá trị trao đổi được các thành viên IASB ủng hộ Vănbản có đề cập đến định nghĩa “giá trị hợp lý là giá trị của tài sản hay nợ phải trả có thểtrao đổi giữa các bên có hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá”Tháng 11/2006, IASB và FASB tiến hành thảo luận các vấn đề liên quan đến đolường giá trị hợp lý
Tháng 9/2010, IASB công bố dự thảo và đầu tháng 5/2011, phát hành IFRS 13(Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 13) – Đo lường giá trị hợp lý (Fair Value
Trang 19Measurement) có hiệu lực từ ngày 01/1/2013 FASB cũng đã cập nhật chủ đề số 820(báo cáo số 157 đo lường giá trị hợp lý – ban hành năm 2006 trước đây của FASB) vềgiá trị hợp lý, hoàn thành dự án lớn cải thiện IFRS (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốctế) và US GAAP (các nguyên tắc kế toán được thừa nhận ở Mỹ) mang lại sự hội tụgiữa chúng.
2.2.1.2 Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán quốc tế:
Khảo sát của nhóm nghiên cứu về chuẩn mực giá trị hợp lý của IASB năm 2005
đã thống kê có 17 chuẩn mực yêu cầu áp dụng giá trị hợp lý trong một số trường hợp
cụ thể, 8 chuẩn mực yêu cầu giá trị hợp lý Thông qua tham gia chiếu đến một chuẩnmực khác và 13 chuẩn mực không yêu cầu giá trị hợp lý [19]
Bảng 2.2: Các chuẩn mực kế toán quốc tế yêu cầu áp dụng giá trị hợp lý
1 IAS 11 “Hợp đồng xây dựng”
2 IAS16 “Tài sản cố định hữu hình”
3 IAS 17 “Thuê tài sản”
4 IAS 18 “Doanh thu”
5 IAS 19 “Phúc lợi lao động”
6 IAS 20 “Kế toán các khoản trợ cấp của chính phủ và trình bày các khoản
hỗ trợ chính phủ”
7 IAS 26 “Kế toán và báo cáo quỹ hưu trí”
8 IAS 33 “Lãi trên cổ phiếu”
9 IAS 36 “Tổn thất tài sản”
10 IAS 38 “Tài sản cố định vô hình”
11 IAS 39 “Ghi nhận và đánh giá công cụ tài chính”
12 IAS 40 “Bất động sản đầu tư”
13 IAS 41 “Nông nghiệp”
Trang 2014 IFRS 1 “Lần đầu áp dụng các chuẩn mực quốc tế về trình bày báo cáo
tài chính”
15 IFRS 2 “Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu”
16 IFRS 3 “Hợp nhất kinh doanh”
17 IFRS 5 “Tài sản dài hạn giữ để bán và hoạt động không liên tục”
Bảng 2.3: Các chuẩn mực yêu cầu giá trị hợp lý tham chiếu đến một chuẩn mực khác
1 IAS 2 “Hàng tồn kho”
2 IAS 21 “ Kế toán các khoản trợ cấp của Chính phủ và trình bày các
khoản hỗ trợ của Chính phủ
3 IAS 27 “Báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất”
4 IAS 28 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết”
5 IAS 31 “Góp vốn liên doanh”
6 IAS 32 “Công cụ tài chính: Trình bày”
7 IFRS 4 “Hợp đồng bảo hiểm”
8 IFRS 7 “Công cụ tài chính: Thuyết minh”
2.2.1.3 Định nghĩa giá trị hợp lý:
“Giá trị hợp lý là giá mà có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc phải trả đểthanh toán một khoản nợ phải trả trong giao dịch thông thường giữa các bên tham giathị trường tại ngày đo lường” (Fair value as the price that would be received to sell anasset or paid to transfer a liability in an orderly transaction between market participants
at the measurement date) [7]
Phân tích các cơ bản trong định nghĩa:
Các bên tham gia thị trường:
Các bên tham gia thị trường là người mua, người bán trên thị trường chính (haythị trường nhiều thuận lợi) đối với tài sản hay nợ phải trả:
Trang 21- Độc lập với đơn vị báo cáo, vì vậy họ không phải là các bên liên quan.
- Hiểu biết lẫn nhau, có sự hiểu biết một cách hợp lý về tài sản hay nợ phải trả
và giao dịch trên Thông tin hoàn toàn sẵn có
- Có đủ năng lực đối với giao dịch tài sản hay nợ phải trả
- Sẽ giao dịch với tài sản hay nợ phải trả, vì vậy họ sẽ thúc đẩy mà khôngphải bị ép buộc hay nói cách khác là buộc phải thực hiện giao dịch đó
Thị trường chính (hay có nhiều thuận lợi):
Đo lường giá trị hợp lý giả sử rằng giao dịch để bán tài sản hay thanh toán nợphải trả diễn ra trên thị trường chính của tài sản hay nợ phải trả, trong trường hợpkhông có thị trường chính thì thị trường mà có nhiều thuận lợi đối với tài sản hay nợphải trả Thị trường chính là thị trường mà ở đó doanh nghiệp báo cáo có thể bán đượctài sản hay thanh toán nợ phải trả với giá trị lớn nhất và mức độ linh hoạt của tài sản và
nợ phải trả lớn nhất Thị trường với nhiều thuận lợi là thị trường mà ở đó đơn vị báocáo sẽ bán được tài sản với giá tối đa mà có thể nhận được từ tài sản và giá trị tối thiểusẽ phải thanh toán cho khoản nợ phải trả khi xem xét chi phí giao dịch trong các thịtrường tương ứng
Trong quá trình xác định giá trị hợp lý cần phải tham khảo những thông tin vànhững dữ liệu lấy được từ thị trường:
Thị trường hối đoái (exchange market): thị trường này cung cấp sự rõ ràng
và minh bạch để trao đổi công cụ tài chính Trên thị trường này thì giá thực hiện giaodịch được xác định dễ dàng và thường xuyên
Thị trường bán buôn (dealer market): thị trường này người mua sử dụng
vốn để giữ hàng tồn kho nào đó và sau đó bán lại, giá trả và giá chào có được dể dàng
và thường xuyên hơn
Thị trường môi giới (brokered market): thị trường này những người môi
giới không sử dụng vốn của họ để giữ tài sản, hàng hóa mà chỉ cố gắng kết hợp ngườimua và người bán với giá giao dịch đã thực hiện thường có sẵn
Trang 22Ước tính cấp độ 1
Ước tính cấp độ 2
Phương pháp tiếp cận thị trường
Phương pháp tiếp cận thị trường
Giá tham chiếu
Có giá thị trường tham chiếu
Thị trường trực tiếp (principal - to principal market): là những nơi giao dịch
trực tiếp, thỏa thuận độc lập không qua trung gian với thông tin ít công khai
2.2.2 Các phương pháp định giá:
Các kỹ thuật định giá bao gồm phương pháp thị trường, phương pháp thu nhậphay phương pháp chi phí được sử dụng để đo lường giá trị hợp lý
2.2.2.1 Phương pháp thị trường:
Phương pháp thị trường sử dụng các giá và thông tin liên quan được phát sinh bởicác giao dịch trên thị trường bao gồm các tài sản hay nợ phải trả đồng nhất hay so sánhđược Các kỹ thuật định giá với phương pháp thị trường là định giá ma trận Định giá
ma trận là thuật toán được sử dụng chủ yếu cho định giá chứng khoán nợ mà khôngphụ thuộc vào giá niêm yết đối với các chứng khoán nợ cũng như không phụ thuộc vàomối quan hệ của chứng khoán với các chứng khoán chuẩn niêm yết khác
2.2.2.2 Phương pháp thu nhập:
Phương pháp thu nhập sử dụng kỹ thuật định giá để chuyển đổi các giá trị tươnglai về giá trị hiện tại (chiết khấu) Những kỹ thuật định giá này bao gồm kỹ thuật giá trịhiện tại; các mô hình lựa chọn định giá như công thức Black- Scholes-Metron (aclosed-form model) và mô hình nhị thức (a lattice model) mà không sáp nhập với cáckỹ thuật giá trị hiện tại; và phương pháp thu nhập dư ra của nhiều kỳ (excess earning)
mà nó được sử dụng để đo lường giá trị hợp lý của các tài sản vô hình nào đó
2.2.2.3 Phương pháp chi phí:
Phương pháp chi phí dựa trên giá trị mà hiện tại có thể được yêu cầu để thay thếkhả năng cung cấp của tài sản Từ góc độ của bên tham gia thị trường (người bán), giá
có thể nhận được từ tài sản được xác định dựa vào chi phí đối với bên tham gia thịtrường (người mua) để mua được hay xây dựng tài sản thay thế của lợi ích so sánhđược và được điều chỉnh cho tài sản bị loại bỏ Tài sản bị loại bỏ bao gồm sự hư hỏng
về vật chất, lỗi thời về kỹ thuật và bị loại bỏ vì tính kinh tế
Trang 232.2.3 Vai trò của giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán quốc tế:
Giá trị hợp lý khi sử dụng trong hệ thống IFRS được xem xét trong các trườnghợp sau:
2.2.3.1 Giá trị hợp lý là cơ sở đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu:
Khuôn mẫu lý thuyết của IASB không đề cập đến giá trị hợp lý như một cơ sở đolường sử dụng trong việc xác định các yếu tố báo cáo tài chính mà chỉ đề cập đến việc
có thể sử dụng giá trị hợp lý để xác định giá gốc
Bảng 2.4: Sử dụng giá trị hợp lý trong đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu [4]
1 IAS 16 Ghi nhận nhà xưởng, máy móc, thiết bị trong nghiệp vụ trao đổi
với các tài sản khác
2 IAS 17 Bên đi thuê ghi nhận ban đầu tài sản thuê tài chính theo giá trị
Trang 24hợp lý (trừ khi giá trị hợp lý cao hơn hiện giá và khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu)
3 IAS 18 Ghi nhận doanh thu
4 IAS 20 Ghi nhận nghiệp vụ nhận tài sản từ nhà nước
5 IAS 38 Ghi nhận tài sản cố định vô hình trong nghiệp vụ trao đổi với
các tài sản khác
6 IAS 39 Đo lường tài sản và nợ tài chính
7 IAS 41 Đo lường tài sản sinh học và sản phẩm thu được từ nông nghiệp
8 IFRS 1 Ghi nhận nhà xưởng, máy móc, thiết bị tại thời điểm chuyển đổi
9 IFRS 2 Ghi nhận hàng hóa, dịch vụ và các công cụ vốn cổ phần trong
giao dịch thanh toán vốn chủ sở hữu
10 IFRS 3 Đo lường các tài sản, nghĩa vụ phát sinh do hợp nhất
2.2.3.2 Phân bổ các số liệu ghi nhận ban đầu của các giao dịch phức tạp thành các yếu tố hợp thành:
Bảng 2.5: Giá trị hợp lý phân bổ các số liệu ghi nhận ban đầu các giao dịch phức tạp
thành các yếu tố hợp thành [4]
1 IAS 32 Đo lường các thành phần của công cụ tài chính phức tạp
2 IAS 3 Yêu cầu bên mua lại ghi nhận tài sản thuần theo giá trị hợp lý
2.2.3.3 Giá trị hợp lý là cơ sở để xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu:
Sau khi ghi nhận ban đầu, giá trị hợp lý có thể được sử dụng để xác định giá trịcủa các tài sản hay nợ phải trả tại mỗi thời điểm lập báo cáo tài chính
Bảng 2.6: Giá trị hợp lý sau khi ghi nhận ban đầu [4]
1 IAS 16 Đo lường nhà xưởng, máy móc, thiết bị
2 IAS 19 Đo lường phúc lợi cho người lao động
Trang 253 IAS 26 Đo lường các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến quỹ hưu trí
4 IAS 27 Đo lường các khoản đầu tư vào công ty con
5 IAS 28 Các khoản đầu tư vào công ty liên kết
6 IAS 31 Các khoản đầu tư vào các đơn vị đồng kiểm soát
7 IAS 38 Đo lường tài sản cố định vô hình
8 IAS 39 Đo lường tài sản và nợ tài chính
9 IAS 40 Đo lường bất động sản đầu tư
10 IAS 41 Đo lường tài sản sinh học và sản phẩm thu được từ nông nghiệp
2.2.3.4 Giá trị hợp lý sử dụng trong đánh giá sự suy giảm giá trị tài sản:
Giá trị hợp lý được sử dụng để thử nghiệm phải chăng một tài sản đang giảm giátrị và cần ghi nhận sự giảm giá trị tài sản Theo IAS 36 “Tổn thất tài sản”, dấu hiệu chothấy tài sản đang giảm giá trị là khi giá trị có thể thu hồi của tài sản thấp hơn giá trị cònlại của tài sản thể hiện trên báo cáo tài chính tại thời điểm cuối niên độ Giá trị có thểthu hồi của một tài sản hay được xác định là giá trị lớn hơn giữa giá trị hợp lý sau khitrừ đi chi phí cần thiết để bán tài sản và giá trị sử dụng của tài sản Đây được xem như
sự áp dụng giá trị hợp lý trong việc xác định sự giảm giá trị tài sản Các khoản chênhlệch phát sinh do sự thay đổi giá trị hợp lý giữa các thời điểm báo cáo có thể được xử
lý theo các phương án:
Ghi nhận là thu nhập, chi phí trong báo cáo lãi lỗ
Ghi nhận điều chỉnh chỉ tiêu thuộc nguồn vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối
Trang 26 Chênh lệch giá đánh giá lại của tài sản tăng (do giá trị hợp lý tăng) được ghinhận tăng vốn chủ sở hữu hoặc ghi nhận vào thu nhập nếu trước đó có phát sinh chênhlệch giá đánh giá lại giảm đã được ghi nhận vào chi phí trên báo cáo lãi, lỗ (Bảng 2.7
và 2.8, Phụ lục A)
2.3 Thực tiễn áp dụng giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Mỹ và chuẩn mực kế toán quốc tế:
2.3.1 Chuẩn mực kế toán Mỹ:
2.3.1.1 Giá trị hợp lý được áp dụng trong những trường hợp:
Ghi nhận và trình bày công cụ tài chính (chứng khoán thương mại và chứngkhoán sẵn sàng để bán, công cụ tài chính phát sinh)
Ghi nhận tài sản và nợ phải trả trong hợp nhất doanh nghiệp
Ghi nhận ban đầu trong trường hợp trao đổi phi tiền tệ
Ghi nhận và trình bày các khoản mục phát sinh bằng ngoại tệ
Ghi nhận ban đầu cho tài sản cố định thuê tài chính
2.3.1.2 Cơ sở sử dụng giá trị hợp lý:
Đo lường giá trị hợp lý được cho rằng tài sản hay nợ phải trả được trao đổi tronggiao dịch thông thường giữa các bên tham gia thị trường để bán tài sản hay thanh toánkhoản nợ phải trả vào ngày đo lường Một giao dịch thông thường là giao dịch mà sẵn
có trên thị trường vào kỳ trước của ngày đo lường, đó không phải là một giao dịch bắtbuộc Giao dịch bán tài sản và thanh toán khoản nợ phải trả là giao dịch giả định vàongày báo cáo, được xem xét dưới góc độ của bên tham gia thị trường mà đang nắm giữtài sản hay sở hữu khoản nợ phải trả Vì vậy đo lường theo giá hợp lý là xác định giá
mà sẽ nhận được từ bán tài sản hay khoản tiền phải trả để thanh toán nợ phải trả vàongày thanh toán
Đo lường giá trị hợp lý giả sử rằng giao dịch để bán tài sản hay thanh toán nợphải trả diễn ra trên thị trường chính của tài sản hay nợ phải trả, trong trường hợp
Trang 27không có thị trường chính thì trên thị trường mà có nhiều thuận lợi đối với tài sản hay
nợ phải trả
Trong trường hợp không có giá tham chiếu của các tài sản hay nợ phải trả đồngnhất hay có thể so sánh được trên thị trường, có thể áp dụng các kỹ thuật định giá:phương pháp thị trường, phương pháp thu nhập hoặc phương pháp chi phí để đo lườnggiá trị hợp lý
2.3.1.3 Yêu cầu công bố giá trị hợp lý:
Đối với tài sản và nợ phải trả đo lường theo giá trị hợp lý trên cơ sở định kỳ báo cáo sau ghi nhận ban đầu (ví dụ như chứng khoán kinh doanh):
Đơn vị báo cáo cần công bố thông tin mà đủ cho phép người sử dụng báo cáođánh giá được dữ liệu đầu vào cho phát triển các đo lường này và đo lường giá trị hợp
lý định kỳ có sử dụng đáng kể các dữ liệu không quan sát được (cấp độ 3), ảnh hưởngcủa đo lường lên thu nhập hay chi phí trên tài sản ròng đối với kỳ báo cáo Để đạt mụctiêu đó, đơn vị báo cáo cần công bố các mục tiêu sau đây đối với kỳ báo cáo năm cũngnhư giữa niên độ (ngoại trừ trường hợp đặc biệt) một cách riêng lẻ đối với mỗi loại tàisản, nợ phải trả chủ yếu:
Đo lường giá trị hợp lý vào ngày báo cáo
Mức độ trong cấp bậc giá trị hợp lý mà đơn vị sử dụng để phân khúc đolường giá trị hợp lý thành giá niêm yết trên thị trường hoạt động cho tài sản và nợ phảitrả đồng nhất (cấp độ 1); mức quan trọng của dữ liệu đầu vào có thể quan sát đượckhác (cấp độ 2) và tầm quan trọng của dữ liệu đầu vào không quan sát được (cấp độ 3)
Đối với đo lường giá trị hợp lý mà sử dụng đáng kể dữ liệu đầu vào khôngquan sát được (cấp độ 3), một bảng đối chiếu từ đầu kỳ đến cuối kỳ báo cáo nhữngthay đổi được trình bày một cách riêng biệt trong kỳ và bổ sung sau đây:
- Tổng lãi/lỗ trong kỳ (có liên quan và không liên quan), phân khúc cáckhoản lãi/lỗ này thành thu nhập (hay chi phí trên tài sản ròng) và mô tả vị trí lãi/lỗtrong thu nhập (hay chi phí tài sản ròng) được ghi nhận báo cáo thu nhập
Trang 28- Mua, bán, phát hành và thanh toán (ròng)
- Sự chuyển nhượng trong hoặc ngoài cấp độ 3 (chẳng hạn chuyểnnhượng phải chịu sự thay đổi của tính quan sát được của dữ liệu đầu vào)
Tổng giá trị lãi/lỗ ở trên bao gồm thu nhập (hay chi phí trên tài sản ròng) màđược tính vào thay đổi lãi/lỗ chưa thực hiện liên quan đến những tài sản và nợ phải trảvẫn còn giữ đến ngày báo cáo và mô tả lãi/lỗ chưa thực hiện được ghi nhận ở báo cáothu nhập
Chỉ trong báo cáo năm, các kỹ thuật định giá được sử dụng để đo lường giátrị hợp lý và thảo luận sự thay đổi của các kỹ thuật định giá (nếu có) trong suốt kỳ báocáo
Đối với tài sản và nợ phải trả đo lường theo giá hợp lý mà không phải trên cơ sở định kỳ sau ghi nhận ban đầu (như tài sản bị giảm giá trị):
Đơn vị báo cáo phải cung cấp thông tin đủ cho người sử dụng báo cáo có thểđánh giá dữ liệu đầu vào sử dụng cho việc đo lường này Để đạt yêu cầu này đơn vịbáo cáo phải công bố thông tin sau đây cho báo cáo niên độ cũng như báo cáo giữa kỳ(trừ khi có quy định đặc biệt) một cách riêng biệt đối với mỗi loại tài sản, nợ phải trả:
Đo lường giá trị hợp lý trong suốt kỳ kế toán và lý do của việc đo lường đó
Mức độ trong cấp bậc giá trị hợp lý mà đơn vị sử dụng để phân khúc đolường giá trị hợp lý thành giá niêm yết trên thị trường hoạt động cho tài sản và nợ phảitrả đồng nhất (cấp độ 1); mức quan trọng của dữ liệu đầu vào có thể quan sát đượckhác (cấp độ 2) và tầm quan trọng của dữ liệu đầu vào không quan sát được (cấp độ 3)
Đối với đo lường giá trị hợp lý mà sử dụng đáng kể dữ liệu đầu vào khôngquan sát được (cấp độ 3), mô tả dữ liệu đầu vào và thông tin được sử dụng để phát triển
dữ liệu
Chỉ trong báo cáo năm, các kỹ thuật định giá được sử dụng để đo lường giátrị hợp lý và thảo luận sự thay đổi nếu có của các kỹ thuật định giá được sử dụng địnhgiá các tài sản, nợ phải trả tương tự trong các kỳ trước (nếu có) trong suốt kỳ báo cáo
Trang 29 Đối với tài sản và nợ phải trả cần có bảng đối chiếu tương tự như yêu cầucủa đoạn 3 thuộc mục (*) trên.
2.3.2 Chuẩn mực kế toán quốc tế:
2.3.2.1 Giá trị hợp lý được áp dụng trong những trường hợp:
Hợp nhất doanh nghiệp: tài sản và nợ phải trả có được do hợp nhất doanh nghiệpđược ghi nhận theo giá trị hợp lý của chúng vào ngày mua Phần chi phí mua vượt quágiá trị hợp lý được ghi nhận là lợi thế thương mại
Hàng tồn kho đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nông nghiệp và khoángsản được xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán
Nông nghiệp: động vật, cây trồng, rừng và sản phẩm được ghi nhận tại giá trị hợp
lý cùng với sự đánh giá thường xuyên
Bất động sản, nhà xưởng, thiết bị: doanh nghiệp có quyền lựa chọn ghi nhận saughi nhận ban đầu tại: giá gốc trừ đi khấu hao và sự giảm giá; hoặc ghi nhận tạo giá trịhợp lý với sự đánh giá lại thường xuyên
Các trường hợp trao đổi phi tiền tệ: ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý của tàisản nhận được
Tài sản cố định vô hình: doanh nghiệp có thể lựa chọn ghi nhận tài sản cố định vôhình tại giá trị hợp lý (nếu có thị trường hoạt động cho tài sản đó tồn tại)
Tài sản cố định thuê tài chính: ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý hoặc hiện giácủa khoản tiền thuê tối đa phải trả
Bất động sản đầu tư: doanh nghiệp có thể báo cáo bất động sản theo: chi phí trừkhấu hao trừ giảm giá; hoặc theo giá trị hợp lý
Các khoản mục phát sinh bằng ngoại tệ: ghi nhận và trình bày theo giá trị hợp lýtại ngày phát sinh giao dịch và đánh giá lại theo giá trị hợp lý vào cuối kỳ
Công cụ tài chính: ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý của công cụ tài chính Ghinhận sau ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý của tất cả khoản đầu tư trong chứngkhoán vốn, một số chứng khoán nợ và tất cả công cụ phát sinh và bất cứ tài sản tài
Trang 30chính nào được giữ để trao đổi Cũng như vậy, tại ngày mua hoặc phát hành, bất cứ tàisản tài chính hoặc nợ tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý.
2.3.2.2 Cơ sở sử dụng giá trị hợp lý:
Nếu các giao dịch bán tài sản và chuyển giao trách nhiệm của một khoản nợ phảitrả diễn ra trên thị trường chính hoặc thị trường nhiều thuận lợi, trong trường hợp nàygiá của thị trường đó sẽ là giá trị hợp lý của tài sản hoặc nợ phải trả, thậm chí nếu giátrong thị trường khác có khả năng thuận lợi hơn tại thời điểm đo
Nếu không có thị trường quan sát để cung cấp thông tin giá cả về việc bán tài sảnhay chuyển giao khoản nợ phải trả vào ngày đo lường, đo lường giá trị hợp lý sử dụngước tính trên cơ sở các kỹ thuật định giá: phương pháp thị trường, phương pháp thunhập hay phương pháp chi phí Khi sử dụng các kỹ thuật định giá để đo lường giá trịhợp lý phải: tối đa hóa các yếu tố đầu vào quan sát được và giảm thiểu các yếu tố đầuvào không quan sát được
2.3.2.3 Yêu cầu công bố giá trị hợp lý:
Các đơn vị báo cáo phải cung cấp các thông tin giúp cho người sử dụng báo cáotài chính đánh giá được các nội dung sau:
Đối với tài sản và nợ phải trả được xác định theo giá trị hợp lý trên cơ sởđịnh kỳ hay không định kỳ trong báo cáo tài chính sau khi ghi nhận ban đầu, kỹ thuậtđịnh giá và đầu vào được sử dụng để phát triển những phép đo
Cho phép đo lường giá trị hợp lý theo định kỳ sử dụng dữ liệu đầu vàokhông quan sát được (cấp độ 3), ảnh hưởng của phép đo đến lãi hoặc lỗ trong kỳ
Nếu có sự thay đổi trong kỹ thuật định giá (ví dụ như thay đổi từ mộtphương pháp thị trường sang phương pháp thu nhập hoặc sử dụng một kỹ thuật địnhgiá bổ sung), đơn vị báo cáo phải công bố sự thay đổi và lý do của sự thay đổi đó
Đối với đo lường giá trị hợp lý được phân loại trong cấp độ 3, đơn vị báocáo phải có trách nhiệm công bố thông tin định lượng về các yếu tố đầu vào quan trọngkhông quan sát được sử dụng trong đo lường giá trị hợp lý
Trang 31Kết luận chương 2:
Định giá là một phần không thể thiếu trong công tác kế toán của các quốc gia Cónhiều hệ thống định giá kèm theo đó là các loại giá khác nhau được sử dụng để địnhgiá các đối tượng kế toán, trong đó giá trị hợp lý được xem như là một hướng đi mớicủa định giá trong kế toán
Giá trị hợp lý lần đầu tiên được đề cập đến trong chuẩn mực kế toán quốc tế làvào năm 1982 Sau 30 năm xuất hiện và được đề cập rải rác trong các chuẩn mực kếtoán, tháng 5 năm 2011, IASB đã chính thức ban hành IFRS 13 “Fair ValueMeasurement” (Đo lường giá trị hợp lý) - thiết lập khung chung cho đo lường giá trịhợp lý và mở rộng công bố cho đo lường giá trị hợp lý, trong đó trình bày các nộidung:
Trang 32CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
3.1 Định giá trong kế toán Việt Nam:
Với quá trình phát triển kinh tế, Việt Nam đã tạo ra một môi trường kinh doanh,pháp lý và văn hóa đặc thù Trong môi trường này đã hình thành nên hệ thống kế toánViệt Nam kèm theo đó là quá trình phát triển các nguyên tắc và phương pháp định giávới 04 giai đoạn phát triển:
3.1.1 Giai đoạn từ năm 1954 – năm 1986:
Đây là giai đoạn Việt Nam tiến hành xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Cơ chế quản lý kinh tế toàn diện lấy kếhoạch làm trung tâm, quản lý chặt chẽ và giao nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cho cácdoanh nghiệp bằng hệ thống các chỉ tiêu pháp lệnh, các doanh nghiệp chịu sự kiểm soátrất chặt chẽ của nhà nước
Năm 1954, kế toán bắt đầu được sử dụng trong các xí nghiệp quốc doanh với mụcđích phản ánh và kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình sử dụng vốncủa nhà nước Chính phủ đã ban hành Điều lệ Tổ chức kế toán nhà nước quy định chitiết những vấn đề liên quan đến công tác kế toán như những quy định chung về kế toán,những quy định về nội dung, về tổ chức chỉ đạo công tác kế toán Căn cứ vào Điều lệnày, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn kế toán góp phần nắm bắt kịpthời, chính xác tình hình hoàn thành kế hoạch kinh tế và tăng cường công tác quản lýcủa nhà nước Trong giai đoạn này, giá được sử dụng phổ biến là giá gốc, một sốtrường hợp sử dụng giá do nhà nước ấn định
3.1.2 Giai đoạn từ năm 1986 – năm 1995:
Trong giai đoạn này, nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biến căn bản Nghịđịnh 388/HĐBT của Chính phủ ban hành ngày 20/11/1991 về việc sắp xếp lại doanh
Trang 33nghiệp nhà nước đã cho thấy quyết tâm của Đảng và nhà nước trong việc xóa bỏ cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo địnhhướng Xã hội chủ nghĩa
Hệ thống kế toán cũng không nằm ngoài chính sách cải cách kinh tế thời kỳ nàycủa nhà nước, Pháp lệnh kế toán thống kê năm 1988 đã đánh dấu sự ra đời của khuônkhổ pháp lý về kế toán Đây được xem là văn bản hiện hành có giá trị pháp lý cao nhấtquy định điều chỉnh lĩnh vực kế toán và quản lý nhà nước về kế toán trong các đơn vịkinh tế cơ sở Vì vậy, nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để triểnkhai Pháp lệnh kế toán thống kê, trong đó giá gốc đã trở thành loại giá chủ yếu được sửdụng trong kế toán Việt Nam, ngoại trừ các trường hợp đánh giá lại tài sản theo quyếtđịnh của nhà nước
3.1.3 Giai đoạn từ năm 1995 – 2001:
Giai đoạn này với sự quyết tâm phát triển đất nước, Đảng và nhà nước chủ trươngchuyển hướng từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xãhội chủ nghĩa, tăng cường tối đa quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập vào nền kinh tếkhu vực Song song với quá trình đổi mới nền kinh tế, kế toán Việt Nam đã có nhữngbước chuyển biến tích cực hơn giai đoạn trước
Đánh dấu cho sự thành công của quá trình đổi mới trong giai đoạn này phải kểđến việc Bộ Tài chính ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp theo QĐ 1141/TC-CĐKT áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp trong cả nước từ ngày 01/01/1996 và
QĐ 1177/TC/QĐ/CĐKT áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong giai đoạnnày, ngoài giá gốc đã xuất hiện giá trị thuần có thể thực hiện, thể hiện qua Thông tư107/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001 về việc hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng cáckhoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá chứng khoán đầu tư, dự phòng nợkhó đòi tại doanh nghiệp
Trang 343.1.4 Giai đoạn từ năm 2001 đến nay:
Hơn 10 năm qua, cùng với quá trình đổi mới sâu sắc hệ thống pháp luật về kinh
tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện và phát triển, góp phầntích cực vào việc tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý tài chính trong doanhnghiệp và tài chính quốc gia
Đây là giai đoạn phát triển nhất của hệ thống kế toán từ trước đến nay, thể hiệnqua việc đã ban hành các chuẩn mực kế toán (bắt đầu từ năm 2001) và ngày17/06/2003, Quốc Hội khóa XI kỳ họp thứ 3 đã thông qua và chính thức công bố hiệulực thi hành Luật kế toán thay thế cho Pháp lệnh 1988, đánh dấu một bước tiến dài trêncon đường phát triển kế toán tài chính Việt Nam Sau đó, Bộ Tài chính tiếp tục banhành 03 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật kế toán: Nghị định số 128 NĐ/CP, Nghịđịnh số 129 NĐ/CP, Nghị định số 185 NĐ/CP và hàng loạt những Quyết định, Thông
tư hướng dẫn thi hành Luật và các Nghị định về kế toán nhằm đáp ứng những phát sinhmới của nền kinh tế thị trường
Sự ra đời của Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ban hành chế độ kế toán doanhnghiệp và Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ban hành chế độ kế toán cho doanh nghiệpvừa và nhỏ đã đánh dấu bước tổng hợp và hoàn thiện chế độ kế toán doanh nghiệp ViệtNam Bên cạnh đó, vấn đề định giá trong kế toán Việt Nam cũng không ngừng đượccải thiện theo hướng phù hợp với sự đổi mới của nền kinh tế và yêu cầu hội nhập: giágốc được coi là một nguyên tắc cơ bản của kế toán Việt Nam Bên cạnh giá gốc, trongcác chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng đưa ra quy định về một số loại giá khác như: giátrị thuần có thể thực hiện, hiện giá, giá trị hợp lý Tuy nhiên, giữa các chuẩn mực kếtoán Việt Nam và các thông lệ kế toán quốc tế vẫn còn khoảng cách đáng kể, đặc biệttrong lĩnh vực định giá kế toán
3.2 Sự hình thành và phát triển giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam:
Giá trị hợp lý được đề cập trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành theoQuyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 được sử dụng để ghi nhận ban đầu
Trang 35cho các trao đổi phi tiền tệ và doanh thu Kể từ đó giá trị hợp lý được phát triển trongcác Thông tư hướng dẫn chuẩn mực [18] và các Quyết định ban hành chuẩn mực [16]cũng đã mở rộng phạm vi sử dụng giá trị hợp lý cho các khoản mục khác: thuê tài sản,ngoại tệ, hợp nhất kinh doanh
Bảng 3.1: Định nghĩa giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Việt Nam
149/2001/QĐ-BTC
VAS 03
“Tài sản cốđịnh hữu hình”
Thông tư số161/2007/TT-BTC
Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thểđược trao đổi giữa các bên có đầy đủhiểu biết trong sự trao đổi ngang giá
149/2001/QĐ-BTC
VAS 04
“Tài sản cốđịnh vô hình”
Thông tư số161/2007/TT-BTC
Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thểđược trao đổi giữa các bên có đầy đủhiểu biết trong sự trao đổi ngang giá
Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thểđược trao đổi hoặc giá trị một khoản nợđược thanh toán một cách tự nguyệngiữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong
sự trao đổi ngang giá
165/2002/QĐ-BTC
VAS 10
“Ảnh hưởngcủa việc thayđổi tỷ giá hốiđoái”
Thông tư số161/2007/TT-BTC
Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thểđược trao đổi hoặc giá trị một khoản nợđược thanh toán một cách tự nguyệngiữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong
sự trao đổi ngang giá100/2005/QĐ-
BTC
VAS 11
“Hợp nhấtkinh doanh”
Thông tư số21/2006/TT-BTC
Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thểđược trao đổi hoặc giá trị một khoản nợđược thanh toán một cách tự nguyện
Trang 36giữa các bên có đầy đủ hiểu biết và sẵnsàng trong sự trao đổi ngang giá
149/2001/QĐ-BTC
VAS 14
“Doanh thu vàthu nhập khác”
Thông tư số161/2007/TT-BTC
Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thểđược trao đổi hoặc giá trị một khoản nợđược thanh toán một cách tự nguyệngiữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong
sự trao đổi ngang giá
210/2009/QĐ-BTC
IAS 32
“Trình bàycông cụ tàichính”
và IFRS 07
“Thuyết minhcông cụ tàichính”
Thông tư số210/2009/TT-BTC
Giá trị hợp lý: Là giá trị mà một tài sản
có thể được trao đổi hoặc một khoản nợphải trả có thể được thanh toán giữa cácbên có đầy đủ hiểu biết, mong muốngiao dịch trong một giao dịch trao đổingang giá
Qua bảng trên, ta thấy khái niệm về giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán làkhác nhau, không thống nhất, nhìn chung các định nghĩa đều không đầy đủ, rõ ràng,chưa giải thích được các thuật ngữ sử dụng, như vậy sẽ rất khó cho người sử dụng ápdụng khi phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến giá trị hợp lý Cụ thể:
Chưa giải thích các thuật ngữ “tự nguyện”, “có đầy đủ hiểu biết trong sựtrao đổi ngang giá” làm cho người sử dụng khó hiểu về vấn đề này
Định nghĩa không đề cập đến “tại ngày đo lường” Giá được quan sát là giátrong giao dịch hiện tại nếu sử dụng giá khác thì phải điều chỉnh cho phù hợp
So với định nghĩa của IFRS 13 thì định nghĩa về giá trị hợp lý trình bày trongVAS 11 “Hợp nhất kinh doanh” và thông tư số 210/2009/TT-BTC là tương đối đầy đủ
Do hiện nay Bộ Tài chính chưa ban hành chuẩn mực kế toán cũng như thông tư liên
Trang 37quan đến giá trị hợp lý nên giá trị hợp lý chỉ được đề cập trong một số chuẩn mực đểghi nhận nghiệp vụ phát sinh ban đầu trong các trường hợp không thể xác định giá gốc.Trong Luật kế toán Việt Nam 2003, tại điều 7 của nguyên tắc kế toán trình bày: “giá trịcủa tài sản được tính theo giá gốc”; trong VAS 01 “Chuẩn mực chung”, tài sản đượcghi nhận theo giá gốc, trong trường hợp không xác định được giá gốc thì giá trị hợp lýmới được sử dụng để ghi nhận tài sản
Bảng 3.2: Các chuẩn mực kế toán Việt Nam yêu cầu sử dụng giá trị hợp lý
VAS 01 “Chuẩn
Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc Giágốc của tài sản được tính theo số tiền hoặckhoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặctính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thờiđiểm tài sản được ghi nhận
VAS 03 “Tài
sản cố định hữu
hình”
Tài sản cố địnhhữu hình mua dướihình thức trao đổi
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình muadưới hình thức trao đổi với một tài sản cốđịnh hữu hình không tương tự hoặc tài sảnkhác được xác định theo giá trị hợp lý của tàisản cố định hữu hình nhận về, hoặc giá trịhợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điềuchỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiềntrả thêm hoặc thu về
Tài sản cố địnhhữu hình tăng từcác nguồn khác
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình được tàitrợ, được biếu tặng, được ghi nhận ban đầutheo giá trị hợp lý ban đầu Trường hợpkhông ghi nhận theo giá trị hợp lý ban đầu thì
Trang 38doanh nghiệp ghi nhận theo giá trị danhnghĩa cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếpđến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng
từ liên quan đếnquyền sở hữu vốncủa đơn vị
Nếu tài sản cố định vô hình hình thành từviệc trao đổi thanh toán bằng chứng từ liênquan đến quyền sở hữu vốn của đơn vị,nguyên giá tài sản cố định vô hình là giá trịhợp lý của các chứng từ được phát hành liênquan đến quyền sở hữu vốn
Tài sản cố định vôhình hình thànhtrong quá trình sáp
- Giá trị niêm yết tại thị trường hoạt động
- Giá của nghiệp vụ mua bán tài sản cốđịnh vô hình tương tự
Tài sản cố định vôhình được nhànước cấp hoặcđược biếu tặng
Nguyên giá tài sản cố định vô hình được Nhànước cấp hoặc được biếu, tặng, được xácđịnh theo giá trị hợp lý ban đầu cộng (+) cácchi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tàisản vào sử dụng theo dự tính
Tài sản cố định vôhình mua dưới hình
Nguyên giá tài sản cố định vô hình mua dướihình thức trao đổi với một tài sản cố định vô
Trang 39thức trao đổi vớimột tài sản cố định
vô hình khôngtương tự
hình không tương tự hoặc tài sản khác đượcxác định theo giá trị hợp lý của tài sản cốđịnh vô hình nhận về hoặc bằng với giá trịhợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điềuchỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiềntrả thêm hoặc thu về
VAS 05 “Bất
động sản đầu
tư”
Bất động sản đầu tư
Nguyên giá là toàn bộ các chi phí bằng tiền
mà doanh nghiệp phải bỏ ra hoặc giá trị hợp
lý của các khoản đưa ra để trao đổi nhằm cóđược bất động sản đầu tư tính đến thời điểmmua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sảnđầu tư đó
VAS 10 “Ảnh
hưởng của việc
thay đổi tỷ giá
hối đoái”
Các khoản mục phitiền tệ có gốc ngoại
tệ mà được ghinhận ban đầu theo
Các khoản mục phi tiền tệ được xác định theogiá trị hợp lý bằng ngoại tệ phải được báo cáotheo tỷ giá hối đoái tại ngày xác định giá trịhợp lý
Trang 40Bên mua sẽ xác định giá phí hợp nhất kinhdoanh bao gồm: Giá trị hợp lý tại ngày diễn
ra trao đổi của các tài sản đem trao đổi, cáckhoản nợ phải trả đã phát sinh hoặc đã thừanhận và các công cụ vốn do bên mua pháthành để đổi lấy quyền kiểm soát bên bị mua,cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đếnviệc hợp nhất kinh doanh
VAS 14 “Doanh
thu và thu nhập
khác”
Doanh thu Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý
của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được
IAS 32 và IFRS
07
Tài sản tài chínhhoặc nợ phải trả tài
- Giá niêm yết tại thị trường hoạt động
- Giá của nghiệp vụ mua bán tài sản cố định vô hình tương tự
Theo phụ lục A của VAS 11 “Hợp nhất kinh doanh”, những đánh giá sauđây được coi là giá trị hợp lý:
- Giá phí hợp nhất kinh doanh: giá trị hợp lý của công cụ vốn có thể ướctính bằng cách tham chiếu đến giá trị hợp lý của bên mua hoặc tham chiếu đến giá trịhợp lý của doanh nghiệp bị mua, miễn là giá nào có bằng chứng rõ ràng hơn