MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MẪU GIÁO NHỠ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CƠ BẢN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU NGÔN NGỮ THƠ .... Lí do chọn đề tài Việc lựa chọn đề tài: “Phát triển một số năng lực cơ b
Trang 1CƠ BẢN CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU HIỆU QUẢ CỦA NGÔN NGỮ THƠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Trang 2CƠ BẢN CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU HIỆU QUẢ CỦA NGÔN NGỮ THƠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học
ThS GVC PHAN THỊ THẠCH
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã giúp tôi trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
Th.S Phan Thị Thạch - người đã trực tiếp chỉ bảo tận tình tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các cán bộ quản lý thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận của mình
Qua đây, tôi cũng xin gửi tới ban Giám hiệu và các cô giáo trường Mầm non Đại Thịnh - Mê Linh - Vĩnh phúc lời cảm ơn chân thành nhất
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những hạn chế Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô giáo cùng bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này
Hà nội, ngày tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai Thu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các căn cứ, các
số liệu trong khóa luận là trung thực Đề tài này chưa được công bố trong bất
kì công trình khoa học nào khác
Hà nội, ngày tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai Thu
Trang 5KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc khóa luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Những khái quát chung về năng lực 7
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 12
1.1.3 Cơ sở tâm lí học 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Thực trạng của việc phát triển một số năng lực cơ bản trên bình diện ngôn ngữ thơ của trẻ MGN ở trường MN xét từ phía giáo viên 20
1.2.2 Thực trạng năng lực cơ bản của trẻ MGN ở trường MN Đại Thịnh27 Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MẪU GIÁO NHỠ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CƠ BẢN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU NGÔN NGỮ THƠ 31
2.1 Kết quả thống kê phân loại văn bản và phương tiện ngôn ngữ trong các văn bản thơ thuộc chương trình GD trẻ MGN 31
2.1.1 Tiêu chí phân loại 31
Trang 72.1.2 Kết quả thống kê phân loại VB thơ và phương tiện ngôn ngữ trong
các VB đó 31
2.2 Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để phát triển những năng lực cơ bản 40
2.2.1 Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ 41
2.2.2 Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng lực giao tiếp 49
2.2.3 Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng lực tư duy 52
2.2.4 Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng lực hợp tác 53
2.2.5 Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ 55
2.3 Giáo án thể nghiệm 59
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việc lựa chọn đề tài: “Phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ MGN
thông qua hoạt động tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ” xuất phát từ nhận
thức sâu sắc của chúng tôi về vai trò chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng với việc bồi dưỡng những năng lực cơ bản cho trẻ MGN Việc lựa chọn đề tài trên của chúng tôi còn xuất phát từ nhận thức
về sự cần thiết của việc bồi dưỡng năng lực cốt lõi cho trẻ và từ những hạn chế của việc làm này ở trường MN
Trước tiên, chúng ta đều nhận thấy rằng bậc học MN là bậc học luôn nhận được sự quan tâm rất lớn từ gia đình, nhà trường và xã hội Độ tuổi MN
là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển năng lực, hình thành nhân cách
và bồi dưỡng tâm hồn trẻ Năng lực là yếu tố cần thiết để trẻ phát triển Do giai đoạn này, trẻ học hỏi và tiếp thu những kiến thức từ thế giới xung quanh rất nhanh Vì vậy, việc bồi dưỡng năng lực cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ sẽ mang lại hiệu quả rất cao tạo nền tảng, xây dựng cơ sở vững chắc cho tương lai sau này của trẻ Nhất là trong thời kì hiện nay khi đất nước đang ngày càng phát triển, điều này đòi hỏi thế hệ sau phải có đầy đủ các năng lực cần thiết để thích nghi và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, từ đó đưa đất nước ngày càng phát triển hơn
Năng lực của trẻ không tự nhiên mà có Đó là cả một quá trình rèn luyện, trẻ được học tập, trải nghiệm, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm sống
Ở trường MN, những năng lực cơ bản và cần thiết cho trẻ được hình thành qua nhiều hoạt động phong phú, trong đó có hoạt động trẻ được làm quen với ngôn ngữ thơ
Theo chúng tôi, ngôn ngữ thơ là loại ngôn ngữ văn hóa đặc biệt Đó là loại ngôn ngữ giàu sức tạo hình, biểu cảm Đó cũng là loại ngôn ngữ giàu tính
Trang 9nhạc, có sức lôi cuốn làm mê đắm lòng người, đặc biệt có sức hấp dẫn đối với trẻ mẫu giáo, nhất là đối với trẻ MGN khi mà độ tuổi này các bé đã có khả năng hiểu được ngôn ngữ nghệ thuật, khả năng tư duy và khả năng tưởng tượng Được tiếp cận với loại ngôn ngữ này, trẻ được giao tiếp trong một môi trường văn hóa lành mạnh có hiệu quả GD cao Thông qua các phương tiện ngôn ngữ thơ trẻ dễ dàng nhận thức được đối tượng phản ánh Qua đó trẻ học được những cách dùng ngôn ngữ để diễn đạt hiệu quả nội dung giao tiếp, đồng thời biết phân biệt cái đẹp với cái xấu, biết rung cảm yêu thích cái đẹp Như vậy các phương tiện ngôn ngữ thơ góp phần tích cực giúp trẻ bồi dưỡng các năng lực cơ bản một cách tự nhiên, hiệu quả
Trong xu thế đổi mới GD - ĐT, nội dung chương trình GD trẻ MGN đã
có sự thay đổi, nhiều hoạt động GD được tổ chức đã có những hiệu quả nhất định Tuy vậy, do nhiều lí do khác nhau, trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ MGN nói riêng chưa phát triển hết những năng lực cần có
Từ những lí do trên, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài khóa luận
đã nêu trên là rất cần thiết
2 Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật không phải vấn đề mới, vì trước đây
đã có rất nhiều nhà khoa học với những công trình nghiên cứu đã được xã hội ghi nhận Bên cạnh đó những sinh viên ở các trường Đại học, Cao đẳng trong
đó có các sinh viên thuộc khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm
Hà Nội II cũng đã bỏ công nghiên cứu
Trong cuốn giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt”, Nxb Giáo dục,
năm 1999, Đinh Trọng Lạc đã trình bày khái niệm, các đặc trưng của các phong cách chức năng ngôn ngữ, trong đó có phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Tác giả đã giúp người đọc nhận ra được rằng phong cách ngôn ngữ
Trang 10ra được rằng ngoài những đặc trưng chung của ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ nghệ thuật có những đặc thù riêng
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo”, Nxb Đại học Sư phạm, năm 2004 đã nghiên cứu rất kĩ
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo dựa trên đặc điểm tâm sinh lí của trẻ Ông thấy được ý nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật đối với trẻ Từ đó, tác giả đã
đề cập đến nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ MN thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học và không thể không kể đến việc cho trẻ làm quen với ngôn ngữ thơ
Trong cuốn“Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn
học”, Nxb Giáo dục Việt Nam, tác giả Lã Thị Bắc Lý - Lê Thị Ánh Tuyết đã
đi nghiên cứu đặc điểm, ý nghĩa của ngôn ngữ thơ và nêu cách thức tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với ngôn ngữ thơ Các tác giả đã chỉ ra thơ ca giúp trẻ tiếp nhận cái hay cái đẹp trong tiếng nói dân tộc, làm giàu cảm xúc của trẻ phát triển trí tưởng tượng và giúp trẻ khám phá những điều mới lạ trong thế giới xung quanh
Các tác giả Ngữ văn 10, tập hai, Nxb Giáo dục, năm 2015 đã chọn phong cách ngôn ngữ nghệ thuật làm một nội dung dạy học cho học sinh lớp
10 Ở bài học này, các tác giả giúp học sinh nhận thức được khái niệm và các đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật
Gần đây (năm 2006) hai sinh viên khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội II trong khóa luận tốt nghiệp đã tìm hiểu hiệu quả của một biện pháp tu từ trong các bài thơ thuộc chương trình Giáo dục Mầm non
Đó là:
- Hoàng Kim Dung, “Hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong các
bài thơ thuộc chương trình Giáo dục Mầm non”
Trang 11- Lê Thị Lanh, “Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài thơ
thuộc chương trình Giáo dục Mầm non”
Đối tượng và mục đích nghiên cứu của hai sinh viên trên thể hiện rõ ở
đề tài nghiên cứu của họ
Thông qua việc tổng thuật nghiên cứu đã được trình bày ở trên chúng tôi nhận thấy tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật không phải vấn đề mới nhưng
đề tài: “Phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ MGN thông qua hoạt động
tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ” lại là một vấn đề không cũ và không
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Lựa chọn những lí thuyết chuyên ngành xác thực làm cơ sở lí luận cho khóa luận
5.2 Khảo sát thống kê phân loại các phương tiện ngôn ngữ, các biện pháp tu từ về ngữ âm, về từ vựng - ngữ nghĩa, về cú pháp trong văn bản thơ thuộc chương trình GD trẻ MGN ở trường MN
Trang 125.3 Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp để làm rõ những biện pháp giúp trẻ MGN phát triển một số năng lực cơ bản thông qua hoạt động tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Tập trung lựa chọn những biện pháp giúp trẻ MGN phát triển một số năng lực: Ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy, hợp tác và thẩm mĩ thông qua hoạt động tìm hiểu ngôn ngữ thơ
6.2 Giới hạn khảo sát thống kê các văn bản thơ trong chương trình GD trẻ MGN
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng khi xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài khóa luận
7.4 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp: Quan sát, điều tra, đàm thoại
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để thu thập các thông tin từ thực tiễn nhằm cung cấp các thông tin chính xác về thực trạng phát triển các năng lực cơ bản cho trẻ thông qua ngôn ngữ thơ ở trường MN
Trang 137.5 Phương pháp tổng hợp
Trong khóa luận, chúng tôi vận dụng phương pháp này để tổng hợp những vấn đề lí luận có liên quan đến ngôn ngữ thơ, từ đó rút ra những nhận xét, kết luận về vai trò và ý nghĩa của ngôn ngữ thơ đối với trẻ MN
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2 Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để phát triển các năng lực: ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy, hợp tác và thẩm mĩ
Phần 3: Kết luận
Trang 14NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Những khái quát chung về năng lực
1.1.1.1 Khái niệm năng lực và năng lực hành động
- Khái niệm năng lực
Phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng
Theo các nhà tâm lí học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
Theo cuốn “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh – quyển 2”,
Nxb ĐHSPHN, Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), tr 7
1 Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định
2 Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động
Các khái niệm trên đều có điểm chung đó là năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/một hành động cụ thể
Theo chúng tôi, năng lực là tổng hợp các thuộc tính tâm lí độc đáo của
cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả và đạt kết quả cao Năng lực bao gồm: Kiến thức (thông tin và sự hiểu biết), kỹ năng (khả năng và kinh nghiệm
có được), thái độ
Có hai loại năng lực: Năng lực chung và năng lực cụ thể hay chuyên biệt
Trang 15+ Năng lực chung: Năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống
và làm việc bình thường trong xã hội; năng lực này được hình thành qua nhiều môn học, nhiều hoạt động
+ Năng lực cụ thể, chuyên biệt: Năng lực này được hình thành và phát triển do một lĩnh vực, môn học nào đó Đây là dạng năng lực chuyên sâu, nhằm giải quyết hiệu quả một công việc trong một lĩnh vực cụ thể
- Khái niệm năng lực hành động
Năng lực hành động là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định [5, tr.7]
1.1.1.2 Khái niệm hình thành và phát triển năng lực
- Khái niệm hình thành năng lực
Theo chúng tôi, hình thành năng lực là một quá trình học tập tích lũy kiến thức và kinh nghiệm qua các hoạt động học tập, trải nghiệm, vui chơi để
từ đó cá nhân có được các năng lực
- Khái niệm phát triển năng lực
Theo chúng tôi, phát triển năng lực là việc dựa trên các năng lực đã được hình thành từ đó cá nhân làm giàu thêm các kiến thức, kĩ năng, thái độ qua các hoạt động hấp dẫn nhằm nâng cao các năng lực đã có
1.1.1.3 Quá trình hình thành năng lực
Các tác giả cuốn sách: “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh -
quyển 2”, Nxb ĐHSPHN, Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), tr 8 cho rằng:
Quá trình hình thành năng lực trải qua những bước cơ bản Đó là:
1 Tiếp nhận thông tin
2 Xử lí thông tin (thể hiện hiểu biết/kiến thức)
3 Áp dụng/vận dụng kiến thức (thể hiện kĩ năng)
Trang 16Sự kết hợp các bước trên tạo thành năng lực ở người học
1.1.1.4 Năng lực cốt lõi của trẻ MN
- Khái niệm năng lực cốt lõi
Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết yếu
mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc [5, tr.9]
- Những năng lực cốt lõi của trẻ mầm non trong thế kỉ XXI
Mục tiêu chung của GD MN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ vào lớp một; hình hành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm
ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời [8, tr.3]
Từ mục tiêu trên, theo chúng tôi năng lực cốt lõi của trẻ MN trong thế
kỉ XXI bao gồm các năng lực:
Trang 171.1.1.5 Một số năng lực cơ bản cần phát triển cho trẻ MGN
- Năng lực ngôn ngữ
Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý
(chủ biên) Năng lực ngôn ngữ là khả năng sáng tạo của người nói không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp nhằm tạo ra hàng loạt các phát ngôn và hiểu
được chúng một cách tự nhiên, còn gọi là “ngữ năng”
Các nhà ngữ pháp tạo sinh cho rằng: “Con người sinh ra đã có hiểu biết
về tiếng mẹ đẻ” Mức độ hiểu biết đó ở mỗi cá nhân có sự khác nhau do: Đặc
điểm lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, khả năng nhận thức, đặc điểm cá tính của mỗi người Khả năng đó phản ánh năng lực ngôn ngữ của mỗi cá nhân
Giải thích về hiện tượng trẻ em trước khi được tiếp thu GD chính quy
đã có thể nói được những câu hoàn chỉnh, các nhà ngữ pháp tạo sinh đã cho
rằng: Vì đứa trẻ sinh ra trong môi trường tiếng mẹ đẻ thì trong “tâm linh” của
chúng đã dần hình thành một số quy tắc cơ bản Vì thế DellHymes đề nghị nên gọi năng lực ngôn ngữ là năng lực ngữ pháp [7, tr.180]
Theo chúng tôi, năng lực ngôn ngữ biểu hiện ở việc trẻ có vốn từ phong phú, đa dạng, có kiến thức hiểu biết về các từ loại, các câu văn Nhờ có năng lực ngôn ngữ, trẻ hiểu biết về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Đó là cơ sở giúp trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội cuả loài người Bên cạnh đó ngôn ngữ chính là phương tiện giúp trẻ giao tiếp và trở thành một thành viên của xã hội loài người
- Năng lực giao tiếp
Năng lực giao tiếp có thể được hiểu là năng lực vận dụng ngôn ngữ để giao tiếp xã hội của cá nhân
Nội dung của khái niệm này là sự kết hợp linh hoạt giữa ba tham tố gồm: Cấu trúc ngôn ngữ, sự vận dụng ngôn ngữ và đời sống, xã hội [7,
Trang 18Theo chúng tôi, năng lực giao tiếp là khả năng nghe hiểu và vận dụng vốn từ mà trẻ có để trò chuyện với mọi người, trả lời các câu hỏi, bày tỏ suy nghĩ mong muốn của bản thân, giữ cho cuộc trò chuyện diễn ra trong thời gian dài Nhờ có năng lực giao tiếp mà trẻ có thể vận dụng sáng tạo những hiểu biết về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp theo những chuẩn mực ngôn ngữ nhằm tạo ra những lời nói hay và phù hợp trong hoàn cảnh giao tiếp với mọi người
Theo chúng tôi, trường MN khi tổ chức các hoạt động GD cho trẻ phải dành sự quan tâm thích hợp đến việc phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp Nhờ có năng lực ngôn ngữ trẻ sẽ giải mã được các phương tiện ngôn ngữ dùng trong các tác phẩm thơ, từ đó nhận thức sâu sắc được nội dung của văn bản, đồng thời khám phá vẻ đẹp của các đối tượng được phản ánh cũng như vẻ đẹp của các cách sử dụng ngôn ngữ mang tính nghệ thuật Nhờ vậy, năng lực nhận thức, năng lực giao tiếp và năng lực thẩm mĩ của trẻ được phát triển
- Năng lực tư duy
Năng lực tư duy là khả năng vận dụng trí tuệ, logic các thông tin trên
cơ sở huy động những kiến thức, kĩ năng, thái độ của bản thân nhằm đưa ra những lựa chọn đúng đắn để giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả nhất
Đối với trẻ MN, phát triển năng lực tư duy rất quan trọng và cần thiết Nhờ có năng lực này, trẻ sẽ hiểu và lí giải được nhiều điều thú vị xung quanh Năng lực tư duy của mỗi trẻ là không giống nhau, nó phụ thuộc vào khả năng
và sự rèn luyện của mỗi trẻ Năng lực tư duy của trẻ sẽ phát triển hơn khi trẻ được thường xuyên luyện tập Do đó, trường MN nên tổ chức cho trẻ tham gia vào nhiều các hoạt động hấp dẫn, đòi hỏi trẻ phải sử dụng trí tuệ nhằm kích thích trẻ suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để phát triển khả năng tư duy Điều này sẽ giúp trẻ thông minh và nhanh nhẹn hơn
Trang 19- Năng lực hợp tác
Theo chúng tôi năng lực hợp tác là khả năng tương tác, hỗ trợ lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác và trách nhiệm cao trên cơ
sở huy động những tri thức, kĩ năng và thái độ của bản thân nhằm giải quyết
có hiệu quả nhiệm vụ chung
Năng lực hợp tác là một trong những năng lực quan trọng cần có của con người trong xã hội hiện nay Nhờ có năng lực hợp tác mà giữa các trẻ có
sự hòa đồng, trẻ biết đoàn kết với bạn bè, trẻ biết cách lắng nghe, bổ sung để cùng nhau tốt hơn Vì vậy, phát triển năng lực hợp tác cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là điều rất cần thiết và đáng được chú ý Ở trường MN năng lực hợp tác của trẻ được hình thành và phát triển qua việc dạy trẻ hợp tác theo hình thức
tổ, nhóm
- Năng lực thẩm mĩ
Theo chúng tôi năng lực thẩm mĩ là khả năng cảm thụ cái đẹp trong cuộc sống và trong các tác phẩm văn học Nhờ có năng lực thẩm mĩ mà trẻ phân biệt được đâu là cái đẹp và đâu là cái chưa đẹp, từ đó hoàn thiện nhân cách bản thân
Bên cạnh đó nhờ có năng lực thẩm mĩ mà trẻ còn biết sáng tạo ra cái đẹp, điều này thể hiện trong lời nói, hành động và việc làm của trẻ, góp phần hình thành nhân cách tốt ở trẻ và giúp trẻ trở thành một công dân có ích cho
xã hội sau này
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.2.1 Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
- Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật
a Khái niệm
Tác giả SGK “Ngữ văn 10 - tập hai”, Nxb GDVN cho rằng:
Trang 20Nói đến ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ văn học) trước hết là nói đến ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm được dùng trong văn bản nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật còn được sử dụng trong lời nói hàng ngày và cả trong văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác (văn bản chính luận)
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Đó là ngôn ngữ được các nghệ sĩ ngôn từ tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật - thẩm mĩ cao
b Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật
Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ đa chức năng
Giống như ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ nghệ thuật có hai chức năng
cơ bản: Là phương tiện giao tiếp và là công cụ để con người tiến hành tư duy Tuy vậy, sự biểu hiện hai chức năng đó của ngôn ngữ nghệ thuật lại có những sắc thái riêng biệt
Ngôn ngữ nghệ thuật là phương tiện giao tiếp trong một hoạt động giao tiếp đặc biệt mang tính nghệ thuật giữa người sáng tác và người đọc
Ngôn ngữ nghệ thuật là công cụ tư duy, nghĩa là nó là loại công cụ để người sáng tác (người phát tin bằng các tín hiệu nghệ thuật) nhận thức về hiện thực xã hội, về thế giới nội tâm của con người theo cảm nhận riêng của họ
Đó cũng là công cụ giúp người đọc nhận thức các nội dung được phản ánh và
tư tưởng tình cảm của tác giả đối với nội dung được phản ánh thông qua hình tượng ngôn từ
Ngoài hai chức năng trên, ngôn ngữ nghệ thuật còn có những chức năng khác như: Biểu cảm, truyền cảm, thẩm mĩ,…
Trang 21- Khái quát về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
a Khái niệm
Tác giả SGK “Tiếng Việt 11”, Nxb GD, 2000 giúp chúng ta hiểu:
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là những kiểu diễn đạt bằng ngôn ngữ được dùng trong các tác phẩm văn chương thuộc thể loại văn xuôi, thơ, kịch
b Các đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
- SGK Ngữ văn 10 - tập hai, Nxb Giáo dục Việt Nam cho rằng: Ngôn ngữ nghệ thuật có ba đặc trưng cơ bản đó là tính hình tượng, tính truyền cảm
và tính cá thể hóa
+ Tính hình tượng (tính tạo hình biểu cảm)
Theo Đỗ Hữu Châu đặc trưng này của ngôn ngữ nghệ thuật xuất phát từ khả năng tái hiện đối tượng được phản ánh bằng các biểu tượng được xây dựng từ các phương tiện ngôn ngữ và từ cách dùng ngôn ngữ độc đáo; nhờ các biểu tượng đó, người đọc có cảm giác được nhìn thấy, ngửi thấy, sờ thấy, cảm thấy các đối tượng được phản ánh giống như trong cuộc sống
VD: Trong bài ca dao
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Thông qua các từ, thông qua phép lặp từ và phép tương phản, tác giả giúp cho người đọc có cảm giác mình đang đứng trước đầm sen giữa mùa nở hoa
+ Tính truyền cảm: Tính truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện
ở chỗ chúng có khả năng làm cho người nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu thích,… như chính người nói (viết) Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật là tạo
ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm xúc cho người đọc
Trang 22VD: Đọc bài ca dao ngợi ca vẻ đẹp của sen ở trên, người đọc như cùng tác giả đắm say trong vẻ đẹp quyến rũ của sen trắng trong đầm
+ Tính cá thể hóa: Tính cá thể hóa thể hiện ở mỗi nhà văn, nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật đều có khả năng thể hiện một giọng điệu riêng, một phong cách nghệ thuật riêng, không dễ bắt chước, pha trộn Ngoài ra, tính cá thể hóa còn được thể hiện ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật những sáng tạo, mới lạ, không trùng lặp
- Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Phong cách học tiếng việt”, Nxb
ĐHQGHN, năm 1997 cho rằng: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có các đặc trưng tiêu biểu như tính hình tượng, tính hàm súc, tính cá thể hóa, tính cấu trúc…
+ Tính cấu trúc: Mỗi văn bản nghệ thuật tự bản thân nó là một cấu trúc, trong đó các thành tố nội dung tư tưởng, tình cảm, hình tượng và các thành tố hình thức ngôn ngữ diễn đạt chúng không những phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống nói chung Tính cấu trúc là điều kiện của cái đẹp trong một VB nghệ thuật
+ Tính hàm súc (tính nhiều tầng ý nghĩa)
Đây là đặc trưng chung của ngôn ngữ văn hóa Trong các VB nghệ thuật, đặc biệt là trong các VB thơ, đặc trưng này thể hiện ở chỗ: Các phương tiện ngôn ngữ ngoài khả năng biểu thị nghĩa đen còn có nghĩa bóng (nghĩa hàm ngôn) Vì thế, từ xưa đến nay, khi nói đến đặc trưng của ngôn ngữ thơ, người ta thường nói “thi tại ngôn ngoại”
VD:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
(Ca dao)
Trang 23Bốn câu ca dao không chỉ tôn vinh vẻ đẹp độc nhất vô nhị của sen mà chúng còn có khả năng giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp của con người Việt Nam - vẻ đẹp của những con người dù phải rơi vào hoàn cảnh sống đen tối nhất vẫn kiên cường, vững vàng giữ được phẩm chất trong sáng của mình
1.1.2.2 Những hiểu biết chung về VB thơ
- Khái niệm
Văn bản thơ là loại VB nghệ thuật đặc biệt có chức năng bộc lộ nội tâm của con người trước hiện thực, thông qua các phương tiện ngôn ngữ giàu sức biểu hiện và giàu tính nhạc
- Đặc trưng của văn bản thơ
a Theo Nguyễn Đình Thi, thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn trước ngoại vật Ở nơi giao nhau của tâm hồn với ngoại vật trước hết là cảm xúc Bài thơ là những câu, những lời làm sống ngay trong lòng người đọc một tình cảm, một nỗi niềm Đó là tiếng nói từ một trái tim có sức lay động muôn vàn trái tim (Mấy vấn đề về thơ, SGK Ngữ Văn 12, Nxb GD)
b.Về nội dung
Mỗi bài thơ đều phải có tư tưởng, nhưng theo Nguyễn Đình Thi tư tưởng trong thơ là tư tưởng dính liền cuộc sống, ở trong cuộc sống; đó là tư tưởng nằm ngay trong cảm xúc tình tự của cái tôi trữ tình nhà thơ
c Văn bản thơ có kiểu cấu trúc không giống văn xuôi vì nó được thi sĩ
tổ chức theo mạch cảm xúc của từng tác giả Chính vì vậy văn bản thơ có khuôn hình đặc biệt - khuôn hình rất mềm dẻo đúng như Đinh Trọng Lạc đã nhận định
d Ngôn ngữ trong thơ khác với ngôn ngữ văn xuôi Đó là thứ ngôn ngữ giàu sức biểu hiện, giàu tính âm nhạc và giàu tính thẩm mĩ Đó là thứ ngôn ngữ mang vẻ đẹp toàn bích
Trang 24Các từ các câu trong VB thơ ngoài giá trị biểu thị ý niệm về sự vật còn
có sức gợi về những ý nghĩa sâu xa không được thể hiện trực tiếp trong lời
Chính khả năng giàu sức biểu hiện đã làm nên đặc thù “Thi tại ngôn ngoại
1.1.3 Cơ sở tâm lí học
Trong cuốn giáo trình “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”, Nguyễn
Ánh Tuyết, Nxb ĐHSP cho rằng trẻ lứa tuổi MN giai đoạn từ 0-6 tuổi là giai đoạn phát triển rất nhanh về mặt thể chất và tâm lí Càng ở độ tuổi lớn hơn thì
sự thay đổi đó của trẻ lại càng rõ rệt Những năm đầu tiên của cuộc sống là nền tảng cho sự phát triển của trẻ trong những năm tiếp theo Chính vì vậy, nắm được đặc điểm tâm lí của trẻ theo độ tuổi, chúng ta sẽ dễ dàng GD trẻ một cách phù hợp và hiệu quả nhất
Mỗi độ tuổi đều có những đặc trưng riêng về mặt tâm lí Đối với trẻ MGN, ở giai đoạn này các bé phát triển mạnh tư duy trực quan hình tượng, trẻ
đã có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm thông qua các hoạt động vui chơi, hoạt động vẽ, nặn, kể chuyện, xây dựng… Vì vậy, vốn biểu tượng của trẻ ngày càng phong phú hơn, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết
và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt Đó là điều kiện thuận lợi để trẻ phát triển tư duy trực quan - hình tượng Phần lớn trẻ em ở tuổi MGN đã có khả năng suy luận Vì vậy, trong khi giúp trẻ phát triển tư duy hình tượng, chúng
ta cần phải uốn nắn những suy luận chưa chuẩn của trẻ, giúp trẻ có những hiểu biết cần thiết để có được những suy luận đúng đắn Chúng ta cần cung
Trang 25cấp biểu tượng cho trẻ một cách phong phú và đa dạng; hệ thống hóa và chính xác hóa dần các biểu tượng về thế giới xung quanh qua những buổi đi chơi, qua những câu chuyện, bài hát, bài thơ… Tư duy trực quan - hình tượng phát triển mạnh là điều kiện thuận lợi nhất giúp trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật được xây dựng trong các tác phẩm văn học nghệ thuật
Trong lứa tuổi ấu nhi cũng như lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm lí của đứa trẻ; nhưng đặc biệt ở độ tuổi MGN thì đời sống tình cảm của trẻ có một bước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú vừa sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước đó Ở trẻ MGN, tình cảm phát triển mãnh liệt, đặc biệt là sự đồng cảm và tính dễ xúc cảm đối với con người và cảnh vật xung quanh Đây là thời điểm rất thuận lợi để chúng ta GD lòng nhân ái cho trẻ Đó là thời điểm nhân cách của trẻ được hình thành Trẻ MGN biết rung cảm nhạy bén với những cái đẹp trong thế giới xung quanh, hình thành nên tình yêu cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật Có thể nói, đây là thời kì phát triển của những xúc cảm thẩm mĩ, tức là những cảm xúc tích cực, dễ chịu được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp, khiến trẻ thấy gắn bó tha thiết với con người và cảnh vật xung quanh, kích thích trẻ làm những điều tốt lành để đem đến niềm vui cho mọi người
Ở độ tuổi MGN, ngôn ngữ của trẻ đã và đang phát triển nhanh chóng, ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn các giai đoạn trước và là tiền đề phát triển cho giai đoạn tiếp theo Ở giai đoạn này, trẻ đã hiểu và biết sử dụng ngôn ngữ một cách phong phú và phù hợp với hoàn cảnh, trẻ rất hứng thú và
tò mò về thế giới xung quanh Thông qua các bài hát, bài thơ, những câu chuyện hấp dẫn, ngôn ngữ của trẻ phát triển trau chuốt hơn; khả năng cảm thụ các tác phẩm nghệ thuật của trẻ tốt hơn, trẻ đã biết sử dụng những từ hay, ý
Trang 26Quan sát trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta dễ nhận thấy trẻ mẫu giáo, đặc biệt ở tuổi MGN, trẻ rất dễ sung sướng, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tưởng chừng như rất đơn giản trong thiên nhiên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật Một bông hoa tươi thắm, một khúc nhạc hay, một câu thơ giàu vần điệu… Dễ gợi lên những rung động mạnh mẽ trong lòng đứa trẻ Đây là thời điểm thuận lợi cho việc GD thẩm mĩ, mang lại hiệu quả to lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ Người lớn cần nuôi dưỡng ở trẻ em nhu cầu muốn làm cho mình trở nên đẹp (trong nét mặt, cử chỉ, lời nói và trong sinh hoạt hằng ngày) Sự phát triển mạnh những xúc cảm thẩm mĩ kết hợp với trí nhớ máy móc vốn có ở trẻ, khiến cho ở lứa tuổi này trẻ rất nhạy cảm với những tác phẩm văn học nghệ thuật Đặc biệt trẻ mẫu giáo tiếp nhận và thuộc rất dễ dàng, nhanh chóng những bài thơ, bài hát có vần điệu rõ ràng, giai điệu hay và hình tượng đẹp
Tuổi MGN là chặng giữa tuổi mẫu giáo, là một thời kì phát triển rực rỡ của những nét tâm lí đặc trưng cho tuổi mẫu giáo, mà bao trùm lên tất cả là tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm trong hoạt động tâm lí Điều này khiến cho nhân cách của trẻ ở quá trình hình thành mang tính độc đáo rõ nét nhất và là điều kiện hết sức quan trọng để tạo ra một sự chuyển tiếp mạnh mẽ ở độ tuổi sau (mẫu giáo lớn) tiến dần vào thời kì chuẩn bị cho trẻ tới trường phổ thông
Do đó, GD MN cần tập trung hết mức để giúp trẻ phát triển những đặc điểm này
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để khẳng định lại những nhận định của mình, trong thời gian thực tập tại trường MN Đại Thịnh - Mê Linh - Vĩnh Phúc, được sự giúp đỡ của các giáo viên trong trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phương pháp điều tra và thu được một số kết quả rất khả quan
Trang 271.2.1 Thực trạng của việc phát triển một số năng lực cơ bản trên bình diện ngôn ngữ thơ của trẻ MGN ở trường MN xét từ phía giáo viên
1.2.1.1 Kết quả điều tra thực trạng của việc phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ MGN bằng phiếu trả lời câu hỏi
- Phiếu điều tra và kết quả điều tra
PHIẾU ĐIỀU TRA
(Dành cho giáo viên)
Xin cô (chị) vui lòng trả lời những câu hỏi sau Hãy đánh dấu vào ô thích hợp
Câu hỏi 1: Theo cô (chị) ngôn ngữ thơ giúp trẻ MGN phát triển những năng lực cơ bản nào?
A Ngôn ngữ và giao tiếp
B Chưa quan tâm
Câu hỏi 3: Thực trạng hiện nay, qua việc làm quen với ngôn ngữ thơ, trẻ đã phát triển được hết những năng lực cần có chưa?
A Đã phát triển hết
B Chưa phát triển hết
- Kết quả điều tra thực trạng từ phiếu điều tra:
Chúng tôi đã phát ra 9 phiếu cho 9 cô giáo ở các lớp 4T.B5, 4T.B6,
Trang 28Kết quả thu được như sau:
- Đối với câu hỏi 1:
+ Trong tổng số 9 phiếu phát ra có 6 phiếu lựa chọn ngôn ngữ thơ giúp trẻ MGN phát triển cả 5 năng lực: ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy, hợp tác và thẩm mĩ, chiếm 67%
+ 1 phiếu không lựa chọn năng lực: tư duy, thẩm mĩ, chiếm 11%
+ 1 phiếu không lựa chọn năng lực: tư duy, hợp tác, chiếm 11%
+ 1phiếu không lựa chọn năng lực thẩm mĩ, chiếm 11%
- Đối với câu hỏi 2:
+ 100% giáo viên đều đã quan tâm đến việc phát triển các năng lực cơ bản cho trẻ thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với ngôn ngữ thơ
- Đối với câu hỏi 3:
+ 100% giáo viên đều nhận thấy thực trạng hiện nay, qua việc làm quen với ngôn ngữ thơ trẻ vẫn chưa phát triển được hết các năng lực cần có
1.2.1.2 Thực trạng thực hiện tổ chức hoạt động tìm hiểu thơ trong kế hoạch giảng dạy ở trường MN Đại Thịnh
- Ở trường MN Đại Thịnh trẻ MGN được làm quen với tác phẩm thơ trong các tiết cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học Các bài thơ đó được dạy vào tuần IV của tháng
- Trường MN Đại Thịnh đã tiến hành dạy cho trẻ MGN những bài thơ theo quy định của Bộ GD, Sở GD - ĐT Đó là những bài thơ:
+ Lời chào (Phạm Cúc), Cô giáo của em (Chu Huy), Em yêu nhà em (Đoàn Thị Lam Luyến), Bé “làm” bao nhiêu nghề (Yên Thao), Hoa kết Trái (Thu Hà), Chim chích bông (Nguyễn Viết Bình), Thuyền giấy (Phạm Hổ),
Hoa quanh lăng Bác (Nguyễn Bao)
- Những bài thơ được tổ chức dạy cho trẻ MGN có đặc điểm:
Trang 29+ Về nội dung: Các bài thơ đều có nội dung đa dạng, hấp dẫn, dễ hiểu
và gần gũi với trẻ
+ Về tính chất: Các bài thơ tương đối dài Trong số các bài thơ trên, bài thơ ngắn nhất có 10 câu thơ, bài thơ dài nhất có 19 câu thơ Các bài thơ chủ yếu sử dụng thể thơ 5 chữ, dễ đọc, dễ nhớ
Các bài thơ với đặc điểm như trên tương đối phù hợp với trẻ MGN, do
độ tuổi này ngôn ngữ và trí nhớ của trẻ đã phát triển tốt hơn các giai đoạn trước, trẻ có thể tiếp thu các bài thơ nhanh và dễ dàng hơn
1.2.1.3 Điều tra thực trạng hoạt động tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ thông qua việc tham khảo giáo án và dự giờ của giáo viên
a Kết quả điều tra thực trạng hoạt động tìm hiểu hiệu quả cuả ngôn ngữ thơ thông qua việc tham khảo giáo án
Chúng tôi đã tiến hành tham khảo giáo án ở 5 lớp MGN, từ thực tế khảo sát giáo án của giáo viên, chúng tôi bước đầu có những đánh giá và nhận xét như sau:
- Từ việc khảo sát 5 giáo án ở 5 lớp MGN, chúng tôi nhận thấy rằng 5 lớp MGN đều cùng chung một kế hoạch giảng dạy Nhà trường đã tiến hành xây dựng kế hoạch học tập theo từng tuần trong tháng và cho các lứa tuổi khác nhau, các bài học bám sát vào chương trình GD MN Nhìn chung mục đích yêu cầu đặt ra trong những giáo án cho trẻ làm quen với ngôn ngữ thơ chủ yếu đề cập đến việc phát triển vốn từ, phát triển lời nói mạch lạc hoặc phát triển ngôn ngữ Việc đề cập đó rất chung chung
Chủ yếu các giáo viên xác định các mục đích, yêu cầu như sau:
+ Trẻ biết tên bài thơ, tên tác giả
+ Trẻ hiểu nội dung bài thơ
+ Phát triển lời nói mạch lạc
Trang 30VD: Trong giáo án dạy trẻ bài thơ “Thuyền giấy”
Cô giáo Phan Thị Hồng Nhung, chủ nhiệm lớp 4T.B9, trường Mầm non Đại Thịnh đã xác định rõ mục đích yêu cầu của bài dạy:
+ Trẻ biết tên bài thơ, tên tác giả và hiểu nội dung bài thơ
+ Phát triển kĩ năng ghi nhớ có chủ đích cho trẻ
+ Phát triển lời nói mạch lạc, kĩ năng trả lời các câu hỏi của cô
+ Rèn kĩ năng đọc diễn cảm, ngắt đúng nhịp điệu
+ GD trẻ có hành vi văn hóa khi đi trên thuyền và các phương tiện giao thông khác
- Trong 5 giáo án, không có giáo án nào đề cập đến việc phát triển đầy
đủ các năng lực cơ bản cần thiết cho trẻ: ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy, hợp tác
và thẩm mĩ; không có giáo án nào đề cập đến các biện pháp nhằm giúp trẻ MGN phát triển hết các năng lực cơ bản qua hoạt động làm quen với ngôn ngữ thơ
b Kết quả điều tra thực trạng hoạt động tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ thông qua hoạt động dự giờ của giáo viên
Chúng tôi đã dự 2 tiết dạy của các cô giáo lớp MGN 4TB8 và 4TB9, có thể mô tả tóm tắt nội dung, phương pháp được các cô thực hiện trong từng tiết dạy như sau:
b1 Tiết 1
- Nội dung chính: Dạy bài thơ “Hoa kết trái”
- Nội dung kết hợp: GD trẻ cách chăm sóc bảo vệ các loài hoa
- Tiết dạy được thực hiện ở lớp 4TB8
- Tóm tắt hoạt động của cô và trẻ:
Đầu tiết cô trò chuyện với trẻ về màu sắc và lợi ích của một số loài hoa, sau đó dẫn dắt vào bài học Phần đọc thơ lần 2 cô đọc thơ cho trẻ nghe kết hợp sử dụng tranh minh họa bài thơ Đến phần đàm thoại các cô đều sử
Trang 31dụng hệ thống các câu hỏi đàm thoại kết hợp trích dẫn câu thơ, đoạn thơ để trẻ đưa ra câu trả lời, trong quá trình trả lời các câu hỏi của cô giáo, trẻ thường
sử dụng những câu rút gọn và các cô đều chú ý uốn nắn cách trả lời của trẻ
VD + Cô: Bạn nào giỏi cho cô biết hoa cà có màu gì?
+ Trẻ: Màu tím
+ Cô nhắc nhở trẻ phải trả lời: Con thưa cô, hoa cà có màu tím ạ!
Ngoài ra cô còn chú ý sửa lỗi phát âm sai ở trẻ, những trẻ phát âm chưa chuẩn cô cho trẻ phát âm lại VD: Hoa lựu thì trẻ đọc là hoa nựu, trẻ phát âm sai chữ “L” Sau khi đàm thoại với trẻ về nội dung bài thơ cô thường khái quát lại nội dung bài thơ và GD trẻ phải biết nâng niu những bông hoa, không được hái hoa bẻ cành
Phần dạy trẻ đọc thơ, cô cho trẻ đọc theo hình thức cả lớp, tổ, nhóm, cá nhân Trong quá trình trẻ đọc cô đều chú ý sửa sai cho trẻ
- Nhận xét sơ bộ về tiết dạy
+ Ưu điểm: Trẻ hầu hết nắm được nội dung của bài thơ, trẻ được phát triển về vốn từ, phát âm
+ Nhược điểm: Cô chủ yếu tập trung vào phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp cho trẻ, uốn nắn lời nói của trẻ và phát triển lời nói mạch lạc, còn các năng lực: Tư duy, hợp tác và thẩm mĩ của trẻ ít được quan tâm cho nên trẻ chưa được phát triển hết các năng lực qua ngôn ngữ thơ Bên cạnh
đó nhiều trẻ còn chưa chú ý đến bài giảng của cô nên chưa biết cách trả lời câu hỏi, nhiều trẻ còn phát âm sai, trả lời bằng các câu rút gọn, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả của tiết dạy
b2 Tiết 2
- Nội dung chính: Dạy bài thơ “Thuyền giấy”
- Nội dung kết hợp: GD trẻ tránh chơi những nơi nguy hiểm và tuân thủ
Trang 32- Tiết dạy được thực hiện ở lớp 4TB9
- Tóm tắt hoạt động của cô và trẻ:
Đầu tiết dạy để gây hứng thú với trẻ, cô cho trẻ quan sát bức tranh về các phương tiện giao thông đường thủy, trò chuyện với trẻ để dẫn dắt vào bài
Cô giới thiệu tên bài và tên tác giả, cô đọc thơ cho trẻ nghe, đọc thơ lần 2 có kết hợp tranh minh họa trình chiếu Powerpoint tạo sự thích thú với trẻ Trong phần đàm thoại hiểu nội dung bài thơ cô đã đưa ra những câu hỏi để trẻ trả lời, cô gợi ý trẻ qua việc đọc trích dẫn câu thơ và đoạn thơ Trong bài thơ có những từ khó cô đều giải thích nghĩa của từ đó cho trẻ hiểu
VD Giáo viên giải thích các từ khó:
+ Hối hả: Nghĩa là vội vã, không để ý gì đến xung quanh, khi thuyền
giấy chạm nước thì trôi rất nhanh
+ Phăng phăng: Thuyền phăng phăng trên nước nghĩa là di chuyển rất
nhanh và mạnh về phía trước
Qua việc giải thích những từ khó trong câu thơ đã giúp trẻ tăng thêm vốn từ
Sau khi đàm thoại với trẻ cô khái quát lại nội dung bài thơ và GD trẻ khi đi chơi thả thuyền phải có người lớn đi cùng tránh để xảy ra tai nạn Cô tiến hành cho cả lớp đọc thơ, cho trẻ đọc thơ theo tổ, nhóm, cá nhân, trong quá trình đọc cô đã chú ý sửa lỗi phát âm cho trẻ
- Nhận xét sơ bộ về tiết dạy
+ Ưu điểm: Trẻ hầu hết nắm được nội dung của bài thơ, trẻ tích cực học tập và hứng thú hơn khi được xem tranh ảnh trình chiếu dạng powerpoint, trẻ biết thêm nghĩa của một số từ khó
+ Nhược điểm: Cô chủ yếu chú ý đến những trẻ nhanh nhẹn Những trẻ chậm chạp, chậm hiểu ít được cô quan tâm, nên nhiều trẻ không được phát triển hết các năng lực cần có
Trang 33Qua hai tiết dự giờ ở 2 lớp 4T, chúng tôi nhận thấy rằng các cô giáo vẫn chưa chú ý đến việc phát triển hết các năng lực cơ bản cho trẻ Các cô chủ yếu phát triển năng lực về ngôn ngữ, các phương pháp giảng dạy còn chưa gây được hứng thú cho trẻ, trẻ còn chưa chú ý và cô chưa bao quát được hết trẻ, trẻ được tìm hiểu về ngôn ngữ thơ còn ít do đó chưa phát triển được hết những năng lực cần có ở trẻ
1.2.1.4 Một vài nhận xét về thực trạng phát triển năng lực cơ bản cho trẻ MGN thông qua hoạt động tìm hiểu ngôn ngữ thơ từ phía giáo viên
Chúng tôi đã tiến hành đặt câu hỏi điều tra lấy ý kiến xác thực từ phía giáo viên để có những kết quả khả quan nhất
a Những thuận lợi cơ bản giúp giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học ở các lớp MGN trong trường MN
+ Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy
b2 Về mặt đội ngũ giáo viên:
+ Giáo viên của trường cơ bản có kỹ năng sư phạm, có trình độ chuyên môn tốt, nắm vững phương pháp và nội dung chăm sóc, GD trẻ
+ Giáo viên thường xuyên được tham gia bồi dưỡng dự chuyên đề phát triển ngôn ngữ, tập huấn phương pháp dạy học mới
+ Những hoạt động sinh hoạt chuyên môn của giáo viên có giám sát, kiểm tra, đánh giá của phòng GD, sở GD - ĐT cũng góp phần nâng cao trình
Trang 34+ 90% giáo viên trong trường biết về CNTT nên việc phát triển ngôn ngữ thơ cho trẻ qua CNTT cũng thuận lợi
+ Hầu hết giáo viên có khả năng đọc thơ rõ ràng, truyền cảm
b Những hạn chế liên quan đến việc phát triển các năng lực cơ bản cho trẻ MGN thông qua hoạt động dạy trẻ đọc hểu thơ
b1 Về cơ sở vật chất:
+ Đồ dùng trực quan trong hoạt động dạy thơ còn hạn chế, bộ tranh minh họa thơ chưa bám sát chủ đề
+ Đồ dùng dạy học còn chưa phong phú và đa dạng
b2 Về phía giáo viên:
+ 10% giáo viên còn sử dụng tiếng địa phương trong việc dạy trẻ đọc thơ
+ 10% giáo viên đã có tuổi nên việc dạy học cho trẻ trên các thiết bị CNTT còn hạn chế, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giảng dạy của giáo viên
c Về phía trẻ:
+ Nhiều trẻ vẫn còn nói ngọng, nói lắp, nói nhỏ, nói nhanh, do sự hiểu biết của phụ huynh còn hạn chế nên việc phối kết hợp rèn trẻ còn gặp nhiều khó khăn
+ Nhiều trẻ còn chậm, nhút nhát, phát âm chưa rõ ràng nên việc phát triển ngôn ngữ thơ cho trẻ còn hạn chế
+ Trẻ đi học không đều, nhận thức của trẻ không đồng đều và số lượng trẻ trên một lớp còn đông (trung bình 45 cháu 1 lớp)
1.2.2 Thực trạng năng lực cơ bản của trẻ MGN ở trường MN Đại Thịnh
Ở đây thông qua hoạt động dự giờ hai lớp MGN 4T.B8, 4T.B9 trên hai
tiết dạy thơ: “Hoa kết trái” và “Thuyền giấy” Chúng tôi tập trung đánh giá
thực trạng năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy và năng lực giao tiếp của trẻ
Trang 351.2.2.1 Năng lực ngôn ngữ của trẻ MGN ở trường MN Đại Thịnh
a Năng lực phát âm
- Có 10% trẻ phát âm ngọng (sai n/l)
VD: Bé Dương con lợn nói thành con nợn, bé Nguyệt nói chuyện thành
lói chuyện
- Có 10% trẻ phát âm sai thanh điệu
+ Không phân biệt thanh ngã với thanh sắc
VD: Bé Tuấn nói ngã thành ngá
+ Không phân biệt thanh hỏi với thanh nặng
VD: Bạn Bảo nói ngủ thành ngụ, bảo thành bạo
- Có 10% trẻ phát âm không đúng chuẩn âm đầu (l/n, tr, c )
+ Trẻ phát âm “c” thành “t” VD: Bé Minh, bé Long nói cô thành tô,
con thành ton
+ Trẻ phát âm “tr” thành “ch” VD: Bé Phương nói con trâu thành con
châu
+ Trẻ nói lẫn lộn l/n VD: Bé Việt nói quả la (quả na)
- Có 10% trẻ phát âm không đúng chuẩn âm cuối (ch, nh)
+ “Ch”, “nh” trẻ phát âm sai thành “t”, “n” VD: Bé Ánh nói cánh thành cắn, bé Đức nói xanh thành xăn, bé Thành nói ếch thành ất
- Đặc điểm phát âm địa phương (âm l) ảnh hưởng rất nhiều đến việc đọc thơ không đúng chuẩn của trẻ
b Năng lực hiểu biết về từ ngữ
Ở bài thơ “Hoa kết trái”, do gắn với đồng quê nên hầu hết tên các loài
hoa, đặc điểm về màu sắc các loài hoa đều quen thuộc với trẻ, trừ “hoa lựu”
vì ở Đại Thịnh không có “cây lựu” nên trẻ không biết loài hoa này Riêng cụm từ “kết trái”, nhiều trẻ chưa hiểu nghĩa
Trang 36Ở bài “Thuyền giấy”, hầu hết trẻ đều hiểu thuyền giấy là thuyền làm
bằng giấy Trong bài này, những từ “hối hả, lênh đênh, phăng phăng” nhiều
trẻ không hiểu nghĩa
c Năng lực ngữ pháp
Hầu hết trẻ MGN của hai lớp thuộc đối tượng khảo sát của chúng tôi đều nói được những câu đơn giản hoặc câu rút gọn Tuy vậy, khi dùng câu rút gọn, nhiều trẻ có thói quen nói trống không, nghĩa là những trẻ đó không dùng tình thái từ để đảm bảo sự lễ phép khi dùng câu
+ Giáo viên hỏi: Con hãy cho cô biết hoa cà màu gì?
+ Bé trả lời: Tím
+ Giáo viên hỏi: Trong bài thơ, hoa vừng được miêu tả như thế nào? + Bé trả lời: Nho nhỏ
1.2.2.2 Năng lực tư duy của trẻ MGN trường MN Đại Thịnh
Giống như hầu hết trẻ MGN, các trẻ ở độ tuổi này của trường MN Đại Thịnh, mà tiêu biểu là hai lớp trẻ MGN thuộc đối tượng khảo sát của chúng tôi có chung đặc điểm là: Thiên về tri giác những sự vật cụ thể, nhận thức mang tính chung chung (đại thể)
Có thể do hoàn cảnh trẻ ít được tiếp xúc, ít được giao tiếp rộng rãi nên phản xạ của nhiều bé không nhanh Điều đó thể hiện rõ trong những giờ làm quen với tác phẩm thơ, khi cô đặt câu hỏi, hoặc cô trò chuyện, khoảng 50% trẻ không xung phong trả lời, hoặc giữ im lặng không bày tỏ ý kiến Hiện tượng ấy phản ánh sự nhận thức và phản ánh nhận thức của trẻ thiếu nhanh, nhạy
1.2.2.3 Năng lực giao tiếp của trẻ MGN trường MN Đại Thịnh
Trong hai lớp trẻ MGN thuộc đối tượng khảo sát ở trường MN Đại Thịnh, có khoảng 65% nói gãy gọn những câu đơn giản Có 20% trẻ vì nhút nhát, sợ giao tiếp với người lạ Có 15% trẻ nói không liền mạch (nói ngập ngừng tới nói đứt quãng)
Trang 37Từ thực trạng trên cho thấy những hạn chế về những năng lực cơ bản
đó cần được khắc phục
Tiểu kết chương 1
Ở chương này, chúng tôi đã đi nghiên cứu tìm hiểu về lí thuyết năng lực nói chung và những năng lực cần thiết cho trẻ MN nói riêng Đồng thời đó chúng tôi tìm hiểu những đặc trưng nổi bật của ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thơ và những đặc điểm tâm lí của trẻ MGN thông qua các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Những lí thuyết đó được chúng tôi sử dụng làm cơ sở lí luận nền tảng để xử lí đề tài khóa luận của mình
Dựa trên những cơ sở lí luận và thực tiễn đã được nêu ở chương 1, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu và đưa ra các biện pháp hợp lí nhằm giúp trẻ MGN phát triển được hết các năng lực cơ bản cần có, thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với ngôn ngữ thơ ở chương 2
Trang 38Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MẪU GIÁO NHỠ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CƠ BẢN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU
NGÔN NGỮ THƠ
2.1 Kết quả thống kê phân loại văn bản và phương tiện ngôn ngữ trong các văn bản thơ thuộc chương trình GD trẻ MGN
2.1.1 Tiêu chí phân loại
- Đối tượng khảo sát của chúng tôi là các văn bản thơ thuộc chương trình GD trẻ MGN ở trường MN
- Trong loại văn bản trên chúng tôi tập trung thống kê phân loại các đơn vị sau: Từ, dòng thơ (còn gọi là câu thơ), đoạn thơ (còn gọi là khổ thơ)
Đối với đơn vị „từ”, chúng tôi dựa vào kết quả phân loại của các nhà khoa
học, các nhà từ vựng học để phân chia thành các kiểu từ; đồng thời chúng tôi dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà phong cách học để xác định các biện pháp tu từ về từ
- Vì thơ có đặc thù riêng, trong đó tiếng được coi là đơn vị cơ bản để cấu tạo câu thơ, để xác định thể loại văn bản thơ cho nên đơn vị đó cũng được chúng tôi quan tâm tìm hiểu
Câu thơ khác với câu văn xuôi, cho nên khi tìm hiểu về loại đơn vị ngôn ngữ nghệ thuật này, chúng tôi dựa vào chức năng của nó trong việc biểu thị hình ảnh, nội dung, ý nghĩa, tư tưởng và khả năng tạo tính nhạc cho thơ
2.1.2 Kết quả thống kê phân loại VB thơ và phương tiện ngôn ngữ trong các VB đó
2.1.2.1 Kết quả thống kê phân loại văn bản thơ
Trang 39- Chúng tôi thống kê được 35 VB thơ trong chương trình GD trẻ MGN,
35 VB thơ thuộc ngữ loại thống kê được phân chia theo chủ đề trong chương trình GD trẻ MGN và được phân chia cụ thể như sau:
+ Chủ đề Trường MN: Bạn mới (Nguyệt Mai), Cô giáo của em (Chu
Huy)
+ Chủ đề Bản thân: Đôi mắt của em (Lê Thị Mỹ Phương), Cô dạy
(Phạm Hổ), Tay ngoan (Võ Thị Như Chơn), Mẹ và cô (Trần Quốc Toàn), Rửa
tay (Vũ Ngọc Phác), Đi nắng (Nhược Thuỷ), Không vứt rác ra đường (Phong
Thu), Lời chào (Phạm Cúc)
+ Chủ đề Gia đình: Lấy tăm cho bà (Định Hải), Em yêu nhà em (Đoàn
Thị Lam Luyến), Quạt cho bà ngủ (Thạch Quỳ)
+ Chủ đề Nghề nghiệp: Làm bác sĩ (Lê Ngân), Bé “làm” bao nhiêu
nghề (Yên Thao), Cái bát xinh xinh (Thanh Hòa)
+ Chủ đề Thế giới thực vật: Cây thược dược (Ngô Quân Miện), Dừa
(Phạm Hổ), Cây dừa (Trần Đăng Khoa), Na (Phạm Hổ), Bắp cải xanh (Phạm Hổ), Hoa đào - Hoa mai (Lệ Bình), Hoa kết trái (Thu Hà), Tết đang vào nhà
(Nguyễn Hồng Kiên)
+ Chủ đề Thế giới động vật: Chim chích bông (Nguyễn Viết Bình),
Mèo con (Phùng Phương Quý), Em vẽ (Hoàng Thanh Hà), Rong và cá (Phạm
Hổ)
+ Chủ đề Giao thông: Đèn đỏ, đèn xanh (Định Hải), Thuyền giấy
(Phạm Hổ)
+ Chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên: Trăng sáng (Nhược
Thuỷ), Gió (Xuân Quỳnh), Mưa (Lê Lâm), Ông mặt trời (Ngô Thị Bích
Hiền)
+ Chủ đề Quê hương - Đất nước: Hoa quanh lăng Bác (Nguyễn Bao)