1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LVTS 2015 quy định về thủ tục đình công trong pháp luật việt nam thực trạng trong các doanh nghiệp

92 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 658,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tổ chức và lãnh đạo đình công của công đoàn chưa thực sự có hiệu quả, chưa được người lao động tin tưởng, dẫn đến một thực trạng là hầu hết các cuộc đình công diễn ra trong những nă

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ TRÚC CHI

Quy định về thủ tục đình công trong Pháp luật Việt Nam - Thực trạng trong các

doanh nghiệp có vốn đầu t- n-ớc ngoài

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ TRÚC CHI

Quy định về thủ tục đình công trong Pháp luật Việt Nam - Thực trạng trong các

doanh nghiệp có vốn đầu t- n-ớc ngoài

Chuyờn ngành: Luật Kinh tế

Mó số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS LƯU BèNH NHƯỠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thị Trúc Chi

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC ĐÌNH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC ĐÌNH CÔNG 9

1.1 Khái niệm về đình công và thủ tục đình công 9

1.1.1 Đình công 9

1.1.2 Khái niệm về thủ tục đình công 13

1.1.3 Pháp luật về thủ tục đình công 17

1.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc quy định thủ tục đình công và thực hiện các quy định về thủ tục đình công 21

1.3 Quy định về thủ tục đình công của một số nước trên thế giới 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC ĐÌNH CÔNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI VIỆT NAM 29

2.1 Quy định về thủ tục đình công trong Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006 29

2.2 Quy định về thủ tục đình công theo Bộ luật lao động năm 2012 33

2.2.1 Quy định của pháp luật về thủ tục đình công 33

2.2.2 Đánh giá những hạn chế trong quy định của pháp luật về thủ tục đình công theo Bộ luật lao động năm 2012 42

2.3 Việc thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục đình công trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam 45

Trang 5

2.3.1 Thực trạng đình công và thực hiện các quy định về thủ tục đình

công tại doanh nghiệp FDI 45

2.3.2 Đánh giá thực trạng đình công và việc thực hiện các quy định về thủ tục đình công tại các doanh nghiệp FDI 52

2.3.3 Nguyên nhân của những bất cập khi thực hiện các quy định của pháp luật về thủ tục đình công tại các doanh nghiệp FDI 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC ĐÌNH CÔNG TỪ THỰC TIỄN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 62

3.1 Phương hướng 62

3.1.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đình công theo hướng thực tế hơn 63

3.1.2 Hoàn thiện thủ tục đình công phải đồng bộ với hoàn thiện nội dung các quy định về đình công 63

3.1.3 Nâng cao vai trò lãnh đạo và tổ chức đình công của tổ chức công đoàn 64

3.2 Một số giải pháp cụ thể 65

3.2.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục đình công 65

3.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật về thủ tục đình công tại Việt Nam 70

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77

KẾT LUẬN CHUNG 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đình công là một quyền cơ bản của người lao động, được ghi nhận trong Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 của Liên hợp quốc, Công ước số 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm

1949 của Tổ chức lao động quốc tế và pháp luật của đa số quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, đình công xuất hiện cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Từ khi xây dựng Bộ luật Lao động năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 đến nay, Việt Nam cũng đã quy định những nội dung liên quan đến đình công và giải quyết đình công nhằm góp phần giải quyết các cuộc đình công Nhờ có những văn bản pháp luật quy định nêu trên mà người lao động đã có

ý thức hơn về sức mạnh tập thể thông qua đình công nhằm bảo vệ quyền và lợi ích khi bị xâm phạm trong quan hệ lao động; các cơ quan có thẩm quyền

có thêm căn cứ pháp lý để giải quyết các cuộc đình công khi có yêu cầu

Tuy nhiên, nhận thức về quyền đình công, thực hiện hoạt động đình công của người lao động là không đồng đều Việc tổ chức và lãnh đạo đình công của công đoàn chưa thực sự có hiệu quả, chưa được người lao động tin tưởng, dẫn đến một thực trạng là hầu hết các cuộc đình công diễn ra trong những năm qua đều chưa tuân thủ các quy định của pháp luật Có trường hợp người lao động lợi dụng quyền được đình công để đưa ra những yêu sách vô

lý, tạo áp lực buộc người sử dụng lao động phải chấp nhận những yêu sách của họ Điều này gây ra những ảnh hưởng xấu đến quan hệ lao động, trật tự

xã hội cũng như nền kinh tế Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì những cuộc đình công trái pháp luật ảnh hưởng xấu đến hình ảnh và khả năng thu hút vốn đầu nước ngoài vào Việt Nam Vì vậy, bên cạnh

Trang 8

việc ghi nhận quyền đình công của người lao động, Nhà nước cũng cần quy định chi tiết về trình tự, thủ tục tiến hành đình công và các hành vi bị cấm khi tiến hành đình công nhằm hạn chế những hậu quả tiêu cực do đình công gây

ra, hướng việc thực hiện quyền đình công của người lao động vào trong khuân khổ của pháp luật

Đối với người lao động tại nhiều nước trên thế giới, đình công là hiện tượng kinh tế - xã hội bình thường và phổ biến, được nhiều người lao động sử dụng có hiệu quả nhằm đạt được những yêu sách đặt ra trong quan hệ lao động Nhưng đối với người lao động Việt Nam, việc tổ chức một cuộc đình công đáp ứng yêu cầu của pháp luật là vấn đề không dễ dàng Qua đánh giá các cuộc đình công ở nước ta có thể thấy, mặc dù nhiều cuộc đình công có xuất phát từ việc tranh chấp lao động, từ những bức xúc thật sự trong quan hệ lao động nhưng cách tổ chức đã vi phạm các quy định về thủ tục, trình tự do pháp luật quy định

Đình công là quyền cơ bản của người lao động, đã được nhiều công trình khoa học đề cập, nghiên cứu và luôn là vấn đề thời sự không chỉ trong luật lao động mà còn có tính thời sự trong đời sống xã hội hiện đại

Trong những năm qua cùng với việc mở rộng quan hệ, liên kết, đầu tư, hội nhập kinh tế quốc tế, thích ứng với hệ thống pháp luật quốc tế và với các quốc gia trên thế giới, đồng thời với việc tăng cường dân chủ trong quan hệ lao động, đảm bảo quyền, lợi ích của người lao động, pháp luật lao động đã quy định về quyền đình công, nội dung, thủ tục thực hiện quyền đó tại Việt Nam Đó là một bước tiến khá dài và có ý nghĩa quan trọng đối với bảo đảm quyền con người, quyền công dân và quyền của người lao động ở nước ta, dần đưa pháp luật nước ta tiệm cận và hoà vào dòng chảy pháp luật quốc tế

Trong các quy định về đình công, thủ tục đình công có một vai trò quan

Trang 9

trọng Quy định về thủ tục đình công xác định các bước đi, trình tự cho các chủ thể thực hiện quyền năng pháp lý, là sự thể hiện ý chí của nhà nước về vấn đề thực thi quyền đình công của NLĐ qua từng thời kì Thông thường, đây là vấn đề phải được chú trọng thực hiện đầu tiên

Tuy nhiên, có một thực trạng đáng báo động là ở Việt Nam, người lao động chủ yếu chỉ quan tâm đến việc giải quyết các bức xúc thông qua việc tạo xung đột, gây sức ép với bên sử dụng lao động mà không mấy chú trọng đến các thủ tục đình công Điều đó đã gây nên không chỉ những bất ổn của doanh nghiệp mà còn gây ảnh hưởng lớn, thậm chí rất lớn đối với nền kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân

Nghiên cứu riêng về thủ tục đình công, các quy định về thủ tục đình công vì vậy là vấn đề cần phải được quan tâm

Từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Quy định về thủ tục đình

công trong Pháp luật Việt Nam – Thực trạng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục đình công và thực hiện đúng đắn, hiệu quả các quy định của pháp luật về thủ tục đình công ở nước ta trong thời gian tới

* Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu làm rõ bản chất của đình công; phân tích, đánh giá quy định

về thủ tục đình công trong Luật lao động Việt Nam từ năm 1994 đến nay nhằm rút ra những nhận xét về ưu, nhược điểm của các cuộc đình công

- Nghiên cứu thực thi các quy định về pháp luật thủ tục đình công tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tìm ra các nguyên nhân chủ yếu của việc vi phạm thủ tục đình công

Trang 10

- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục đình công và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

- Về nội dung, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận

về đình công, nhất là đi sâu nghiên cứu cắt nghĩa những khía cạnh căn bản về thủ tục đình công, một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm yếu

tố hợp pháp của cuộc đình công một cách đầy đủ và có hệ thống Bên cạnh

đó, luận văn đánh giá một cách đầy đủ hệ thống các quy định về thủ tục đình công từ trước đến nay, vừa cập nhật nghiên cứu các quy định về thủ tục đình công được quy định trong Bộ luật lao động năm 2012 Việc nghiên cứu còn góp phần đánh giá, rút ra những kết luật khoa học về thực trạng áp dụng pháp luật về thủ tục đình công tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, khu vực xảy ra nhiều đình công nhất ở Việt Nam Luận văn đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục đình công và giải pháp thực thi hiệu quả các quy định này trong thực tế quan hệ lao động ở Việt Nam trong thời gian tới

Về cách tiếp cận, luận văn xuất phát từ việc nghiên cứu thủ tục đình công, đây là vấn đề mang tính thủ tục, tuy nhiên lại có vai trò pháp lý quan trọng để giúp các chủ thể xử lý các vấn đề liên quan khi đình công xảy ra

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau đây:

- Những khía cạnh lý luận khoa học cơ bản về kinh tế, chính trị, pháp lý trong các quy định về thủ tục đình công

- Thực trạng quy định pháp luật về thủ tục đình công của Việt Nam và một số nước trên thế giới

- Tình hình thực hiện quy định về thủ tục đình công trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua

Trang 11

Quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn còn nghiên cứu so sánh các quy định về thủ tục đình công của một số quốc gia trên thế giới làm cơ sở đánh giá

hệ thống, phục vụ cho việc nghiên cứu, đề xuất các phương hướng và giải pháp khoa học nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luật biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm đường lối của Đảng về lao động – xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu gồm: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh…

6 Tổng quan tài liệu

Đình công hiện nay không còn là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài đình công và giải quyết đình công theo pháp

luật Việt Nam hiện nay như đề tài “Đình công và việc giải quyết đình công -

Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, luận văn thạc sĩ luật học Trần Hồng Hà

do PTS Phạm Công Trứ hướng dẫn năm 1996; “Đình công và giải quyết đình

công theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành”, luận văn thạc sĩ luật học

Đinh Văn Sơn do TS Phạm Công Trứ hướng dẫn năm 2002; “Bàn về thủ tục

giải quyết các vụ án lao động và đình công” Nguyễn Thị Kim Phụng, Tạp chí

Luật học, Số Đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự 4/2004, “Những

bất cập của pháp luật về giải quyết đình công ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị” Đỗ Ngân Bình Tạp chí Luật học số 3/2004; “Pháp luật về đình công và giải quyết đình công nhìn từ góc độ thực tiễn” Đào Thị Hằng Tạp chí

Luật học số 5/2004, “Điều chỉnh pháp luật đối với đình công và giải quyết

đình công ở Việt Nam hiện nay” Đỗ Ngân Bình, Tạp chí Luật học số 6/2004;

Trang 12

“Giải quyết tranh chấp lao động và đình công” Nguyễn Thị Kim Phụng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4/2004.v.v

Đặc biệt có đề tài luận án tiến sĩ “Pháp luật về đình công và giải

quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”, Đỗ Ngân Bình, người hướng dẫn TS Đào Thị Hằng, TS Phan

Chí Hiếu năm 2005

Kế tiếp là các đề tài “Đình công và giải quyết đình công - Nhìn từ góc

độ so sánh giữa Luật Lao động Việt Nam và Luật Lao động Cộng hoà Liên Bang Đức” Đỗ Ngân Bình, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 7/2004; “Nâng cao ý thức pháp luật cho người lao động và sử dụng lao động nhằm ngăn chặn đình công trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, Phạm Trọng Tân, Tạp chí Dân chủ và Pháp

luật; “Đình công và giải quyết đình công theo pháp luật lao động Việt Nam”

luận văn thạc sĩ luật học Trần Hồng Hạnh do TS Nguyễn Hữu Chí hướng dẫn

năm 2008; “Đánh giá quy định của Bộ luật lao động về đình công và giải

quyết đình công” Nguyễn Xuân Thu, Tạp chí Luật học số 9/2009; “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong các cuộc đình công bất hợp pháp” Nguyễn Hằng Hà Tạp chí Luật học số 1/2008

Thêm vào đó, có một số đề tài nghiên cứu dưới góc độ tâm lý xã hội

học như “Vai trò của các chủ thể trong quan hệ lao động và giải quyết tranh

chấp lao động, đình công”, Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Tâm lý học số

2/2011, “Thực trạng tranh chấp lao động và đình công ở Việt Nam nhìn từ

góc độ quản lý doanh nghiệp và vai trò của tổ chức công đoàn”, Lê Văn Hảo

Tạp chí Tâm lý học số 5/2011; “Điều kiện làm việc, điều kiện sống của người

lao động và tranh chấp lao động, đình công ở Việt Nam trong 10 năm (2001 - 2010)” Mai Thanh Thế Tạp chí Tâm lý học số 5/2011; “Vấn đề tranh chấp

Trang 13

lao động và đình công ở Việt Nam 10 năm qua (2000 - 2010) - nguyên nhân

và giải pháp” Lê Thanh Hà Tạp chí Tâm lý học số 4/2011, “Thực trạng giải quyết tranh chấp lao động và đình công tại các doanh nghiệp liên doanh và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta trong 10 năm qua” Lã

Thị Thu Thuỷ, Tạp chí Tâm lý học số 6/2011,“Những nguyên nhân của tranh

chấp lao động và đình công ở nước ta nhìn từ phía người lao động” Tô Thuý

Hạnh, Tạp chí Tâm lý học số 10/2011

Ngoài ra, gần đây còn có các bài viết về “Thực trạng tranh chấp lao

động, đình công và kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung” Phạm Công Bảy, Tạp chí Tòa án nhân dân số

10/2012; “Tự do công đoàn và đình công dưới góc độ quyền kinh tế-xã hội

của người lao động”, Nguyễn Hữu Chí, Tạp chí Luật học số 6/2012; “Những điểm mới về đình công trong Bộ luật lao động năm 2012”, Trần Thị Thúy

Lâm Tạp chí Luật học số 7/2013; “Ảnh hưởng của văn hóa đến đình công

trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (trường hợp các doanh nghiệp Hàn Quốc)”, Nguyễn Hoàng Ánh, Tạp chí Thông tin Khoa

học xã hội, số 5/2012; “Những điểm mới về tranh chấp lao động và đình công

trong Bộ luật Lao động năm 2012” luận văn thạc sỹ luật học Chử Thị Xuyên

do TS Đỗ Ngân Bình hướng dẫn năm 2013; “Đình công và giải quyết đình

công theo Bộ luật Lao động năm 2012”, luận văn thạc sĩ luật học Hà Thị Hoa

Phượng do TS Trần Thị Thúy Lâm hướng dẫn năm 2013

Đó là các công trình phân tích một cách tương đối đầy đủ và hệ thống

về pháp luật đình công và giải quyết, thực trạng đình công trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu cũng như bài viết trên đã phân tích một cách

Trang 14

đầy đủ và có hệ thống về pháp luật đình công và giải quyết đình công Tuy nhiên, việc nghiên cứu về pháp luật về thủ tục đình công và việc thực hiện thủ tục đình công tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hầu như chưa được thực hiện nhiều và chuyên sâu

7 Kết cấu luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về thủ tục đình công, pháp luật về

thủ tục đình công

Chương 2: Thực trạng quy định về thủ tục đình công và thực tiễn thực

hiện trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về

thủ tục đình công từ thực tiễn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Trang 15

Dưới góc độ kinh tế, đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế được

thực hiện bởi những người lao động, nhằm gây sức ép để đạt được những yêu sách nhất định gắn với lợi ích kinh tế liên quan đến nghề nghiệp Đình công không phải là biện pháp duy nhất để những người lao động đạt được mục đích kinh tế của mình, nhưng với sức ép mà đình công có khả năng tạo ra, đình công thường được những người lao động coi là cách thức có hiệu quả để bảo

vệ các quyền và lợi ích của họ Đình công cũng để lại nhiều hậu quả cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến lợi ích của tập thể và cá nhân người lao động ở một mức độ nhất định, hoặc gây thiệt hại cho kinh tế xã hội nói chung

Dưới góc độ xã hội, đình công là hành vi ngừng việc có tính tập thể

được thực hiện bởi ý chí tự nguyện của nhiều người lao động Khả năng liên kết và tập hợp đông đảo sự tham gia của những người lao động là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của một cuộc đình công Trong nhiều cuộc đình công, những NLĐ thường tụ tập trước cổng xí nghiệp để ngăn cản hay kích động những công nhân khác không vào làm việc, chiếm xưởng ngăn không cho người lao động khác vào làm việc những hành vi nhằm thu hút sự tham gia đông đảo và lôi kéo sự ủng hộ của những người lao động khác đối

Trang 16

với cuộc đình công không phải lúc nào cũng hợp pháp Vì vậy, xét dưới góc

độ xã hội, đình công còn là hiện tượng có khả năng gây mất ổn định đối với trật tự xã hội Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, đình công cũng góp phần bảo vệ những giá trị tiến bộ xã hội như quyền dân chủ trong lĩnh vực lao động, quyền tự do đối thoại, ngôn luận của NLĐ

Dưới góc độ chính trị, đình công là việc thực hiện quyền chính trị của

công dân được hiến pháp, luật pháp thừa nhận, được nhà nước bảo vệ qua các phương thức sử dụng quyền lực chính trị Đình công có mục đích chủ yếu là bảo vệ các quyền và lợi ích nghề nghiệp của những NLĐ trong quan hệ lao động Nhưng đình công có thể bị lợi dụng để đưa thêm cách yêu sách chính trị Trong trường hợp đó, hình thức đình công kinh tế sẽ biến tướng thành các hình thức đình công chính trị Việc các cuộc đình công chính trị là hợp pháp hay không tùy thuộc vào quan điểm của từng quốc gia Nhưng sự tồn tại của các cuộc đình công chính trị trong thực tiễn đã cho thấy tính chất nhạy cảm của vấn đề đình công

Dưới góc độ pháp lý, đình công là một quyền pháp lý của NLĐ được

pháp luật quốc gia và quốc tế thừa nhận (theo điều 8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên hiệp quốc, Điều 209 Bộ luật lao động năm 2012) Đình công ngày nay đã hình thành một định chế pháp lý đặc biệt trong xã hội nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực lao động Tuy nhiên, quyền đình công này chỉ giới hạn trong khuôn khổ của pháp luật cho phép và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định Vì là quyền của NLĐ nên đình công phải được thực hiện thông qua hành vi của chính người lao động, nhắm hướng tới những lợi ích nghề nghiệp và xuất phát từ quan hệ lao động Theo quan điểm của tổ chức Lao động thế giới và đa số các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đểu cho rằng các cuộc đình công kinh tế (đình công về lợi ích) được thực hiện

Trang 17

vì những lợi ích gắn với quan hệ lao động mới thuộc phạm vi cho phép của quyền đình công Những cuộc đình công chính trị đều không thuộc phạm vi quan hệ lao động và vượt ra ngoài khuôn khổ của quyền đình công

Đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế - xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà NLĐ trực tiếp quan tâm [3, tr.11]

Với quan điểm này, bước đầu chỉ rõ đình công là một trong các biện pháp để bảo vệ NLĐ, phải nhằm đạt các mục đích kinh tế - xã hội vì quyền đình công thuộc loại quyền kinh tế xã hội Tuy nhiên, nhận định này chưa chỉ

ra được các dấu hiệu để nhận dạng đình công, cũng như phân biệt đình công với các hiện tượng xã hội gần giống nó

Từ những phân tích ở trên, có thể thấy đặc điểm chung nhất của đình công đó là biện pháp đấu tranh kinh tế của những NLĐ, gây sức ép cho giới chủ nhằm đạt được mục đích gắn liền với quan hệ lao động

Các dấu hiệu cơ bản của đình công

Thứ nhất, đình công biểu hiện thông qua sự ngừng việc triệt để của

NLĐ và do tập thể lao động tiến hành Sự ngừng việc của NLĐ trên thực tế được biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng sự ngừng việc khi đình công là có tính triệt để Ngoài ra, sự ngừng việc trong đình công phải do nhiều NLĐ cùng tiến hành (tập thể lao động) Tập thể lao động ngừng việc có thể là toàn bộ hoặc đa số những NLĐ trong một bộ phận cơ cấu doanh nghiệp, trong toàn doanh nghiệp hoặc đa số những NLĐ trong một ngành Nếu một vài người ngừng việc mặc dù có tổ chức thì vẫn không được gọi là đình công

Thứ hai, đình công là sự nghỉ việc có tổ chức, thường do tổ chức

Trang 18

công đoàn lãnh đạo Ngừng việc của tập thể lao động phải có sự chủ định

từ trước, phải có sự phối hợp về mặt ý chí và tổ chức của những NLĐ với nhau Pháp luật lao động nhiều nước chỉ thừa nhận công đoàn là người có quyền tổ chức, lãnh đạo đình công Lãnh đạo của công đoàn sẽ là người đứng ra tổ chức đình công từ khâu lấy ý kiến tán thành đình công, lãnh đạo đình công cho đến khi giải quyết cuộc đình công trước tòa án Như vậy, mọi sự ngừng việc, dù là rất đông NLĐ nhưng không do công đoàn lãnh đạo thì sẽ bị coi là đình công bất hợp pháp

Thứ ba, mục đích của đình công là nhằm đạt được những yêu sách về

quyền và lợi ích mà những người thực hiện quan tâm Bản chất của đình công

là biện pháp đấu tranh kinh tế nên mục đích của đình công phải nhằm đạt được những yêu sách về quyền và lợi ích cho tập thể lao động Thực tế ở những nước có nền kinh tế phát triển, NLĐ thường đình công để đạt được những lợi ích cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn so với pháp luật đã quy định hoặc so với những thỏa thuận các bên đã cam kết trước đó Và kết quả đình công thường là một thỏa ước tập thể mới ra đời Còn ở những nước chưa phát triển, phần lớn các cuộc đình công là đòi quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ phù hợp với luật pháp lao động bị NSDLĐ vi phạm

Thứ tư, việc thực hiện quyền đình công của NLĐ phải mang tính tự

nguyện Đây là dấu hiệu về mặt ý chí của NLĐ, dấu hiệu này có nghĩa là tập thể lao động tiến hành đình công phải xuất phát từ sự tự giác, tự nguyện của mỗi NLĐ

Thứ năm, đình công phát sinh trực tiếp từ TCLĐ tập thể Đình công là

hậu quả của TCLĐ tập thể giải quyết không thành Tuy nhiên, không phải TCLĐ tập thể nào cũng đều dẫn đến đình công Vì vậy, để hạn chế tình trạng đình công xảy ra thì TCLĐ tập thể nên được giải quyết triệt để, hạn chế sự bức xúc căng thẳng từ phía NLĐ do yêu cầu, lợi ích không được đáp ứng

Trang 19

1.1.2 Khái niệm về thủ tục đình công

1.1.2.1 Định nghĩa thủ tục đình công

Hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể về thủ tục đình công nhưng từ phân

tích định nghĩa đình công ở trên, có thể hiểu: “Thủ tục đình công là cách

thức, trình tự tiến hành đình công theo những bước đã được pháp luật quy định cụ thể” Như vậy, đình công là quyền của NLĐ, tuy nhiên để thực hiện

quyền này một cách hợp pháp thì việc đình công phải tiến hành theo những trình tự, thủ tục luật định

Hiện nay vẫn có nhiều quan niệm về thủ tục đình công, một số cho rằng thủ tục đình công gồm thủ tục chuẩn bị đình công và cách thức tiến hành đình công, một số lại quan điểm thủ tục đình công chính là các bước để tiến hành đình công trong các bước đều bao gồm cách thức và phương pháp tiến hành

Theo quan điểm thứ nhất, thủ tục đình công bao gồm hai giai đoạn là

chuẩn bị đình công và tiến hành đình công

Trong thủ tục chuẩn bị đình công, bao gồm ba bước khởi xướng đình công, lấy ý kiến tập thể lao động và giao quyết định đình công Các bước này được quy định rất chặt chẽ với những mục đích cơ bản sau đây: i) Bảo đảm quyền tự do định đoạt và ý chí tự nguyện của những người lao động khi quyết định đình công Mỗi cá nhân người lao động trong tập thể lao động đều có quyền tự mình cân nhắc về việc có tham gia đình công hay không, không ai

có quyền đe doạ hay buộc người lao động tham gia đình công; ii) Tạo điều kiện để tập thể lao động có sự chuẩn bị kỹ lưỡng các tiền đề cơ bản, tạo khả năng thành công cho cuộc đình công (như thu hút thêm sự tham gia của đông đảo người lao động, chuẩn bị vật chất để hỗ trợ cho người lao động nếu đình công kéo dài, tạo sự chú ý của dư luận, các cơ quan thông tin đại chúng và sự quan tâm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền…); iii) Có thể coi giai đoạn này là quá trình làm nguội đi những bức xúc của người lao động nhằm

Trang 20

tránh một cuộc đình công không thực sự cần thiết (nếu xảy ra những thiệt hại

do nó gây ra có thể lớn hơn rất nhiều so với những lợi ích mà nó mang lại cho người lao động); hoặc nếu không thể ngăn chặn được cuộc đình công thì giai đoạn này cũng có tác dụng làm dịu đi tính quyết liệt của đình công, tránh những biểu hiện quá khích của người lao động trong thời gian tiến hành đình công; iv) Thủ tục gửi yêu sách đến người sử dụng lao động sẽ tạo điều kiện cho người sử dụng lao động có cơ hội xem xét lại những yêu sách của tập thể lao động, cân nhắc giữa việc chấp nhận những yêu sách của người lao động hay để đình công xảy ra (chắc chắn sẽ để lại những thiệt hại về kinh tế cho doanh nghiệp); v) Thủ tục thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giúp chính quyền sở tại biết trước về khả năng xảy ra đình công và dự liệu những hậu quả của đình công để có biện pháp xử lý kịp thời, hoặc khắc phục những hậu quả của đình công, đặc biệt là những bất ổn về chính trị, xã hội (nếu xảy ra); vi) Giảm đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực của đình công do đã được thông báo và có sự chuẩn bị trước để đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực của đình công

Về cách thức tiến hành đình công, do chưa có những quy định cụ thể,

đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về cách thức tiến hành đình công:

Cách hiểu thứ nhất cho rằng, các quy định hiện hành mới dừng lại ở việc quy định thủ tục chuẩn bị đình công và vai trò lãnh đạo đình công của tổ chức công đoàn, vấn đề cách thức đình công vẫn là một khoảng trống trong pháp luật hiện hành Để khắc phục tình trạng này, có ý kiến cho rằng, cần nhanh chóng bổ sung các quy định về cách thức tiến hành đình công nhằm định hướng hoạt động của người lao động và phòng ngừa những biến tướng phức tạp của đình công Ngược lại, cũng có những ý kiến cho rằng, việc không quy định cách thức đình công như hiện nay đã tạo ra sự linh hoạt, chủ động cho tập thể lao động khi tiến hành đình công Ngoài ra, nếu cần phòng

Trang 21

ngừa các diễn biến phức tạp của đình công thì đã có các quy định về hành vi cấm thực hiện trước, trong và sau đình công Vì vậy, không cần thiết phải bổ sung các quy định về cách thức đình công Có ý kiến cho rằng, do pháp luật chưa quy định về cách thức đình công nên không có tiêu chí đánh giá tính hợp pháp về hình thức tiến hành đình công Nhưng lại có ý kiến cho rằng, cách thức đình công ngồi tại nơi làm việc là không trái với quy định của pháp luật; hình thức đình công đứng tại cổng doanh nghiệp là trái với quy định pháp luật Hình thức đình công đứng tại cổng doanh nghiệp còn thể hiện tính thiếu

tổ chức của các cuộc đình công hiện nay, xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của người lao động về pháp luật đình công, cũng như vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở trong tổ chức và lãnh đạo đình công [4]

Theo quan điểm thứ hai, thủ tục đình công chính là các bước của một

cuộc đình công, trong từng bước sẽ là những phương pháp và cách thức tiến thành cụ thể Theo đó, thủ tục đình công sẽ gồm ba bước: bước lấy ý kiến tập thể NLĐ, ra quyết định đình công và tiến hành đình công Trong từng bước sẽ

có quy định cụ thể về việc thực hiện như thế nào Ví dụ như trong bước lấy ý kiến tập thể NLĐ sẽ do ai tiến hành, lấy ý kiến bao nhiêu NLĐ, lấy trực tiếp hay thông qua đại diện, lấy ý kiến kín hay công khai ; trong bước ra quyết định đình công sẽ do ai thực hiện, gửi cho ai, trong bao lâu và nội dung gồm những gì; cuối cùng là bước tiến hành đình công sẽ tổ chức như thế nào, thời gian, địa điểm, hình thức đình công

Các quan điểm trên về mặt thực tiễn là rất phong phú, vì vậy, để hiểu

và phân tích một cách thấu đáo nhất thì nên hiểu thủ tục đình công theo cách hiểu thứ hai, tức là bao gồm các bước tiến hành trong đó mỗi bước có những cách thức, phương pháp tiến hành cụ thể Bởi vì, cách hiểu này là dễ hiểu hơn,

dễ áp dụng hơn và chi tiết hơn cho người thực thi và áp dụng từ đó cuộc đình công sẽ được diễn ra đúng trình tự, thủ tục luật định

Trang 22

1.1.2.2 Đặc điểm của thủ tục đình công

- Thủ tục đình công được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật: Hiện nay, pháp luật lao động Việt Nam đã quy định khá cụ thể về thủ tục

đình công như đối tượng được đình công, thời điểm được đình công, tổ chức

có thẩm quyền tổ chức đình công, trình tự tiến hành một cuộc đình công Trước khi Bộ Luật lao động năm 2012 ra đời, thủ tục đình công đã bước đầu được ghi nhận từ Bộ Luật lao động năm 1994 và dần được hoàn thiện theo từng thời kỳ theo hướng đơn giản hóa thủ tục đình công nhưng vẫn đảm bảo tính định hướng cho NLĐ Theo đó, trình tự tiến hành gồm ba bước cơ bản: lấy ý kiến tập thể lao động, ra quyết định đình công, tiến hành đình công Các bước trên đều được pháp luật quy định khá cụ thể về cách thức và phương pháp tiến hành

Việc ghi nhận thủ tục đình công tại các văn bản quy phạm pháp luật đã đảm bảo tính yêu cầu bắt buộc đối với thủ tục, đồng thời cũng là một căn cứ pháp lý để NLĐ tiến hành đình công

- Thủ tục đình công được thực hiện bởi tập thể NLĐ mà đại diện là

công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tại các doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn cơ sở Khi NLĐ có ý định đình công thì tổ

chức công đoàn cơ sở sẽ đại diện cho họ để tiến hành các trình tự, thủ tục đình công theo đúng quy định của pháp luật, giúp NLĐ có được sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi tiến hành đình công nhằm đạt được những yêu sách mà NLĐ đạt ra với NSDLĐ trong quan hệ lao động

- Thủ tục đình công là trình tự, cách thức tiến hành một cuộc đình công: Thủ tục đình công được pháp luật ghi nhận như là một loại quy định bắt

buộc chứ không mang tính khuyến khích Bởi lẽ, nắm rõ tâm lý của NLĐ khi tiến hành đình công luôn nóng vội, bức xúc nên dễ “đốt cháy giai đoạn”, khiến cho cuộc đình công không được chuẩn bị chu đáo, NSDLĐ cũng dễ bị

Trang 23

bất ngờ Vì thế, để đảm bảo sự ổn định trong quan hệ lao động sau này, đồng thời hạn chế nhất những hậu quả, thiệt hại khó lường có thể xảy ra khi đình công hoặc sau khi đình công pháp luật quy định những thủ tục đình công đối với tất cả NLĐ trong tất cả các doanh nghiệp muốn tổ chức đình công không ngoại trừ doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này giúp cho NLĐ xác định được rõ ràng những bước đi chính xác nhằm giảm tối đa những thiệt hại mà cuộc đình công có thể gây ra, đưa cuộc đình công đến thắng lợi,

1.1.3 Pháp luật về thủ tục đình công

1.1.3.1 Định nghĩa pháp luật về thủ tục đình công

Để hiểu khái niệm pháp luật về thủ tục đình công, trước tiên cần hiểu

thế nào là pháp luật nói chung Theo lý luận chung có thể hiểu: “Pháp luật là

hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình” Như vậy, từ quan điểm chung về pháp luật và thủ tục

đình công, có thể hiểu “Pháp luật về thủ tục đình công là những quy phạm

pháp luật mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh cách thức, phương thức, các bước tiến hành đình công và được nhà nước đảm bảo thực hiện”

Pháp luật về thủ tục đình công chính là sự định hướng của nhà nước trong việc mở rộng hoặc thu hẹp quyền đình công ở một quốc gia Thông thường, nếu một nhà nước muốn hạn chế việc sử dụng quyền đình công của NLĐ, nhà nước đó sẽ quy định thủ tục chuẩn bị đình công phức tạp, trải qua nhiều bước và phải tuân thủ những quy định có tính chất cấm đoán nghiêm khắc Ngược lại, nếu quan điểm của nhà nước là tạo thuận lợi cho người lao động trong việc sử dụng quyền đình công, nhà nước sẽ quy định thủ tục chuẩn

Trang 24

bị và tiến hành đình công đơn giản, linh hoạt, có thể dễ dàng áp dụng trong thực tế Như vậy, có thể nói pháp luật về thủ tục đình công là sự thể hiện ý chí nhà nước về vấn đề thực thi quyền đình công của NLĐ qua từng giai đoạn

Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều có những quy định về thủ tục đình công được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có liên quan nhằm đảm bảo cho quyền của NLĐ được thực thi trên thực tế Tại Việt Nam pháp luật lao động ra đời từ khá sớm song pháp luật về thủ tục đình công chỉ chính thức được ghi nhận từ Bộ Luật lao động năm 1994

Nội dung pháp luật về thủ tục đình công bao gồm: quy định về lấy ý kiến NLĐ, ra quyết định, đưa yêu cầu và thông báo về đình công, quy định về tiến hành đình công Trong quy định về lấy ý kiến NLĐ quy định cụ thể ai sẽ

là người lấy ý kiến NLĐ, lấy ý kiến của bao nhiêu NLĐ, bao nhiêu phần trăm trong số NLĐ được lấy ý kiến đồng ý thì được tiến hành các bước tiếp theo của thủ tục đình công Ra quyết định đình công, trong quyết định này phải ghi

rõ những nội dung cơ bản đã được pháp luật quy định như: kết quả lấy ý kiến đình công, thời điểm bắt đầu đình công, đại điểm đình công, phạm vi tiến hành đình công, yêu cầu của tập thể NLĐ, ai là người lãnh đạo cuộc đình công, địa chỉ liên hệ để giải quyết Trong quy định về thủ tục đình công cũng quy định thời gian cụ thể trong từng bước tiến hành cuộc đình công, NLĐ phải tuân theo những quy định đó Nhìn chung pháp luật của các quốc gia trong đó có Việt Nam không cho phép đình công bất ngờ, tất cả các cuộc đình công đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thủ tục đình công Đến thời hạn dự kiến đình công, NSDLĐ không chấp nhận yêu cầu của NLĐ, NLĐ tiến hành đình công, pháp luật quy định về hình thức cuộc đình công, các hành vi bị cấm khi thực hiện đình công, tùy vào mỗi quốc gia khác nhau

sẽ quy định hình thức khác nhau chẳng hạn như được hay không được chiếm xưởng, tập hợp, biểu thị bằng lời nói, khẩu hiệu, nơi được tập hợp, hành vi nào không được phép thực hiện trong quá trình đình công, …

Trang 25

1.1.3.2 Đặc điểm pháp luật về thủ tục đình công ở Việt Nam

Thứ nhất, pháp luật về thủ tục đình công ở Việt Nam được quy định nhằm đảm bảo quyền đình công của NLĐ nhưng đồng thời cũng là biện pháp

để hạn chế NLĐ vi phạm pháp luật:

Đình công là một trong những quyền cơ bản của NLĐ song để thực hiện và đảm bảo thực hiện quyền một cách có hiệu quả nhất, NLĐ cần có sự hướng dẫn định hướng cụ thể từ pháp luật Vì vậy, việc quy định về thủ tục đình công không những là một sự ghi nhận quyền đình công của NLĐ mà còn góp phần khiến cho quyền đó được triển khai thực hiện được trên thực tế Bởi nếu không có những quy định pháp luật về thủ tục đình công mà chỉ dừng lại

ở việc xác định đình công là quyền của NLĐ thì vẫn chưa đủ Pháp luật về thủ tục đình công chính là sự khẳng định rõ ràng nhất về quyền đình công của NLĐ và quyền đó được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng những hướng dẫn, định hướng chi tiết cụ thể Bên cạnh đó, các quy định về thủ tục đình công được thiết kế nhằm hạn chế NLĐ lợi dụng quyền đình công để vi phạm pháp luật, xâm hại quyền, lợi ích của NSDLĐ và xã hội

Thứ hai, pháp luật về thủ tục đình công ở Việt Nam được bổ sung, hoàn thiện qua từng thời kỳ:

Ở nước ta quyền đình công lần đầu được ghi nhận tại Sắc lệnh số 29/SL

ngày 12/3/1947, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở quy định “Công nhân có quyền

tự do kết hợp và bãi công” [19] mà chưa có định hướng cụ thể gì về thủ tục

đình công khiến cho đình công không được triển khai thực hiện trên thực tế Đến khi Bộ Luật lao động năm 1994 ra đời đã bước đầu có quy định về thủ tục đình công tại khoản 2 Điều 173:

Việc đình công do Ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định sau khi được quá nửa tập thể lao động tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ

ký Ban chấp hành công đoàn cơ sở cử đại diện, nhiều nhất là ba người, để

Trang 26

trao bản yêu cầu cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi một bản thông báo cho cơ quan lao động cấp tỉnh, một bản thông báo cho Liên đoàn lao động cấp tỉnh Trong bản yêu cầu và bản thông báo, phải nêu rõ các vấn đề bất đồng, nội dung yêu cầu giải quyết, kết quả bỏ phiếu hoặc lấy chữ ký tán thành đình công và thời điểm bắt đầu đình công [38, Điều 173]

Quy định về thủ tục đình công ở giai đoạn này vẫn còn đơn giản, chưa

có định hướng cụ thể khiến NLĐ khó áp dụng Đến khi có Bộ luật lao động năm 2002 thì quy định về thủ tục đình công cũng không thay đổi

Bộ luật Lao động năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2006) được Quốc Hội thông qua, vấn đề thủ tục đình công đã được quy định đầy đủ, rõ ràng và chi tiết hơn tại Điều 174 Trong điều 174, các nhà lập pháp thiết kế thành các nội dung nhỏ và chi tiết Trong đó, Điều 174a quy định về thủ tục lấy ý kiến tập thể lao động, Điều 174b quy định bước ra quyết định đình công, và bản yêu cầu của NLĐ cho NSDLĐ, Điều 174c, d, đ quy định về quyền của NLĐ trước và trong quá trình đình công Các quy định trên được cho là chi tiết tuy nhiên khá phức tạp và rườm ra gây khó khăn cho việc tổ chức đình công thậm chí lại là một rào cản hạn chế quyền đình công của NLĐ

Khắc phục những hạn chế trên Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2013 đã có những bước tiến trong quy định về thủ tục đình công Bộ luật Lao động năm 2012 đã khẳng định rõ trình tự đình công được tiến hành theo ba bước gồm: lấy ý kiến tập thể lao động, ra quyết định đình công, tiến hành đình công đồng thời cũng quy định chi tiết cách thức, phương pháp tiến hành cho từng bước đình công và cũng khắc phục được hạn chế về những thủ tục rườm ra so với Bộ Luật lao động năm 2002 (sửa đổ, bổ sung năm 2006) Vì vậy, quyền đình công của NLĐ đã được bảo đảm có tính khả thi trên thực tế hơn so với giai đoạn trước

Trang 27

Thứ ba, pháp luật về thủ tục đình công ở Việt Nam vẫn còn khá rườm

rà, hạn chế hiệu quả cuộc một cuộc đình công

Mặc dù ghi nhận đình công là quyền của NLĐ và được nhà nước đảm bảo thực hiện Song thực tế cho thấy, việc quy định các vấn đề về thủ tục đình công lại chưa thực sự là phương pháp đảm bảo quyền của NLĐ mà thậm chí còn làm hạn chế quyền đình công Các quy định về thủ tục đình công đôi khi còn quá phức tạp, rườm rà, các bước tiến hành đình công theo luật định lại tốn quá nhiều thời gian mà không đáp ứng được yêu cầu cấp bách và tính thời cơ

mà bất cứ cuộc đình công nào cũng cần phải có Từ đó các quy định về thủ tục đình công lại khó đi vào thực tiễn Đặc biệt, các quy định về thời gian để tiến hành các bước của đình công chính là một trong những yếu tố bị cho là

dễ gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền đình công của NLĐ vì thời gian là quá lâu Để đảm bảo quyền đình công của NLĐ thì thủ tục đình công vẫn cần tiếp tục sửa đổi thêm

1.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc quy định thủ tục đình công

và thực hiện các quy định về thủ tục đình công

Thứ Nhất, quy định thủ tục đình công có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quyền đình công của NLĐ

Đối với NLĐ, thủ tục đình công được pháp luật quy định cụ thể và rõ

ràng, không chỉ có ý nghĩa định hướng hành vi của người lao động khi sử dụng quyền đình công, mà còn góp phần hạn chế tình trạng đình công tràn lan, vô tổ chức, gây những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội Những cuộc đình công được tiến hành một cách tự phát, nóng vội, thiếu vai trò của một tổ chức có đủ tư cách lãnh đạo và chịu trách nhiệm về cuộc đình công thường gây những hậu quả tiêu cực lớn hơn ảnh hưởng tích cực mà nó mang lại Khả năng thành công của những cuộc đình công này rất thấp, do thiếu tính tổ chức và sự chuẩn bị chu đáo vì vậy quyền đình công của NLĐ sẽ không được thực hiện và mang lại hiệu quả cao cho NLĐ

Trang 28

Đình công vốn là hoạt động mang tính tập thể và có tổ chức nên cần

có sự lãnh đạo đúng đắn và hoạch định bước đi phù hợp Tổ chức lãnh đạo đình công phải căn cứ vào những quy định về trình tự, thủ tục cụ thể về đình công để vạch ra phương hướng, sắp xếp bố trí cuộc đình công sao cho diễn

ra một cách có hiệu quả nhất NLĐ vốn dĩ tiến hành đình công khi mâu thuẫn của họ đã bị đẩy lên cao trào, mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ căng thẳng và họ không thể sự dụng các biện pháp thương lượng được nữa Trong hoàn cảnh như vậy không ít những NLĐ đã không giữ được bình tĩnh, và sự hiểu biết cần có, họ dễ dàng làm xảy ra những hành động bộc phát, thiếu sự kiềm chế vì vậy các quy định về trình tự thủ tục đình công sẽ giúp họ có hướng đi phù hợp, hợp pháp khi tiến hành đình công để đòi hỏi lợi ích của mình

Việc quy định thủ tục đình công càng đơn giản hóa càng giúp cho NLĐ thực hiện được tối đa quyền của mình, khiến cho quy định pháp luật sẽ đi vào trong thực tiễn nhiều hơn chứ không còn chỉ ở trên giấy tờ như trước kia nữa

Thứ hai, pháp luật về thủ tục đình công và thực hiện các quy định về thủ tục đình công có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp

Quyền đình công với ý nghĩa là một thứ “vũ khí tự bảo vệ” của những người lao động, đình công nếu không được sử dụng đúng lúc, đúng cách và đúng mục đích sẽ để lại những hậu quả đáng tiếc cho chủ thể phía bên kia trong quan hệ lao động- đó là người sử dụng lao động

Quy định pháp luật về thủ tục đình công cũng là một công cụ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ Bởi lẽ đối với doanh nghiệp với tư cách là NSDLĐ, pháp luật lao động hiện hành đưa ra những quy định khá chặt chẽ và

cụ thể về những hành vi mà tập thể lao động phải thực hiện trước khi tiến hành đình công Đây vừa là những căn cứ góp phần xác định tính hợp pháp

Trang 29

của hành vi đình công, vừa là những biện pháp nhằm hạn chế “nguy cơ” xảy

ra đình công, bởi đình công khi đã xảy ra ít nhiều đều sẽ để lại những ảnh hưởng không tốt cho quan hệ lao động, đặc biệt là lợi ích kinh tế, uy tín của chủ doanh nghiệp

Quy định thủ tục đình công không những góp phần hạn chế những cuộc đình công tự phát gây thiệt hại lớn cho NSDLĐ, mà còn khiến cho quan hệ lao động được “xoa dịu” giữa NLĐ và NSDLĐ thông qua bước hòa giải trước khi tổ chức đình công từ đó hạn chế việc xảy ra các cuộc đình công Thủ tục đình công có quy định cụ thể từng bước, thời gian diễn ra từng bước cũng là căn cứ để chủ sử dụng lao động có thời gian để nghiên cứu, xem xét lại một lần nữa những yêu cầu, đòi hỏi của NLĐ trước khi diễn ra một cuộc đình công thực sự

Ví dụ trong bước giao Quyết định đình công, trong nội dung quyết định đình công có chứa những nội dung yêu cầu của tập thể NLĐ, căn cứ vào đó chủ sử dụng lao động có thể đánh giá xem có thực sự đáp ứng được yêu cầu đấy không, từ đó để tính toán những thiệt hơn khi đáp ứng những yêu cầu này thay vì để xảy ra một cuộc đình công có quy mô mà chắc chắn sẽ để lại những hậu quả không hề nhỏ cho doanh nghiệp Thậm chí ngay trong bước lấy ý kiến của tập thể NLĐ, NSDLĐ cũng căn cứ vào đó biết được mong muốn thực sự của NLĐ là gì, tỷ lệ thực sự mà NLĐ cần được giải quyết yêu cầu lớn đến đâu để đánh giá tình trạng nhu cầu chung của NLĐ trong doanh nghiệp

Thứ ba, các quy định về thủ tục đình công và thực hiện quy định về thủ tục đình công còn góp phần ổn định kinh tế- xã hội

Đối với vấn đề ổn định tình hình kinh tế - xã hội, rõ ràng đình công là

phương tiện cuối cùng để NLĐ bảo vệ quyền lợi của mình song trên thực tế hiện nay NLĐ Việt Nam sử dụng quyền này như là phương tiện đầu tiên để bảo vệ quyền lợi của mình và chưa thực sự có hiệu quả Việc đình công

Trang 30

thường diễn ra tự phát không có tính tổ chức dễ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát và bị kẻ xấu lợi dụng điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả cuộc đình công, đến hoạt động sản xuất của NSDLĐ mà còn tác động xấu đến tình trạng kinh tế - chính trị- xã hội Ở nước ta, đôi khi đình công không còn là vũ khí cuối cùng mà thành vũ khí đầu tiên khi NLĐ muốn NSDLĐ đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của mình, NLĐ luôn muốn dùng sức ép tập thể của việc đình công để NSDLĐ giải quyết yêu cầu của mình một cách nhanh chóng nhất có thể Như vậy các quy định về thủ tục đình công sẽ góp phần hạn chế một cách tối đa những yếu tố tiêu cực có thể xảy

ra của một cuộc đình công, khiến cho cuộc đình công được diễn ra một cách

có tổ chức, có trình tự thống nhất tránh tính bộc phát gây ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội

Như vậy việc quy định cụ thể về thủ tục đình công cũng góp phần tạo nên sự ổn định kinh tế - xã hội đồng thời thúc đẩy hơn nữa môi trường lao động “hòa bình” từ đó thu hút nhiều hơn đầu tư nước ngoài

Thứ tư, các quy định về thủ tục đình công và thực hiện quy định về thủ tục đình công còn góp phần thu hút đầu tư nước ngoài

Cho đến nay ở Việt Nam các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đặc biết dưới dạng các Khu công nghiệp, khu kinh tế ngày càng nhiều theo sau đó các cuộc đình công xảy ra tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng Đây cũng là một hiện tượng khách quan, tất yếu trong môi trường kinh tế đang phát triển khi mà mâu thuẫn về lương, phụ cấp thêm giờ, bảo hiểm xã hội, hợp đồng lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động còn tồn tại Song các quy định về thủ tục đình công phần nào đảm bảo cho việc các cuộc đình công đó sẽ diễn ra theo một trình tự nhất định chứ không diễn ra một cách bừa bãi, lộn xộn, tự phát và thiếu tính tổ chức Bởi các khu công nghiệp, khu kinh tế là nơi tập trung số lượng lao động rất lớn,

Trang 31

lên đến hàng nghìn NLĐ nếu một cuộc đình công quy mô doanh nghiệp xảy

ra thì hậu quả của nó là vô cùng lớn, các dây truyền sản xuất bị ngưng trệ, các hợp đồng kinh tế bị ảnh hưởng, thậm chí có thể bị phá vỡ khiến doanh nghiệp bị thiệt hại rất nhiều

Có thể thấy quy định về thủ tục đình công cũng là một cách thức để góp phần tạo nên một môi trường đầu tư an toàn, thuận lợi đối với các nhà đầu tư

đã, đang và sẽ có nhu cầu đầu tư tại Việt Nam

1.3 Quy định về thủ tục đình công của một số nước trên thế giới

Quan hệ lao động là vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu trong nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào trên thế giới Tùy vào tình hình kinh tế - xã hội, chính sách pháp luật mà mỗi quốc gia sẽ có những quy định về đình công của NLĐ phù hợp với bối cảnh của nước đó

Các quy định về thủ tục chuẩn bị và cách thức tiến hành đình công là điều kiện xét tính hợp pháp của cuộc đình công, thông thường được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc được thực hiện theo tập quán đình công ở những nước đã có lịch sử đình công tương đối dài, đã được pháp luật thừa nhận

Bộ luật lao động Philippin năm 1989 quy định, tập thể lao động chỉ được đình công sau khi việc thương lượng đã bế tắc và phải báo trước cho

Bộ Lao động và việc làm ít nhất 30 ngày (đây được coi là thời gian cần thiết

để làm nguội những bức xúc của tập thể lao động) Trong khoảng thời gian này, Bộ Lao động và việc làm phải tập trung vào việc làm trung gian và hoà giải để các bên tự nguyện giải quyết tranh chấp lao động Nếu hết thời hạn thông báo mà vụ tranh chấp lao động chưa giải quyết được thì người lao động mới được đình công Ngoài việc thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đình công và hoà giải bắt buộc trước khi tiến hành đình công, tổ chức công đoàn lãnh đạo đình công còn phải tiến hành lấy ý kiến của tập thể lao động [3, tr.50]

Trang 32

Đạo luật Quan hệ lao động của Thái Lan năm 1975 quy định, khi tiến hành đình công cần tuân thủ những bước sau đây: i) Người lao động đề nghị bằng văn bản yêu cầu về điều kiện sử dụng lao động đến người sử dụng lao động; ii) Hai bên thương lượng trong vòng 3 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, nếu không thương lượng hoặc thương lượng không đạt kết quả thì bên yêu cầu (người lao động) phải báo cho hoà giải viên trong vòng 24 giờ Hoà giải viên giải quyết trong vòng 5 ngày, nếu dàn xếp không được thì hai bên có quyền tự do hành động và người lao động có quyền đình công Như vậy theo luật pháp Thái Lan, người lao động sẽ có quyền đình công khi tranh chấp đã qua thương lượng, hòa giải nhưng không thành, ở đây thủ tục trọng tài không phải là thủ tục bắt buộc trước khi sử dụng quyền đình công [3, tr.51]

Tại cộng hòa Pháp, tổ chức kinh tế được chia làm hai khu vực: khu vực

tư nhân và khu vực nhà nước Trong khu vực tư nhân, “người lao động được

tự do lựa chọn thời điểm đình công và chỉ cần đáp ứng yêu cầu ngừng việc, người sử dụng lao động đã biết được các yêu sách nghề nghiệp của người lao động” Trong khu vực nhà nước, điều L.521-2 và L.521-3 Bộ luật lao động

Pháp chỉ rõ: “Trước khi tiến hành đình công, những người lao động phải qua

thủ tục thương lượng hoặc hòa giải” [3, tr.53]

Về cách thức tiến hành đình công, khái niệm này được hiểu là phương thức ngừng việc của những người lao động Phương thức này có thể được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thống nhất trình tự đình công chung trong phạm vi quốc gia hoặc được thực hiện theo án lệ hoặc tập quán

Căn cứ vào tập quán đình công và thực tiễn đình công của người lao động tại nhiều quốc gia, có thể thấy, cách thức tiến hành đình công chủ yếu được thực hiện theo những phương thức cơ bản sau đây:

i) Đình công cảnh cáo, được tiến hành trong một khoảng thời gian ngắn

Trang 33

đã được ấn định từ trước để lưu ý chủ sử dụng lao động về tầm quan trọng của các yêu sách;

ii) Đình công chớp nhoáng, là những trường hợp ngừng việc trong khoảng thời gian rất ngắn, nhằm biểu thị sự bất mãn nhiều hơn là để gây áp lực;

iii) Đình công luân phiên, là trường hợp những phân xưởng khác nhau trong một doanh nghiệp, hoặc những doanh nghiệp khác nhau trong một ngành, địa phương luân phiên nhau ngừng hoạt động;

iv) Đình công chiếm xưởng, là trường hợp công nhân không làm việc, nhưng vẫn ở lại nơi làm việc nhằm ngăn cản không cho doanh nghiệp cử người lao động khác đến làm việc thay thế cho những công nhân đình công

Như vậy, khi quy định thủ tục đình công hay về cách thức tiến hành đình công, nhà nước vừa phải đảm bảo quyền đình công của những người lao động muốn đình công, vừa phải đảm bảo quyền làm việc của những người lao động không muốn đình công Trong thực tế, đây là vấn đề không đơn giản bởi những người lao động khi đình công thường muốn doanh nghiệp ngừng hoạt động để dễ gây sức ép với chủ sử dụng, do đó, họ sẵn sàng tiến hành các hành vi nhằm cản trở những người khác làm việc (như chiếm xưởng, tụ tập ở cổng doanh nghiệp ngăn không cho những công nhân khác vào làm việc…) Cách thức tiến hành đình công có thể được quy định dưới dạng những hành vi được phép thực hiện trong quá trình đình công, hoặc liệt kê những cách thức đình công mà người lao động không được thực hiện Cách thức đình công có thể được coi là một điều kiện xác định tính hợp pháp của cuộc đình công (tuỳ theo quan điểm lập pháp của quốc gia) Việc quy định cách thức tiến hành đình công phải vừa đảm bảo người lao động có thể linh hoạt áp dụng để gây được sức ép với người sử dụng, vừa không mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Là một chương lý luận , chương 1 tác giả chủ yếu nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về đình công, thủ tục đình công và pháp luật về thủ tục đình công ở Việt Nam Qua đó có thể rút ra những kết luận sau đây:

1 Đình công là hiện tượng khách quan tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường nhằm đáp ứng yêu cầu của người lao động trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích gắn với quan hệ lao động Đình công là sự ngừng việc có tính triệt để, có tổ chức của tập thể lao động nhằm buộc người sử dụng lao động hay một chủ thể khác phải thỏa mãn những yêu sách nghề nghiệp của người lao động Đình công không phải là lãn công, không đồng nhất với tranh chấp lao động, giữa đình công và tranh chấp lao động tập thể có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc giải quyết tốt các tranh chấp lao động tập thể thông qua các biện pháp ôn hòa (thương lượng, hòa giải ) sẽ góp phần đáng kể hạn chế tình trạng đình công

2 Thủ tục đình công là cách thức, phương pháp và trình tự tiến hành một cuộc đình công theo luật định để đảm bảo tính hợp pháp của cuộc đình công Việc đình công để đem lại hiệu quả, và được coi là hợp pháp phải tiến hành theo những bước nhất định từ lấy ý kiến của tập thể lao động, ra quyết định đình công rồi sau đó mới tiến hành đình công Mỗi bước trên cũng phải thực hiện theo những thời gian luật định

3 Pháp luật về thủ tục đình công ở Việt Nam với vai trò là hành lang pháp lý giúp NLĐ thực hiện quyền đình công đã có những quy định khá cụ thể và ngày càng hoàn thiện qua từng thời kỳ Việc hoàn thiện pháp luật và thủ tục đình công đang được tiến hành theo hướng đơn giản hóa mọi thủ tục nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho NLĐ thực hiện được quyền của mình

Trang 35

Chương 2

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC ĐÌNH CÔNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ

NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI VIỆT NAM

Như trên đã đề cập, thủ tục đình công là một trong những điều kiện xét tính hợp pháp của cuộc đình công, được quy định trong các văn bản pháp luật

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc được thực hiện theo tập quán đình công ở những nước đã có lịch sử đình công tương đối dài

Chính sách, quan điểm của nhà nước trong việc mở rộng hoặc thu hẹp quyền đình công được xem là yếu tố quan trọng nhất, chi phối các quy định

về thủ tục đình công Nếu muốn hạn chế quyền đình công của NLĐ, nhà nước

sẽ đưa ra những quy định pháp luật về thủ tục đình công một cách phức tạp, nghiêm khắc và thậm chí là rất khó thi hành Ngược lại, nhà nước sẽ quy định thủ tục chuẩn bị và tiến hành đình công đơn giản, linh hoạt, dễ dàng áp dụng trong thực tế

2.1 Quy định về thủ tục đình công trong Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006

Kể từ khi có Bộ luật lao động đầu tiên vào năm 1994, đình công đã

được ghi nhận là quyền cơ bản của NLĐ “Người lao động có quyền đình

công theo quy định của pháp luật” [38, Điều 7] Về thủ tục đình công được

quy định như sau:

2- Việc đình công do Ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định sau khi được quá nửa tập thể lao động tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký Ban chấp hành công đoàn cơ sở cử đại diện, nhiều nhất là ba người,

để trao bản yêu cầu cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi một bản thông báo cho cơ quan lao động cấp tỉnh, một bản thông báo cho Liên đoàn lao động cấp tỉnh Trong bản yêu cầu và bản thông báo, phải nêu rõ các vấn đề bất

Trang 36

đồng, nội dung yêu cầu giải quyết, kết quả bỏ phiếu hoặc lấy chữ ký tán thành đình công và thời điểm bắt đầu đình công 3- Nghiêm cấm các hành vi bạo lực, hành vi làm tổn hại máy, thiết bị, tài sản của doanh nghiệp, các hành vi xâm phạm trật tự, an toàn công cộng trong khi đình công [38, Điều 173]

Như vậy về cơ bản, bước đầu Bộ luật lao động năm 1994 đã có những quy định về thủ tục đình công, song những quy định này còn chung chung, khá sơ sài và thiếu chi tiết nhất là vấn đề thời gian Điều này khiến cho việc đình công thực hiện mà thiếu sự hướng dẫn cụ thể, dễ vi phạm pháp luật từ đó quyền đình công của NLĐ mặc dù được ghi nhận nhưng lại không được đảm bảo tạo điều kiện thực thi trên thực tế Quy định này được tiếp tục duy trì đến lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động vào năm 2002

Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2006 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực ngày 01/7/2007, đã có một bước tiến trong việc quy định các vấn đề về thủ tục đình công, theo đó, thủ tục đình công đã được tách nhỏ ra thành nhiều trường hợp và cách thức tiến hành từng bước cụ thể:

1 Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động lấy ý kiến để đình công theo quy định sau đây: a) Đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới ba trăm người lao động thì lấy ý kiến trực tiếp của người lao động; b) Đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có

từ ba trăm người lao động trở lên thì lấy ý kiến của thành viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở, Tổ trưởng tổ công đoàn và Tổ trưởng tổ sản xuất; trường hợp không có công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của Tổ trưởng, Tổ phó

tổ sản xuất 2 Việc tổ chức lấy ý kiến có thể thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc lấy chữ ký.Thời gian và hình thức tổ chức lấy ý kiến để đình công do Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động quyết định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất

là một ngày.3 Nội dung lấy ý kiến để đình công bao gồm: a) Các nội dung

Trang 37

quy định tại các điểm a, c và d khoản 3 Điều 174b của Bộ luật này;b) Việc đồng ý hay không đồng ý đình công [41, Điều 174a]

Đồng thời, Bộ luật này cũng quy định:

1 Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động ra quyết định đình công bằng văn bản và lập bản yêu cầu khi có ý kiến đồng ý của trên 50% tổng số người lao động đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới ba trăm người lao động hoặc trên 75% số người được lấy ý kiến đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ ba trăm người lao động trở lên 2 Quyết định đình công phải nêu rõ thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công, có chữ ký của đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động; trường hợp là đại diện của Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì phải đóng dấu của tổ chức công đoàn 3 Bản yêu cầu phải có những nội dung chủ yếu sau đây: a) Những vấn đề tranh chấp lao động tập thể đã được cơ quan, tổ chức giải quyết nhưng tập thể lao động không đồng ý; b) Kết quả lấy ý kiến đồng ý đình công; c) Thời điểm bắt đầu đình công; d) Địa điểm đình công; đ) Địa chỉ người cần liên hệ để giải quyết

4 Ít nhất là năm ngày, trước ngày bắt đầu đình công, Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động phải cử đại diện nhiều nhất là ba người để trao quyết định đình công và bản yêu cầu cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi một bản cho cơ quan lao động cấp tỉnh và một bản cho Liên đoàn lao động cấp tỉnh 5 Đến thời điểm bắt đầu đình công đã được báo trước quy định tại điểm c khoản 3 Điều này, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận giải quyết yêu cầu thì Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động tổ chức và lãnh đạo đình công [41, Điều 174b]

Có thể thấy Bộ luật lao động năm 2006 đã được quy định một cách đầy

đủ và rõ ràng hơn về cả mặt thời gian, trình tự các bước, các trường hợp cụ thể Theo đó, trình tự tiến hành đình công được thực hiện theo ba bước: lấy ý

Trang 38

kiến NLĐ; ra quyết định đình công và giao bản yêu cầu cho NSDLĐ; tiến hành đình công

- Bước một, lấy ý kiến NLĐ, Bộ luật lao động năm 2006 căn cứ vào quy mô số lượng NLĐ của doanh nghiệp để quy định cách thức lấy ý kiến của tập thể lao động Nếu doanh nghiệp có dưới 300 NLĐ thì sẽ lấy ý kiến trực tiếp NLĐ còn nhiều hơn thì lấy ý kiến của thành viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở, Tổ trưởng tổ công đoàn và Tổ trưởng tổ sản xuất; trường hợp không có công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của Tổ trưởng, Tổ phó tổ sản xuất Quy định này mặc dù có chi tiết hơn so với Bộ Luật lao động năm 1994 song lại vô tình trở thành rào cản lớn đối với việc tiến hành bởi vì việc lấy ý kiến trực tiếp NLĐ là rất mất thời gian và khó thực hiện Việc tổ chức lấy ý kiến

có thể thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc lấy chữ ký Đồng thời, việc lấy

ý kiến này phải thông báo cho NSDLĐ biết trước ít nhất một ngày

- Bước hai, ra quyết định đình công và giao bản yêu cầu cho NSDLĐ: được thực hiện khi có sự đồng ý của trên 50% tổng số người lao động đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới ba trăm người lao động hoặc trên 75% số người được lấy ý kiến đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ ba trăm người lao động trở lên thì Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động ra quyết định đình công bằng văn bản và lập bản yêu cầu khi có ý kiến đồng ý Đây là quy định thực sự thiếu tính khả thi và là rào cản lớn trong quá trình tiến hành thủ tục đình công Bởi con số tỷ lệ 50% và 75% là một tỷ lệ rất lớn và khó đạt được khi lấy ý kiến bởi có những doanh nghiệp nhất là đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn

số lượng NLĐ lên đến vài nghìn người hoặc có những doanh nghiệp sản xuất không tập trung, cơ sở sản xuất bị phân tán thì để đạt được tỷ lệ này là rất khó khăn Việc trao Quyết định đình công và bản yêu cầu cho NSDLĐ được trao

bởi nhiều nhất là ba người đại diện cho tập thể lao động

Trang 39

- Bước ba, tiến hành đình công: đến thời điểm đã được báo trước tại bản yêu của của tập thể lao động đối với NSDLĐ mà NSDLĐ không chấp nhận giải quyết yêu cầu thì Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động tổ chức và lãnh đạo đình công Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định cụ thể, hướng dẫn về cách thức tiến hành đình công bên cạnh việc tạo ra

sự linh hoạt chủ động cho NLĐ khi tiến hành đình công nhưng lại khiến NLĐ

lại không có phương hướng chỉ đạo chung khi tiến hành

Như vậy cho đến khi Bộ Luật lao động năm 2006 có hiệu lực thì các quy định pháp luật về thủ tục đình công vẫn không có tính khả thi cao Do đó,

từ khi Bộ Luật lao động năm 2006 có hiệu lực cho đến trước năm 2013 hàng loạt các cuộc đình công diễn ra đều vi phạm quy định pháp luật, thực tiễn cho thấy chưa có cuộc đình công nào tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật, hay nói

cách khác chưa có bất kỳ cuộc đình công nào là hợp pháp

2.2 Quy định về thủ tục đình công theo Bộ luật lao động năm 2012 2.2.1 Quy định của pháp luật về thủ tục đình công

Sau khoảng 7 năm thi hành Bộ luật Lao động năm 2006, nhận thấy một

số bất cập và đứng trước sự thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội, Bộ luật Lao động năm 2012 đã được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/5/2013 Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung năm

2012 đã có nhiều quy định mới cụ thể hơn nhưng vẫn mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn so với Bộ Luật lao động năm 2006 trong đó có các vấn đề liên quan đến đình công cụ thể hơn là thủ tục đình công

Thủ tục đình công được quy định từ Điều 211 cho đến Điều 2013 Bộ luật Lao động năm 2012 bao gồm các quy định về các bước tiến hành đình công, cách thức thực hiện từng bước Trong đó, quy định rõ trình tự đình công

gồm ba bước:“1 Lấy ý kiến tập thể lao động 2 Ra quyết định đình công 3

Tiến hành đình công” [42, Điều 211]

Trang 40

Có thể thấy so với Bộ luật Lao động năm 2006, Bộ luật lao động năm

2012 đã bổ sung riêng một quy định về các bước tiến hành một cuộc đình công một cách thống nhất, cụ thể Trình tự đình công theo Điều 211 nêu trên

đã được quy định chi tiết về cách thức, phương pháp tiến hành tại Điều 212 và Điều 213 Bộ Luật Lao động năm 2012 Cụ thể:

Bước 1: Lấy ý kiến tập thể lao động

Lấy ý kiến của tập thể lao động về vấn đề đình công là một thủ tục quan trọng, khởi đầu trong tiến trình tổ chức đình công Nếu không có thủ tục lấy ý kiến tập thể lao động thì cuộc đình công diễn ra sẽ không có ý nghĩa gì, bởi đình công diễn ra nhằm yêu cầu NSDLĐ đáp ứng nhưng đòi hỏi bức thiết của NLĐ liên quan đến những lợi ích trực tiếp của họ như: tăng lương, giảm giờ làm, môi trường làm việc tốt hơn, chế độ Bảo hiểm xã hội, y tế, trợ cấp Chính vì vậy, việc lấy ý kiến tập thể lao động là điều cần thiết để cuộc đình công diễn ra và đạt được mục đích đúng đắn

thành viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở và tổ trưởng các tổ sản xuất Nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của tổ trưởng các tổ sản xuất hoặc của người lao động” [42, Điều 212] Như vậy, chỉ tổ chức công đoàn cơ

sở hoặc tổ chức công đoàn cấp trên, tổ trưởng tổ sản xuất mới có quyền lấy ý kiến tập thể lao động về vấn đề đình công Việc tổ chức lấy ý kiến có thể được thực hiện bằng phiếu hoặc chữ ký

Có thể thấy, so với Bộ luật Lao động năm 2006, Bộ luật Lao động năm

2012 đã rút gọn thủ tục lấy ý kiến tập thể lao động đi rất nhiều Theo quy định, tất cả các doanh nghiệp có quy mô khác nhau đều không phải lấy ý kiến trực tiếp của NLĐ nữa mà chỉ phải lấy ý kiến của Ban chấp hành công đoàn

cơ sở và tổ trưởng các tổ sản xuất, hoặc NLĐ Quy định này là một bước tiến lớn trong quy định về thủ tục đình công, khiến cho thủ tục đình công linh hoạt

Ngày đăng: 14/09/2017, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w