1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

sáng kiến kinh nghiệm môn luyện từ và câu lớp 5

24 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 128,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua các cuộc hộithảo,tổng kết,đúc rút kinh nghiệm và khẳng định: Bộ GD - ĐT để chính thức phát độngphong trào đổi mới phương pháp dạy học các môn nói chung và môn Tiếng Việt nóiriêng.Nét

Trang 1

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

I.Lý do chọn đề tài:

Đổi mới phương pháp dạy học bậc Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêngđược Bộ GD- ĐT đề cập đến từ những năm 1980 – 1981 cùng với việc triển khai thaysách cải cách giáo dục đưa công nghệ thông tin vào trường học Qua các cuộc hộithảo,tổng kết,đúc rút kinh nghiệm và khẳng định: Bộ GD - ĐT để chính thức phát độngphong trào đổi mới phương pháp dạy học các môn nói chung và môn Tiếng Việt nóiriêng.Nét đặc trng của phương pháp dạy học mới coi học là nhân vật trung tâm của quátrình dạy học trong đó giáo viên là người tổ chức hướng dẫn hoạt động của học sinh Phương pháp dạy học là một hệ thống tác động liên tục nhằm tổ chức hoạt độngnhận thức và thực hành để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần nội dung giáo dụcnhằm đạt được mục đích đã định.Đổi mới trong giáo dục là thường xuyên đưa cáI mớivào giáo dục để tạo ra sự phát triển mới

Thật vậy đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học rất quan trọng là bậc học nềntảng cho các bậc học tiếp theo.Học sinh tiếp nhận những kiến thức cơ bản ban đầu từđơn giản đến phức tạp Là phân môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, luyện từ và câu giữ vaitrò rất quan trọng.Trước hết giúp cho các em nắm chắc về nghĩa của từ,giải nghĩa của từ

để từ đó các em có thể viết được những bài văn hay,sinh động hơn.Thông qua phân mônluyện từ và câu học sinh lĩnh hội tri thức những cáI hay,cái mới trong tác phẩm văn học

ở những con người xung quanh ta

Phân môn luyện từ và câu tạo điều kiện cho học sinh làm quen với ngôn từ vănbản,tạo cho các em niềm vui hứng thú thông qua các cảnh đẹp đất nước và làm tiền đềkhoa học cho việc tìm hiểu bài.Về tính mục đích,dù trong khuôn khổ của cấp học,đó làmột hình thức tiếp cạnh thế giới nghệ thuật mà tác giả xây dung.Trên cơ sở học sinh biếtđọc ,viết được từ ngữ,các em chưa nhận thức được nghĩa của từ là gì?

II-MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tôi chọn đề tài này nghiên cứu với mục đích :

Trang 2

Giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa từ đồng nghĩa

-từ đồng õm Gúp phần làm giàu thờm vốn -từ cho HS

-Giỳp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật và hiểu ý nghĩa từ vựng -Giúp HS có năng lực sử dụng từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm trongsinh sản văn bản bằng hỡnh thức núi họăc viết, để từ đó các em sử dụng được Tiếng Việtvăn hóa làm công cụ giao tiếp tư duy

III-NHIỆM VỤ NGHIấN CỨU

1-Nghiên cứu vấn đề lí luận

2-Nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học về

từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm cho HS

3-Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc dạy-học từ nhiều nghĩa -từ đồngnghĩa - từ đồng âm

IV-PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1-Phạm vi nghiên cứu:

Việc dạy từ nhiều nghĩa- từ đồng nghĩa - từ đồng âm ở nhà trường tiểu học

2-Đối tượng nghiờn cứu

Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phân môn luyện từ và câu nóiriêng được Bộ GD - ĐT đề cập đến cách đây mấy năm với sự thay đổi sách.Muốn dạytốt môn Tiếng Việt nói chung và phân môn luyện từ và câu nói riêng có rất nhiềuphương pháp nhưng đòi hỏi người giáo viên cần suy nghĩ,lựa chọn phương pháp sao chophù hợp với nội dung bài học,trong đối tượng học sinh.Vì vậy thời gian có hạn,hơn nữađây là một vấn đề rộng.Do vậy trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm tôi xin đề cập đến “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng nghĩa - từ nhiều nghĩa - từđồng âm” ở lớp 5B mà tôi đang phụ trách ở trường Tiểu học Văn Thủy

Trang 3

V-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu lí luận để tìm hiểu cơ sở khoa học của đề tài

- Điều tra khảo sát thực tế nhằm tìm hiểu thực trạng dạy môn tập đọc ở trường TH VănThủy

- Nghiên cứu chương trình,sách giáo khoa,sách giáo viên môn Tiếng Việt

Qua khảo sát thực tế phân môn luyện từ và câu đợt 3 năm học 2012 - 2013 lớp tôiphụ trách nhiều học còn chậm ,giải nghĩa của từ phần nào còn hạn chế.Vì vậy tình hìnhhọc tập của lớp tôi như vậy bản thân tôi luôn suy nghĩ tìm tòi các phương pháp sau đây

để việc học có hiệu quả hơn

+ Phương pháp điều tra.

+ Phương pháp trắc nghiệm

+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

PHẦN II- NỘI DUNG NGHIấN CỨU

Chương1 Cơ sở lí luận:

Bước sang thế kỉ XXI , điều kiện kinh tế xó hội nước ta có những thay đổi lớn.Đất nước bước vào thời kỡ cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá Cơ cấu kinh tế, trỡnh độ pháttriển sản xuất ,khoa học kĩ thuật, nhu cầu xó hội thu nhập quốc dõn cú những bước pháttriển quan trọng Vấn đề hội nhập, giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn hoá dân tộc , vấn đề

về kinh tế tri thức, công nghệ thông tin, xu hướng quốc tế hoá trong kinh tế đangthường xuyên đặt ra và ngày càng cấp bách Những thay đổi đó trong kinh tế xó hội ,trong giỏo dục dẫn tới những yờu cầu đũi hỏi trong việc dạy Tiếng Việt núi chung vàdạy tiếng mẹ đẻ nói riêng Đối với môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học nó khôngthể là bản sao từ chương trỡnh khoa học Tiếng Vịờt.Vỡ nhà trường có nhiệm vụ riêng

Trang 4

của mỡnh Nhưng với tư cách là một môn học độc lậpTiếng Việt có nhiệm vụ cung cấpcho HS những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúcngữ pháp khả năng biểu cảm của ngôn ngữ quy tắc họat động của ngôn ngữ ) Đồng thờihỡnh thành cho HS kĩ năng giao tiếp( Nghe, nói, đọc, viết).Ngoài ra Tiếng Việt cũn làcông cụ giao tiếp và tư duy cho nên nó cũn cú chức năng kép mà các môn học kháckhông có được, đó là: Trang bị cho HS một số công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọikiến thức khoa học trong nhà trường Tiếng Việt là công cụ để học các môn học khác ; kĩnăng nghe, nói, đọc, viết là phương tiện là điều kiện thiết yếu của qúa trỡnh học tập.Bờn cạnh chức năng giao tiếp , tư duy ngôn ngữ cũn cú chức năng quan trọng nữa đó làthẩm mĩ , ngôn ngữ là là phương tiện để tạo nên cái đẹp; hỡnh tượng nghệ thuật.Trongvăn học HS phải thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ vỡ thế ỏ trường tiểu học Tiếng Vịêt vàvăn học được tích hợp với nhau,Văn học giúp HS có thẩm lành mạnh, nhận thức đúngđắn, có tỡnh cảm thỏi độ hành vi của con người Việt Nam hiện đại, có khả năng hũanhập và phỏt triển cộng đồng Mặt khác ngôn ngữ văn học cũn là biểu hiện bậc cao củanghệ thuật

ngôn từ Cho nên dạy tiếng trong khi dạy tiếng trong khi dạy văn là cách bồi dưỡng nănglực ngôn ngữ tối ưu cho người học.Dạy Tiếng Việt là đưa các em hoà nhập vào mộtmôi trường sống của thời kỡ hội nhập Ngược lại hiểu sâu sắc về Tiếng Việt lại tác độngđến kĩ năng cảm thụ thơ văn của HS Kết hợp giữa dạy văn và dạy tiếng sẽ tạo đượchiệu quả cao giữa hai môn văn Tiếng Việt Để đạt được hiệu quả giữa hai môn Văn-Tiếng Việt đũi hỏi người giáo viên cần phải dạy ở mọi nơi mọi lúc trong tất cả các mônhọc đặc biệt là môn Tiếng Việt.Phải có những phương pháp dạy học phù hợp với đặctrưng của bộ môn này phải có kiến thức Tiếng Việt vững vàng và không ngừng học hỏi

để nâng cao trỡnh độ

*Những vấn đề về lí luận

1-Nguyờn tắc dạy học

Trang 5

a)Khỏi niệm : Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cỏ bản có tính quy luật của lí

luận dạy- học, có tác dụng chỉ đạo tũan bộ tiến trỡn giảng dạy và học tập phự hợp vớimục đích dạy-học nhằm thực hiện tốt cỏc nhiệm vụ dạy-học

b)Nguyên tắc đồng bộ : Đây là nguyên tắc đũi hỏi người giáo viên trong việc dạy từ

nhiều nghĩa- từ đồng nghĩa - từ đồng âm là phải tiến hành ở mọi nơi trong tất cả các mônhọc Dạy từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa -từ đồng âm phải trở thành một bộ phận khôngthể thiếu được của mỗi giờ Tiếng Việt , đặc biệt là phần dạy về từ vựng Tiếng Việt cầnchú trọng đi sâu về bản chất của từ nhiều nghĩa –từ đồng nghĩa - từ đồng âm

c)Nguyờn tắc thực hành : Đũi hỏi họat động ngôn ngữ thường xuyên , đó là những bài

tập miệng , bài viết trỡnh bày ý nghĩs, ứng dụng lớ thuyết vào thực hành vào việc giảiquyết những vấn đề cụ thể của ngữ pháp, chính tả, tập làm văn Dạy từ nhiều nghĩa -từđồng nghĩa - từ đồng âm phải gắn làm giàu những biểu tượng tư duy bằng con đườngquan sát trực tiếp và thông qua những mẫu lời nói , hội thoại

d)Nguyờn tắc cụ thế : HS tiểu học cũn nhận thức theo kiểu “trực quan sinh động đến tư

duy trừu tượng , từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn nên giai đoạn đầu khi giới thiệu về từnhiều nghĩa, từ đồng nghĩa ,từ đồng âm cần phải tác động bằng kích thích vật thật vàbằng lời Mặt khác các em cần được nghe, thấy, phát âm và viết từ mới để các em nóithành tiếng hoặc nói thầm đều do chúng quan sát được

e)Nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ

Nghĩa là khi dạy từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa- từ đồng âm cần được trỡnh bàynhư là việc thiết lập quan hệ giữa từ và yếu tố hiện thực , quan hệ giữa từ với một lớp sựvật cùng loại được biểu thị bởi từ Đó là hai mặt hỡnh thức và nội dung của tớn hiệu từ,hai mặt này gắn chặt với nhau , tỏc động lẫn nhau, phải làm cho HS nắm vững hai mặtnày và mối tương quan giữa chúng

2-Phương pháp dạy -học

Trang 6

a)Khỏi niệm : Phương pháp dạy-học là tổ hợp cá cách thức họat động của thầy và trũ

trong quỏ trỡnh dạy -học dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt nhiệm

cần chớnh xỏc, rừ ràng đúng đắn và dễ hiểu , tránh làm cho người khác hiểu sai nội dungcâu, từ, ý nghĩa diễn đạt

Trang 7

Qua thực tế giảng dạy dự giờ đồng nghiệp ở trường sở tại ,trường bạn ,tôi nhậnthấy việc dạy và học về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm cũn cú một số tồntại sau :

+GV truyền kiến thức về khái niệm từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âmcũn mỏy múc ,rập khuụn và sơ sài , lấy ví dụ mà chưa hiểu được bản chất của nó Chỉ bóhẹp trong phạm vi SGK Khi thoỏt khỏi phạm vi này thỡ HS hầu hết đều luống cuống vànhầm lẫn

+Khi thể hiện tiết dạy hầu như GV chỉ chú ý đến đối tượng học sinh khá, giỏi ,cũn lại đa số HS khác thụ động ngồi nghe rồi một số em khác có muốn nêu cách hiểucủa mỡnh về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm cũng sợ sai lệch, từ đó tạo nênkhông khí một lớp học trầm lắng, HS làm việc tẻ nhạt , thiếu hứng thú không tạo đượchiệu quả trong giờ học

+Trong những bài dạy về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm hầu như

GV ít đọc tài liệu tham khảo, ít học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp

Phải chăng những tồn tại đó cũn tiềm ẩn trong mỗi tiết dạy để rồi GV tự dấu đinhững kiến thức tài năng sẵn có và những gỡ đó được học tập, lĩnh hội ở nhà trường sưphạm rồi dần dần đánh mất Đứng trước thực trạng như vậy và rút kinh nghiệm qua 5năm dạy-học lớp 5, năm nay tôi có : “Một số kinh nghiệm giúp HS lớp 5 phân bịêt từnhiều nghĩa- từ đồng nghĩa, từ đồng âm” Nhằm giúp học sinh tháo gỡ những lầm lẫngiữa các từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm tạo nền tảng để các em học tốt mônTiếng Vịêt Tuy là bước đầu nhưng tôi mạnh dạn nêu lên và mong được sự ủng hộ quantâm, đóng góp của các bạn đồng nghiệp để tôi được hoàn thiện hơn về kinh nghiệm này

II-THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIấN CỨU

1-Đặc điểm địa phương

Trang 8

Địa phương là một xó khó khăn nên HS trường tôi hầu hết là con em có hoàn cảnhkinh tế gia đỡnh cũn khú khăn , điều kiện học tập của con em cũn thấp , đặc bịêt sự quantâm của phụ huynh cũn hạn chế, phần nào làm ảnh hưỏng đến kết quả học tập của họcsinh

2-Đặc điểm của nhà trường

Năm học 2012- 2013 Trường tiểu học Văn Thủy cú học sinh với tổng số 19 Ban giámhiệu vững về chuyên môn, có bề dày kinh nghiệm trong giảng dạy và nhiều giáo viên làgiáo viên giỏi huyện 3 năm liền, đó cú nhiều tiết thao giảng về từ nhiều nghĩa- từ đồngnghĩa- từ đồng âm song do địa bàn miền núi phần nào cũn cú nhiều hạn chế như : các tàiliệu tham khảo cũn it, GV trẻ các phương pháp dạy học vẫn còn hạn chế phần nào ảnhhưởng đến chất lượng dạy- học trong nhà trường

III-MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC

Một bài tập dạy luyện từ và câu có thể thực hiện theo một trong hai hướng: ướng phân tích và hướng thực hành

*Dạy phân môn luyện từ và câu theo hướng phân tích:

Trang 9

Là cách dạy đưa ra những nhận xét, đánh giá các yếu tố tạo thành tình huống giả định nêu ra trong đề bài Sự phân tích này làm rõ đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp, đề tàigiao tiếp, hồn cảnh giao tiếp Từ đó đưa ra dự kiến các lời giảI thích phù hợp nhất vớiđích giao tiếp và hồn cảnh giao tiếp.

Vì vậy, khi dạy cần coi phân tích tình huống giao tiếp giả định như một biện pháp dạy

mở đầu tiết học về luyện từ và câu ,sau đó chuyển sang tổ chức thực hành theo đề bài,

chứ không dùng duy nhất phân tích tình huống giao tiếp giả định như một phương phápdạy học

*Dạy phân môn luyện từ và câu theo hướng thực hành:

Giao tiếp là hoạt động thực tiễn nên cách tốt nhất để nhanh chống trau dồi nănglực giao tiếp cho học sinh là đưa các em vào hoạt động thực hành Dựa trên tình huốnggiao tiếp giả định, giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành tình huống đó trên lớp.Phương pháp thích hợp nhất lúc này là giảng giải

1-Kết quả điều tra khảo sát chất lượng học sinh

Vào đầu năm học 2012- 2013 ngay từ bài Luyện từ và câu đầu tiên tôi đó khảo sỏtchất lượng HS bằng cách cho các từ sau: “ xanh, xanh biếc, xanh lè, đỏ au, đỏ bừng, đỏchạch, đỏ chói, đỏ chót, Đồng (tiền), (cánh ) đồng, bàn (việc), (cái) bàn, (Thè) lưỡi, lưỡiliềm, lưỡi hái, lưỡi dao, lưỡi cày, lưỡi lê, lưỡi gươm”

Yêu cầu HS xác định và phân thành 3 nhóm : Từ đồng nghĩa; từ nhiều nghĩa; từđồng âm

Trang 10

Qua một số bài tập làm văn mà HS lớp tôi đó làm do HS không hiểu được nghĩacủa từ và cách sử dụng nó nên khi viết bài văn về “ tả cây bóng mát mà em yêu thích”

Em Mai thanh Giang có đoạn viết : “Lá bàng xanh, thân bàng nâu, quả bàng cũng màuxanh ” Hoặc đối với đề bài tả về đồ chơi mà em thích nhất bạn Lê Bảo Ngọcđó viết :

“ con gấu bụng cú cặp mắt đen sỡ mũi nhọn như bóng .”

Sở dĩ các em dùng từ như vậy là do không nắm được từ đồng nghĩa, cơ sở tạo nên

từ nhiều nghĩa

2-Học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp

Khi dạy về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm tôi thường trao đổi với ban giám hiệu, bạn bè đồng nghiệp, để tỡm ra cỏi hay, cỏi mới trong giảng dạy nờn đó rỳt rađược nhiều kinh nghiệm bổ ích cho bản thân

3-Hướng dẫn hs khi học các khái niệm về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm

3.1 Từ đồng nghĩa :

Định nghĩa : *Từ đồng nghĩa là các từ khác nhau về mặt ngữ âm nhưng giống

nhau về mặt ý nghĩa , chỳng cựng biểu thị cỏc sắc thỏi khỏc nhau của cựng một khỏiniệm.( Tài liệu của Trường đại họcVinh )

Vớ dụ: Cựng núi đến khái niệm ăn cú xơi, nhậu nhẹt

*Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau

Ví dụ: siêng năng , chăm chỉ,cần cù,

*Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn , có thế thay thế cho nhau trong lời nói Ví dụ: hổ, cọp, hùm,

*Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn Khi dùng những từ này ,ta phải cânnhắc để lựa chọn cho đúng Ví dụ :

+ăn, xơi, chén, (biểu thị thái độ, tỡnh cảm khỏc nhau đối với người đối thoạihoặc điều được nói đến)

+mang, khiờng, vỏc, ( biểu thị những cách thức hành động khác nhau )

(Sỏch Tiếng Việt 5 tập 1)

Trang 11

3.2 Từ nhiều nghĩa :

Định nghĩa :*Là từ dựng một hỡnh thức õm thanh biểu thị nhiều ý nghĩa (biểu thị

nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau ), các ý nghĩa cú quan hệ với nhau, chỳng lập thànhmột trật tự,một cơ cấu nghĩa nhất định

Vớ dụ : đầu : (1)bộ phận trên hết của người, bộ phận trước hết của người của vật

(2)trớ tuệ thụng minh : anh ấy là người có cái đầu.

(3)Vị trớ danh dự : anh ấy luôn đứng đầu lớp về mọi mặt.

(4)Vị trớ tận cựng của sự vật : Anh ở đầu sông em cuối sông

(Tài liệu của trường đại học Vinh –Chu Thị Thủy An)

*Từ nhiều nghĩa là từ cú một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Cỏcnghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng cú mối liờn hệ với nhau

Vớ dụ : -Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt)

-Quả na mở mắt ( quả na bắt đầu chín , có những vết nứt rộng ra giống

hỡnh con mắt) ( Sỏch Tiếng Việt 5 Tập 1)

3.3Từ đồng âm

a) Định nghĩa: *Là những từ giống nhau về ngữ âm nhưng khỏc nhau về ý

nghĩa

Vớ dụ : Cổ: bộ phận cơ thể con người và cổ :xưa, lạc hậu

bỏc: anh, chị của bố mẹ và bỏc là chưng cất, bỏc là phủ định, bỏc là bố

( Bác mẹ em nghèo) ( Tài liệu của trường Đại học Vinh –Chu Thị Thủy An)

b)Ngụn ngữ cú tớnh tiết kiệm co nên tất yếu dẫn đến hiện tượng đồng âm Tuy

nhiên đồng âm trong Tiếng Việt có đặc điểm riêng :

-Thường xẩy ra ở những từ có cấu trúc đơn giản ( các từ đơn tiết)

-Các từ đồng âm trong Tiếng Việt chỉ xẩy ra trong ngữ cảnh vỡ Tiếng Việt làngụn ngữ khụng biến hỡnh

Trang 12

*Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa

Vớ dụ : a) ễng ngồi cõu cỏ (Cõu là họat động bắt cá, tôm bằng móc sắt nhỏ

(thường có mồi) buộc ở đầu một sợi dây )

b) Đoạn văn này có 5 cõu( cõu là đơn vị của lời nói diễn đạt một ý trọn

vẹn , trờn văn bản được mở đầu bằng một chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một dấungắt câu ) (Sách Tiếng Việt 5 tập 1)

4-Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm

4.1-Từ đồng nghĩa

* Bản chất của từ đồng nghĩa :Thực tế học sinh thường nhầm lẫn giữa từ đồng

nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm.Không nắm được nghĩa của chúng bởi vỡ định nghĩa

về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chưa chính xác dẫn đến sự khó khăn cho

HS trong vịêc nhận diện Phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chỉ dựavào định nghĩa là chưa đủ Đứng trước thực tế đó nên tôi đó mở rộng thờm cho HS một

số kiến thức sau:

-Từ đồng nghĩa : Bản chất của từ đồng nghĩa ( tính ở mức độ của từ đồng nghĩa )

Khả năng họat động tác động đến sự di chuyển của các sự vật có các từ: ném, lao,

phóng, quăng, vứt, xán xô, đẩy liệng, tống đạp, đá, nhấn, dỡm, kộo, dật, rỳt, gieo, rắc, vói, trỳt, xoay, quay, gồng,, gỏnh

Căn cứ vào chiều di chuyển để chia ra các nhóm đồng nghĩa

-Di chuyển ra xa chủ thể: nộm, phúng, lao

-Di chuyển gần lại : lụi, kộo, co, giật, rỳt

-Di chuyển quay xung quanh chủ thể: gỏnh,xoay, quay

-Di chuyển cựng chủ thể : Gồng, gánh, bưng, đội, cừng

Các từ trong từng nhóm có mức độ đồng nghĩa cao hơn so với các từ trong các nhómkhác

Ngày đăng: 14/09/2017, 14:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w