1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Giám sát cong tac thi nghiem va kiem dinh chat luong nhiều tác giả

75 196 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ hữu cơ giữa đơn vị giám sát và các bộ phận khác trên công trình trong Nghị định 209 [2] có đề cập đến như sau : I.1.1- Trách nhiệm tự giám sát chất lượng của nhà thầu Điều

Trang 1

Chuyên đề :

Chuyên đề :

giám sát thí nghiệm và kiểm định

giám sát thí nghiệm và kiểm định công trình THI công xây lắp

công trình THI công xây lắp

dùng cho học viên lớp đào tạo nghiệp vụ “giám sát thi công xây dựng công trình “

Trang 2

lượng sản phẩm thi công xây lắp Trong đó, kết quả thí nghiệm và kiểm định (Từ nay

viết tắt là TN và KĐ) là những chứng chỉ kỹ thuật đầu vào bắt buộc phải có [4-5]

Mục tiêu của chuyên đề là cung cấp cho học viên một số nội dung thiết yếu về

công tác TN và KĐ xây dựng mà người kỹ sư tư vấn phải tập trung trong quá trình giám sát chất lượng công trình Qua chuyên đề này, học viên có thể coi TN và KĐ như

một công cụ trong quản lý kỹ thuật và chất lượng Đồng thời, nó cũng là phương tiện

để kỹ sư tư vấn thực hiện giám sát chất lượng một cách hệ thống, theo đúng quy định

của tiêu chuẩn xây dựng hiện hành; là biện pháp phòng ngừa, làm giảm thiểu những

khiếm khuyết hoặc sự cố có thể xảy ra trong thi công v.v [2 - 9]

Vì vậy, việc thực hiện giám sát một cách chặt chẽ đối với TN và KĐ hoàn toàn không phải như quan niệm của một số người, cho rằng đó chỉ là công việc tham gia

theo dõi cho có đủ thành phần, để chia sẻ trách nhiệm với ban quản lý dự án trong kiểm tra đơn vị thi công, cho đảm bảo tính khách quan theo nguyên tắc quản lý Thậm chí có người còn cho rằng những công việc mà tư vấn giám sát thực hiện nhiều khi là can thiệp vào hoạt động tự chủ, gây phiền hà cho nhà thầu Thực chất thì ngược lại, họ

đang thực thi nhiệm vụ đ: được quy định theo pháp lệnh của Nhà nước Việc làm

tròn chức năng giám sát đối với công tác TN và KĐ, chính là thể hiện sự hỗ trợ và

www.giaxaydung.vn

Trang 3

phối hợp chặt chẽ giữa tư vấn giám sát với các bên tham gia, nhằm đảm bảo chất lượng, tiến độ và an toàn chung cho công trình, góp phần thực hiện một cách đầy đủ nhất bản đồ án thiết kế và những quy định của tiêu chuẩn xây dựng [2-4-6-7]

Hoạt động của người kỹ sư tư vấn giám sát đối với công tác TN và KĐ đ: được xác

định khá cụ thể trong Nghị định của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình

xây dựng số: 209/2004/NĐ-CP, Ngày 06/12/2004 [2] Một số thông tư kèm theo của

Bộ Xây dựng cũng chứa đựng những quy định chi tiết về nhiệm vụ của họ đối với công trình thi công xây lắp Trong đó, ta có thể đề cập đến một số nội dung cơ bản bắt buộc phải được giám sát chặt chẽ là :

1 Giám sát công tác khảo sát xây dựng [ Điều 1 - chương III ]

2 Giám sát chất lượng thi công xây dựng công trình [ Điều 18 ⇒ 28 - chương V ]

3 Giám sát bảo hành công trình xây dựng [ Điều 30 - chương VI ]

4 Giám sát bảo trì công trình xây dựng [ Điều 33 - chương VII ]

5 Giám sát xử lý sự cố công trình xây dựng [ Điều 35 - chương VIII ]

Chuyên đề chỉ giới hạn ở nội dung liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ giám sát chất lượng công trình mà công tác TN và KĐ là nội dung rất cơ bản. Những công việc khác cũng liên quan mật thiết đến quản lý chất lượng như thực hiện kiểm tra quy trình

- công nghệ thi công…sẽ không đề cập đến trong chuyên đề này

Ghi chú : Trong Nghị định 209 có bao hàm nhiều nội dung cơ bản đ2 nêu ở “Quy

định quản lý chất lượng công trình xây dựng” ban hành theo quyết định số 18/2003/QĐ-BXD, ngày 27/06/2003, của Bộ trưởng Bộ Xây dựng [5]

I.1 - trách nhiệm của tư vấn giám sát và các bên tham gia

Trong quản lý chất lượng công trình

Nghị định phân định rõ trách nhiệm của mỗi bên tham gia quản lý chất lượng công trình thi công xây lắp Mối quan hệ hữu cơ giữa đơn vị giám sát và các bộ phận khác

trên công trình trong Nghị định 209 [2] có đề cập đến như sau :

I.1.1- Trách nhiệm tự giám sát chất lượng của nhà thầu (Điều 19 - Ch.V):

“Thực hiện các thí nghiệm kiểm tra vật liệu, cấu kiện, vật tư, thiết bị công trình,

thiết bị công nghệ- trước khi xây dựng và lắp đặt vào công trình xây dựng theo tiêu chuẩn và yêu cầu thiết kế Tiến hành nghiệm thu nội bộ và lập bản vẽ hoàn công ”

Theo quy định này, nhà thầu là người trực tiếp thực hiện việc kiểm tra chất lượng vật liệu và cấu kiện trước khi sử dụng chúng vào thi công xây lắp Cụ thể là:

Trang 4

31

• Chọn phòng TN (LAS-XD ), thực hiện đặt hàng các TN kiểm tra chất lượng vật liệu, sản phẩm, cấu kiện để có chứng chỉ kết quả thí nghiệm xác nhận chất lượng của chúng

• Đối với một số sản phẩm, kết cấu, bộ phận công trình và công trình, nhà thầu phải thực hiện công việc KĐ nhằm đánh giá xem chất lượng có đáp ứng quy

định của thiết kế hay không Việc tiến hành và lập hồ sơ báo cáo kết quả KĐ phải do đơn vị có chức năng và chuyên môn phù hợp thực hiện

• Khi phát hiện khuyết tật hay sự cố xảy ra đối với công trình thi công, nhà thầu phải kịp thời xử lý và khắc phục trên cơ sở kết quả kiểm tra bằng TN và KĐ Như vậy, kết quả TN và KĐ luôn được coi là nguồn cung cấp thông tin và số liệu quan trọng để đánh giá chất lượng, làm căn cứ để nghiệm thu công trình

I.1.2- Trách nhiệm giám sát của chủ đầu tư (Điều 21-23-24-25-26-27-28, Ch.V):

Nội dung quy định trong chương V bao gồm trách nhiệm giám sát của chủ đầu tư

mà thực chất là của tư vấn giám sát (làm đại diện) Vị trí của tư vấn giám sát trong hệ thống quản lý chất lượng thi công công trình xây lắp có thể mô tả qua sơ đồ hình I.1 [2-9-10] Trong đó, tư vấn giám sát giữ vị trí đầu mối, người làm nhiệm vụ phối hợp với các bên : Ban quản lý dự án - Nhà thầu xây lắp - Tư vấn thiết kế

Nội dung việc giám sát bao gồm [2]:

 Kiểm tra phòng TN và các cơ sở sản xuất vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây

dựng… trước khi đưa chúng vào sử dụng thi công mà nhà thầu thực hiện

Bộ phận phận g.sát

Hình I.1:

Sơ đồ thể hiện quan hệ giữa các đơn vị tham gia quản lý chất lượng thi công xây lắp

Tư vấn thiết kế

Ban qlda

Nhà thầu Xây lắp

www.giaxaydung.vn

Trang 5

 Giám sát chất lượng vật tư, vật liệu và thiết bị lắp đặt vào công trình do nhà

thầu thi công cung cấp theo yêu cầu của thiết kế

 Kiểm tra các chứng chỉ kỹ thuật xác nhận chất lượng của nhà sản xuất, kết

quả TN và KĐ của các phòng TN hợp chuẩn đối với vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng … trước khi sử dụng lắp đặt vào công trình

 Khi có nghi ngờ về các kết quả kiểm tra chất lượng vật liệu, cấu kiện, sản phẩm

xây dựng …, thì thực hiện kiểm tra trực tiếp đối với vật tư, vật liệu, cấu kiện

và sản phẩm đó

 Tổ chức KĐ lại chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công trình và công

trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng

 Kiểm tra các kết quả thử nghiệm trên vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây

dựng… theo những quy định của thiết kế và tiêu chuẩn tương ứng

 Kiểm tra và xác nhận hồ sơ bản vẽ hoàn công

 Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng theo từng giai đoạn thi công với đầy đủ

hồ sơ kỹ thuật xác định chất lượng phù hợp

Theo những nội dung nêu trên, khi giám sát chất lượng vật liệu và cấu kiện thì tư

vấn giám sát phải tập trung chủ yếu vào việc kiểm tra quá trình thực hiện của nhà thầu

có theo đúng quy trình không, có thực hiện đầy đủ và kịp thời không Đặc biệt là tất cả các kết quả TN, kết quả KĐ mà nhà thầu thực hiện, tư vấn giám sát phải kiểm tra kỹ càng, xem chúng có thỏa m:n, đáp ứng yêu cầu quy định của thiết kế hay không trước khi đem sử dụng Chỉ khi phát hiện có sự nghi ngờ, giám sát có thể yêu cầu nhà thầu thực hiện TN và KĐ lại hoặc có mặt để giám sát cụ thể một số nội dung TN và KĐ khi xét thấy cần thiết, tại phòng TN hoặc trên hiện trường

I.1.3 - Nội dung nghiệm thu công trình xây dựng (Điều 23-24-25- 26, Ch V) :

Công tác nghiệm thu trong quá trình thi công phải tuân theo một trình tự nhất định, phải trên cơ sở có đầy đủ căn cứ vê mặt kỹ thuật liên quan đến nội dung nghiệm thu tương ứng Chúng bao gồm :



 Nghiệm thu từng công việc hoàn thành để trên cơ sở đó cho phép tiến hành

những công việc thi công tiếp theo



 Nghiệm thu từng bộ phận công trình - Kết quả nghiệm thu làm căn cứ để quyết

định việc thi công những bộ phận liên quan hay cho phép tiến hành những công việc trên bộ phận kết cấu vừa hoàn thành



 Nghiệm thu hạng mục và toàn bộ công trình hoàn thành để đưa vào sử dụng Đây

cũng chính là nội dung xác định mốc “0” đễ căn cứ vào đó tiến hành quản lý chất lượng công trình trong khai thác sau này

Trang 6

33

Việc quy định trình tự nghiệm thu đối với công việc xây dựng (Điều 24), nghiệm thu

bộ phận công trình xây dựng (Điều 25), nghiệm thu hạng mục và tổng thể công trình

xây dựng trước khi đưa công trình vào sử dụng (Điều 26) còn nhằm đảm bảo tuân thủ những yêu cầu về công nghệ và kỹ thuật thi công quy định đối với từng loại công việc thực hiện trên hiện trường Kèm theo mỗi sản phẩm hoàn thành, bao giờ cũng phải có chứng chỉ xác nhận kết quả thử nghiệm, kiểm tra chất lượng đối với vật liệu và cấu kiện sử dụng trong thi công xây lắp

I.1.4 - Kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng

(Điều 28, ch.V)

Yêu cầu thực hiện chứng nhận sự phù hợp không phải đối với tất cả mọi loại công trình sau khi hoàn thành thi công, mà chỉ đối với một số công trình nhất định theo quy

định, phụ thuộc vào công năng, tầm quan trọng, quy mô và độ phức tạp của nó

Nghị định 209 có nêu rõ việc bắt buộc phải tiến hành chứng nhận chất lượng phù hợp, trước hết là đối với những công trình có đông người sử dụng, những công trình nếu xảy ra sự cố sẽ không những ảnh hưởng đến sinh mạng của số đông cộng đồng sử dụng mà còn gây thiệt hại lớn về vật chất, ảnh hưởng đến hoạt động về mặt x: hội Những công trình đó tuy thiết kế và thi công đ: đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quy

định, như bản thân công trình có chứa đựng những tiềm ẩn về hiểm họa, những nguy cơ mất an toàn cần đặc biệt lưu ý Trường hợp theo quy định chung, công trình có thể thuộc loại không nhất thiết phải chứng nhận sự phù hợp về chất lượng, nhưng nếu chủ

đầu tư hay chủ sở hữu công trình yêu cầu nhằm giải đáp những nghi ngờ nào đó về sự

an toàn trong sử dụng và khai thác sau này

Ta có thể đề cập đến một số dạng công trình cần có chứng nhận chất lượng phù hợp

như sau:

 Công trình công cộng, nơi tập trung đông người, như : Nhà hát, rạp chiếu phim, rạp siếc, trường học, sân vận động, nhà thi đấu, siêu thị, nhà triển l:m và các công trình có chức năng tương tự

Trang 7

kế hoạch, trực tiếp liên hệ, yêu cầu với đơn vị tư vấn thực hiện chứng nhận chất lượng phù hợp, nên cần tìm hiểu kỹ những quy định kể trên

Trong quá trình tiến hành chứng nhận chất lượng phù hợp, đơn vị tư vấn nếu xét thấy cần thiết, có thể yêu cầu tiến hành một số TN và KĐ nhằm làm rõ thêm hay bổ sung lượng thông tin cần và đủ để đánh giá và kết luận về chất lượng của loại sản phẩm, kết cấu hay bộ phận chịu lực quan trọng nào đó của công trình

I.1.5 - Quy định về bảo hành công trình xây dựng (Điều 29-30, Ch.VI) :

Trong thời gian bảo trì công trình ( 24 tháng - đối với cấp đặc biệt và cấp 1; 12 tháng - đối với các cấp còn lại ), phía nhà thầu phải thường xuyên thực hiên việc theo dõi và kiểm tra những hiện tượng xảy ra trên công trình, tiến hành sửa chữa, xử lý những khuyết tật xảy ra nếu có Khi gặp vấn đề phải xác minh bằng số liệu và thông tin cụ thể, thường đề cập đến việc thực hiện TN và KĐ để có căn cứ giải quyết hay tìm biện pháp xử lý

I.1.6 - Quy định về giải quyết sự cố công trình xây dựng (Điều 35, 36, Ch VIII)

Trong quy định này có nêu rõ : Khi lập hồ sơ sự cố công trình, chủ đầu tư phải

thuê một tổ chức tư vấn có đủ năng lực chuyên môn thực hiện kiểm định, đánh giá

xem mức độ ảnh hưởng của sự cố, rút ra kết luận về nguyên nhân gây nên sự cố để trên cơ sở đó tìm giải pháp khắc phục Mặt khác, qua kết quả KĐ, làm rõ trách nhiệm của người gây nên sự cố trong thi công.

Như vậy là kết quả TN và KĐ sẽ cung cấp số liệu và thông tin nhằm :

Qua nội dung tóm tắt những quy định vừa trình bày trên, thể hiện rõ công tác giám sát thi công không đơn giản chỉ là việc quản lý chất lượng chung chung và theo dõi những công việc thực hiện hàng ngày trên hiện trường như đối với một công việc hành chính Đặc biệt là đối với công tác TN và KĐ đòi hỏi ở tư vấn giám sát phải có sự tập trung, theo dõi một cách thường xuyên Công việc giám sát phải tiến hành theo một kế hoạch cụ thể và có hệ thống

Trang 8

35

I.2 - Nội dung chính giới thiệu trong chuyên đề

Chuyên đề sẽ tập trung giới thiệu với 3 nội dung cơ bản sau đây:

I.2.1- Giám sát TN kiểm tra chất lượng vật liệu sử dụng trong thi công

Đối với TN kiểm tra chất lượng vật liệu, công việc chính của tư vấn giám sát không phải là trực tiếp theo dõi các bước của quy trình thực hiện các TN, mà chủ yếu là tập trung vào việc kiểm tra xem :

 Việc TN đ: thực hiện đầy đủ hay chưa cho từng loại vật liệu sử dụng?

 Thời gian tiến hành TN có phù hợp tiến độ thi công sản phẩm?

 Đơn vị thực hiện TN có phải là Phòng TN chuyên ngành, có đủ năng lực đáp ứng những yêu cầu mà TN đặt ra?

 Các chứng chỉ xác nhận kết quả TN vật liệu có hợp chuẩn và đảm bảo độ tin cậy hay không?

 Điều quan trọng là kết quả TN vật liệu có đáp ứng yêu cầu của thiết kế và quy

định của tiêu chuẩn áp dụng hay không?

Việc thực hiện TN kiểm tra chất lượng vật liệu luôn phải đi trước một bước Chúng không được bỏ sót, không được để xảy ra nhầm lẫn, tránh tình trạng nghi ngờ và phải lặp lại TN kiểm tra, sẽ gây l:ng phí thời gian, tốn kém vật liệu, kinh phí và nhân công thực hiện, ảnh hưởng đến tiến độ thi công

I.2.2- Giám sát TN kiểm tra chất lượng cấu kiện sử dụng trong thi công xây lắp

Trên công trình thi công, không phải chỉ sử dụng các loại vật liệu rời, mà nhiều trường hợp phải sử dụng một số loại sản phẩm xây dựng đ: được gia công sẵn ở dạng

thành phẩm hoặc bán thành phẩm - Ta gọi với tên chung là cấu kiện Chúng có thể

được chế tạo ở một xí nghiệp nào đó theo đơn đặt hàng của nhà thầu, cũng có thể do nhà dịch vụ, người chuyên thực hiện gia công và cung cấp cấu kiện ở dạng hàng hóa Không phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ, trước khi đem chúng lắp dựng vào công trình, chất lượng cấu kiện phải được xác nhận rõ ràng, đảm bảo các chỉ tiêu về hình dạng, kích thước, cấu tạo và chất lượng…theo đúng quy định và yêu cầu của thiết kế [5]

Tùy thuộc vào đặc điểm và yêu cầu cụ thể, chất lượng cấu kiện có thể được kiểm tra bằng các phương pháp sau :

 Bằng phương pháp TN chất tải trực tiếp lên cấu kiện - Khi mục tiêu kiểm tra là

xác định khả năng chịu lực, trạng thái làm việc của sản phẩm xem có đạt các chỉ tiêu về độ bền, độ cứng, độ an toàn v.v hay không Với phương pháp này, chất lượng cấu kiện sẽ được bộc lộ qua khả năng ứng xử của nó khi có tải trọng tác dụng Do đó, việc đánh giá chất lượng sản phẩm được xem xét trên cơ sở so sánh những kết quả nhận được từ TN với các giá trị giới hạn mà thiết kế hay tiêu chuẩn quy định

www.giaxaydung.vn

Trang 9

 Bằng phương pháp TN không phá hoại (TNKPH) - Khi mà việc tiến hành thí

nghiệm thực hiện ngay trên sản phẩm mà không đòi hỏi phải có mẫu thí nghiệm với nhiệm vụ kiểm tra là xác định cấu tạo, chất lượng vật liệu cấu kiện và sự tồn tại của khuyết tật nằm bên trong sản phẩm

Tư vấn giám sát một mặt phải nắm vững mục tiêu TN đối với cấu kiện, mặt khác cần tìm hiểu những nguyên lý cơ bản của phương pháp, những khả năng của từng phép thử Trên cơ sở đó, có sự phối hợp chặt chẽ với đơn vị thực hiện TN và các bên liên quan, đảm bảo kết quả TN đáp ứng mục tiêu kiểm tra, thỏa m2n yêu cầu quy định của thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng

I.2.3- Giám sát đối với kiểm định xây dựng

Kiểm định (KĐ) công trình thường tham gia ở hầu hết các giai đoạn thi công Trong đó, phụ thuộc vào mục tiêu đặt ra, KĐ có thể được tiến hành với nội dung và các bước khác nhau, trên cơ sở đảm bảo yêu cầu cần và đủ, cho phép đánh giá về hiện trạng chất lượng của đối tượng KĐ

Bản thân hoạt động KĐ mang tính tổng hợp cao Nó bao gồm việc thực hiện công việc khảo sát khá toàn diện nhằm làm rõ tính chất, đặc điểm liên quan đến chất lượng của kết cấu hay một hiện tượng nào đó xảy ra, đánh giá ảnh hưởng của nó đến chất lượng công trình v.v Vì vậy, trong nhiều trường hợp, công việc TN là một trong những nội dung thực hiện quan trọng trong quá trình kiểm định công trình Mặt khác, chất lượng của những sản phẩm cùng loại có thể sẽ không đồng đều ở từng giai đoạn thi công khác nhau Nó thường chịu nhiều ảnh hưởng theo thời gian và không gian thi công trên hiện trường Tư vấn giám sát cần tìm hiểu nội dung các bước KĐ cùng những đặc điểm công trình để có biện pháp giám sát phù hợp

II - giám sát thí nghiệm kiểm tra chất lượng vật liệu sử dụng trong thi công xây lắp

Trong quá trình thi công, công việc mà người kỹ sư tư vấn phải quan tâm thường xuyên, đó là giám sát đối với công tác TN kiểm tra chất lượng của vật liệu sử dụng Nhiệm vụ chính đối với việc thực hiện những TN này là thuộc phía nhà thầu Trong đó bao gồm :

 Đặt hàng TN với phòng TN chuyên ngành LAS - XD

 Thực hiện lấy mẫu và gia công mẫu thử đối với vật liệu sử dụng thi công

 Đưa mẫu thử vật liệu đến phòng TN và theo dõi việc thực hiện các TN

 Nhận kết quả TN kiểm tra chất lượng vật liệu trước khi sử dụng chúng vào thi công kết cấu công trình

Trong khi đó, tư vấn giám sát phải tập trung thực hiện những nội dung sau đây:

II.1 - Tiến hành các công việc chuẩn bị, bao gồm :

Trang 10

37

1 Nghiên cứu hồ sơ bản vẽ thiết kế công trình Sau khi đ: nắm tổng thể về đặc

điểm kết cấu, tiến hành chọn ra những kết cấu nào là chịu lực chính, nó sẽ được thi công ở giai đoạn nào

2 Lập danh sách những vật liệu sử dụng thi công các kết cấu chịu lực để quan tâm giám sát TN kiểm tra chất lượng của chúng

3 Tìm hiểu, tập hợp danh sách những tiêu chuẩn TN hiện hành liên quan đến những vật liệu sử dụng thi công Việc này có thể kết hợp tìm hiểu qua phòng thí nghiệm LAS

4 Kiểm tra sự chuẩn bị các phương tiện phục vụ lấy mẫu, gia công, bảo quản mẫu v.v của nhà thầu

5 Lập số theo dõi giám sát kết quả TN vật liệu theo tiến độ thi công

6 Thống nhất với nhà thầu ở các khâu theo dõi giám sát đối với việc thực hiện TN kiểm tra chất lượng vật liệu trong các giai đoạn thi công

Trong quá trình chuẩn bị nêu trên, tư vấn giám sát cũng cần thống nhất với chủ đầu tư - ban QL dự án, nhà thầu các bên và tư vấn thiết kế về phương thức phối hợp trong những trường hợp cần xử lý liên quan đến kết quả TN vật liệu có vấn đề về mặt chất lượng so với yêu vầu của thiết kế Đây mới chỉ là dự kiến ban đầu, nhằm giúp cho việc giám sát TN vật liệu được thực hiện một cách liên tục và hệ thống Chúng có thể sẽ thay đổi, điều chỉnh hoặc bổ sung sao cho sát với thực tế cung ứng vật liệu tại hiện tường và tình hình thực hiện các TN theo tiến độ thi công công trình

II.2 - Kiểm tra phòng Thí nghiệm

Kiểm tra phòng TN là nhiệm vụ của tư vấn giám sát - Theo quy định của Nghị định

209 [2] Mục tiêu cơ bản của việc kiểm tra là tư vấn giám sát phải xác minh một cách khách quan xem phòng TN do nhà thầu chọn làm nơi đặt hàng TN có thực sự đảm bảo

độ tin cậy hay không Để hoàn thành nhiệm vụ này, tư vấn giám sát phải tiếp cận trực tiếp với phòng TN Qua đó, đánh giá về nội dung hoạt động của nó xem có đáp ứng những yêu cầu về TN kiểm tra chất lượng vật liệu mà công trình sử dụng thi công [2 -

5 - 7]

Nói chung, ta cần đề cập đến 03 nội dung chủ yếu sau đây khi tiến hành kiểm tra phòng TN :

1 Về mặt pháp lý, phòng TN phải được công nhận là phòng TN chuyên ngành

xây dựng (có con dấu mang tên “LAS-XD ”)

Trong quyết định công nhận phòng TN phaỉ ghi rõ thời hạn hoạt đông và kèm theo

là danh sách tên các TN được phép thực hiện Điều này rất quan trọng, bởi giấy phép chỉ có thời hạn nhất định (theo quy định nêu trong TCXDVN 297: 2003 [8]), phù hợp với tình trạng về năng lực của phòng TN khi công nhận hay lần kiểm tra gia hạn hoạt

www.giaxaydung.vn

Trang 11

động lần gần nhất Việc xem xét kỹ danh sách các phép thử được phép thực hiện nhằm kiểm tra xem phòng TN mà nhà thầu chọn có đủ khả năng thực hiện tất cả những TN đối với các chủng loại vật liệu sẽ sử dung thi công công trình hay không Trường hợp phát hiện có vấn đề không thỏa m:n, tư vấn giám sát sẽ yêu cầu nhà thầu tìm hiểu phòng TN nào khác, nơi có đầy đủ năng lực thực hiện các TN yêu cầu

để đặt hàng

Ghi chú : cho đến đầu năm 2008, số phòng TN chuyên ngành trên toàn quốc mà Bộ

XD cấp phép hoạt động vào khoảng 600 phòng, nhưng năng lực mỗi phòng TN rất khác nhau

2 Điều kiện về năng lực nhà xưởng và trang thiết bị TN

Phòng TN phải đảm bảo nhà xưởng với điều kiện về không gian cùng các tiện nghi phù hợp khác theo quy định [8] Mỗi loại vật liệu phải được thực hiện TN trên một hệ thống máy TN chuyên dùng Hoạt động của thiết bị TN phải trong thời hạn kiểm định

do cơ quan có chuyên môn phù hợp đối với loại thiết bị đó chứng nhận

Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp số lượng máy móc thí nghiệm trang bị cho phòng TN không phù hợp với số phép thử được phép thực hiện có ghi trong danh sách

được công nhận Sở dĩ như vậy là vì : Trong quá trình hoạt động, thiết bị có thể hư hỏng mà phòng TN chưa kịp mua sắm thay thế Cũng có thể máy móc đ: quá cũ, kết quả kiểm định phát hiện thấy không đủ điều kiện vận hành bình thường, không đảm bảo độ chuẩn xác theo yêu cầu TN nên không thể tiếp tục cấp phép hoạt động v.v

3 Điều kiện về năng lực chuyên gia thực hiện TN

Phòng TN có thể đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về điều kiện cơ sở vật chất như nêu trên, nhưng kết quả TN nhận được có đạt độ chuẩn xác, độ tin cậy hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của chuyên gia thực hiện TN Trong đó, bao gồm trình

độ chuyên môn, kinh nghiệm thực hiện của đội ngũ TN viên, của chuyên gia xử lý số liệu, chuyên gia đánh giá và kết luận đối với kết quả TN Tóm lại, năng lực của một phòng TN phải được đánh giá thông qua sự hoạt động mang tính chuyên nghiệp của phòng TN đó

II.3 - Một vài tình huống cần xử lý khi giám sát TN kiểm tra chất lượng vật liệu

Trong phạm vi chuyên đề, không có điều kiện đi sâu về nội dung từng phép thử đối với TN kiểm tra chất lượng vật liệu ở đây chỉ nêu một vài tình huống thường gặp, cần lưu ý khi thực hiện giám sát TN đối với một số loại vật liệu sử dụng phổ biến trong thực tế thi công công trình [16-17] :

 Đối với vật liệu bê tông:

 Trường hợp nhà thầu không chuẩn bị kịp khuôn đúc để gia công mẫu thử-

(Kể cả mẫu đúc vật liệu vữa các loại) Đó là trường hợp vì lý do nào đó, khi kiểm tra

Trang 12

39

công tác chuẩn bị trước khi thi công đúc sản phẩm, tư vấn giám sát phát hiện đơn vị thi công không có khuôn chuẩn lập phương để đúc mẫu TN Khi đó, việc thi công vẫn phải tiến hành theo tiến độ, ta không thể vì lý do không có khuôn mà bỏ qua việc đúc mẫu TN Có thể khắc phục bằng cách cho gia công khuôn bằng gỗ Khuôn này dù có sai số so với khuôn chuẩn bằng thép (về kích thước, độ vuông góc, độ phẳng nhẵn v.v.), nhưng phòng TN có thể thực hiện các phép xử lý và hiệu chỉnh để đưa kết quả

TN về tương ứng đối với mẫu chuẩn Tất nhiên là kết quả TN sẽ có sai số nhất định

Nếu chỉ vì không có khuôn chuẩn mà bỏ qua việc đúc mẫu TN kèm theo cấu kiện thi công, thì sau đó hậu quả để lại sẽ trở nên phức tạp Trước hết là không thể tiến hành nghiệm thu sản phẩm khi thiếu chứng chỉ xác nhận chất lượng vật liệu Khi đó, bắt buộc phải thực hiện một trong các phương pháp sau : khoan lấy mẫu trực tiếp trên kết cấu hoặc áp dụng phương pháp TN không phá hoại (phương pháp bật nảy, phương pháp siêu âm hoặc áp dụng kết hợp cả hai [31-34] Tuy nhiên, việc khoan lấy mẫu trên kết cấu không phải bao giờ cũng cho phép thực hiện Còn việc đánh giá chất lượng bê tông bằng phương pháp TN không phá hoại sẽ cho kết quả với độ chính xác và độ tin cậy thấp Đồng thời, chúng gây phát sinh chi phí tốn kém, mất nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng đến tiến độ thi công và nghiệm thu công trình

 Việc đánh dấu và ghi tên nhTn trên mẫu thử- Đây là việc làm bình thường,

nhưng nếu trong cùng một thời gian, trên công trình đồng thời thi công với nhiều chủng loại bê tông có mác khác nhau mà để xảy ra sơ xuất, có thể xảy ra việc ghi tên nh:n không rõ ràng hoặc đề lẫn tên nh:n trên mẫu thử Khi đó sẽ sinh ra sự nghi ngờ :

Bê tông của cấu kiệm mác cao hơn lại không đảm bảo yêu cầu thiết kế, còn bê tông của cấu kiện mác thấp lại vượt yêu cầu Để giải tỏa sự nghi ngờ này, lại phải tiến hành

kiểm định lại, gây nên những phát sinh không đáng có

 Đối với vật liệu thép:

• Trong mọi trường hợp, phải loại trừ ảnh hưởng của nhiệt đối với mẫu thử khi

gia công - Ta biết rằng, khi kim loại bị tác dụng của nhiệt độ cao, các tính chất cơ lý của chúng đều bị thay đổi Vì vậy, đối với những cốt thép thanh, khi cắt chú ý để chừa đủ độ dài an toàn theo quy định của tiêu chuẩn [20]; Đối với vật liệu thép tấm, thép hình các loại, việc lấy phôi phải thực hiện cắt bằng các phương tiện cơ khi hoặc nếu cắt bằng hàn, thì kích thước phôi phải đảm bảo đủ cho gia công mẫu TN trong phạm vi vật liệu ngoài vùng ảnh hưởng của nhiệt

khi cắt

• Phôi mẫu và mẫu thử phải lấy và gia công từ sản phẩm thép nguyên dạng

Nhiều trường hợp, người lấy mẫu do không hiểu rõ hoặc với mục đích tiết kiệm, cho rằng mẫu lấy ở đâu cũng được, miễn là cùng loại vật liệu sử dụng thi công Vì vậy họ lấy phôi hay gia công mẫu từ những doạn thép mẩu, đầu thừa khi chế tạo kết cấu v.v Rất có thể, vật liệu thải loại đó do cắt xén, do kê đệm và vận chuyển, đ: qua những tác động của va đập, tác động của nhiệt hàn làm cho

www.giaxaydung.vn

Trang 13

chúng biến dạng, cong vênh Tính chất cơ lý của những phần vật liệu này đ: ít nhiều bị biến đổi Chính vì vậy, phôi mẫu và mẫu thử phải lấy và gia công từ

sản phẩm thép nguyên dạng

 Đối với các loại vật liệu khác sử dụng trong thi công nói chung :

• Trường hợp công trình thi công kéo dài, trong khi vật liệu nhập về công trình

theo nhiều đợt khác nhau Không thể lấy kết quả TN kiểm tra chất lượng đối với vật liệu của một đợt trung gian nào đó làm đại diện cho kết quả kiểm tra chất lượng của vật liệu cùng loại thuộc tất cả các đợt sử dụng còn lại Ta biết rằng, trên thị trường, cùng một chủng loại vật liệu do một đơn vị cung cấp, nhưng chúng được xuất ra từ nhiều nguồn, từ nhiều cơ sở sản xuất khác nhau, thậm chí

từ nhiều nước khác nhau Chúng có thể được gia công theo những quy trình - công nghệ sản xuất riêng của từng h:ng, hoặc qua vận chuyển, việc bảo quản trong những điều kiện không giống nhau làm ảnh hưởng đến chất lượng của chúng không theo cùng một quy luật nhất định Tư vấn giám sát cần theo dõi và lưu ý nhắc nhở đơn vị thi công không thể né tránh hay bỏ qua việc thực hiện TN

kiểm tra lặp lại đối với vật liệu trong trường hợp này

• Đối với những loại vật liệu mà chất lượng của nó dễ bị ảnh hưởng theo thời gian vận chuyển trên đường, thời gian lưu ở kho b:i, chất lượng dễ bị suy giảm bởi môi trường và thời gian bảo quản kéo dài Chúng cũng cần thực hiện TN kiểm tra lặp lại trước mỗi đợt thi công nhằm xác định chất lượng thực tế của vật liệu

đó trước khi quyết định sử dụng chúng vào công trình

 Khi gặp trường hợp do nhà thầu không tìm được trên thị trường loại vật liệu

đúng như quy cách chỉ định của thiết kế Nếu được thông báo về vấn đề này, tư vấn giám sát thường là người phối hợp với đơn vị thiết kế để họ có ý kiến quyết

định việc thay đổi chủng loại vật liệu thi công bằng văn bản cụ thể Tránh việc thay thế vật liệu một cách tùy tiện Việc để xảy ra khiếm khuyết hay sự cố vì việc nhà thầu không sử dụng đúng chủng loại vật liệu, tư vấn giám sát cũng là

người gánh chịu trách nhiệm trực tiếp

 Mọi TN đều phải thực hiện theo quy trình chỉ dẫn của tiêu chuẩn hiện hành Trường hợp Việt nam không có tiêu chuẩn TN áp dụng cho loại vật liệu đó thì tư vấn giám sát phối hợp với nhà thầu đề xuất kiến nghị với cơ quan quản lý tiêu chuẩn TN hoặc đơn vị tư vấn thiết kế chỉ định áp dụng tiêu chuẩn phù hợp của

nước ngoài

Trang 14

III - giám sát Thí nghiệm kiểm tra chất lượng

cấu kiện sử dụng trong thi công

Trong quá trình thi công một công trình, chúng ta không chỉ sử dụng các loại vật liệu rời như xi măng, cát, sỏi, đá, sắt thép, gỗ, gạch v.v mà nhiều trường hợp, còn sử dụng các loại sản phẩm ở dạng cấu kiện, bán thành phẩm hay thành phẩm Chẳng hạn,

có thể nêu tên một số dạng cấu kiện được sử dụng phổ biến như: Cọc móng BTCT, bao gồm các loại cọc ép, cọc đóng khác về tiết diện, chiều dài; Cấu kiện móng cốc đúc sẵn, cột, dầm, Panen, tấm đan, tấm tường, ống cống các loại v.v

Những cấu kiện các loại kể trên được nhà thầu đưa về sử dụng vào thi công công trình từ rất nhiều nguồn cung cấp :

 Do một đơn vị của nhà thầu tự gia công chế tạo tại sân b:i bên công trường thi công Đối với trường hợp này, trong quá trình sản xuất cấu kiện, nếu dưới sự quản lý của nhà thầu thì công việc giám sát của kỹ sư tư vấn cũng tương tư như giám sát đối

với các sản phẩm thi công trực tiếp tại công trình

 Cấu kiện nhập về công trường do một đơn vị sản xuất chuyên nghiệp cung cấp theo đặt hàng của nhà thầu Khi chế tạo cấu kiện tại nhà máy hay sân b:i, thường không có sự theo dõi giám sát của bên đặt hàng Sản phẩm nhập về công trình không thể coi là đảm bảo chất lượng phù hợp yêu cầu thiết kế Trước khi sử dụng thi công

lắp dựng vào công trình, chúng đều phải qua TN kiểm tra lại chất lượng

 Trường hợp sản phẩm do đơn vị làm dịch vụ cung ứng cung cấp đến hiện trường Khi đó, dù kèm theo cấu kiện có đầy đủ các chứng chỉ chất lượng, nhưng về nguyên tắc không thể coi chúng là hợp thức, như một chứng chỉ đảm bảo về chất

www.giaxaydung.vn

Trang 15

lượng của sản phẩm Thực tế là nhà sản xuất không thể kiểm tra chất lượng đầy đủ cho tất cả các đợt hay các lô sản phẩm xuất kho Hơn nữa, họ sản xuất theo yêu cầu của nhiều khách hàng với mụcu đích sử dụng cũng không giống nhau Có thể những sản phẩm đó là cùng loại về quy cách, hình dáng và kích thước, nhưng mỗi đơn đặt hàng lại có thể theo yêu cầu khác nhau về cấu tạo và chất lượng bên trong theo thiết kế riêng của họ Chính vì vậy, ta chỉ có thể kiểm tra về hình dạng, kích thước và chất lượng bên ngoài, còn hiện trạng cấu tạo và chất lượng bên trong là điều quan trọng thì lại chưa rõ Chúng phải được đơn vị có chức năng phù hợp là phòng TN chuyên ngành

TN hay KĐ thực hiện Khi đó, kết quả TN hay báo cáo kết quả KĐ nhận được mới coi

là căn cứ để quyết định đưa cấu kiện vào sử dụng thi công Nó cũng đồng thời là hồ sơ

kỹ thuật xác nhận chất lượng phục vụ cho nghiệm thu công trình sau này

Tuỳ thuộc vào mục tiêu kiểm tra, chất lượng cấu kiện có thể được xác định bằng một trong 2 phương pháp TN cơ bản sau:

• Phương pháp TN cấu kiện bằng thử tải

• Phương pháp TN không phá hoại

Dưới đây sẽ giới thiệu một số nội dung tổng quan về mỗi phương pháp TN để tiện việc theo dõi và tiến hành giám sát ở những khâu cần thiết

III.1 - Giám sát TN thử tải cấu kiện [37 - 38]

Việc tiến hành TN cấu kiện bằng thử tải được đặt ra khi mục tiêu TN chủ yếu là

kiểm tra độ bền của sản phẩm Chúng bao gồm việc xác định sự làm việc, khả năng chịu lực của cấu kiện Dưới tác dụng của tải trọng, cho phép đánh giá mức độ an toàn trong sử dụng

Phụ thuộc yêu cầu cụ thể của mỗi loại cấu kiện, TN có thể tiến hành với tải trọng thiết kế hoặc tải trọng sử dụng với tác dụng là tĩnh hay động Tùy thuộc vào điều kiện

cụ thể về kích thước cấu kiện, đặc điểm tải trọng cũng như yêu cầu về phương tiện TN, việc thử tải cho phép thực hiện ở các môi trường sau :

• TN tiến hành trong phòng TN - thực hiện đối với những cấu kiện có kích thước không lớn lắm, dẽ dàng vận chuyển đến phòng TN Đây là nơi có trang thiết bị

và phương tiện đầy đủ phục vụ cho các TN chuyên dùng nên việc tiến hành chúng rất thuận tiện và cho kết quả với độ chính xác cùng độ tin cậy cao

• TN tiến hành tại sân b:i ngoài hiện trường - thực hiện đối với những sản phẩm

có kích thước tương đối lớn, khó khăn hoặc không có phương tiện vận chuyển

về phòng TN Nếu xét thấy điều kiện hiện trường vẫn dáp ứng nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra thì có thể bố trí TN tại sân b:i

• TN tiến hành tại công trình, tức là cấu kiện được lắp đặt vào vị trí làm việc của

nó trên công trình - thường thực hiện đối với những cấu kiện có kích thước lớn

Trang 16

43

hoặc việc bố trí TN ở trong phòng TN cũng như trên sân b:i là không cho phép, hoặc không đáp ứng điều kiện theo yêu cầu Việc TN thử tải cấu kiện tiến hành tại vị trí làm việc trên công trình lại có những ưu việt : Sơ đồ làm việc và điều kiện liên kết là sát thực; Kết quả TN phản ánh trung thực sự làm việc và khả năng chịu lực của cấu kiện tại vị trí lắp đặt trên công trình

Tuy nhiên trong trường hợp này quy mô TN thử tải thường là phức tạp hơn; đòi hỏi

có những yêu cầu riêng, ngoài an toàn đối với con người, trang thiết bị TN và bản thân cấu kiện, còn phải đảm bảo an toàn chung cho công trình Chi phí cho TN thường tốn kém hơn nhiều so với các trường hợp TN khác

III.1.1 - Nội dung khảo sát trong TN

Trong TN thử tải, nội dung khảo sát thường bao gồm một số những tính chất cơ bản sau đây :

• Kiểm tra khả năng chịu lực cấu kiện - Kết quả TN sẽ đánh giá xem sản phẩm khi làm việc thực tế có đáp ứng được các giá trị của lực tác dụng theo yêu cầu thiết kế hay không

• Xác định độ võng cấu kiện - Biểu hiện qua chuyển vị của nó khi làm việc Với tác dụng của tải trọng thiết kế (hay sử dụng), độ võng tối đa xảy ra trên cấu kiện không được vượt quá giới hạn cho phép theo quy định thiết kế hay tiêu chuẩn áp dụng

• Kiểm tra khả năng chống nứt của cấu kiện - Tùy thuộc vào chủng loại cấu kiện và nội dung sử dụng, dưới tác dụng của tải trọng TN, cấu kiện không được phép xuất hiện vết nứt hoặc nếu bị nứt thì độ mở rộng của nó không được vượt quá giới hạn cho phép theo quy định của thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng liên quan

Ngoài ra, trong TN cấu kiện còn phải thoả m:n một số chỉ tiêu khác nữa, phụ thuộc vào đặc điểm và yêu cầu làm việc của nó trong công trình

Căn cứ vào nội dung khảo sát kể trên, tư vấn giám sát cần nghiên cứu trước hồ sơ thiết kế TN, thuyết minh các bước tiến hành do phòng TN cung cấp, xem có phản ánh

đầy đủ những yêu cầu mà TN đặt ra hay không

Trước hết, ta h:y điểm qua những nội dung chính thể hiện trong hồ sơ thiết kế TN cấu kiện Chúng bao gồm:

• Sơ đồ TN: Bố trí gối tựa, các liên kết

• Sơ đồ bố trí tải trọng tác dụng và giá trị của lực gia tải tương ứng

• Sơ đồ bố trí thiết bị đo trong TN - Phải thỏa m:n điều kiện cần và đủ để xác

định các đại lượng khảo sát

www.giaxaydung.vn

Trang 17

• Bố trí an toàn trong TN - Đảm bảo yêu cầu an toàn cho người, thiết bị và bản thân kết cấu công trình (Nếu thực hiện TN tại hiện trường)

• Thuyết minh quy trình tiến hành TN, bao gồm: Sự phân chia tải trọng TN thành các cấp; Trình tự gia tải và hạ tải với những nội dung và phương pháp theo dõi, ghi nhận số liệu và thông tin khảo sát trong quá trình tăng và hạ tải

TN Trong thuyết minh cũng cần nêu rõ thời gian dừng sau mỗi cấp gia tải là bao nhiêu ? trong thời gian đó, cần theo dõi những gì ? những biểu hiện nào trên cấu kiện có thể xuất hiện cần ghi nhận trên thiết bị đo, trên sơ đồ hình vẽ hay bằng ảnh chụp, bằng các nhận xét, ghi chú v.v.; khi nào được coi là kết thúc cấp gia tải để chuyển sang cấp tiếp theo ? Việc theo dõi ở cấp tải cuối cùng và kết thúc TN như thế nào v.v

• Số lượng cấu kiện TN xác định theo quy định của tiêu chuẩn áp dụng (nếu có) hoặc theo chỉ định cụ thể của thiết kế

Tư vấn giám sát cần nắm được những nội dung trên để khi triển khai TN, tiến hành giám sát xem việc thực hiện có theo đúng những nội dung đề cập đến trong thiết kế

và thuyết minh quy trình TN hay không Báo cáo kết quả TN là căn cứ xác nhận chất lượng cấu kiện trước khi đưa chúng vào sử dụng

III.2 - Phương pháp TN không phá hoại.

Nói đến phương pháp TN không phá hoại (TNKPH) người ta đề cập đến phương pháp khảo sát một số đặc tính nào đó liên quan đến chất lượng cấu kiện mà sau khi kết thúc TN, cấu kiện vẫn còn nguyên vẹn Phương pháp này có khá nhiều ưu việt như:

 Cho phép khai thác thông tin về chất lượng sản phẩm không đòi hỏi phải có mẫu thử vật liệu;

 Sau khi kết thúc TN, sản phẩm kiểm tra vẫn ở trạng thái nguyên vẹn và đem chúng sử dụng bình thường;

 Cho phép thu thập thông tin không phải chỉ một lần, mà khi cần thiết có thể tiến hành lặp lại với số lần và vào thời gian tùy ý;

 Cho phép xác định một số đặc tính về chất lượng cấu kiện mà nhiều khi phương pháp TN bằng cách chất tải trực tiếp không thể phát hiện được

Tuy vậy, bản thân phương pháp TNKPH tồn tại một số hạn chế ta cần biết để việc áp dụng cho phù hợp :

• Đây là phương pháp xây dựng trên cơ sở mối quan hệ thực nghiệm Vì vậy, trước khi tiến hành TN, quan hệ đó phải được lập sẵn

• Sai số TN là tương đối cao bởi kết quả TN nhận được bằng con đường gián tiếp (thông qua mối quan hệ thực nghiệm)

Trang 18

45

• Kết quả TN phụ thuộc khá nhiều vào kinh nghiệm của chuyên gia thực hiện TN Trong thực tế sản xuất, người ta áp dụng nhiều phương pháp TNKPH khác nhau Dưới đây sẽ đề cập đến 3 phương pháp đang được áp dụng rất phổ biến và đ: có trong tiêu chuẩn TN hiện hành Kỹ sư tư vấn nên làm quen về nguyên lý áp dụng để tiện việc giám sát khi có nhu cầu :

Trong nội dung giới thiệu về những phương pháp TNKPH kể trên, chủ yếu là hỗ trợ

kỹ sư tư vấn nắm được nguyên lý và nội dung cơ bản của phương pháp để có thể dễ dàng theo dõi và giám sát trong quá trình TN, xem xét kết quả cùng những đánh giá, kết luận trình bày trong báo cáo TN

III.2.1 - Phương pháp điện từ

Phương pháp này cho phép xác định một số thông tin cơ bản sau đây về hiện trạng cấu tạo cốt thép bên trong sản phẩm BTCT ;

 Kích thước chiều dày lớp bê tông bảo vệ (a) cốt thép ;

 Vị trí, số lượng thanh cốt thép (n) bố trí trong tiết diện cấu kiện (Thường là tại

tiết diện chịu lực điển hình của cấu kiện)

 Kích thước đường kính (Φ) của thanh cốt thép bố trí trong cấu kiện kiểm tra Đây là phương pháp dựa trên nguyên lý cảm ứng điện từ Khi đầu dò của thiết bị di chuyển trên bề mặt cấu kiện thì dòng điện cảm ứng trong cuộn dây dẫn bên trong thiết bị sẽ biến đổi phụ thuộc vào vị trí tương đối giữa đầu dò đối với trục của thanh cốt thép Những thông tin về cấu tạo cốt thép kể trên sẽ được xác định qua tín hiệu hiển thị bằng số trên màn hình, kết hợp với tín hiệu âm thanh

Trong 3 thông tin về cốt thép nêu trên, 2 thông tin đầu nhận được là khá chuẩn xác riêng thông tin cuối cùng chỉ là gần đúng, bởi vì : Thiết bị dò cốt thép không phân biệt

được : cốt tròn trơn và cốt có gờ; giữa cốt thanh và cốt cứng (tiết diện hình chữ L-U-I);

2 thanh đặt quá gần nhau, thông tin nhận được chỉ là 1 thanh cốt thép Vì vậy, những thông tin về đường kính chỉ là tham khảo và giúp cho việc phán đoán, còn muốn có số liệu cụ thể về trị số đường kính Φ, cần phải kết hợp với việc đục tẩy cục bộ lớp BT bảo

vệ để dùng thước kẹp đo trực tiếp

www.giaxaydung.vn

Trang 19

Với cùng một nguyên lý hoạt động kể trên, tùy thuộc vào h:ng và nước sản xuất, tên gọi của thiết bị điện từ có thể khác nhau Hiện nay, các phòng TN thường được trang bị máy dò cốt thép mang một số tên quen thuộc là: PROFOMETER; DIAMETER ; COVERMASTER - Xem hình II.1

Kết quả TN bằng phương pháp điện từ, cho phép xác định khá rõ nét về sự bố trí cốt thép trong cấu kiện kiểm tra Căn cứ vào đó tiến hành đánh giá hiện trạng cấu tạo cốt thép bên trong tiết diện cấu kiện, mức độ chuẩn xác của thi công so với quy định trên bản vẽ thiết kế Tuy nhiên, cần lưu ý là với kết quả TN hiển thị bằng số trên màn hình, không cho phân biệt rõ ràng một số trường hợp sau:

 Không phân biệt được số thanh cốt thép và đường kính của chúng ở những vùng

bố trí dày đặc, vùng có nhiều mối nối, vùng bố trí cốt ngang dọc chồng chéo nhau và đặt thành nhiều lớp, nơi có đặt xen lẫn cốt thanh tròn với các thanh cốt cứng v.v

 Thông tin về cốt thép sẽ không xác định rõ ràng và chuẩn xác khi lớp bêtông bảo

về quá dày, vượt quá giới hạn hoạt động của thiết bị

Phương pháp điện từ được áp dụng rất phổ biến và phục vụ khá hiệu quả trong kiểm

định công trình, nhất là đối với những trường hợp cần làm rõ cấu tạo cốt thép trong sản phẩm có sự nghi ngờ về cấu tạo và bố trí cố thép thực tế; khi cần xử lý sự cố do thi công đặt sai lệch vị trí gây nên, khi cần cung cấp thông tin về cốt thép để đưa vào tính toán kiểm tra khả năng chịu lực thực tế của kết cấu v.v

Kết quả ứng xử với những tình huống nêu trên phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của chuyên gia TN, vào tính nhạy cảm về mặt kết cấu của người phân tích, xử lý và

đánh giá kết quả TN

III.2.2 - Phương pháp bật nảy

Phương pháp TN này hoạt động dựa trên nguyên lý của mối quan hệ thực nghiệm

giữa cường độ của vật liệu và độ cứng bề mặt cấu kiện : R - n Dựa trên cơ sở đó, nếu

ta xác định được độ cứng của vật liệu trên bề mặt cấu kiện thì thông qua trị số bật nảy

Hình III.1 : Thiết bị điện từ dò cốt thép a) Máy dò cốt thép COVERMASTER–CM 52 b) Máy dò cốt thép PROFOMETER 4

Trang 20

Hiện nay hầu hết các phòng TN chuyên ngành đều có trang bị loại thiết bị “Súng bật nảy ” Thực chất, “Súng bật nảy” chỉ là tên gọi theo thói quen, chứ hoạt động của nó theo nguyên lý tương tự như một chiếc búa (Hammer) va đập lên bề mặt bê tông cấu

kiện Khi TN, chiếc búa bên trong thiết bị thực hiện cú va đập với năng lượng xác

định lên bề mặt cấu kiện Tùy thuộc vào độ cứng bê tông, hình thành phản lực làm cho thanh đầu súng cùng với quả búa bị bật nảy trở lại Khoảng chuyển động bật nảy này của búa được ghi lại nhờ kim chỉ thị dừng ở vị trí trên thước - tương ứng với độ nảy tối đa của búa - Xem ảnh chụp thiết bị hình III.2 - Thiết bị mang nh:n hiệu

SCHMIDT ( CONCRETE TEST HAMMER - búa thử bêtông) Trên thị trường đều có

bán loại thiết bị này do một số nước như sản xuất như: Thuỵ sỹ, Trung Quốc, Nhật v.v Sự khác nhau chủ yếu là thể hiện ở bộ phận chỉ thị: Số bật nảy chỉ thị qua kim chỉ trên thước có chia vạch - loại này là thông dụng nhất; Số bật nảy hiển thị trên màn hình hay qua chỉ thị của vị trí kim trên mặt tròn của đồng hồ gắn trên thiết bị - hai loại sau, việc sử dụng và chỉnh sửa có phức tạp hơn nên ít phòng TN trang bị

Để tiện cho việc xác định R theo độ bật nảy n, trong phòng TN người ta dựng sẵn các đường cong thể hiện quan hệ thực nghiệm n - R qua kết quả TN trên các tổ mẫu

Hình III.2 :

Súng bật nảy SCHMIDT : a) - Loại chỉ thi vạch ; b) - Loại chỉ thị qua màn hiện số

www.giaxaydung.vn

Trang 21

bêtông theo hướng dẫn của tiêu chuẩn [31] với các phương bắn khác nhau - Xem hình III.3 Trong đó, đường cong 1 với chiều mũi tên → theo phương ngang; đường cong 2

với chiều mũi tên ↓ theo phương từ trên xuống và đường cong 3 với chiều mũi tên ↑

theo phương từ dưới lên Dựa trên đường công 1, 2, 3 ta còn có thể thiết lập biểu thức

toán học tương ứng R 1,2,3 = f(n) và tiến hành lập sẵn các bảng tra với 2 cột liền kề là n

và R Như vậy, khi tiến hành TN trên cấu kiện, cứ mỗi trị số bật nảy n i ta tra ngay ra

được giá trị cường độ của vật liêu tương ứng là R i Vì vậy, kèm theo thiết bị bật nảy bao giờ cũng phải có chứng chỉ cho phép sử dụng trong thời hạn nhất định do cơ quan

• Độ ổn định của cấu kiện v.v

Việc đánh giá chất lượng bê tông cấu kiện có thể bằng phương pháp bật nảy sử dụng độc lập, cũng có thể sử dụng kết hợp với phương pháp Siêu âm bê tông

III.2.3 - Phương pháp siêu âm

Ta biết rằng bản chất của sóng Siêu âm cũng tương tự như sóng ánh sáng - Đó là một dạng của dao động cơ học Khi xung Siêu âm truyền qua bất kỳ một môi trường nào, nó cũng có những biểu hiện như : phản xạ, khúc xạ và tiêu hao năng lượng Môi trường vật chất mà nó truyền qua càng chắc đặc và độ đồng nhất càng cao thì sẽ cho

Biểu đồ quan hệ thực nghiệm n -

R thể hiện trên đường cong :

1-TN bắn theo phương ngang

2-TN bắn theo phương trên xuống

3-TN bắn theo phương dưới lên

Trang 22

49

xung Siêu âm đạt được vận tốc V ( Km/s hay m/s ) càng lớn và ngược lại Trong kỹ

thuật, ứng dụng của Siêu âm rất rộng r:i, đặc biệt là trong y học, trong các ngành vật

lý công nghệ cao, trong hàng không, hàng hải, chế tạo máy v.v

Riêng trong TN công trình, phương pháp Siêu âm được áp dụng phổ biến trong kiểm tra chất lượng bêtông, phát hiện một số khuyết tật trong kết cấu bêtông và kim loại Những khuyết tật như độ rỗng chứa bọt khí, chứa hơi nước hay b:o hòa nước, dị vật, vết nứt v.v sẽ gây nên độ suy giảm nhất định đối với năng lượng xung, bởi hiện tượng phản xạ, khúc xạ xảy ra liên tục trên đường truyền, làm cho vận tốc xung siêu

âm bị chậm lại Nếu phương pháp bật nảy chỉ cho đánh giá chất lượng vật liệu thông qua độ cứng bề mặt ngoài của sản phẩm thì với phương pháp Siêu âm, cho phép đánh giá chất lượng và độ đồng chất của vật liệu bên trong cấu kiện Một số điểm giới thiệu dưới đây sẽ giúp tư vấn giám sát nắm được những nội dung cơ bản để dễ dàng kiểm tra trong quá trình giám sát TN Thực chất của phép đo trong phương pháp không phải là vận tốc V, mà là thời gian truyền xung t Theo giá trị độ dài đường truyền là S (mm), và thời gian t đo bằng micro giây (às) ta dễ dàng xác định giá trị vận tốc xung

V (km/s hay m/s)

Phương pháp Siêu âm bê tông

Bằng phương pháp Siêu âm bêtông, cho phép xác định được một số đặc tính sau

đây của cấu kiện:

• Cường độ của vật liệu bêtông R (kg/cm 2 )

• Độ đồng nhất của bêtông trong cấu kiện

• Kiểm tra khuyết tật trong vật liệu sản phẩm, bao gồm : Độ sâu vết nứt, vị trí và

độ lớn dị vật nằm bên trong bêtông cấu kiện

Vận tốc siêu âm truyền qua môi trường vật liệu bêtông thường trong khoảng V =

3500 m/s 4500 m/s Thiết bị Siêu âm bêtông hiện đang sử dụng phổ biến ở nước ta

mang tên: PUNDIT ( PORTABL UNTRA SONIC non - destructiv DIGITAL INDICATNg )

- Xem hình III.4

Hình III.4 : Thiết bị Siêu âm bêtông a) - Máy SÂ bêtông PUNDIT ; b)- Đầu dò c) - Cáp nối máy và đầu dò; d)- Thanh chuẩn

Trang 23

Khi tiến hành TN, tùy thuộc vào kích thước, hình dáng, vị trí, tình trạng cấu kiện và khả năng tiếp cận của đầu dò, ta có thể thực hiện một trong 3 phép đo sau - Xem sơ

đồ hình III.5:

+ Phép đo xuyên - Trường hợp trục của hai đầu dò bố trí trên cùng một đường

thẳng, khi đầu dò có thể tiếp cận được trên hai mặt đối diện của cấu kiện (Cột, dầm, xà )

+ Phép đo góc - Trường hợp trục của hai đầu dò bố trí vuông góc với nhau, khi đầu

dò chỉ có thể tiếp cận bố trí trên hai mặt vuông góc kề nhau của cấu kiện (chẳng hạn cấu kiện cột ở vị trí góc phòng, dầm bị tường xây chèn che khuất, chỉ còn lộ 2 mặt kề nhau của cấu kiện)

+ Phép đo mặt - Trường hợp trục của hai đầu dò chỉ có thể bố trí trên cùng một mặt

phẳng của cấu kiện kiểm tra (Cột bị tường xây chèn áp sát 2 mặt đối diện ; dầm nằm hoàn toàn trong mặt phẳng của tường xây chèn ; bản sàn chỉ cho phép tiếp cận bố trí

đầu dò ở mặt phía bên trên hoặc bên dưới cấu kiện)

TCXD 225 : 1998 có chỉ dẫn việc xác định vận tốc xung ở các phép đo gián tiếp (đo góc và đo mặt) cũng như mối quan hệ giữa chúng với vận tốc xung khi đo xuyên

Trang 24

51

(phép đo trực tiếp) là chưa rõ ràng Trong đó nêu chung chung là: Trị số vận tốc xung thực hiện khi đo gián tiếp thường thấp hơn so với khi đo trực tiếp từ 5% đến 20% (Mục 6.4 trong TC)

Điều này gây khó khăn và không rõ ràng cho người áp dụng khi chuyển đổi vận tốc xung từ phép đo gián tiếp về vận tốc xung theo phép đo trực tiếp tương ứng

Kết quả nghiên cứu của Phòng TN và KĐ công trình LAS-XD125 thuộc trường ĐH Xây dựng cho giá trị về độ suy giảm vận tốc xung nêu trên không phải từ đến , mà

có sự phân biệt khá rõ ràng : với hệ số kg = 0,95 - đối với vận tốc góc và km = 0,80 -

đối với vận tốc mặt áp dụng vào các công thức tính vận tốc xung Siêu âm quy đổi về vận tốc đo xuyên, ta có :

 Theo phép đo xuyên : V x =

x

x T

S g

(km/s) (Tức là đối với vận tốc góc, so với vận tốc đo xuyên bị suy giảm trung bình là 5%)

 Theo phép đo mặt : V m =

m

m T

S

V x =

m

m k

S

=

80 , 0

S m

(km/s) (Tức là đối với vận tốc mặt, so với vận tốc đo xuyên bị suy giảm trung bình là 20%) Khi tiến hành TN trên hiện trường, cũng có thể xác định hệ số điều chỉnh kg và kmbằng cách sau : Thực hiện đồng thời cả 3 phép đo trên cùng một vùng của cấu kiện

điển hình nào đó trên công trình, để có trị số vận tốc theo các phép đo tương ứng là V x

; V g và V m Hệ số điều chỉnh nhận được sẽ bằng:

k g =

x

g V

V

; k m =

x V

Khi đo siêu âm trên cấu kiện, tại mặt tiếp xúc giữa đầu dò và mặt bê tông bao giờ cũng được bôi một lớp mỡ công nghiệp Lớp mỡ này làm nhiệm vụ khỏa lấp tất cả những khuyết tật như độ gồ ghề, lồi lõm, vết rỗ hay nứt cục bộ, độ không bằng phẳng giữa đầu dò và mặt bê tông v.v Nó tạo môi trường liên tục, thuận lợi cho siêu âm truyền qua, không gây ảnh hưởng đến thời gian truyền siêu âm qua môi trường bê tông trong cấu kiện kiểm tra

www.giaxaydung.vn

Trang 25

Phương pháp Siêu âm kim loại

Nhiều sản phẩm bằng kết cấu kim loại nói chung và kết cấu thép nói riêng, khi đưa

về công trình thường ở dạng bán thành phẩm hay dạng cấu kiện riêng lẻ Trước và sau khi khuyếch đại chúng và tiến hành lắp dựng vào vị trí làm việc trên công trình, một trong những nội dung quyết định trong việc đảm bảo chất lượng và an toàn chịu lực của công trình cần đặc biệt lưu ý kiểm tra, đó là chất lượng các mối hàn Chỉ cần một chi tiết hàn nào đó trên kết cấu chịu lực bị giảm yếu bởi khuyết tật, sẽ là nguy cơ tiềm

ẩn gây mất an toàn, có khi dẫn đến đổ xập, sự cố phá hủy công trình (như mối hàn nối của thanh cánh hạ làm việc chịu kéo của dàn vì kèo, của hệ dàn không gian nhịp lớn, của thanh biên trên kết cấu tháp trụ v.v.) Việc kiểm tra chúng bằng phương pháp Siêu

âm bao giờ cũng phải thực hiện ngay khi kết cấu còn đang ở trạng thái đặt trên mặt bằng sân b:i Chỉ trong trường hợp công việc khuyếch đại và liên kết bằng hàn thực hiện tại vị trí làm việc của kết cấu trên công trình thì công tác kiểm tra chất lượng mối hàn mới tiến hành trực tiếp trên kết cấu ở vị trí lắp dựng Khi đó, công tác kiểm tra Siêu âm sẽ phức tạp hơn nhiều vì phải bố trí dàn dáo an toàn, sàn công tác và thực hiện các thao tác TN ở trên cao, sẽ gây phát sịnh nhiều chi phí rất tốn kém (Chẳng hạn như đối với kết cấu dàn nhịp lớn, dàn mái không gian, kết cấu tháp trụ v.v.)

Bằng phương pháp Siêu âm, cho phép ta xác định được một số đặc tính sau đây của cấu kiện:

• Kiểm tra khuyết tật trong mối hàn

• Kiểm tra bề dầy của tiết diện thép của kết cấu hay chi tiết chịu lực

Thiết bị siêu âm thép: digital ultrasonic flAw detector

ad-3211a - Xem hình III.6

Loại thiết bị này sử dụng khá phổ biến trong điều kiện phòng TN, tại các xưởng sản xuất kết cấu kim loại cũng như trên hiện trường thi công

Hình III.6 : Thiết bị Siêu âm thép

digital ultrasonic flAw detector ad-3211a a)

c)

b)

Trang 26

S = V x (t/2) (mm) Căn cứ vào đó, với sự trợ giúp của bộ phận xử lý, ta xác định được vị trí khuyết tật hay kích thước chiều dày của chi tiết cấu kiện cần kiểm tra

Trong khi TN Siêu âm bê tông, việc đảm bảo tiếp xúc giữa đầu dò và bề mặt cấu kiện

là vật liệu mỡ công nghiệp, thì đối với TN Siêu âm kim loại, ta sử dụng vật liệu dầu bôi trơn thông thường

Phương pháp xung Siêu âm kiểm tra chất lượng bêtông cọc khoan nhồi

Trong thời kỳ từ năm 2005 về trước, Bộ Xây dựng cho phép áp dụng kiểm tra chất lương cọc khoan nhồi bằng phương pháp Siêu âm, thực hiện theo tiêu chuẩn của Mỹ : ASTM D 6760-02 Đến nay, theo tiêu chuẩn của Việt nam do Bộ Xây dựng mới ban hành : TCVN 358 : 2005 Cọc khoan nhồi - Phương pháp xung siêu âm xác định tính

đồng nhất của bê tông [44]

Thiết bị siêu âm kiểm tra chất lượng bêtông CKN cũng thực hiện theo nguyên lý giống như thiết bị Siêu âm sử dụng kiểm tra đối với bêtông cấu kiện thông thường khác như vừa giới thiệu ở trên Riêng môi trường tiếp xúc giữa đầu dò và bêtông CKN

là được thay bằng nước chữa đầy trong hai ống dẫn đặt sẵn trong cọc cùng với khi lắp dựng lồng cốt thép

Thiết bị TN mang tên: CROS HOL ANALYS – Viết tắt là CHA - Xem giới thiệu

trên hình III.7

Hình II.7 : Thiết bị Siêu âm kiểm tra chất lượng CKN 1- Máy phát Siêu âm

2- Màn hình

3- Cặp 2 đầu dò

4- Cáp dẫn cặp đầu dò nối với máy và bộ phận dòng dọc thá đầu dò lên xuống theo độ sâu tiết diện cọc kiểm tra

Trang 27

54

Máy Siêu âm CKN bao gồm một số bộ phận cơ bản là :

1 Khối máy chính phát xung siêu âm

2 Máy tính với màn hình hiển thị dữ liệu có nạp chương trình phần mềm xử lý kết quả TN và thể hiện kết quả với biểu đồ (dạng 2D hoặc 3D)

3 Bộ phận định vị tiết diện kiểm tra - tương ứng độ sâu của CKN

4 Đầu dò đường kính Φ 25 - 30 mm, dài l = 350 ữ 400 mm ; Tần số xung từ 20

đến 100 kHz

Khi thi công, tùy thuộc kích thước đường kính cọc, người ta lắp đặt sẵn các ống dẫn

đầu dò bằng thép (hoặc bằng nhựa chuyên dùng) đường kính D = 55 - 60 mm Chúng

bố trí theo sơ đồ như thể hiện trên hình III.8

Trước khi TN, các ống này được rửa sạch, đổ đầy nước và tiến hành thả dụng cụ kiểm tra xem trên toàn bộ chiều sâu ống dẫn có thông suốt cho cặp đầu dò chuyển

động lên xuống tự do trong đó hay không Đường truyền S chính là khoảng cách giữa tâm của 2 ống dẫn trong mỗi phép đo

Cần lưu ý là, bằng thiết bị siêu âm CKN chỉ cho phép kiểm tra tính đồng nhất của vật liệu bê tông bên trong lòng của lồng cốt thép Trên biểu đồ 3D có thể hiện sơ đồ lồng cốt thép là do chương trình phần mềm cung cấp khi cho đầu vào là các trị số đường kính, số lượng thanh, khoảng cách giữa chúng đối với cốt chủ, cốt đại v.v (Có người hiểu nhầm và cho rằng thiết bị siêu âm CKN còn có thể dò và phát hiện được bố trí cốt thép trong cọc là không đúng)

c)

Trang 28

www.giaxaydung.vn

Trang 29

IV - giám sát kiểm định xây dựng IV.1 - Khái niệm về kiểm định xây dựng

Về khái niệm kiểm định xây dựng, mặc dù trong một số văn bản hiện hành của Bộ xây dựng đ: đề cập đến, song nhân đây cũng cần một lần nữa xem xét và thống nhất lại nhằm đảm bảo việc thực hiện và giải quyết mục tiêu đặt ra trong kiểm định được

đầy đủ và nhất quán

IV.1.1- Khái niệm kiểm định theo văn bản hiện hành

Lâu nay, chúng ta đ: quen sử dụng khái niệm về kiểm định xây dựng nêu trong

“Quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng”, ban hành kèm theo các quyết

định số 17 /2000/QĐ-BXD và quyết định số 18/2003/QĐ-BXD [5] của Bộ trưởng Bộ xây dựng Trong đó, tại mục giải thích từ ngữ có viết:

“Kiểm định chất lượng thi công xây lắp là hoạt động kiểm tra, thử nghiệm, định

lượng một hay nhiều tính chất của sản phẩm hoặc công trình xây dựng, so sánh với quy định của thiết kế và tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng của tổ chức tư vấn” Theo như khái niệm nêu trên, ta thấy rõ nội dung kiểm định xây dựng chỉ bao gồm

2 giai đoạn thực hiện cơ bản Đó là:

Giai đoạn I : Thu thập thông tin về đối tượng kiểm định, bao gồm việc : kiểm tra,

thử nghiệm, định lượng một hay nhiều tính chất của sản phẩm hoặc công trình xây dựng

Giai đoạn II : Xử lý thông tin khảo sát, bao gồm việc : So sánh (số liệu và thông tin nhận được trong kiểm định) với quy định của thiết kế và tiêu chuẩn xây dựng

được áp dụng

Trong cuốn “Từ điển Bách khoa toàn thư Việt nam”, khái niệm về kiểm định nêu ở cụm từ ‘kiểm định cầu cống” cũng giải thích:

Trang 30

57

“Quá trình kiểm định cầu cống bao gồm các việc chính là nghiên cứu hồ sơ lưu trữ

về công trình, xem xét công trình (thị sát), khảo sát các hư hỏng, đo đạc, xác định các tính chất vật liệu thực tê, tính toán kiểm tra (theo quy phạm kiểm định), thử tải cầu cống dưới tác dụng của hoạt tải (ôtô, tàu hỏa v.v.) Kết quả của việc kiểm định là kết luận về các đặc trưng khai thác thực tế kiến nghị về các biện pháp sửa chữa hoặc

gia cố cầu cống nếu cần thiết

Với nội dung của định nghĩa nêu trên trong từ điển, đối chiếu với khái niệm kiểm

định vừa phân tích trong các văn bản của bộ Xây dựng, ta thấy nội dung của hoạt động kiểm định ở mỗi tài liệu có những điểm chung và điểm riêng Ta cần trình bày nó một cách rõ ràng hơn, sao cho thể hiện đúng bản chất của công việc phải thực hiện, phản

ánh sát yêu cầu và mục tiêu kiểm định đặt ra trong thực tế

Trước hết về mặt nội dung thực hiện, ta có thể nhận thấy những công việc tiến hành kiểm định với 2 giai đoạn là có gì đó còn thiếu sự trọn vẹn, bởi nếu chỉ dừng lại

ở việc “so sánh“ thì thực sự là chưa thỏa đáng Đến đây không thể đ: coi công việc

kiểm định là kết thúc vì còn thiếu khâu quan trọng là "đánh giá, kết luần và kiến nghị"

Điểm này ta có thể xếp nó thuộc Giai đoạn III - Kết thúc thực hiện kiểm định

Khi công trình được ”đánh giá và kết luận” thì không khác gì công việc khám sức

khỏe cho người là đ: hoàn thành Có nghĩa là người bác sĩ chuyên khoa qua kết quản thu thập mọi thông tin, đ: đánh giá về tình trạng sức khỏe, kết luận rõ về bệnh tật để trên cơ sở đó thực hiện các biện pháp chữa trị bệnh nếu có hoặc có sự quan tâm lưu ý gìn giữ, bồi bổ và bảo vệ sức khỏe khi làm việc, lao động v.v

IV.1.2 - Khái niệm đầy đủ về kiểm định xây dựng theo 3 giai đoạn

Trên cơ sở những phân tích trình bày trên, kết hợp kinh nghiệm thực tế hoạt động

kiểm định của nhiều chuyên gia, có thể viết lại khái niệm kiểm định cho đầy đủ theo 3

giai đoạn như sau :

“Kiểm định công trình xây dựng là hoạt động khảo sát, kiểm tra, thử nghiệm, định

lượng một hay nhiều tính chất của sản phẩm hoặc công trình xây dựng Trên cơ sở kết quả tổng hợp, phân tích, tính toán và so sánh chúng với quy định của thiết kế

và tiêu chuẩn áp dụng, tiến hành đánh giá, kết luận và kiến nghị đối với công trình ”

Với khái niệm kiểm định này, có thể phân định quá trình thực hiện hoạt động

kiểm định đối với bất kỳ một công trình xây dựng nào, đều phải trải qua 3 giai đoạn

cơ bản sau đây :

Giai đoan I : Thu thập số liệu và thông tin

Giai đoan II : Xử lý số liệu và thông tin khảo sát

www.giaxaydung.vn

Trang 31

Giai đoan III : Đánh giá, kết luận và kiến nghị

IV.1.3- Nội dung kiểm định thực hiện theo 3 giai đoạn

Để làm rõ thêm về mối liên hệ giữa các công việc tiến hành, dưới đây sẽ phân tích một số điểm cụ thể cần lưu ý ở mỗi giai đoạn kiểm định

Giai đoạn I :

Thu thập số liệu và thông tin về sản phẩm hoặc công trình xây dựng

Trong giai đoạn này, đơn vị kiểm định tiến hành thu thập số liệu và thông tin bằng

các hoạt động khảo sát, kiểm tra, thử nghiệm, định lượng những tính chất đặc trưng

của sản phẩm hoặc công trình xây dựng ở đây, ta có thể sử dụng từ “khảo sát” để

thay thế cho cả cụm từ “khảo sát, kiểm tra, thử nghiệm, định lượng” - Vì rằng, trong kỹ thuật nói chung, với từ “khảo sát” mọi người có thể hiểu với nhiều nội dung công việc

Nó bao hàm công việc kiểm tra một thông tin hay tính chất nào đó; cũng có thể là thử nghiệm và định lượng một đại lượng đặc trưng của kết cấu Mặt khác, từ “khảo sát”

còn cho phép hiểu theo ý rộng hơn, thay thế cho những công việc khác có liên quan trực tiếp đến công tác thu thập thông tin, nhưng không nhất thiết phải biểu hiện qua các giá trị bằng số, mà có thể bằng các cách thể hiện khác nữa mà thực tế ta vẫn áp dụng, như : hình vẽ, sơ đồ, ảnh chụp, lời ghi chú, nhận xét v.v Vì vậy, việc bổ sung

cum từ “khảo sát” vào trong khái niệm kiểm định là rất phù hợp, cho phép đảm nhận

chức năng đại diện cho một loạt công việc làm nhiệm vụ thu thập số liệu và thông tin Trong kiểm định công trình, giai đoạn thu thập số liệu và thông tin thường phải đầu tư nhiều thời gian và công sức nhất, nhiều phương tiện về thiết bị, vật tư, thời gian và kinh phí (nhất là chi phí cho các thí nghiệm, kiểm tra ) Bởi vậy, để có được một tập hợp những thông tin nào đó, phải qua nhiều bước hay công đoạn thực hiện, theo một

lộ trình nhất định từ khâu chuẩn bị đến khi kết thúc công việc Phương pháp áp dụng trong khảo sát phần lớn thường phải tiến hành trực tiếp trên hiện trường, đòi hỏi đáp ứng những điều kiện tại chỗ, để có thể tiếp cận các chi tiết, cấu kiện và kết cấu công trình

Công việc khảo sát thông tin do một nhóm chuyên gia và cán bộ kỹ thuật có nghiệp

vụ thành thạo và chuyên môn phù hợp tiến hành Trong đó, rất cần có sự tham gia phối hợp của các phòng thí nghiệm chuyên ngành, nơi được trang bị đầy đủ những phương tiện, máy móc thí nghiệm để tiến hành các phép định lượng, kiểm tra, thử nghiệm v.v.,

đảm bảo cho việc khảo sát đạt được độ chính xác với mức độ tin cậy nhất định Những phòng thí nghiệm này có thể trực thuộc hoặc đơn vị tư vấn kiểm định, cũng có thể là

đơn vị cộng tác và phối hợp thực hiện

Giai đoạn II :

Xử lý số liệu và thông tin khảo sát

Trang 32

59

Sau khi hoàn thành công việc khảo sát, bắt đầu chuyển sang giai đoạn xử lý thông

tin Đó là việc tiến hành “tổng hợp, phân tích, tính toán và so sánh chúng với quy

định của thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng

Trong quá trình xử lý thông tin, công việc phải làm ngay là tiến hành chọn lọc chúng Trước hết là lựơc bỏ đi những số liệu hay thông tin nào mang tính dị thường,

bộc lộ tính bất hợp lý, nằm ngoài quy luật của tính chất ta cần xác định và kiểm tra, không thể hiện bản chất của đại lượng khảo sát Cuối cùng, ta chỉ giữ lại những thông tin nào là đại diện, phản ánh đúng tính chất kỹ thuật hay đặc trưng cơ bản của đối tượng kiểm định

Sau khi chọn lọc xong, những số liệu và thông tin còn giữ lại đó sẽ đem tổng hợp

theo từng nhóm, xắp xếp với một trình tự nhất định để thuận tiện cho việc nhận dạng

các tính chất và đặc điểm của sản phẩm kiểm tra Thông thường, kết quả tổng hợp

được trình bày theo một lôgíc nào đó để việc phân tích tiến hành được dễ dàng Kết

quả phân tích sẽ làm nổi bật những đặc điểm và thuộc tính của tính chất khảo sát, dễ

dàng nhận dạng những chi tiết vừa có tính điển hình, vừa toàn diện và nhiều chiều

Việc tính toán trong xử lý thông tin với đầu vào ta lấy từ kết quả khảo sát trên sản

phẩm và công trình, chứ không phải như thiết kế ban đầu là lấy theo lý thuyết với những số liệu mang tính giả định hoặc chấp nhận theo quy ước, theo nguồn cung cấp thông tin lập sẵn từ trước trong tiêu chuẩn thiết kế và những quy định trong đó áp dụng cho công trình

Riêng đối với phương pháp tính toán lại kết cấu được chọn là tùy vào kinh nghiệm của người thực hiện xử lý thông tin Cũng có thể áp dụng phương pháp tương tự như

đ: dùng trong thiết kế hoặc bằng con đường kiểm tra độc lập khác, phù hợp hơn đối với hiện trạng làm việc của kết cấu kiểm tra

Kết quả tổng hợp, phân tích và tính toán mới chính là đầu vào của công việc so

sánh với quy định của thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng Vì vậy, trong phạm vi hẹp, khi tiến hành kiểm định chất lượng đối với một sản phẩm đơn lẻ nào đó, người ta có thể coi như nội dung kiểm định đến đây là đ: có thể dừng lại và kết thúc Nhưng đối với một công trình thì đây vẫn chỉ thuộc ở giai đoạn xử lý thông tin mà thôi (giai đoạn II)

Nó sẽ được sử dụng làm căn cứ cho việc đánh giá, kết luận và kiến nghị sau này Khối lượng xử lý phụ thuộc vào tính đa dạng của lượng thông tin khảo sát, vào mức độ phức tạp của công trình và bản thân những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong nhiệm vụ và mục tiêu kiểm định

Giai đoạn III :

Đánh giá, kết luận và kiến nghị

www.giaxaydung.vn

Trang 33

Đánh giá, kết luận và kiến nghị là những công việc thuộc giai đoạn kết thúc của

công tác kiểm định ở giai đoạn này, mọi vấn đề đặt ra trong mục tiêu kiểm định phải

được giải quyết và trả lời một cách thỏa đáng

Trước hết, việc đánh giá và kết luận phải lấy căn cứ rút ra từ giai đoạn II Kết quả

đánh giá làm nổi bật hiện trạng các thuộc tính về hiện trạng chất lượng, bản chất của

những biểu hiện khi làm việc của đối tượng kiểm định (Chẳng hạn: đánh giá về tính

đồng chất của vật liệu, về khả năng chịu lực, độ cứng của cấu kiện, về nguyên nhân gây nên khuyết tật hay sự cố v.v.) Còn kết luận thuờng là những trả lời trực tiếp đối với mục tiêu đặt ra trong kiểm định (Chẳng hạn: kết luận mức độ đạt được về chất lượng; về khả năng nghiệm thu bộ phận, hạng mục hay toàn công trình đưa vào sử dụng; về khả năng xử lý sửa chữa đối với v.v) Cách diễn đạt nội dung đánh giá và kết luận không thể chung chung, mà phải sao cho người đọc không thể hiểu theo nhiều ý khác nhau hoặc trái ngược nhau

Trong một số trường hợp, khi thấy cần thiết, tiếp theo những đánh giá và kết luận,

người chủ trì thường đề xuất một số kiến nghị Nội dung kiến nghị có thể hàm ý nhấn

mạnh về sự cần thiết phải giải quyết một vấn đề cụ thể đối với công trình Chẳng hạn

về việc xử lý những khiếm khuyết đang tồn tại, việc hoàn thiện tiếp tục một số công việc liên quan đến tính mỹ thuật của công trình; đến an toàn về chịu lực hay ổn định

của bộ phận kết cấu v.v Trong nội dung kiến nghị thể hiện quan điểm của người chủ

trì kiểm định về sự cần thiết, về tầm quan trọng của vấn đề, về thời hạn mà nếu ngoài khoảng thời hạn đó, kiến nghị sẽ trở nên không còn phù hợp nữa Vì vậy, có những

kiến nghị mà việc đáp ứng không phải bao giờ cũng được thực hiện hay thực hiện một cách đầy đủ như đơn vị kiểm định mong muốn Nó còn tùy thuộc vào quan điểm, vào

khả năng thực hiện của các đối tác liên quan (gồm chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị tư vấn thiết kế v.v.)

Để tiện so sánh, ta có thể ví kiểm định xây dựng, về mặt thực chất công việc cũng tương tự như công việc của người bác sỹ khám sức khỏe cho người: Để cho phép đánh giá và kết luận về tình trạng sức khỏe của một cơ thể cụ thể, người bác sỹ cần tiến hành hàng loạt các công việc nhằm thu thập đầy đủ thông tin về hiện trạng sức khỏe của người đó như : Thử máu, kiểm tra huyết áp, xác định tình trạng tim phổi cùng nhiều phép thử nghiệm khác nữa Tất cả những kết quả kiểm tra (khảo sát) vừa thực hiện phải tập trung về bác sỹ chuyên khoa Tại đây, tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh với những chỉ tiêu cần có của một cơ thể có sức khỏe bình thường hay những biểu hiện đặc trưng về một bệnh lý cần chẩn đoán Chúng sẽ được sử dụng làm căn cứ

để đánh giá tình trạng sức khỏe, tình trạng bệnh tật của người đến khám Kết quả việc khám sức khỏe là kết luận của bác sĩ về khả năng lao động, về căn bệnh đang tồn tại cần chữa trị v.v Cuối cùng, bác sỹ có thể đưa ra một số khuyến cáo (kiến nghị) đối với người khám về tình trạng sức khỏe để người đó chọn cho mình một công việc lao

động, một chế độ làm việc thích hợp; hoặc nếu người đến khám có bệnh thì sẽ nhận

Trang 34

61

được kết luận là bệnh gì, phương án điều trị, sử dụng thuốc ra sao, trong quá trình chữa bệnh, cần những lưu ý gì khi dùng thuốc, trong chế độ sinh hoạt, ăn uống, bồi dưỡng, tập luyện, lao động và làm việc v.v

Với khái niệm về kiểm định xây dựng như vừa trình bày trên, ta thấy rằng kiểm định xây dựng là một hoạt động mang tính tổng hợp khá cao Trong đó, việc

so sánh với quy định của thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng như khái niệm nêu trong các văn bản hiện hành chỉ là một trong những nội dung thuộc phạm vi của giai

đoạn thu thập và xử lý thông tin mà thôi - tức là thuộc giai đoạn II Rõ ràng là sau

đó, còn cần phải tiến hành tiếp giai đoạn III: “Đánh giá, kết luận và kiến nghị”-

Đây là công việc không thể thiếu để kết thúc và hoàn tất công tác kiểm định đối với một công trình

IV.2 - Mục tiêu kiểm định

Mục tiêu kiểm định là do đơn vị đặt hàng đề xuất Tuy nhiên, đơn vị tư vấn kiểm

định phải lĩnh hội một cách thấu đáo những vấn đệ cần giải quyết để đạt được mục tiêu đặt ra một cách chuẩn xác và đầy đủ Trong đó, với cùng một mục tiêu kiểm định, nhưng khi tiến hành đối với mỗi trường hợp và công trình cụ thể, người thực hiện lại phải biết vận dụng phương pháp khai thác thông tin và xử lý chúng một cách phù hợp

để đưa ra những đánh giá và kết luận một cách thỏa đáng Sau đây sẽ đề cập đến một

số mục tiêu trong thực tế kiểm định đối với công trình xây dựng mà người kỹ sư tư vấn giám sát thường gặp trong quá trình thi công xây lắp

1) - Kiểm định chất lượng cấu kiện sử dụng trong thi công

Trong thi công nhiều khi thiết kế ấn định áp dụng một số cấu kiện hay sản phẩm xây dựng đ: chế tạo và gia công sẵn

Sản phẩm đưa về hiện trường, có thể chưa đầy đủ chứng chỉ xác nhận chất lượng, một mặt khi kiểm tra trên thực tế, phát hiện có những biểu hiện gây nghi ngờ về chất lượng Khi đó, trước khi đem sản phẩm lắp dựng vào công trình, bao giờ cũng phải qua kiểm định đề có kết quả chứng minh chất lượng sản phẩm là phù hợp yêu cầu thiết kế, trả lời cho những nghi ngờ về chất lượng trước khi quyết định đưa chúng vào

thi công xây lắp

2) - Kiểm định phục vụ nghiệm thu trong thi công

Theo quy định, mọi sản phẩm, cấu kiện, kết cấu hay bộ phận kết cấu, hạng mục công trình và toàn công trình, trước khi quyết định chuyển sang giai đoan thi công tiếp theo hay trước khi đưa chúng vào sử dụng đều phải được nghiệm thu

Có thể xảy ra oootj số trường hợp cụ thể dưới đây :

www.giaxaydung.vn

Trang 35

 Sau khi xem xét đối tượng nghiệm thu thấy không phát hiện có vấn đề gì nghi ngờ về chất lượng, kèm theo có đầy đủ các chứng chỉ xác nhận chất lượng của sản phẩm thi công, thì việc nghiệm thu tiến hành bình thường Trường hợp nếu thiếu chứng chỉ quan trọng nào đó về chất lượng, cần yêu cầu đơn vị thi công cung cấp bổ sung hoặc phải qua kiểm định lại để làm rõ chất lượng mới cho phép tiến hành nghiệm thu chúng

 Đối tượng nghiệm thu, mặc dù kèm theo có đầy đủ các văn bản và chứng chỉ kết quả xác nhận chất lượng, nhưng qua xem xét trực tiếp sản phẩm trên hiện trường, phát hiện thấy tồn tại khuyết tật, ở một vài chi tiết hay bộ phận có những biểu hiện gây sự nghi ngờ về chất lượng bên trong Khi đó hội đồng nghiệm thu có thể yêu cầu tiến hành kiểm định lại với mục tiêu là xác định rõ những nghi ngờ về chất lượng, mới đủ căn cứ để xem xét nghiệm thu

 Trường hợp đặt ra yêu cầu kiểm định sản phẩm thi công với những lý do xác

đáng khác như : Thực hiện không đầy đủ các bước theo quy định trong công nghệ thi công ; Sản phẩm thi công thiếu xác nhận đầy đủ của tư vấn thiết kế hoặc tư vấn giám sát ở những khâu quan trọng; Phát hiện sự không phù hợp ở một số kết quả thử nghiệm so với yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng v.v Kết quả kiểm định sẽ bổ sung cho đầy đủ chứng cứ và giải thích rõ những vấn

đề còn nghi ngờ, làm cơ sở cho việc tiến hành nghiệm thu đối với sản phẩm vừa hoàn thành thi công

 Kiểm định đặt ra với công trình có quy mô tương đối lớn hoặc bao gồm nhiều chủng loại cấu kiện, có kết cấu phức tạp ; với công trình có áp dụng những kết cấu mang tính thử nghiệm về công nghệ thi công, về điều kiện áp dụng v.v Trong quá trình thi công, mặc dù đ: qua các khâu kiểm tra và có đầy đủ chứng chỉ kỹ thuật xác nhận chất lượng, nhưng trước khi nghiệm thu vẫn có thể đặt ra yêu cầu thực hiện kiểm định với mục tiêu đánh giá chất lượng mang tính xác suất (Chọn vị trí cấu kiện khảo sát theo chỉ định trên sản phẩm bất kỳ với số lượng nhất định đủ đại diện cho kết cấu kiểm tra) để một lần nữa khẳng định lại chất lượng một cách khách quan và đảm bảo độ an toàn trước khi quyết định nghiệm thu

3) - Kiểm định phục vụ xử lý sự cố trong thi công

Trong thi công, nhiều khi không tránh khỏi sự cố xảy ra Đó là những hư hỏng hay khiếm khuyết vượt quá giới hạn cho phép gây giảm yếu khả năng chịu lực, làm mất an toàn của kết cấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng chịu lực, đến tiện nghi sử dụng hay đến tính mỹ thuật của công trình

Kết quả kiểm định cần làm rõ các vấn đề sau đây ;

• Xác định nguyên nhân gây nên sự cố, nguyên nhân nào là chủ yếu, nguyên nhân nào là phụ thuộc ; nguyên nhân nào có trước và nguyên nhân nào là xuất hiện sau làm tăng nặng hay mở rộng thêm phạm vi ảnh hưởng của sự cố

Trang 36

63

• Đánh giá hiện trạng sự cố, mức độ ảnh hưởng, phạm vi ảnh hưởng, những hậu quả do sự cố gây nên gây ảnh hưởng đối với sự làm việc và an toàn của kết cấu công trình

• Đề xuất giải pháp xử lý hoặc phương án sửa chữa khắc phục sự cố, nhằm đưa công trình về trạng thái theo yêu cầu thiết kế, đảm bảo sự làm việc và chịu lực bình thường

Việc xử lý sự cố nhiều khi rất phức tạp, nhất là việc đánh giá xác định nguyên nhân dẫn đến sự cố, đòi hỏi ở người chủ trì kiểm định, ngoài kinh nghiệm còn phải có sự hiểu biết sâu sắc về kết cấu, khả năng phán đoán, tính nhạy cảm đối với kết cấu công trình Khi sự cố xảy ra, việc giữ nguyên hiện trường phục vụ cho điều tra khảo sát là

rất quan trọng (trừ trường hợp phải giải phóng gấp hiện trường để cứu người hoặc

đảm bảo an toàn cho sản xuất tiếp tục hay an toàn cho phần còn lại của công trình) Chỉ sau khi xác định rõ nguyên nhân gây nên sự cố và làm rõ hiện trạng xảy ra cùng hậu quả của nó thì công tác xử lý mới chuẩn xác và đạt hiệu quả mong muốn

4) - Kiểm định phục vụ đánh giá chất lượng phù hợp của công trình

Trong nội dung đánh giá chất lượng phù hợp nói chung, có rất nhiều vấn đề phái xem xét Trong đó, nếu phát hiện sản phẩm hay bộ phận nào của công trình còn thiếu thông tin hoặc thông tin không đầy đủ, lượng thông tin chưa thỏa đáng, gây nghi ngờ về chất lượng, ảnh hưởng đến khả năng chịu lực kết cấu, thì đơn vị tư vấn làm nhiệm vụ chứng nhận chất lượng phù hợp, có thể đề xuất yêu cầu thực hiện kiểm định lại hoặc kiểm

định bổ sung Việc kiểm định lại mang tính xác suất cũng có thể đặt ra đối với công trình phức tạp, có quy mô và số lượng kết cấu lớn, nhằm có căn cứ đầy đủ và khách quan hơn cho việc đánh giá chất lượng là phù hợp hay không

5) - Kiểm định thực hiện đối với công trình thuộc diện bắt buộc theo quy định của Nghị định 209/2004/NĐ-CP [23]

Thuộc diện này có thể đề cập đến hai loại công trình cơ bản là :

• Công trình thuộc loại có số đông cộng đồng dân cư tham gia sử dụng, bao gồm :

Nhà văn hóa, nhà thể thao, nhà triển l:m, siêu thị, chợ Những công trình này thường có diệnu tích sử dụng và không gian khá lớn, với kết cấu làm việc phức tạp Trong quá trình khai thác, những công trình đó luôn là nơi tập trung đông người Việc bắt buộc phải qua kiểm định phục vụ cho chứng nhận chất lượng phù hợp trước khi đưa công trình vào sử dụng nhằm loại trừ sự cố xảy ra, hoặc nếu chẳng may có xảy ra thì sẽ giảm thiểu tối đa thiệt hại về người

• Đối với loại công trình thi công mà trong quá trình sử dụng sau này có những tiềm

ẩn về nguy cơ xảy ra sự cố Chẳng hạn : Công trình cầu, đê đập, kho chữa hóa chất, dầu khí, công trình nằm trong khu vực thường xảy ra động đất, gió b:o v.v

Sự cố xảy ra trong quá trình sử dụng có thể do những nguyên nhân bất khả kháng, ngoài khả năng dự đoán và đề phòng của con người Việc thực hiện chứng nhận

www.giaxaydung.vn

Trang 37

chất lượng phù hợp là bắt buộc trước khi nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng nhằm loại trừ hoặc góp phần làm giảm thiểu sự cố xảy ra Trường hợp nếu sự cố xảy ra thì phạm vi ảnh hưởng cũng sẽ thu hẹp, giảm tối đa mức độ thiệt hại về người, về mặt kinh tế và các hoạt động của x: hội v.v

IV.3 - phương pháp thực hiện kiểm định

(Học viên đọc tham khảo)

IV.3.1 - Nguyên tắc chung

Công trình xây dựng là một dạng sản phẩm mà chất lượng của nó luôn chịu sự chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau Chúng thay đổi và ảnh hưởng đến công trình ở mỗi giai đoạn thi công theo thời gian cũng không giống nhau Vì vậy, để đảm bảo tính nhất quán khi tiến hành kiểm định, đảm bảo kết quả thu được phản ánh đúng hiện trạng chất lượng công trình, ta cần thống nhất một số nguyên tắc cơ bản sau đây :

• Bám sát mục tiêu kiểm định Đối với mỗi công trình cụ thể, việc thực hiện

kiểm định bao giờ cũng phải đáp ứng mục tiêu nhất định Căn cứ vào đó, đơn

vị tư vấn chọn phương pháp thực hiện khảo sát phù hợp, sao cho mọi vấn đề

đặt ra trong mục tiêu kiểm định được giải quyết một cách tập trung và trọn vẹn

• Việc khai thác thông tin luôn phải đáp ứng điều kiện cần và đủ Nội dung và

khối lượng khảo sát trong kiểm định phải xác định sao cho thông tin thu thập

được vừa đảm bảo một lượng nhắt định, đồng thời vừa phải đủ để đạt được tính đại diện, tính điển hình, tính tập trung cần thiết Điều này nếu tuân thủ sẽ tránh được tình trạng phân tán, tràn lan, gây l2ng phí nhân công, vật liệu, thời

gian và những chi phí không cần thiết khác Điều kiện cần và đủ là nếu thiếu

nội dung và khối lượng nào đó, các số liệu và thông tin nhận được sẽ trở nên kém chính xác, giảm độ tin cậy cho đánh giá và kết luận Ngược lại, nếu chúng quá nhiều, số liệu và thông tin sẽ rơi vào trạng thái nhiễu, mất tính tập trung, tính đại diện, gây khó khăn trong xử lý, giảm độ chuẩn xác trong đánh giá và kết luận, làm lo2ng vấn đề cần giải quyết

• Tiến hành công việc khảo sát đối với công trình phải từ tổng thể đến chi tiết;

từ những biểu hiện bên ngoài đến đặc điểm bên trong Trong đó, sử dụng tối

đa phương tiện khảo sát trên hiện trường và bằng những công cụ và phương tiện khai thác thông tin trực tiếp Khi tiến hành khảo sát cụ thể, người chủ trì phải có sự phân định một cách hợp lý các nội dung khảo sát, xác định rõ lượng thông tin tương ứng cần thu thập ở mỗi nội dung Điều không kém phần quan trọng là cần có sự phán đoán kịp thời về các quy luật của sự kiện, về mối quan hệ giữa những các đại lượng, giữa những tính chất bộc lộ ra ở bên ngoài

Ngày đăng: 14/09/2017, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w